Tìm hiểu và tổng hợp được hệ thống các kiến thức bản địa của người dân trong việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi, tập quán canh tác cũng như cách thức bố trí mô hình trong 5 mô hình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP Ở CÁC KHU VỰC TRỰC THUỘC BAN QUẢN LÝ RỪNG TÀ NUNG
Họ và tên sinh viên: TRẦN HOÀNG ANH Ngành: LÂM NGHIỆP
Niên khóa: 2005-2009
Trang 2TÌM HIỂU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC
MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP Ở CÁC KHU VỰC TRỰC THUỘC
BAN QUẢN LÝ RỪNG TÀ NUNG
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 1
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 2
Trang 6
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy cô trong khoa Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm - Thành Phố Hồ Chí Minh
Đặc biệt, đối với thầy Phạm Trịnh Hùng, giảng viên chính bộ môn Lâm nghiệp
xã hội, khoa Lâm nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và tất cả các thầy cô đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi cũng xin cảm ơn Ban quản lý rừng Tà Nung và chủ các mô hình nông lâm kết hợp ở 3 khu vực phường 5, phường 7 và xã Tà Nung đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thu thập số liệu
Cám ơn tập thể lớp Lâm Nghiệp 31 và các bạn thân đã cùng tôi chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn trong suốt quá trình sinh hoạt và học tập
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình luôn sát cánh, chia sẻ,
cổ vũ và giúp đỡ tôi có được như ngày hôm nay
Chân thành cảm ơn Sinh viên
Trần Hoàng Anh
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài: “ Tìm hiểu kiến thức bản địa trong việc phát triển các mô hình nông lâm kết hợp ở các khu vực trực thuộc ban quản lý rừng Tà Nung, Đà Lạt, Lâm Đồng ” Thời gian thực hiện từ tháng 2/2009 đến tháng 7/2009 tại tỉnh Lâm Đồng và thành phố
Hồ Chí Minh
Kết quả thu được:
1 Tìm hiểu và tổng hợp được hệ thống các kiến thức bản địa của người dân trong việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi, tập quán canh tác cũng như cách thức bố trí mô hình trong 5 mô hình sau:
(1) Canh tác rẫy (trên đất dốc) của người K’ho, Chill ở khu vực xã Tà Nung
(2) Mô hình vườn hộ : cà phê – cây ăn trái – cây nông nghiệp
(3) Mô hình vườn – ao – chuồng
(4) Mô hình cà phê dưới giàn chanh dây ở xã Tà Nung
(5) Mô hình cà phê – thông của người Lạt ở khu vực phường 5
2 Tìm hiểu được những khó khăn, thuận lợi cũng như cách giải quyết khó khăn của người dân trong quá trình hình thành và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp trên
3.Tìm hiểu và tổng hợp được các kiến thức của người dân trong việc phòng chống xói mòn đất
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
DANH SÁCH CÁC BẢNG vi
DANH SÁCH CÁC HÌNH vii
Chương 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – Mục tiêu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Mục tiêu 2
1.3 Phạm vi và giới hạn của đề tài 2
Chương 2 4
TỔNG QUAN 4
2.1 Thực trạng phát triển nông lâm kết hợp ở vùng cao Việt Nam 4
2.1.1 Khái niệm về nông lâm kết hợp 4
2.1.2 Thực trạng phát triển nông lâm kết hợp ở vùng cao Việt Nam 5
2.2 Kiến thức bản địa trong việc phát triển các mô hình NLKH ở Việt Nam .6
2.2.1 Kiến thức bản địa .6
2.2.2 Mối liên hệ giữa phát triển với kiến thức bản địa 7
2.2.3 Thực trạng các nghiên cứu kiến thức bản địa về NLKH ở Việt Nam .8
Chương 3 11
ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 11
3.1 Cơ sở để lựa chọn địa điểm nghiên cứu 11
3.2.Giới thiệu địa điểm nghiên cứu .11
3.2.1 Xã Tà Nung 11
3.2.2 Phường 5 và phường 7 .12
3.2.3 Vài nét về đặc điểm của các thành phần dân tộc hiện đang cư trú tại địa điểm nghiên cứu .13
Trang 93.3 Nhận xét về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội 13
Chương 4 14
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
4.1 Nội dung nghiên cứu 14
4.2 Phương pháp nghiên cứu 14
4.2.1 Nội dung 1: Các mô hình NLKH hiện có ở khu vực nghiên cứu 14
4.2.2 Nội dung 2: Các kiến thức, kỹ thuật bản dịa của người dân trong quá trình hình thành và phát triển các mô hình NLKH hiện có ở địa phương .15
4.2.3 Nội dung 3: Những khó khăn và thử thách trong việc phát triển các mô hình NLKH mà người dân gặp phải .16
4.2.4 Nội dung 4: Tổng hợp các kiến thức bản địa của người dân trong việc hình thành và phát triển các mô hình NLKH .17
Chương 5 18
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
5.1.Các mô hình nông lâm kết hợp hiện có ở địa phương: 18
5.2 Các kiến thức, kỹ thuật bản địa của người dân trong quá trình hình thành và phát triển các mô hình NLKH hiện có ở địa phương 18
5.2.1 Canh tác rẫy (trên đất dốc) của người K’ho, Chill ở khu vực xã Tà Nung 18
5.2.2 Vườn hộ: cà phê – cây ăn trái – cây nông nghiệp 26
5.2.2.1 Cây cà phê 27
5.2.2.2 Cây ăn trái 31
a Cây hồng 31
b Bơ 32
c Cây chuối 33
d Các cây khác 33
2.2.3 Hoa màu 34
5.2.3 Mô hình vườn – ao – chuồng 36
5.2.3.1 Ao 37
5.2.3.2 Chuồng 37
5.2.4 Mô hình Cà phê dưới giàn Chanh dây ở xã Tà Nung .38
5.2.5 Mô hình Cà phê – Thông của người Lạch ở khu vực phường 5 .42
Trang 105.4 Tổng hợp các KTBĐ của người dân trong việc phát triển các mô hình NLKH .44
Chương 6 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
