1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA RỪNG TRỒNG THÔNG 3 LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon) TẠI BAN QLR D’RAN TỈNH LÂM ĐỒNG

73 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu quá trình sinh trưởng của cây và loại hình rừng nào đó, là tìm hiểu và nắm bắt được quy luật phát triển của chúng thông qua một số chỉ tiêu sinh trưởng như: D1,3, Hvn, DT, V,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA RỪNG

TRỒNG THÔNG 3 LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon)

TẠI BAN QLR D’RAN TỈNH LÂM ĐỒNG.

Họ và tên sinh viên: PHẠM VĂN ĐÍNH

Ngành: LÂM NGHIỆP Niên khóa: 2004 - 2009

Trang 2

NGHIÊN CỨU QUI LUẬT SINH TRƯỞNG CỦA RỪNG

TRỒNG THÔNG 3 LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon)

TẠI BAN QLR D’RAN TỈNH LÂM ĐỒNG

Trang 3

Xin chân thành cảm ơn

Đà Lạt, ngày 09 tháng 06 năm 2009 PHẠM VĂN ĐÍNH

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của rừng trồng Thông 3 lá

(Pinus kesiya Royle ex Gordon) tại BQLR D’Ran – Lâm Đồng”

Thời gian thực hiện: Từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2009

Đề tài được thực hiện trên các lâm phần rừng Thông 3 lá thuộc BQLR D’Ran, tỉnh Lâm Đồng được tiến hành trồng vào các năm 1986, 1987, 1990 và 1995, kết quả như sau:

- Rừng Thông 3 lá trồng năm 1986 có mật độ hiện tại là 420 – 520 cây/ha, đường kính 26,5 – 27,5 cm, chiều cao 17 – 18 m; trồng năm 1990, có mật độ hiện tại

900 cây/ha, đường kính 23 cm, chiều cao 16,5 m; trồng năm 1995 có mật độ hiện tại

880 – 1000 cây/ha, đường kính 20 cm, chiều cao 15 m Riêng rừng trồng năm 1987 có mật độ hiên tại 1000 cây/ha, vì trồng trên đất đồi dốc với điều kiện lập địa xấu nên đường kính chỉ đạt 17,5 cm, chiều cao chỉ đạt 12 m

- Phân phối đường kính và chiều cao trong hầu hết các lâm phần rừng Thông 3

lá trồng năm 1986, 1987, 1990 và 1995 đều không tuân theo đúng quy luật phân phối chuẩn (cả độ nhọn K và độ lệch S đều khác zero)

- Mô hình tương quan và hồi quy giữa đường kính và chiều cao dạng tuyến tính

và các dạng phi tuyến (mũ, bội, logarit) không có sự khác biệt đáng kể, trong đó mô hình dạng hàm logarit cho kết quả tốt hơn cả (H = -0,663 + 5,710lnD ; r(lnD,H) = 0,907; P = 1,44.10-8 << 0,05)

Trang 5

2.2 Các nghiên cứu về sinh trưởng, tăng trưởng trên thế giới 5 2.3 Các nghiên cứu về sinh trưởng, tăng trưởng ở Việt Nam 7

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12

Trang 6

4.1 Nội dung nghiên cứu 21

5.2 Sự phân phối của đường kính và chiều cao trong lâm phần 23 5.3 Sự tương quan và hồi quy của đường kính và chiều cao trong lâm phần 36

Trang 7

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Nội dung

1 C1,3 : Chu vi thân cây tại vị trí 1,3 m

2 D1,3 : Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m

3 Hvn : Chiều cao thân cây vút ngọn

5 BQLR : Ban quản lý rừng

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tiêu chuẩn kỹ thuật trong trồng rừng thông 3 lá 19

Bảng 5.1 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của rừng trồng

Bảng 5.2 Đặc điểm phân phối của D và H của rừng trồng Thông 3 lá ở BQLR D’Ran

Bảng 5.3: Phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với mật độ

Bảng 5.4: Phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với mật độ

Bảng 5.5: Phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với mật độ

Bảng 5.6: Phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với mật độ

Bảng 5.7: Phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1987 ở BQLR

Bảng 5.11: Phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với mật

Bảng 5.12: Phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với mật độ

Bảng 5.13: Phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với mật

Bảng 5.14: Phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với mật độ

Trang 9

Bảng 5.15: Kết quả so sánh mô hình tương quan và hồi quy của D và H từ các dạng

hàm tuyến tính (H = a + bD), hàm mũ (H = ea + bD), hàm bội (H = aDb) và hàm logarit (H = a + blnD) bằng ma trận tương quan và phân tích hồi quy của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với mật độ hiện tại 420 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng 36

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 5.1: Tổng quan khu vực nghiên cứu 24

Hình 5.2: Đồ thị phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với

mật độ hiện tại 420 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp đường kính, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 25

Hình 5.3: Đồ thị phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với

mật độ hiện tại 420 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp chiều cao, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 25

Hình 5.4: Tổng quan khu vực nghiên cứu 26

Hình 5.6: Đồ thị phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với

mật độ hiện tại 520 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp đường kính, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 27

Hình 5.5: Đồ thị phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với

mật độ hiện tại 520 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp chiều cao, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 27

Hình 5.6: Tổng quan khu vực nghiên cứu 28

Hình 5.7: Đồ thị phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1987 ở

BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp đường kính, frequency là tần số, cumulative là

Hình 5.8 Đồ thị phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1987 ở

BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp chiều cao, frequency là tần số, cumulative là tần

Hình 5.9: Tổng quan khu vực nghiên cứu 30

Hình 5.10 Đồ thị phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1990 ở

BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp đường kính, frequency là tần số, cumulative là

Hình 5.11: Đồ thị phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1990 ở

BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp chiều cao, frequency là tần số, cumulative là tần

Hình 5.12: Tổng quan khu vực nghiên cứu 32

Trang 11

Hình 5.13 Đồ thị phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với

mật độ hiện tại 880 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp đường kính, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 33

Hình 5.14: Đồ thị phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với

mật độ hiện tại 880 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp chiều cao, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 33

Hình 5.15: Tổng quan khu vực nghiên cứu 34

Hình 5.16: Đồ thị phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với

mật độ hiện tại 1000 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp đường kính, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 35

Hình 5.17: Đồ thị phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1995, với

mật độ hiện tại 1000 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp chiều cao, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %) 35

Hình 5.18: Đồ thị hàm tuyến tính thể hiện mối tương quan giữa D và H (H = 12,482 +