6.1 Kết luận 48
6.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 5.1: Phân loại hệ thống cây trồng trên hệ thống canh tác rẫy của người K’ho và
người Chill ở khu vực xã Tà Nung 19
Bảng 5.2: Các giống lúa bản địa của người K’ho và người Chill 20
Bảng 5.3: Ưu và nhược điểm của giống cà phê Rô và cà phê Moca 21
Bảng 5.4: Các giống bắp bản địa của người Chill 24
Bảng 5.5: Cơ cấu cây trồng trong mô hình vườn hộ 27
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 5.1: Sơ đồ mô hình canh tác rẫy của người K’ho và người Chill ở khu vực xã Tà
Nung 25
Hình 5.2: Mô hình canh tác rẫy của người K’ho ở khu vực xã Tà Nung 25
Hình 5.3: Ươm cây cà phê 29
Hình 5.4: Hệ thống mương thoát nước 30
Hình 5.5: Bậc thang trồng cà phê ở khu vưc phường 7 31
Hình 5.6: Sơ đồ mô hình vườn hộ ở khu vực phường 5 và phường 7 35
Hình 5.7: Mô hình vườn hộ ở xã Tà Nung 36
Hình 5.8: Mô hình vườn hộ ở khu vực phường 7 36
Hình 5.9: Mô hình vườn ao chuồng ở khu vực phường 5 38
Hình 5.10: Sơ đồ mô hình cà phê – chanh dây ở khu vực xã Tà Nung 41
Hình 5.11: Mô hình cà phê – chanh dây ở khu vực xã Tà Nung 41
Hình 5.12: Mô hình cà phê xen thông của người Lạch ở khu vực phường 5 (cà phê Moca được 3 tuổi) 44
Trang 13Trong vài thập niên gần đây, Đảng và Nhà nuớc ta đã đặc biệt quan tâm và thúc đẩy sự phát triển các hệ thống canh tác nông lâm nghiệp của đất nước theo hướng NLKH Nghị quyết đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ V năm 1981 có nêu: “ sử dụng đất đai nhất quyết phải theo phương thức nông lâm kết hợp ” Điều này cho thấy Nhà nước và nhân dân ta đã nhận thức được vai trò cực kỳ quan trọng của các phương thức NLKH trong việc duy trì sự ổn định cho các hệ thống sản xuất nông lâm nghiệp
cả về năng suất và môi trường, đóng góp to lớn vào quá trình phát triển bền vững của đất nước Từ đó, nhiều mô hình NLKH mới đã được thiết kế và áp dụng trên quy mô toàn đất nước Tuy nhiên, bên cạnh sự thành công cũng không ít các mô hình đã và hiện đang bị thất bại, chủ yếu do bởi khả năng chấp nhận của người nông dân và điều
này dường như phù hợp với nhận định của Louise, 1996 [2] rằng “ Cách tiếp cận về khoa học và công nghệ không đủ để đáp ứng những quan niệm phức tạp và đa dạng của nông dân cũng như những thách thức về xã hội, kinh tế, chính trị và môi trường
mà ngày nay chúng ta đang phải đương đầu ” Việc phát triển các mô hình theo
hướng áp đặt, không có sự tham gia của người dân thường không có tính khả thi về kinh tế và khó chấp nhận về văn hóa, do đó dễ bị người dân địa phương từ chối [3] Trong khi đó, hệ thống kiến thức và kỹ thuật bản địa về NLKH của người dân ta được xem là phong phú, như vậy chúng ta có thể vận dụng một cách triệt để những khía
Trang 14cạnh tích cực của chúng làm cơ sở cho việc phối hợp các kiến thức bản địa với các kỹ thuật canh tác mới, nền tảng cho sự phát triển mạnh mẽ các mô hình NLKH vừa có hiệu quả cao vừa được sự chấp nhận của đông đảo người dân, đặc biệt là có tính bền vững cao trong tương lai Thực tế, nhiều kỹ thuật NLKH bản địa vẫn đưa lại hiệu quả cao, được thử thách qua nhiều thế hệ, có sẵn ở địa phương, rẻ tiền và phù hợp về văn hóa, xã hội [4]
Từ ý tưởng đó, chúng tôi nhận thấy cần tìm hiểu và hệ thống hóa lại các kiến thức
bản địa về NLKH với đề tài: “Tìm hiểu kiến thức bản địa trong việc phát triển các
mô hình nông lâm kết hợp ở các khu vực trực thuộc ban quản lý rừng Tà Nung, Đà Lạt, Lâm Đồng” Địa điểm nghiên cứu này mang những đặc điểm điển hình cho vùng
cao của Việt Nam
1.2 Mục đích – Mục tiêu
1.2.1 Mục đích
Kiến thức bản địa là một nguồn lực đặc biệt quý giá đối với quá trình phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo Khái niệm kiến thức bản địa bao hàm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và quản lý cộng đồng Trong đề tài này, tôi chỉ tìm hiểu được khía cạnh kiến thức bản địa trong quá trình phát triển các mô hình NLKH ở các khu vực trực thuộc ban quản lý rừng Tà Nung, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng
1.2.2 Mục tiêu
- Xác định các loại mô hình NLKH nào đang hiện hữu tại khu vực nghiên cứu
- Tìm hiểu kiến thức bản địa của người dân trên cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi, tập quán canh tác, cách thức bố trí trong các mô hình NLKH đã được xác định
- Xác định những khó khăn và thử thách trong việc hình thành và phát triển các
mô hình NLKH mà người dân gặp phải
- Tổng hợp các kiến thức bản địa của người dân trong việc phát triển các mô hình NLKH
1.3 Phạm vi và giới hạn của đề tài
Do hạn chế về thời gian nên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vào một số kiến thức bản địa liên quan đến cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tập quán canh tác, cách thức bố trí trong các mô hình NLKH của người dân Những kiến thức về phân công lao động
Trang 15liên quan đến vấn đề giới trong quá trình canh tác các mô hình NLKH, quan niệm về các nguồn tài sản chung của cộng đồng, những thỏa thuận truyền thống liên quan đến quyền sở hữu đất canh tác NLKH, kiến thức về thị trường các sản phẩm NLKH của
người dân địa phương chưa được nghiên cứu đề cập đến
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Thực trạng phát triển nông lâm kết hợp ở vùng cao Việt Nam.