0,205D ; r(D,H) = 0,897) rừng Thông 3 lá trồng năm 1986 ở BQLR D’Ran – Lâm

Hình 5.21: Đồ thị hàm logarit thể hiện mối tương quan giữa D và H (H = -0,663 +

5,710lnD ; r(lnD,H) = 0,907) rừng Thông 3 lá trồng năm 1986 ở BQLR D’Ran – Lâm

Trang 12

Hiện nay, nhà nước đã hạn chế mở cửa rừng tự nhiên, nhiều tỉnh phải đóng cửa rừng trong thời gian dài và chuyển hướng chính sang kinh doanh rừng trồng Các tỉnh, các doanh nghiệp đã xác định được rằng, chỉ có đẩy nhanh tốc độ trồng rừng kinh tế và nâng cao chất lượng rừng trồng mới đáp ứng được nhu cầu lâm sản, hàng hóa cho xã hội, mà trước hết là cung cấp đủ nguyên liệu cho các khu công nghiệp, nhà máy lớn…

Vì vậy, rừng trồng nguyên liệu công nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế nói chung và đặc biệt quan trọng trong kinh doanh lâm nghiệp nói riêng

Mặc dù công tác trồng rừng ngày càng được đẩy mạnh nhưng chất lượng còn thấp, một phần do giống chưa được cải thiện, biện pháp kỷ thuật lâm sinh chưa đồng bộ… Nhìn chung, sự phát triển của rừng trồng chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Vì vậy công việc hàng đầu của ngành Lâm nghiệp nước

ta hiện nay là khôi phục lại diện tích rừng đã mất, đồng thời vừa nâng cao năng suất vừa đảm bảo chất lượng rừng trồng, góp phần làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, tạo lập sự cân bằng sinh thái – xã hội, nâng cao độ che phủ, góp phần cải thiện khí hậu khu vực và toàn cầu, phục vụ giải trí – du lịch sinh thái cho cộng đồng Chính vì vậy, việc mở rộng diện tích rừng trồng và tăng năng suất rừng trồng là một việc làm cấp bách cần phải tiến hành giải quyết trong thời gian sớm nhất và nhanh nhất

Trang 13

Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn đó, được sự phân công của bộ môn Điều Chế Rừng, thuộc khoa Lâm Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm TP HCM,

dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy Nguyễn Ngọc Kiểng, đề tài “Nghiên cứu đặc

điểm sinh trưởng của rừng trồng Thông 3 lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon) tại

BQLR D’Ran – Lâm Đồng” được tiến hành thực hiện trong khuôn khổ của một luận

văn tốt nghiệp Đại học thuộc chuyên ngành Lâm nghiệp

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định các chỉ tiêu sinh trưởng (đường kính, chiều cao) và mật độ hiện tại của các rừng trồng Thông 3 lá ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng

- Đối chiếu các phân phối về đường kính và chiều cao của các rừng trồng Thông 3 lá ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng so với phân phối chuẩn

- Xác định các mô hình tương quan và hồi quy (tuyến tính, phi tuyến) giữa đường kính và chiều cao của các rừng trồng Thông 3 lá ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng

Trang 14

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Sơ lược về một số vấn đề liên quan

Sinh trưởng của rừng là quá trình sinh trưởng của quần thể cây rừng, có quan hệ chặt chẽ với điều kiện môi trường, trong đó có lập địa Sinh trưởng của rừng là cơ sở chủ yếu để đánh giá sức sản xuất của lập địa, điều kiện tự nhiên cũng như hiệu quả của các biện pháp tác động đã được áp dụng

Sinh trưởng của cây rừng là cơ sở hình thành nên sản lượng rừng, vì vậy muốn nghiên cứu sinh trưởng của rừng (quần thể) trước hết phải bắt đầu từ việc nghiên cứu cây cá thể

Từ khi hình thành, phát triển, thành thục, già cỗi và chết đi kích thước cây rừng không ngừng tăng lên và sẽ ổn định ở một trị số nào đó Như vậy sinh trưởng là sự biến đổi về chất và lượng của cây rừng theo thời gian, thông qua các nhân tố đặc trưng nào đó, thí dụ D1,3, H,…(Giang Văn Thắng, 2006)

Về mặt toán học, nếu cho y là nhân tố sinh trưởng nào đó, t là thời gian thì sinh trưởng sẽ là một hàm số biến thiên theo thời gian y = F(t) Đối với các thực thể sinh vật nói chung và cây rừng nói riêng: đường cong đặc trưng cho sinh trưởng của chúng

là đường cong hình chữ S chia thành 3 giai đoạn: hình thành và phát triển, trưởng thành, thành thục và già cỗi (Giang Văn Thắng, 2006)

Theo Lâm Xuân Sanh (1987), sinh trưởng là một biểu thị động thái của rừng, là căn cứ khoa học quan trọng để định ra những phương thức kỹ thuật lâm sinh thích hợp

Trang 15

với từng giai đoạn phát triển khác nhau của rừng để đáp ứng với mục tiêu kinh doanh lâm nghiệp Sinh trưởng của quần xã thực vật rừng và cá thể cây rừng là hai vấn đề khác nhau nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau Sinh trưởng cá thể có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của rừng

Nghiên cứu sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng đã được nhiều tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đề cập từ thế kỷ 19 Những nghiên cứu này đều có xu hướng xây dựng các cơ sở khoa học và lý luận cho việc kinh doanh rừng có hiệu quả Cơ sở ban đầu để hình thành lĩnh vực này là những nghiên cứu sản lượng cho đối tượng cây rừng và lâm phần Từ những thí nghiệm ban đầu, con người đã có những hiểu biết về sinh trưởng và sản lượng của một số loài cây chính Những nghiên cứu bắt đầu từ định tính chuyển sang định lượng các quy luật tự nhiên góp phần giải quyết nhiều vấn đề trong thực tiễn sản xuất và kinh doanh rừng

Nghiên cứu quá trình sinh trưởng của cây và loại hình rừng nào đó, là tìm hiểu

và nắm bắt được quy luật phát triển của chúng thông qua một số chỉ tiêu sinh trưởng như: D1,3, Hvn, DT, V, … theo thời gian (hay còn gọi là tuổi của cây rừng) Những quy luật này được mô tả và trình bày bằng những phương trình toán học cụ thể, chúng được gọi là các hàm sinh trưởng hay các mô hình sinh trưởng Từ những quy luật này, người làm công tác lâm nghiệp sẽ có những đánh giá, nhận xét một cách khách quan

về ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh (như điều kiện tự nhiên, biện pháp tác động) tới quá trình sinh trưởng của cây rừng Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây rừng, nhằm đưa rừng đạt được chất lượng tốt, năng suất cao và phù hợp với mục tiêu kinh doanh đã đề ra

t: thời điểm điều tra

∆: khoảng thời gian từ thời điểm nào đó tới thời điểm điều tra y: lượng tăng trưởng (Giang Văn Thắng, 2006)