2.1.1 Khái niệm về nông lâm kết hợp
- NLKH là một lĩnh vực khoa học mới đã được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969)
- Hội thảo về quản lý tài nguyên vùng cao được tổ chức tại Trung tâm quốc tế tái thiết nông thôn (IRR) từ ngày 29 tháng 8 đến 9 tháng 9 năm 1994 có đề cập đến khái niệm NLKH như sau: “ Nông lâm kết hợp là việc trồng và quản lý cây (lâu năm)
có chủ đích với hoa màu và / hoặc vật nuôi trong các hệ thống bền vững về mặt sinh thái, xã hội và kinh tế ” Hoặc, một cách đơn giãn hơn: “ Nông lâm kết hợp là việc trồng và sử dụng cây lâu năm trong hệ thống nông trại ” [3]
- Vào năm 1997, Trung tâm quốc tế nghiên cứu về NLKH (ICRAF) đã xem xét lại khái niệm NLKH và phát triển nó rộng hơn như là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong nông trại Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau
từ kinh tế hộ nhỏ đến “ kinh tế trang trại ” Một cách đơn giãn hơn, nông lâm kết hợp
là trồng cây trên nông trại [5]
Tóm lại, một hệ thống NLKH có các đặc điểm sau đây: một hệ thống được xây dựng trên quan điểm sinh thái trong đó có kết hợp nhiều loại cây và vật nuôi trên một đơn vị diện tích theo không gian hoặc thời gian, trong đó có ít nhất 1 loài cây lâu năm, chúng có mối tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra nhiều sản phẩm Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm NLKH theo quan điểm của Hội thảo
về quản lý tài nguyên vùng cao được tổ chức tại Trung tâm quốc tế tái thiết nông thôn (IRR) từ ngày 29 tháng 8 đến 9 tháng 9 năm 1994
Trang 172.1.2 Thực trạng phát triển nông lâm kết hợp ở vùng cao Việt Nam
- NLKH là một phương án sử dụng đất bền vững đặc biệt thích ứng và thiết yếu
cho việc quản lý vùng cao, nơi có các giới hạn lớn về điều kiện lý hóa tính đất
- Các mô hình NLKH vùng cao ở Việt Nam bao gồm: [1]
Trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày với cây rừng trong giai đoạn rừng trồng chưa khép tán
Trồng xen cây lương thực, thực phẩm, dược liệu dưới tán rừng
Trồng xen cây nông nghiệp ở cả 2 giai đoạn của rừng trồng: Khi rừng chưa khép tán: trồng xen lúa nương, sắn, lạc…Khi rừng trồng đã khép tán: trồng xen
Nhóm 2 Các hệ thống NLKH cải tiến gồm có: hệ thống canh tác xen theo băng; trồng cây ranh giới / hàng rào xanh; hệ thống đai phòng hộ chắn gió; hệ thống Taungya
- Hiện nay, sự phát triển của các mô hình NLKH ở vùng cao được Nhà nước cũng như nhân dân ta đặc biệt quan tâm Nhiều kỹ thuật NLKH cải tiến được quảng bá rộng rãi nhưng người dân vẫn áp dụng một cách thụ động, đa số tính chấp nhận của
Trang 18cộng đồng dân cư về các kỹ thuật và mô hình mới rất thấp Điều này dẫn đến việc phát triển NLKH ở vùng cao còn rất nhiều hạn chế
2.2 Kiến thức bản địa trong việc phát triển các mô hình NLKH ở Việt Nam 2.2.1 Kiến thức bản địa
- Kiến thức bản địa được định nghĩa theo nhiều cách
- Kiến thức bản địa thường được định nghĩa trái lập với kiến thức “khoa học”,
“hiện đại”, “quốc tế”, hay “phương tây” [4]
- Kiến thức bản địa còn được gọi là kiến thức truyền thống hay kiến thức địa phương [2]
- Khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức địa phương dùng để chỉ những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hòa văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan [7]
- Kiến thức bản địa là một hệ thống kiến thức của một dân tộc bản địa hoặc một cộng đồng tại một khuc vực địa lý nhất định, nó được hình thành từ quá trình lao động sản xuất, được tích lũy và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, nó tồn tại cùng với
sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng [8]
Những định nghĩa trên muốn nói đến tín ngưỡng, phong tục và truyền thống của các cộng đồng địa phương, đặc biệt là các nhóm dân tộc thiểu số, chúng phản ánh kiến thức đặc trưng của một số cộng đồng Tuy nhiên, rất khó để tách biệt kiến thức bản địa với các loại kiến thức khác Vào năm 1995, Agrawal đã có một bài thảo luận sắc sảo về vấn đề này, rằng: kiến thức bản địa có thể coi là kiến thức hiện đại trong điều kiện người ta sửa đổi chúng cho phù hợp với hoàn cảnh hiện đại, có thể coi
là kiến thức khoa học khi nó dựa trên các kinh nghiệm hiện trường và cũng có thể coi
là kiến thức quốc tế vì nó xuất phát từ các cộng đồng trên toàn thế giới Mặt trái của việc tách biệt kiến thức truyền thống đó là người ta coi kiến thức truyền thống như là
đã quá lâu rồi và rất lạc hậu, chỉ nên để cất giữ Nhưng ở đây, chúng tôi coi kiến thức bản địa là những cái gì được lưu truyền, chúng tồn tại qua lời nói và hành động mỗi ngày của người dân Như vậy, chúng tôi không những mong muốn sẽ khám phá được
Trang 19những kiến thức bí ẩn mà quan trọng hơn, chúng tôi cố gắng tập trung vào những gì người dân biết, người dân làm hàng ngày Chúng tôi nhận thấy rằng tìm hiểu kiến thức bản địa theo kiểu này thì kết quả thu được sẽ có hiệu quả cao hơn
2.2.2 Mối liên hệ giữa phát triển với kiến thức bản địa
- Sau một công trình nghiên cứu kiến thức bản địa ở châu Phi, O.D.Atteh
(1992) đã coi kiến thức bản địa là chìa khóa cho sự phát triển ở cấp địa phương [2]
- Hội thảo về quản lý tài nguyên vùng cao được tổ chức tại Trung tâm quốc tế tái thiết nông thôn (1994) đã khẳng định: kiến thức bản địa là một tài nguyên có giá trị
để đưa vào các hoạt động phát triển Nó có thể bằng hay hơn cách làm mới được giới thiệu bởi người chuyên gia bên ngoài địa phương Các nỗ lực phát triển phải được xây dựng dựa trên kiến thức của cộng đồng dân cư tại chổ
- Vai trò của kiến thức bản địa trong phát triển được khẳng định như sau:
Kiến thức bản địa:
Căn bản cho đặc điểm tự khẳng định và tự tin của cộng đồng
Tăng cường sự tham gia của người dân và tiến trình gia tăng năng lực
Đảm bảo sự sống động và bền vững
Khuyến khích áp dụng các kỹ thuật phù hợp
Bảo đảm cho các phương án có kinh tế hiệu quả
Cung cấp cơ hội để hiểu biết và giúp thiết kế các kế hoạch phát triển phù hợp [3]
- Kiến thức bản địa đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp các dự án phát triển Các dự án phát triển thông thường hay đưa vào cộng động các tiến bộ kỹ thuật với những khó khăn trở ngại mà bỏ qua những gì người dân địa phương đã biết về các khó khăn và cách mà họ giải quyết chúng Những nỗ lực của người dân địa phương đáng được coi trọng vì chúng có thể:
Được thông tin tốt hơn về đặc thù của địa phương
Được thử nghiệm rộng rãi, vì các giải pháp của họ thông thường đã trải qua một quá trình thử nghiệm và rút kinh nghiệm
Trang 20 Phù hợp về tính xã hội và văn hóa vì các giải pháp đó bắt nguồn từ cộng đồng
Gần gũi và mang tính “ sở hữu ” hơn của người dân địa phương, điều
đó là hiển nhiên vì đó là những giải pháp do họ đề ra [9]
Tóm lại, kiến thức bản địa phải được coi như là một tài nguyên quý giá
và quan trọng của đất nước Học hỏi kiến thức bản địa là việc làm rất có ích để có thể tích lũy được các giải pháp thực tiễn, phù hợp với phong tục và tập quán của từng cộng đồng, là cơ sở cho việc phối hợp nhưng ưu điểm của kiến thức bản địa với các mặt mạnh của khoa học kỹ thuật mới Mục tiêu cuối cùng là tạo ra được những dự án phát triển thành công về mọi mặt
2.2.3 Thực trạng các nghiên cứu kiến thức bản địa về NLKH ở Việt Nam
- Ở Việt Nam còn rất ít những nghiên cứu thực nghiệm về kiến thức bản địa về NLKH ở Việt Nam Các tài liệu phổ biến từ trước đến nay là các nghiên cứu, đánh giá kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được TS Hoàng Xuân Tý và các cộng tác viên thực hiện trong khuôn khổ dự án “Đánh giá kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc
tế Canada (IDRC) và quỹ FORD (Foundation) tài trợ (1997-1999), kết quả nghiên cứu
đã được xuất bản thành ấn phẩm do nhà xuất bản Nông nghiệp in ấn (Hà Nội 1998)
Và một số các nghiên cứu do Đậu Quốc Anh viết về các hệ thống nông nghiệp ở Cao Bằng (Đậu Quốc Anh, 1998) Các nghiên cứu này đã khám phá và ghi nhận lại những mặt mạnh, tích cực của kiến thức bản địa trong NLKH, đặc biệt là những thông tin về
hệ thống kiến thức của các đồng bào dân tộc ít người, ví dụ như sau:
Kiến thức về phân loại, đánh giá, chọn lựa, sử dụng đất đai và chọn thời điểm gieo trồng dựa vào các hiện tượng của thiên nhiên, ví dụ như đồng bào Thái đen
và Mông ở Sơn La cho rằng cây cứt lợn (Ageratum conyzoides) chỉ thị cho đất giàu mùn, nhẹ; cỏ tranh (Imperata cylendrica) chỉ thị cho đất bạc màu tầng mặt, khô; hay
người Cơ Tu ở vùng Tây Thừa Thiên Huế cho rằng cây cà tiếc rang chỉ thị cho loại đất phù hợp với việc trồng cam, quýt…
Trang 21 Kiến thức về phục hồi tính chất đất như kỹ thuật bỏ hoang đất, trồng các loài cây bản địa có tính chất cải tạo đất…
Kiến thức về trồng xen như hệ thống xen canh gối vụ trên nương rẫy, phối hợp trồng cây theo từng tầng…
Châm ngôn về kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp
Kiến thức về chống xói mòn như hệ thống bờ cản xói mòn luân phiên, kỹ thuật trồng băng xanh…
Kiến thức về làm ruộng bậc thang
Kỹ thuật chăn thả gia súc, làm sạch nguồn nước trong ao
Các luật tục và tín ngưỡng và vấn đề giới ảnh hưởng đến việc phát triển NLKH của người dân
- Các nghiên cứu trong nước về những mô hình NLKH của người dân đạt hiệu quả cao cũng đem lại nhiều nguồn kiến thức phong phú và mới mẽ về NLKH như nghiên cứu mô hình nông lâm kết hợp VAC của gia đình ông Lê Ngọc Sơn tại ấp Bình Đức, xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương do Đặng Hải Phương và các cộng tác viên – trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh (2006); báo cáo về mô hình nông lâm kết hợp trên đất đồi rừng của gia đình chị Trương Thị Mòi dân tộc Sán Dìu, xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc do Trung tâm khuyến nông khuyến ngư Quốc gia thực hiện (2008)… Các nghiên cứu mới này đặc biệt nhấn mạnh những sáng tạo của người dân trong việc phối hợp giữa kiến thức địa phương với kiến thức từ bên ngoài du nhập vào
- Phần lớn các nhà nghiên cứu về kiến thức bản địa ở Việt Nam đều sử dụng các phương pháp điều tra nhanh nông thôn để thu thập và phân tích kiến thức bản địa được
áp dụng vào các hệ thống canh tác, các phương pháp điều tra nhanh nông thôn sẽ đáp ứng được cả khía cạnh kỹ thuật lẫn kinh tế xã hội Trong cuốn sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa có hướng dẫn các phương pháp thu thập kiến thức bản địa về NLKH cũng như các câu hỏi dùng để phỏng vấn người dân Chúng tôi nhận thấy rằng quá trình phỏng vấn để thu được thông tin của các hộ dân là rất khó khăn, đôi khi các
Trang 22nên chúng tôi cho rằng giải pháp tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của người dân trước khi hỏi
Tóm lại
- Ngày nay khi chúng ta nhận thức được giá trị của kiến thức bản địa, đặc biệt là khả năng đóng góp của nó vào quá trình phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo thì cũng là lúc những kiến thức này đang dần bị mai một theo thời gian
- Phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng cao có vai trò to lớn không chỉ cho người dân vùng cao, mà còn có ý nghĩa quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội của vùng đồng bằng, của cả nước Có nhiều biện pháp phát triển nông lâm nghiệp bền vững, trong đó có biện pháp canh tác NLKH là biện pháp rất cần được quan tâm, cả về mặt các mô hình phát triển cũng như vấn đề thị trường của các sản phẩm nông lâm kết hợp
- Các kỹ thuật NLKH được giới thiệu từ bên ngoài có 2 rủi ro như sau:
+ Chúng có thể không được người dân chấp nhận về các mặt xã hội và kinh tế
+ Chúng không đậm nét về sinh thái và môi trường
- Chúng tôi sẽ kết hợp 3 vấn đề trên lại làm cơ sở cho tính cấp thiết và ứng dụng cho đề tài nghiên cứu của mình Đề tài nghiên cứu sẽ chú trọng tìm hiểu những kiến thức và kỹ thuật được người dân áp dụng khi phát triển các mô hình NLKH của họ
Trang 23Chương 3
ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở để lựa chọn địa điểm nghiên cứu
Việc lựa chọn địa điểm nghiên cứu là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt khi làm luận văn tốt nghiệp Những chỉ tiêu được cân nhắc khi lựa chọn địa điểm nghiên cứu là:
- Địa điểm nghiên cứu phải có tính đa dạng về các hệ thống NLKH
- Cộng đồng tại địa điểm nghiên cứu phải đa dạng về thành phần, mỗi thành phần dân cư có tập quán canh tác khác nhau
- Địa điểm nghiên cứu có nhiều chương trình, chính sách nhà nước về khuyến khích NLKH đang thực hiện
- Được sự hợp tác của cộng đồng và sự đồng ý của chính quyền địa phương Với những lý do trên, các khu vực trực thuộc ban quản lý rừng Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là nơi rất thích hợp để chúng tôi thực hiện đề tài
3.2.Giới thiệu địa điểm nghiên cứu
Được sự chỉ dẫn của ban quản lý rừng Tà Nung, chúng tôi đã nắm bắt được những phần đất nào trực thuộc ban quản lý mà hiện tại người dân đang canh tác, những phần đất này nằm trên địa phận của 3 khu vực là xã Tà Nung, phường 5 và phường 7 thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng Những thông tin sơ bộ thu thập được về 3 khu vực này sẽ được trình bày tóm tắt như sau
3.2.1 Xã Tà Nung
Xã Tà Nung nằm ở phía Tây thành phố Đà Lạt (phía bắc giáp phường 5, phía nam giáp huyện Lâm Hà, phía đông giáp phuờng 4, phía tây giáp huyện Lâm Hà), cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 19 km với diện tích tự nhiên 4.581,64 ha Dân số 4.200 người, trong đó đồng bào dân tộc là 2.042 người chiếm 51,17 % Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, chiếm 89 %; công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm khoảng 11% Thu nhập bình quân đầu người còn thấp (7 triệu đồng/ người năm 2008) so với mức thu nhập bình quân đầu người trên toàn thành phố Do cách không xa trung tâm thành
Trang 24phố Đà Lạt và thị trấn Nam Ban – Lâm Hà, nên điều kiện cơ sở hạ tầng về giao thông được cải thiện và nâng cấp
Về địa hình: địa hình có dạng lòng chảo và thấp từ Bắc xuống Nam, có độ cao thấp nhất là 955 m và cao nhất là 1.520 m so với mực nước biển Địa hình chủ yếu là đồi núi Phần diện tích đồng bằng chiếm khoảng 9% diện tích tự nhiên Địa hình thung lũng thấp bao gồm các dãi đất phân bố dọc theo các suối chỉ chiếm khoảng 4,2 %
Về khí hậu: nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối bởi độ cao và địa hình nên khí hậu quanh năm mát, lượng mưa tương đối lớn, lượng bốc hơi thấp do địa hình thung lũng, lòng chảo, hầu như không có bão
Về tài nguyên:
Tài nguyên rừng: toàn xã diện tích rừng hiện có 2788.33 ha Tong đó, rừng tự nhiên là 2001.66 ha và rừng trồng là 786.7 ha Độ che phủ của rừng đạt 60.85%
Tài nguyên nước: xã có nhiều suối hồ như hồ Cam ly Thượng với diện tích 39.9
ha, hồ Bà Đảm 3 ha, suối nước Trong, Kim Cút Với trữ lượng nước tương đối lớn phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp
Tài nguyên đất: đất ở đây chủ yếu thuộc nhóm đất Feralit Năm 2008, đất sản xuất nông nghiệp trên toàn xã 964,02 ha; đất trồng cây lâu năm là 783 ha; đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản 3,55 ha
3.2.2 Phường 5 và phường 7
Đặc điểm của phường 5 và phường 7 tương đối giống nhau, đều là phường nữa
đô thị, nữa vùng ven, nằm ở phía Tây thành phố Đà Lạt, ngăn cách với xã Tà Nung qua đèo Tà Nung Tổng diện tích đất tự nhiên của phường 5 và phường 7 lần lượt là 3.500 ha, 2780 ha Dân số ở phường 5 là 8.120 người, ở phường 7 là 7.910 người Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Cở sở hạ tầng của 2 phường hiện đang được đầu tư xây dựng rất nhiều
Về địa hình: nằm ở độ cao cao hơn so với xã Tà Nung
Về khí hậu: mang đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ khí hậu của vùng núi cao, mát lạnh quanh năm xuống vùng khí hậu nhiệt đới ẩm thấp nằm sâu trong nội địa Nhiệt độ ở 2 khu vực này thấp hơn so với xã Tà Nung
Trang 25 Về tài nguyên:
Tài nguyên rừng: toàn phường 5 có 2.809,81 ha rừng, trong đó rừng trồng là 2.583,53 ha; toàn phường 7 có 1.171,43 ha rừng
Tài nguyên đất: đất ở đây chủ yếu thuộc nhóm đất Feralit có mùn Năm
2008, phường 5 có diện tích đất sản xuất là 483,1 ha Trong đó diện tích rau là 218 ha; hoa các loại là 102 ha; diện tích các cây khác là 163,1 ha Phường 7 có diện tích đất trồng rau là 898 ha, diện tích gieo trồng 2.050 ha, hoa các loại 50 ha; dâu tây 50 ha; cây công nghiệp cà phê giữ diện tích 125 ha