Trang 16

2.2 Các nghiên cứu về sinh trưởng, tăng trưởng trên thế giới

Như đã biết, sinh trưởng của cây rừng và lâm phần phụ thuộc tổng hợp vào các yếu tố môi trường và những biện pháp tác động Vì vậy, không có những nghiên cứu thực nghiệm khoa học thì không thể làm sáng tỏ quy luật của các loài cây Nhận thức được điều này, từ thế kỷ 18 đã xuất hiện những nghiên cứu của các tác giả Octtelt, Pauslen, Bause, Borggreve, Breymann, Cotta, Danckelmann, Draudt, Hartig, Weise Nhìn chung, những nghiên cứu về sinh trưởng cây rừng và lâm phần phần lớn được xây dựng thành các mô hình toán học chặt chẽ và được công bố trong các công trình của Meyer, M.A, Stevenson (1949), Schumacher, F.X và Coile T.X (1960), Alder (1980),

Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng rừng của các tác giả chủ yếu

là áp dụng kỹ thuật phân tích thống kê toán học, phân tích tương quan và hồi quy qua

đó xác định sản lượng gỗ của lâm phần

Trong lịch sử ra đời và phát triển của sản lượng rừng đã xuất hiện hàm sinh trưởng của Gompertz (1825) Tiếp sau đó là hàm sinh trưởng của các tác giả khác như Verhulst (1845), Kosun (1935), Frane (1968), Korf (1973), Wenk (1973), Schumacher (1983), … hầu như những nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng và lâm phần, phần lớn được xây dựng thành các mô hình toán học chặt chẽ và được công bố trong các công trình của Meyer và Stevenson (1943), Schumacher và Coile (1960) hay gần đây

là của Wenk (1973) Nhìn chung, các hàm sinh trưởng đều có dạng toán học khá phức tạp, biểu diễn quá trình sinh học dưới sự chi phối tổng hợp của các nhân tố nội và ngoại cảnh Đây là những hàm toán học mô phỏng được quy luật sinh trưởng của cây rừng cũng như lâm phần dựa vào các nhân tố điều tra lâm phần để dự đoán giá trị lớn nhất của các đại lượng sinh trưởng

Từ nhiều thập kỷ trở lại đây, các nhà khoa học lâm nghiệp trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu với sự ứng dụng rộng rãi của thống kê toán học nhằm tìm ra các phương trình toán học phù hợp cho việc mô tả quá trình sinh trưởng của các loài cây rừng ở các vùng sinh thái khác nhau trên các châu lục

Tuy nhiên các hàm toán học hay các hàm sinh trưởng được tìm ra chỉ thích hợp với một số loài cây ở một số vùng sinh thái cụ thể nào đó, với các loài cây khác ở các vùng sinh thái khác nhau, các hàm toán học này có phù hợp hay không cần phải có

Trang 17

những nghiên cứu ứng dụng và kết luận với mức độ phù hợp của chúng ở một mức độ tin cậy nhất định

Tiêu biểu và đại diện cho các kết quả nghiên cứu về sinh trưởng cây rừng được công bố trên thế giới là những hàm sinh trưởng mang tên các tác giả như:

Mirscherlich: Y = a0.[1-e(−a1 A)a2]

Thomasius: Y = a0.[1- ( 1 2. )]

1A e a A a

Trong đó: Y là đại lượng sinh trưởng như chiều cao, đường kính…

m là giá trị cực đại có được của Y

a0, a1, a2 là các tham số của phương trình

A là tuổi cây rừng hay lâm phần

e là số mũ tự nhiên Neper (e = 2,7182…) Trong các hàm sinh trưởng được trình bày ở trên, có thể coi hàm Gompertz là hàm cơ sở ban đầu cho việc phát triển tiếp theo của các hàm sinh trưởng khác

Mặt khác, sinh trưởng cũng được thể hiện thông qua mối tương quan và ảnh hưởng tương hổ giữa các bộ phận của cây hay giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với nhau

Cụ thể hóa vấn đề này R.W.J.Keay (1961) đã nhận thấy, tương quan giữa đường kính tán lá và lượng tăng trưởng đường kính thân cây có mối tương quan chặt chẽ với nhau

ở loài cây Sterculia rhiropetala tại Nigeria

Theo Lowe (1961), G.N.Baur (1964) với các cây gỗ ở khu vực khô, sinh trưởng chậm hơn ở các cây gỗ ở vùng ẩm ướt

Tốc độ tăng trưởng hay còn gọi là lượng tăng trưởng thường xuyên của cây rừng cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm, mô tả và quy luật hóa quá trình tăng trưởng của cây rừngbằng những hàm tăng trưởng như:

- Hàm Gompertz: Y’= a0.ea1 A

- Hàm Korf: Y’= a0.Aa1

Trang 18

Trong đó: Y’ là lượng tăng trưởng của nhân tố sinh trưởng nào đó

Thí dụ: H = F(A); ih = F’(A) = f(A) Việc nghiên cứu về quy luật sinh trưởng và tăng trưởng của cây rừng về chiều cao, đường kính, thể tích, … đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu sinh trưởng trên thế giới Qua đó đã đưa ra nhiều dạng hàm toán học khác nhau nhằm mô tả chính xác quy luật sinh trưởng của mỗi loài cây ở từng vùng sinh thái khác nhau trên thế giới và cũng là cơ sở khoa học rất quí giá cho những nghiên cứu khác về sinh trưởng cây rừng trên thế giới

2.3 Các nghiên cứu về sinh trưởng, tăng trưởng ở Việt Nam

Ở Việt Nam lĩnh vực này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đã

có nhiều công trình đóng góp đáng kể cho công tác kinh doanh, quản lý bảo vệ rừng

Qua nghiên cứu về quy luật sinh trưởng các nhà khoa học đã tìm ra rất nhiều dạng phương trình toán học khác nhau Tuy nhiên, các dạng phương trình này chỉ phù hợp cho một số loài cây ở những vùng sinh thái khác nhau

Theo Vũ Đình Phương và cộng sự (1973) ( Trích dẫn từ Trương Văn Vinh, 2006), khi nghiên cứu quy luật sinh trưởng của rừng Bồ đề đã mô tả về quan hệ giữa

chiều cao bình quân với tuổi của quần thể Bồ đề (Styrax tonkinensis Pierre) trồng

thuần loại đều tuổi bằng phương trình:

AH = a0 +a1.A + a2.A2Trong đó:

- A: tuổi của cây

- AH: tích số giữa tuổi và chiều cao bình quân

- a1, a2, a3: các tham số của phương trình

Trang 19

Đồng Sỹ Hiền (1973) (trích dẫn từ Đặng Quốc An, 2007) trong công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra dạng phương trình toán học bậc đa thức để biểu thị mối quan hệ giữa đường kính và chiều cao ở các vị trí khác nhau của cây, qua đó mô tả được quy luật phát triển hình dạng thân cây của cây rừng, đặc biệt là cây rừng tự nhiên:

Y = b0 + b1.x1 + b2.x2 + b3.x3 + + bn.xnTrịnh Đức Huy (1987) đã dùng các phương pháp toán học để xác lập quy luật sinh trưởng của các nhân tố đo dưới nhiều dạng hàm khác nhau (hàm logarit, hàm mũ) cho các lâm phần bồ đề thuần loại đều tuổi vùng trung tâm Bắc Việt Nam Tác giả nhận thấy rằng, hàm Schumacher Y=

k

x b

e

. −

0 có độ liên hệ rất cao và ổn định cho

cả nhân tố đường kính, chiều cao và thể tích của cây rừng

Trong đó: Y là chỉ tiêu sinh trưởng của cây hay lâm phần

X là tuổi của cây hay lâm phần

a0, a1 là các tham số của phương trình

Để lập biểu quá trình sinh trưởng ở rừng trồng Keo lá tràm, Vũ Tiến Hinh (1996) cũng đã xác lập một loạt các hàm sinh trưởng, các mô hình dự đoán sản lượng

và tác giả đã đề xuất việc ứng dụng những kết quả này vào hoạt động sản xuất và kinh doanh rừng trồng

Bùi Việt Hải (1998), cũng đã chọn dạng hàm Schumacher để xây dựng mô hình sinh trưởng cho các nhân tố đường kính d1,3, chiều cao Hvn, đường kính tán dT của cây keo lá tràm làm cơ sở khoa học cho kỹ thuật tỉa thưa Tác giả đã nhận định rằng, các hàm sinh trưởng là các đường cong tăng và tăng nhanh ngay từ những năm đầu, mang đặc tính chung của loài cây ưa sáng

Trang 20

Nguyễn Ngọc Lung cũng nhận xét tương tự khi thử nghiệm một số hàm số để biểu thị quá trình sinh trưởng D, H, V cho loài Thông ba lá Qua nghiên cứu tác giả đã cho những nhận xét: Hàm Gompertz và một số hàm sinh trưởng lý thuyết khác có điểm xuất phát không phải tại gốc tọa độ Tác giả cho rằng, đối với loài cây mọc chậm thì cỡ tuổi đầu 5, 10 năm đều không quan trọng, nhưng trong điều kiện cây mọc nhanh thì cần lưu ý vấn đề này Và tác giả đã nhận xét rằng, hàm Schumacher có ưu điểm tuyệt đối vì nó xuất phát từ gốc tọa độ, cuối cùng tác giả đề nghị dùng phương trình Schumacher để mô tả quy luật sinh trưởng cho một số đại lượng D, H, V của loài Thông ba lá tại Đà Lạt - Lâm Đồng

Xu hướng sử dụng các mô hình toán học trong nghiên cứu sinh trưởng đã được nhiều tác giả quan tâm như: Vũ Đình Phương, Vũ Tiến Hinh, Nguyễn Ngọc Lung, Giang Văn Thắng, Bùi Việt Hải, Nguyễn Minh Cảnh, Các tác giả đã sử dụng phương trình tương quan giữa các nhân tố điều tra lâm phần để xác định các quy luật sinh trưởng Những công trình nghiên cứu trên đều nhằm phục vụ cho việc xác định cường độ tỉa thưa, dự đoán sản lượng gỗ, lập biểu cấp đất, biểu thể tích cho một số loài cây trồng như: Thông, Mỡ, Bồ đề, Neem, Keo lá tràm,

Ngoài ra, còn có các dạng phương trình toán học khác được đề nghị nhằm mô tả quy luật sinh trưởng của một số loại hình rừng ở Việt Nam

2.4 Nhận định chung về tình hình nghiên cứu

Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới cũng như các tác giả trong nước về sinh trưởng sản lượng rừng đã được tham khảo và điểm qua ở trên cho thấy: Có rất nhiều công trình nghiên cứu công phu về lĩnh vực này cho một số loài cây trồng Ngày nay xu hướng phát triển về phương pháp nghiên cứu là đi vào định lượng

Vì vậy, những nghiên cứu đều xuất phát từ cơ sở lý luận về lâm sinh học, về quan hệ giữa sinh trưởng và sản lượng với điều kiện lập địa, về sự phụ thuộc của sinh trưởng

và sản lượng vào không gian sinh trưởng cũng như ảnh hưởng của các biện pháp tác động Từ đó xây dựng các mô hình phù hợp cho từng loài cây ứng với mục đích kinh doanh cụ thể

Sinh trưởng của loài cây nói chung và của các nhân tố như đường kính, chiều cao và thể tích nói riêng mang tính quy luật Việc xây dựng các hàm sinh trưởng hay

mô hình hoá quá trình sinh trưởng của các nhân tố điều tra đang là một xu thế phát

Trang 21

triển của nền lâm sinh hiện đại Quan điểm chung đều thống nhất rằng, trong hoàn cảnh mà các yếu tố ảnh hưởng tương đối đồng nhất thì sinh trưởng được coi như một hàm số chỉ phụ thuộc vào thời gian và phương trình khái quát có dạng y = f(A) Nắm bắt được quá trình sinh trưởng của cây sẽ là một công cụ rất tốt để xác định lượng tăng trưởng và từ đó định ra thời điểm chặt, chu kỳ chặt tỉa thưa hay xác định tuổi khai thác một cách hợp lý