3.2.3 Vài nét về đặc điểm của các thành phần dân tộc hiện đang cư trú tại địa điểm nghiên cứu
Các thành phần dân tộc hiện đang cư trú tại xã Tà Nung, phường 5 và phường 7 chủ yếu là Kinh, K’ho, Chill, Lạch và Churu
Các cộng đồng dân tộc K’ho, Chill, Lạch và Churu này trước đây vốn theo tín ngưỡng dân gian có tính chất đa thần và bái vật, trong đó nét nổi bật là việc thờ thần rừng (Yang- bri) Trong khoảng 1960- 1970, đại bộ phận người Chill đã chuyển sang Tin lành và người K’ho và Churu theo thiên chúa giáo La Mã Các tập tục cổ xưa của người bản xứ như ca múa tế thần hầu như đã bị mai một, ảnh hưởng văn hóa của người Kinh bao phủ cả cách ăn, cách mặc, nơi ở và các sinh hoạt khác Ngày lễ hội lớn nhất trong cộng đồng không phải là Tết Nguyên Đán mà là lễ Giáng Sinh, kế đến một số hộ nếu có điều kiện sẽ ăn Tết nguyên đán giống người Kinh Hiện tại không còn tình trạng du canh du cư như trước đây Đa số đồng bào dân tộc rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự đổi mới của Nhà nước
3.3 Nhận xét về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội
Địa điểm nghiên cứu mang những đặc tính tiêu biểu của vùng cao Việt nam cả
về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội Nhìn chung phương thức canh tác nông lâm kết hợp nơi đây khá phát triển Yếu tố khí hậu và địa hình là 2 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc phát triển các hệ thống canh tác nông lâm kết hợp ở đây, điển hình là hiện tượng đất xói mòn vào mùa mưa và tình trạng thiếu nước vào mùa khô trong những năm gần đây Ngoài ra, xét về cơ sở vật chất hạ tầng thì còn chưa theo kịp nhịp độ phát triển của thành phố, người dân nơi đây vẫn còn nhiều hộ nghèo,
không đủ vốn mua giống cây trồng
Trang 26Chương 4
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nội dung nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các mục tiêu đã đề ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nội dung sau Nội dung đầu tiên là tìm hiểu các loại mô hình NLKH nào đang hiện hữu tại khu vực nghiên cứu Nội dung thứ 2 là mối liên hệ giữa kiến thức bản địa của người dân trên cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi, tập quán canh tác, cách thức bố trí trong các mô hình NLKH được nêu ra ở nội dung một Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng sẽ thử xác định những khó khăn và thử thách trong việc hình thành và phát triển các hệ thống NLKH này Từ hai nội dung trên, nghiên cứu sẽ tổng hợp các kiến thức bản địa của người dân trong việc hình thành và phát triển các mô hình NLKH
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Nội dung 1: Các mô hình NLKH hiện có ở khu vực nghiên cứu
- Thông qua ủy ban nhân dân và phòng nông nghiệp của phường 5, phường 7 và
xã Tà Nung nắm bắt tổng quan về tình hình canh tác NLKH của các hộ gia đình ở cả 3 khu vực Bao gồm tìm hiểu các loại hình canh tác NLKH nào đang hiện hữu, quá trình hình thành và các đặc điểm kinh tế xã hội, tự nhiên nào có liên quan đến quá trình phát triển các mô hình đó Xin tên và địa chỉ của các trưởng thôn, các hộ gia đình hay cá nhân tiêu biểu về canh tác NLKH ở từng thôn một
- Gặp trưởng thôn tiếp tục tìm hiểu cụ thể hơn về các loại hình canh tác NLKH
ở thôn, cố gắng tìm ra được những mô hình nào đang tồn tại trong dân mà chưa được phòng nông nghiệp nêu ra
- Kết hợp với việc quan sát, thống kê ra các mô hình nào cần được nghiên cứu, những mô hình nào xuất hiện ở cả 3 khu vực, những mô hình nào là đặc trưng riêng của từng khu vực
Trang 27- Những thông tin thu thập được trong nội dung này cũng là những thông tin sơ cấp ban đầu rất cần thiết, sẽ kết hợp giúp nghiên cứu thực hiện các nội dung quan trọng tiếp theo
4.2.2 Nội dung 2: Các kiến thức, kỹ thuật bản dịa của người dân trong quá trình
hình thành và phát triển các mô hình NLKH hiện có ở địa phương
Kiến thức bản địa không phải là một đại lượng vật chất cụ thể, vì vậy không thể định lượng một cách chính xác giống như các phương pháp hàn lâm được Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu không đặt nặng vấn đề quyền sở hữu đất thuộc về chủ mô hình hay thuộc về ban quản lý rừng Tà Nung mà chỉ chú trọng tìm hiểu những kiến
thức và kỹ thuật bản địa được người dân áp dụng
- Phương pháp xác định nhóm mẫu: Các đối tượng nghiên cứu tập trung vào các
hộ gia đình có tập quán canh tác NLKH Trên cơ sở những thông tin thứ cấp thu thập được, chọn ra các thôn cần nghiên cứu, nhờ các trưởng thôn vẽ phác thảo sa bàn của thôn Đây sẽ là căn cứ quan trọng giúp cho chúng tôi cũng như cộng đồng hiểu biết rõ
về ranh giới và đặc điểm của địa bàn thôn Sau đó chọn ngẫu nhiên các địa điểm nghiên cứu trên sa bàn
- Phỏng vấn cá nhân và nông hộ: Đây là công cụ quan trọng nhất của việc thu thập thông tin Cần phải hẹn trước các nông hộ và cá nhân sẽ tiến hành phỏng vấn, cần thu thập không phải ý kiến của chủ hộ mà còn ý kiến của người phụ nữ, đặc biệt là người già Vận dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn, phỏng vấn bán cấu trúc với các câu hỏi đóng và mở để hỏi người dân, tìm ra những kiến thức của họ có liên quan đến hệ thống cây trồng, vật nuôi, tập quán canh tác, cách thức bố trí mô hình, nguyên nhân và tính chấp nhận của người dân đối với việc lựa chọn các mô hình canh tác Sau đó ghi lại tên tuổi của những cá nhân được phỏng vấn và đề nghị người dân phác thảo mô hình NLKH của họ Công việc này sẽ giúp cho việc hình dung cách bố trí cây trồng và vật nuôi trên các vùng đất thuộc phạm vi quản lý của nông hộ được dễ dàng hơn Trong khi phỏng vấn, chúng tôi cố gắng tạo không khí cởi mở với người dân để có thể thu thập thông tin chi tiết, đầy đủ, có độ tin cậy cao và phát hiện ra nhiều kiến thức bản địa quý giá của người dân