Những kết quả nghiên cứu ở nước ta cho thấy, nhiều tác giả đã tìm kiếm một số dạng hàm số toán học để biểu diễn quá trình sinh trưởng của cây, đó là các quan hệ định lượng giữa nhân tố điều tra (D1.3, DT , Hvn, V…) với tuổi cây (A) Các hàm sinh trưởng của Gompertz (1825), Korsun (1935), Korf (1973), Verhulst (1845) và của Schumacher (1986) đều đã được vận dụng ở dạng này hay dạng khác Vũ Đình Phương đã mô tả quan hệ giữa H bình quân với tuổi bằng hàm parabol: Y = a+bX +cX2 ở lâm phần Bồ đề thuần loại và dạng hàm mũ Y= a(1-e-kx)b cho một số loài cây rừng tự nhiên Phùng Ngọc Lan đã thử nghiệm các hàm sinh trưởng châu Âu cho một vài loài cây rừng Việt Nam và nhận thấy những hàm sinh trưởng đó chưa phù hợp với đặc tính sinh trưởng của cây rừng nước ta Trịnh Đức Huy và Đào Công Khanh đã phân tích hàng loạt những mối quan hệ giữa các nhân tố Hvn, D1.3, V với tuổi và rút ra hàm sinh trưởng của Schumacher: Y=

k

x b

e

. −

0 có thể ứng dụng tốt để biểu thị sinh trưởng ở một số loài cây kinh doanh nguyên liệu giấy Vũ Nhâm qua so sánh các hàm Korf, Gompertz và Verhulst đã chọn dạng hàm Y=m.e-aX/b cho loài Thông đuôi ngựa Nguyễn Ngọc Lung đã đề nghị dùng phương trình Schumacher để mô tả quy luật sinh trưởng cho một số đại lượng D1,3, Hvn, V của loài Thông ba lá tại Đà Lạt - Lâm Đồng

Một số sinh viên Khoa Lâm nghiệp trong thời gian gần đây cũng đã đề nghị một số dạng hàm số toán học của Schumacher, Meyer, Parabol để biểu diễn quá trình sinh trưởng của một số đại lượng D1,3, Hvn, V ở một số loài cây như: Neem, Keo lá tràm,

Tuy nhiên, việc lựa chọn một hàm sinh trưởng nào đó để biểu thị cho quá trình sinh trưởng của nhân tố định lượng nói chung đều có chung một tinh thần là hàm đó phải biểu diễn đúng nhất quá trình sinh trưởng của loài cây nghiên cứu và có sai số tương đối nhỏ nhất, các tham số của mô hình đều tồn tại Những dạng hàm mũ kép

Trang 22

như hàm Schumacher, Korf và Gompertz đã được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu

về sinh trưởng của loài cây và lâm phần Trong trường hợp, cùng một số liệu thực nghiệm có thể có nhiều hàm khác nhau đều phù hợp, cần thực hiện phương pháp so sánh nhiều hàm để cuối cùng lựa chọn hàm tốt hơn Đây chính là quan điểm mà luận văn kế thừa và đi theo để giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài

Trang 23

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC

NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Lâm Đồng là một vùng đất cực Nam Tây nguyên, nơi tập trung một hệ thực vật phong phú, đa dạng mang những đặc trưng vùng nhiệt đới núi cao, mưa mùa và những nét của rừng Á nhiệt đới với nhiều kiểu rừng thưa (rừng lá kim), rừng kín thường xanh, rừng rụng lá, rừng hỗn giao và rừng tre nứa, …

Rừng Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng là nơi nổi tiếng với nhiều loài cây, loài con quý hiếm được đưa vào sách đỏ Hiện nay, nhiều nhà khoa học trong và

ngoài nước đang chú ý đến các loài thông hai lá dẹt (Pinus krempfii), thông năm lá (Pinus dalatensis), thủy tùng (Glyptostrobus pensisis), thông đỏ (Taxus willichiana)

Rừng Lâm Đồng còn là nơi cư trú và sinh sống của những loài động vật quý hiếm như tê giác một sừng, voi, bò tót, sói xám, voọc xám, beo gấm, báo hoa mai, gấu, vượn,… cùng với hàng trăm loài chim và bò sát Mặc dù phong phú và đa dạng như vậy, nhưng đáng tiếc lâu nay tình trạng khai thác bừa bãi, nạn phá rừng làm rẫy, nạn cháy rừng đã làm suy giảm, có nơi cạn kiệt nguồn tài nguyên quý giá đó

Ban quản lý rừng D’Ran quản lý diện tích rừng 17.045 ha là rừng phòng hộ đầu nguồn cung cấp nguồn nước cho các nhà máy thủy diện như: thủy điện Đa Nhim Đồng thời là đầu nguồn của nhiều con sông lớn như sông Đa Nhim, Krông Nô, Đa Dâng Mục tiêu của Ban quản lý rừng D’Ran:

+ Xây dựng và phát triển rừng bền vững, nâng cao độ che phủ,tạo môi trường sinh thái chông xói mòn,giảm nhẹ thiên ta, điều hoà khí hậu điều hoà nguồn nước tạo nguồn sinh thuỷ đầu nguồn các sông, hồ thuỷ điện Đa Nhim

+ Sử dụng có hiệu quả đất trống đồi núi trọc, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp

lý để dần thu nhập cho nguời dân địa phương trong vùng, gắn kinh tế của nguời dân vào rừng

Trang 24

+ Tạo công ăn việc làm ổn định, từng bước cải thiện đời sống đồng bào dân tộc trong vùng Bảo đảm an toàn trật tự xã hội, hạn chế tình trạng khai thác, chặt phá rừng bừa bãi và các lâm sản khác, lấn chiếm đất rừng, săn bắt động vật rừng trái phép, gây cháy rừng

3.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội

3.2.1 Vị trí địa lý

Khu vực nghiên cứu nằm một phần trên các tiểu khu 324C, 325A – xã Đạ Ròn,

và tiểu khu 324B, 325B - thị trấn Thạnh Mỹ - huyện Đơn Dương - tỉnh Lâm Đồng, thuộc BQLR D’Ran quản lý Gồm có 4 tiểu khu, 7 khoảnh, 15 lô, cụ thể như sau:

Tiểu khu 324B: Khoảnh 1 - lô a,b ; Khoảnh 3 – lô a,b,c,d

Tiểu khu 324C: Khoảnh 9 – lô a,b

Tiểu khu 325A: Khoảnh 4 – lô a; Khoảnh 7 – lô a,b,c,d; Khoảnh 9 lô a

Tiểu khu 325B: Khoảnh 1 – lô a

3.2.2 Địa hình - Địa thế

(a) Địa hình:

- Nằm trong vùng đồi núi cao có độ dốc thoải theo hướng từ Tây Bắc - Đông Nam

- Độ cao tuyệt đối: 1450 m

- Độ cao tương đối: 40 m

- Độ dốc bình quân cho toàn khu vực: 180

- Thời tiết: có 2 mùa rõ rệt

+ Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều nhất từ tháng 7, 8, 9 Đầu mùa mưa thường xuất hiện mưa đá

Trang 25

+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, những tháng khô hanh nhất là tháng 1, 2, 3 là những tháng thường xẩy ra cháy rừng mạnh

+ Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 17,9oC

Nhiệt độ thấp nhất là: 15,5 vào tháng 1

Nhiệt độ cao nhất là:19,9 vào tháng 4

+ Độ ẩm không khí trung bình năm là: 85%

Tháng có độ ẩm không khí thấp nhất là tháng 2 ( 73% )

Tháng có độ ẩm không khí cao nhất là tháng 8 (92%)

+ Lượng mưa trung bình năm là 1896 mm

Lượng mưa cao nhất là tháng 8 (396 mm)

Số ngày mưa trong năm 164 ngày

+ Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là : 82,7 mm

Lượng bốc hơi cao nhất vào tháng 3 (138 mm)

Lượng bốc hơi thấp nhất vào tháng 8 (44 mm)

+ Hướng gió:

Hướng gió Bắc (N) thổi tháng 5, 7, 8, 9

Hướng gió Tây Bắc (NW) thổi tháng 6

Hướng gió Tây Nam (SW) thổi tháng 10

Hướng gió Đông Bắc (NE) thổi từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau (b) Thuỷ văn:

Do knu vực kiểm kê là đỉnh đồi núi cao nên trong khu vực chỉ có khe suối nhỏ nhưng có độ giữ nước tương đối tốt, cần có giải pháp đào hồ giữ nước để đáp ứng nhu cầu trồng trọt

- Nguồn nước mặt: Nhìn chung trong năm lưu lượng nước mặt có sự phân hoá

khá sâu sắc, mùa mưa chiếm ~ 80% lượng mưa cả năm So với nhu cầu tưới tiêu hiện nay thì lượng nước mặt trong vùng chưa đủ khả năng cung cấp cho sản xuất vào mùa khô Ðể đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng cần đào đắp các hồ, ao để tích nước cho mùa khô hoặc có biện pháp dẫn nước từ các ao, hồ từ trên cao xuống

- Nguồn nước ngầm:

Trên địa bàn hiện chưa có tài liệu nghiên cứu, đánh giá chi tiết về nước ngầm, song dựa vào kết quả điều tra của chương trình Tây nguyên II (48C-II) và chương

Trang 26

trình KC-12 (năm 1993) do Liên đoàn Địa chất-Thủy văn thực hiện sơ bộ đánh giá tài nguyên nước cho thấy như sau:

- Nước ngầm trên địa bàn Huyện thuộc 2 phức hệ chính:

ƒ Phức hệ chứa nước lỗ hỗng các trầm tích nhiều nguồn gốc Holoxen, thành phần phức hệ gồm: cuội, sạn, bột kết và than bùn, chiều dày tầng nước từ 1-25m, lưu lượng mạch lộ nước từ 0,01-6,89 l/s

ƒ Phức hệ chứa nước khe nứt các trầm tích lục nguyên, phun trào Jura muộn và Kreta muộn, thành phần phức hợp gồm: đá Đaxít, Riolit tầng trên và đá cát và bột kết tầng dưới Bề mặt phong hóa là sét pha cát dày 0,5-5m, chiều dày cả phức hệ khoảng 450m, lưu lượng các mạch lộ nước 0,06-0,64l/s

Về chất lượng các nguồn nước, theo kết quả điều tra của Dự án Quy hoạch thủy lợi và nước sinh hoạt nông thôn vùng Đơn Dương do Công Ty Tư Vấn Xây Dựng Thủy Lợi Miền Trung thực hiện tháng 11/2000 cho thấy:

- Nước ngầm tầng mặt (giếng đào): nước ngầm tầng mặt và nước sát mặt (ngầm bán áp, độ sâu <20m) thường có độ cứng khá cao (>50mg CaCO3/ lít), mực nước thay đổi theo vùng và theo mùa: vùng thấp ven sông Đơn Dương có mực nước ngầm của các giếng đào từ 2-6m, vùng đồi núi có mực nước ngầm từ 15-20m Vào mùa mưa, mực nước cách mặt đất từ 1 – 2,0m, nhưng về mùa khô mực nước hạ xuống cách mặt đất 5-6m ở những khu vực bào mòn tích tụ và 7-12m ở những khu vực tích tụ xâm thực gần thềm sông Đơn Dương

- Nước ngầm tầng sâu (giếng khoan với độ sâu >20m): Ở độ sâu >20m, nước ngầm có độ cứng và độ kiềm khá cao (độ cứng toàn phần 1.950 mg CaCO3 / lít, độ kiềm toàn phần 1.325 mg CaCO3/lít, môi trường axit 0,8mg oxy/lít) Như vậy, nếu khai thác nước ngầm cung cấp nước sạch cho các khu dân cư tập trung như thị trấn và các khu công nghiệp thì đòi hỏi phải có các biện pháp kỹ thuật để xử lý

3.2.4 Đất đai

* Toàn bộ khu vực có 2 loại đất chính :

- Ðất Feralit có mùn phát triển trên nền đá Granit, có đặc điểm cứng khô, khó

bị phong hóa, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, kết cấu rời rạc dễ xói mòn Thường tập trung chủ yếu ở đỉnh, dông Ngoài ra ở sườn dông phân bố loại đất Feralit

Trang 27

có mùn phát triển trên nền phiến thạch sét Có khả năng phong hóa mạnh, thành phần

cơ giới nặng, kết dính cao, khó xói mòn

- Ðất phù sa và dốc tụ ven đồi núi và sông suối, được hình thành nên do quá trình bào mòn, rửa trôi từ các sườn dốc núi cao xuống và bồi tụ lại Thường tập trung chủ yếu ở ven các khe suối

Ðất có độ phì trung bình, diện tích thoái hóa chưa xuất hiện, độ dầy tầng đất thấp có thể thích hợp cho trồng rừng, trồng cây ăn quả

Do điạ hình dốc, lượng mưa tập trung theo mùa dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ thóai hóa lớn, đất dễ bị xói mòn, rửa trôi, khả năng giữ nước và dinh dưỡng không cao nếu không có biện pháp cải tạo, bảo vệ tốt Chính vì vậy khi tiến hành đầu tư dự án cần chú trọng nhiều đến yếu tố này

3.2.5 Tình hình giao thông

Khu vực nghiên cứu nằm trên trục đường be Lâm Nghiệp từ xã Đạ Ròn - huyện Đơn Dương đi xã Xuân Trường – TP Đà Lạt Khu rừng nằm cách QL 27 - xã Đạ Ròn khoảng 6 km và cách QL 20B – xã Xuân Trường khoảng 16 km, nên rất thuận tiện cho việc đi lại; tuy nhiên do quá trình mưa bão nên có một số đoạn đường bị sạt lở, hư hỏng