- Trong quá trình phỏng vấn, chúng tôi tìm hiểu xem nhận thức của người dân trong vùng về canh tác NLKH như thế nào và giải thích cho người dân hiểu rỏ hơn
Trang 28- Quan sát tại hiện trường: Việc trực tiếp quan sát tại hiện trường sẽ giúp chúng tôi thu thập thêm thông tin và xác định lại những thông tin đã có được từ việc phỏng vấn Quan sát người dân làm gì, họ làm như thế nào và họ sử dụng những vật gì? Vừa quan sát vừa kết hợp phỏng vấn người dân và chụp hình lại
- Thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm có thể cung cấp các thông tin khác nhau về kiến thức bản địa liên quan đến việc phát triển các mô hình NLKH, tạo điều kiện cho người dân trong vùng có thể bàn luận lý do tại sao họ lại làm như vậy, từ đó rút ra được các kiến thức bản địa nào được sự chấp nhận nhiều nhất của cộng đồng
+ Tổng hợp các thông tin và vấn đề nào cần được thảo luận
+ Xin được sự chấp nhận và ủng hộ của các cấp bậc lãnh đạo để tiến hành
tổ chức thảo luận nhóm
+ Tổ chức các nhóm thảo luận từ 6 đến 12 người
+ Trong cuộc thảo luận: Nêu câu hỏi hướng dẫn đầu tiên rồi đề nghị tất cả các thành viên trong nhóm cùng tham gia thảo luận Ghi lại những điểm quan trọng và kết quả mà tất cả mọi người đều nhất trí
4.2.3 Nội dung 3: Những khó khăn và thử thách trong việc phát triển các mô hình NLKH mà người dân gặp phải
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn và thảo luận nhóm để thu thập thông tin cho
nội dung này Đặc biệt phương pháp phỏng vấn sẽ làm nổi bật được những điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn cần được giải quyết, những việc có thể làm để vượt qua những khó khăn đó của người dân để tiếp tục phát triển các mô hình NLKH của họ
- Vì rằng khu vực nghiên cứu của đề tài được chia làm 3 vùng, mỗi vùng sẽ có những khó khăn riêng nên ngoài việc tìm hiểu cách giải quyết khó khăn đó, cần làm rõ: nếu như cùng một khó khăn (nếu có) thì người dân trong mỗi vùng sẽ có cách giải quyết khó khăn đó như thế nào, chẳng hạn như đối với vấn đề canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc thì cần phải làm những gì để hạn chế xói mòn và rửa trôi đất Cách thức hạn chế xói mòn đất của người dân cũng chính là phần kiến thức quan trọng cần tìm hiểu khi tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của kiến thức bản địa đối với việc phát triển các mô hình canh tác NLKH ở vùng cao
Trang 294.2.4 Nội dung 4: Tổng hợp các kiến thức bản địa của người dân trong việc hình thành và phát triển các mô hình NLKH
Mặc dù kiến thức bản địa đã chứng tỏ được giá trị của mình trong rất nhiều trường hợp, tuy nhiên trong nhiều trường hợp không nên vội vã quảng bá khi kiến thức bản địa chưa thật sự được xem xét một cách thận trọng Vì rằng có thể một số kiến thức bản địa đã lỗi thời, một số khác không mang lại hiệu quả và thậm chí có tác dụng tiêu cực Chính vì vậy, để có thể sử dụng hiệu quả kiến thức bản địa trong công tác phát triển ngày nay, chúng ta cần phải có sự tổng hợp các kiến thức bản địa thu thập được để làm cơ sở cho việc đánh giá các kiến thức bản địa
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn và thảo luận nhóm để phát hiện ra những ưu điểm, nhược điểm của các kiến thức thu thập được
- Sử dụng kỹ thuật năm câu hỏi để có thể xác định được tập quán canh tác nào
có ích, có hại hay vô hại để từ đó quyết định liệu có nên phát triển tập quán đó hay không
Trang 30Chương 5
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Qua quá trình thu thập số liệu tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã tổng kết và đưa ra các kết quả sau Các kiến thức bản địa của người dân trong quá trình hình thành
và phát triển các mô hình NLKH từ việc lựa chọn giống cây trồng, tập quán canh tác, vật nuôi đến cách thức bố trí mô hình của họ sẽ được trình bày theo từng mô hình một Những khó khăn và thử thách trong quá trình phát triển các mô hình NLKH của người dân cũng như cách giải quyết khó khăn của họ được trình bày lồng ghép vào nội dung này Cuối cùng là phần nội dung đánh giá các kiến thức bản địa
5.1.Các mô hình nông lâm kết hợp hiện có ở địa phương:
Từ những thông tin thứ cấp thu được cộng với việc quan sát, nghiên cứu đã thống kê được các mô hình NLKH hiện đang hiện hữu ở địa phương như sau:
(1) Canh tác rẫy (trên đất dốc) của người K’ho, Chill ở khu vực xã Tà Nung
(2) Mô hình vườn hộ : cà phê – cây ăn trái – cây nông nghiệp
(3) Mô hình vườn – ao – chuồng
(4) Mô hình cà phê dưới giàn chanh dây ở xã Tà Nung
(5) Mô hình cà phê – thông của người Lạt ở khu vực phường 5
5.2 Các kiến thức, kỹ thuật bản địa của người dân trong quá trình hình thành và phát triển các mô hình NLKH hiện có ở địa phương
Mỗi một mô hình nêu ra đã được chúng tôi tìm hiểu qua 2 mẫu, riêng vườn hộ
và VAC là 2 mô hình xuất hiện ở cả 3 khu vực nên ở mỗi khu vực tìm hiểu 1 mẫu Ngoài việc tuân theo quy tắc chọn mẫu đã được nêu ra, chúng tôi cũng tận dụng các cơ hội khi gặp gỡ với người dân trong khu vực nghiên cứu để phỏng vấn thêm
5.2.1 Canh tác rẫy (trên đất dốc) của người K’ho, Chill ở khu vực xã Tà Nung
Trước đây người K’ho và người Chill có tập quán là du canh du cư, chính vì vậy thách thức lớn nhất mà họ gặp phải khi chuyển sang hình thức tái định canh định
cư là quỹ đất sản xuất Mặc dù 2 cộng đồng này vốn có truyền thống là canh tác lúa nước nhưng vì rằng họ là những người đến địa phương sau, cho nên những phần đất
Trang 31bằng phẳng thích hợp cho việc chuyên canh cây lúa nước không còn nhiều Hoàn cảnh buộc họ phải quan tâm đến những diện tích đất rẫy, đặc biệt là vùng đất dốc trống, từ
đó hệ thống canh tác rẫy trên đất dốc của họ bắt đầu được hình thành
Một vấn đề khó khăn được đặt ra tiếp theo nữa, đó là họ phải chọn lựa và chuyển đổi cơ cấu cây trồng như thế nào cho phù hợp với tình trạng đất đai, khí hậu và nguồn nước hiện tại Khó khăn là vậy nhưng hệ thống cây trồng trên đất rẫy của cộng đồng vẫn duy trì được một cơ cấu cây trồng ngày một đa dạng hơn Các loại cây trồng chính được xác định và phân loại theo bảng 5.1 sau :
Bảng 5.1 Phân loại hệ thống cây trồng trên hệ thống canh tác rẫy của người K’ho và
người Chill ở khu vực xã Tà Nung
Cà phê (cà phê Rô, cà phê
Cây ăn trái (bơ, xoài, cam) Cây đa niên Dùng trong gia đình
Bắp địa phương Cây hàng niên Thương mại và dùng trong gia
đình Lúa rẫy, chuối Cây hàng niên Dùng trong gia đình
Đậu đen, đậu trắng Cây hàng niên Dùng trong gia đình
Như vậy, với bảng cơ cấu cây trồng trên, Người K’ho và Chill đã tỏ ra rất thích nghi với điều kiện mới, họ đã biết lựa chọn giống cây trồng mới là cây cà phê, xoài, cam… đem phối hợp trồng hài hòa với các giống bản địa của dân tộc mình
Theo kết quả phỏng vấn thì đa số người K’ho và người Chill cho rằng: tình trạng đất đai hiện tại không cho phép họ tiếp tục tập quán trồng lúa nữa, tuy nhiên thực
tế đồng bào vẫn trồng một ít lúa trên rẫy để cung cấp thêm lương thực cho gia đình, mặc dù năng suất lúa thu được không cao và thấp hơn trước đây rất nhiều Ngày nay với sự phát triển trong tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã mang lại những thành tựu vượt bậc về tăng năng suất và sản lượng cây trồng, nhiều giống lúa nhân tạo mới
có năng suất cao đã ra đời Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao người
Trang 32dân dân tộc K’ho và Chill tại Đà Lạt hiện nay vẫn ưa chuộng các giống lúa truyền thống của họ? Tại sao họ vẫn duy trì áp dụng những kỹ thuật trồng lúa đặc hữu? Lý do được cộng đồng đưa ra là các giống lúa này có khả năng chịu hạn rất cao, hơn nữa họ
đã quá quen miệng với mùi vị của các loại lúa này rồi Điều đặc biệt là ở khu vực xã
Tà Nung chỉ có giống lúa của người K’ho và Chill trồng là mọc lên được thôi và cũng chỉ có họ mới có khả năng trồng được các giống lúa này
Bảng 5.2 Các giống lúa bản địa của người K’ho và người Chill
1 Chà-ang Là giống lúa dài ngày, trên 5 tháng, chịu được đất xấu, gạo nở
vừa, gieo cuối tháng 5, gặt tháng 11
2 Kơ-rưn Là giống lúa dài ngày, chịu được đất xấu và hạn, cây cao nhưng
ít đổ, năng suất ổn định, ăn béo và ngon
3 Koi-bo Là giống lúa tẻ ngon nhất, trồng ở đất rừng tốt, năng suất thấp
4 Koi-lứt Là giống lúa chịu hạn tốt, cây cao, gạo không ngon,vỏ trấu màu
đen, năng suất khá
Ban đầu việc cây cà phê được cộng đồng chọn làm giống cây trồng chính xuất phát từ lý do kinh tế, nhưng đến thời điểm hiện tại thì lại hoàn toàn xuất phát từ kinh nghiệm lâu năm của cha ông để lại, gây trồng cà phê đã trở thành tập quán lâu đời của
họ Cho dù giá cà phê có xuống thấp hay ngay khi được tuyên truyền và hỗ trợ vốn thì 100% tổng số hộ được phỏng vấn nhất quyết không muốn chuyển đổi sang cây trồng khác
Loại cà phê được đồng bào người K’ho, Chill cũng như dân cư trong vùng ưa chuộng là cà phê Rô và cà phê Moca Qua nhiều năm canh tác, đồng bào khẳng định 2 giống cà phê này là phù hợp nhất với tình hình đất và khí hậu khu vực xã Tà Nung Những thông tin thu được từ các ý kiến của đồng bào về những ưu điểm và nhược
Trang 33điểm của 2 loại cà phê trên đã được tổng hợp trong bảng 5.3 sau, qua đó có thể giúp bà con chọn lựa giống cà phê phù hợp nhất với từng điều kiện gia đình của mình
Bảng 5.3 Ưu và nhược điểm của giống cà phê Rô và cà phê Moca
- Độ bền của cây cao (khả năng
cho trái trong thời gian dài và liên
tục)
- Là giống dài ngày nên lâu được thu hoạch (năm thứ 3 mới bắt đầu ra quả, năm thứ 5 ổn định )
- Quả chín tập trung nên dễ thu
hoạch (thu hoạch 1 lần )
- Vì cây to, tán bự nên trồng thưa
- Cùng một trọng lượng quả tươi
nhưng cà phê Rô thu được trọng
lượng nhân nhiều hơn cà phê
Moca (1 kg nhân cà phê Rô tương
đương với 4 - 4,5 kg quả ; còn 1
kg nhân cà phê Moca tương
đương với 5 – 6 kg quả)
- Chỉ ưa rợp trong giai đoạn đầu nên chỉ
có thể kết hợp trồng xen trồng xen trong giai đoạn đầu
- Là giống ngắn ngày nên nhanh
được thu hoạch (10 tháng đã cho
quả )
- Quả chín phân tán, không tập trung nên rất tốn công thu hoạch
- Vì ưa rợp nên khả năng trồng
xen cây khác cao hơn cây cà phê - Độ bền của cây thấp, đời sống ngắn
- Cùng một trọng lượng quả tươi nhưng
cà phê Moca thu được trọng lượng nhân
ít hơn cà phê Rô
Về kỹ thuật canh tác cà phê thì đồng bào cũng biết cách tự ươm lấy cây con, tuy nhiên họ vẫn chưa mạnh dạn tuyển chọn hạt giống từ chính cây cà phê của mình trồng được mà phải mua ở Mê Linh, Da Sa hay Lạc Dương Sau đó, họ lấy quả đem phơi