3.2.6 Tình hình dân sinh - kinh tế

Trong khu vực không có dân cư sinh sống, có một số dân cư ở xã Xuân Trường thành phố Ðà Lạt và dân xã Đạ Ròn huyện Ðơn Dương lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trồng các loại cây Cà phê, Hồng, rau, các loại đậu Do đầu tư canh tác còn lạc hậu nên không có hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó có một số ít người dân còn sống nhờ dựa vào các loại lâm sản trong rừng như cưa xẻ gỗ lậu, đẻo ngo dầu cây Thông

Trình độ dân trí còn thấp, tập quán canh tác còn nghèo nàn, lạc hậu do đó việc đầu tư của các Công ty trên địa bàn là vô cùng cần thiết nhằn thu hút lao động nhàn rỗi, tạo thu nhập, từng bước chuyển giao kỹ thuật cũng như dần làm chuyển biến tích cực trình độ dân trí, phong tục tập quán lạc hậu trên địa bàn

Nhìn chung người dân sống quanh khu vực tình hình kinh tế còn khó khăn, thu nhập thấp, đời sống lạc hậu

Trang 28

3.3 Đặc điểm thực vật của Thông 3 lá

Tên thông thường: Thông 3 lá , Ngo

Tên khoa học: Pinus kesiya Royle ex Gordon

Tên đồng nghĩa: Pinus khasya Royle

Theo Phạm Hoàng Hộ (1999): Đại mộc cao đến 30 m Lá như kim, gắn từng chụm 3, dài 15 – 20 cm Chùy đực dài 1 – 2 cm; tiểu nhụy nhiều Chùy cái lúc trưởng thành, còn lại ở cành, dài đến 8,5 cm, rộng 4 – 5 cm; hột dài 5 mm, cánh mỏng, dài 1,5 – 2 cm

Theo Trần Hợp (2002): Cây gỗ lớn, cao 30 – 35 m, thân thẳng, tròn, vỏ dày, màu nâu sẫm, nứt dọc sâu Cành thô màu nâu đỏ Lá màu xanh thẫm, mềm, thường có

3 lá dạng kim mọc cụm trong 1 bẹ ở đầu cành Lá dài 15 – 20 cm; bẹ dài 1,2 cm Nón cái hình trứng viên chùy, dài 5 – 9 cm, thường quặp xuống, đôi khi quả hơi vẹo Vảy quả năm thứ 2 có mắt vảy dày, rốn hơi lồi, đôi khi có gai nhọn, có 2 gờ ngang và dọc

đi qua giữa mặt vảy Hạt có cánh dài 1,5 đến 2,5 cm Cây ưa sáng, thích hợp với điều kiện khí hậu ưa nhiều, có mùa mưa và mùa khô rõ rệt, độ ẩm không khí không xuống quá thấp (dưới 70 %) Có khả năng chịu được lạnh, sương muối, có thể mọc được ở điều kiện đất xấu nhưng thoát nước Tái sinh hạt mạnh ở nơi đất trống Nón vào tháng

4 – 5 năm Hạt chín sau 2 năm Gỗ mềm, nhẹ, màu sáng, màu vàng da cam nhạt, gỗ muộn màu nâu nhạt, có ống tiết Tỷ trọng 0,61 – 0,75 Lực nén song song 450 – 540 kg/cm2 Lực uốn tĩnh 1,1 – 1,31 kg/cm2 Lực đập xung kích 0,32 – 0,47 kg/m/cm2 Lực kéo thẳng góc 23 – 27 kg/cm2 Lực tách ngang 10 – 12 kg/cm Nhựa tốt nhưng ít nên không được chú ý khai thác

3.3.1 Đặc điểm sinh học

Là loài cây gỗ lớn, vỏ màu nâu xám, nứt dọc rãnh sâu, nhựa ít nhưng có mùi hắc Tán cây hình trứng rộng Lá hình kim, thường đính 3 lá kim trên một đầu cánh ngắn Lá kim thường có màu xanh ngọc, mỗi lá kim dài 20 – 25 cm, lá thường cứng Đầu cành ngắn, đính lá có độ dài 1,5 cm, đính cách vòng xoắn ốc trên cành lớn

Nón đơn tính cùng gốc, nón cái thường chín sau 2 năm, khi chín hóa gỗ Nón hình trứng có kích thước cao 5 - 9 cm, rộng 4 - 5 cm Cuống thường cong, có chiều dài 1,5 cm Lá bắc không phát triển, lá noãn phát triển thành vảy, mỗi vảy có 2 hạt, hạt có cánh Mặt vảy hình thoi, có gờ ngang nổi rõ, có rốn vảy hơi lồi (http://vi.wikipedia.org/wiki)

Trang 29

3.3.2 Phân bố

Ưa đất tốt, khí hậu nhiều sương mù, thường phân bố ở độ cao trên 900 m Trên thế giới có thể thấy thông 3 lá phân bố ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Malaixia, Philippin

Ở Việt Nam: 90% diện tích thông 3 lá là ở cao nguyên Langbian Thông ba lá mọc ở độ cao từ 1.000 đến 1.800 m Tuy nhiên loài thông này cũng có thể mọc ở độ cao thấp hơn từ 800 – 1000 m trên cao nguyên Di Linh Thông 3 là có diện tích lớn nhất trong các loài thông ở Việt Nam, phân bố ở Hà Giang, Sơn La, Gia Lai, Kon Tum… nhưng nhiều nhất trên cao nguyên Langbian

3.3.3 Đặc tính sinh thái

Thông 3 lá thích hợp trong vùng khí hậu nhiệt đới, phân bố ở độ cao từ 800 –

1900 m và lượng mưa hàng năm trung bình ≥ 1500 mm/năm Là loài cây ưa sáng, mọc nhanh như loài cây tiên phong, nhưng sau đó bền vững, ổn định về cấu trúc, kiểu rừng thưa Cây thông sinh trưởng tốt trên đất thịt nhẹ, thoát nước, độ pH = 4,5 – 5,5 Thông cũng sinh trưởng được trên đất xấu, không thích hợp trên đất bí chặt, úng nước Nhiệt

độ bình quân hàng năm từ 18 – 200C, có khả năng chịu hạn, tái sinh mạnh bằng hạt, không tái sinh chồi

3.3.4 Công dụng

Gỗ lớn dùng trong xây dựng, đóng đồ mộc, gỗ dán, lớp phủ bề mặt

Gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy dăm, ván sợi, trụ mỏ

Rừng thông có giá trị lớn về mặt phòng hộ, bảo vệ môi trường và làm tăng vẻ đẹp cảnh quan

3.3.5 Kỹ thuật trồng Thông 3 lá

Thông 3 lá chủ yếu được trồng trên đồi núi trọc, đất trơ sỏi đá hoặc có trảng cỏ, cây bụi thấp Nơi có thực bì cao, phát quang toàn diện, cần thiết có thể đốt; nếu thực bì thấp và thưa, không cần phát bỏ hoặc chỉ phát khu vực hố trồng

Nội dung công việc và thời vụ tương ứng

- Từ tháng 11 đến tháng 12: chuẩn bị đất, hạt giống

- Từ tháng 1 đến tháng 2 : gieo ươm

- Từ tháng 3 đến tháng 5 : chuẩn bị hiện trường trồng rừng

Trang 30

Hàng cách hàng (m)

Cây cách cây (m)

Cuốc băng (m)

Băng chừa (m)

Cuốc

hố (cm)

Chăm sóc, bảo vệ, phòng cháy (năm)

1 Có cuốc băng 3300 Toàn

Bảng 3.1: Tiêu chuẩn kỹ thuật trong trồng rừng thông 3 lá 3.3.5.1 Thu hoạch trái, chế biến hạt

Thông 3 lá ra hoa vào tháng 3 – 4 hàng năm, sau 22 – 23 tháng quả chín, thu hoạch vào tháng 11 – 12 Khi quan sát quả chùy màu xanh chuyển sang màu cánh dán, mắt mở ra là có thể thu hoạch được Chỉ được hái quả trên cây gần thành thục và thành thục (30 tuổi trở lên) Cây thẳng khỏe mạnh, tán đều, không sâu bệnh, không bị tổn thương Hái quả bỏ vào bao tải đem về ủ từ 3 - 5 ngày, không ủ quá dày, nếu dày phải đảo quả, lót bao Khi quả chùy chuyển màu nâu đem ra phơi trên sân gạch, xi măng, nong, nia,… sau một ngày, dùng cào để cào quả chùy thu lượm hạt làm sạch, phơi nhẹ

1 – 2 lần rồi cất trữ, không nên phơi hạt trên nền xi măng hoặc nắng gắt vì hạt có dầu Cất trữ hạt trong bình, lọ, vại, …bằng sành sứ, để nơi thoáng mát hoặc cất trữ trong tủ lạnh ở nhiệt độ từ 0 – 50C

Tỷ lệ chế biến: 65 kg quả được 1 kg hạt

1 kg hạt = 60.000 – 65.000 hạt

Độ thuần > 90%

Tỷ lệ nảy mầm > 80%

Hạt càng để lâu tỷ lệ nảy mầm càng giảm

3.3.5.2 Gieo ươm tạo cây con

Tạo cây con bằng hạt trong túi bầu, có thể chọn vườn ươm cố định hay vườn ươm di động tùy theo điều kiện thực tế tại đơn vị Phải chuẩn bị đất vườn ươm từ tháng 11 – 12 năm trước, cuốc lật, đập nhỏ và đem sàng Trộn 20% đất mùn thông, 3 -

Trang 31

5% lân, 5% phân chuồng trộn đều sau đó cho vào túi bầu PP, kích thước túi bầu 7x14

cm Tháng 1 – 2 cấy cây hay gieo hạt nứt nanh vào bầu, chăm sóc và huấn luyện cây con trước khi đem ra trồng

Tiêu chuẩn cây con xuất vườn dựa trên những chỉ số kỹ thuật sau:

Tuổi cây : từ 6 – 8 tháng tuổi Chiều cao cây con : từ 15 – 20 cm Đường kính cổ rễ : 1,5 – 2 cm Cây con có màu xanh lục, thân hoá gỗ 2/3 chiều cao cây

3.3.5.3 Chăm sóc rừng trồng

Thường kéo dài 3 - 5 năm, mỗi năm 2 - 3 lần phát bỏ cây bụi, dây leo, làm cỏ, xới đất, vun gốc Rừng trồng phải trải qua 1 - 2 mùa sinh trưởng tỷ lệ sống mới được giữ vững, vì vậy 2 - 3 năm đầu phải chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật và trồng dặm Thiết kế băng rộng 10 - 20m (băng trồng thông rộng 80 – 100 m), trồng cây lá rộng để chống cháy rừng và hạn chế sâu bệnh phá hại

Nuôi dưỡng rừng thông, tuỳ theo mục đích kinh doanh và các điều kiện cụ thể khác, số lần tỉa thưa và cường độ tỉa thưa có khác nhau Riêng kinh doanh lấy gỗ, lấy nhựa thông, số lần tỉa thưa 2 - 3 lần, lần thứ nhất khi cây trồng được 6 - 7 tuổi, lần thứ

2 cách lần đầu 4 - 5 năm, cường độ tỉa thưa 30 - 50% số cây có trong lâm phần, số cây cuối cùng giữ lại 1.000 - 1.600 cây/ha Rừng thông trồng với mục đích phòng hộ chống xói mòn do nước, làm nguyên liệu giấy nhìn nhung không tỉa, chỉ chặt vệ sinh

Trang 32

Chương 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Nội dung nghiên cứu

(i) Đánh giá tình trạng sinh trưởng về đường kính và chiều cao của rừng Thông

3 lá trồng vào các năm 1986, 1987, 1990 và 1995 cùng với mật độ hiện tại của chúng

(ii) Nghiên cứu đặc điểm phân phối của đường kính và chiều cao trong các lâm phần rừng trồng Thông 3 lá này

(iii) Nghiên cứu các mô hình tương quan và hồi quy giữa đường kính và chiều cao trong các lâm phần rừng trồng Thông 3 lá này

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Ngoại nghiệp

- Khảo sát sơ bộ đối tượng nghiên cứu, thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài, thu thập số liệu nghiên cứu ngoài hiện trường của loài Thông 3 lá

- Lập phiếu điều tra

- Ở mỗi cấp tuổi tiến hành lập ô tiêu chuẩn (ÔTC) với diện tích ÔTC là 500 m2(25x20 = 500 m2)

- Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng cho tất cả các cây Thông 3 lá có trong ÔTC như D1,3 và Hvn như sau:

* Đo chiều cao vút ngọn bằng thước Blumê – Lây

* Đo chu vi C1,3 sau đó suy ra đường kính D1,3 bằng thước dây

4.2.2 Nội nghiệp

- Dữ liêu nghiên cứu sẽ được tiến hành xử lý và phân tích trên phần mềm Excel

- Kết quả xử lý và phân tích các dữ liệu nghiên cứu sẽ được đính kèm đầy đủ ở phần phụ lục cùng với các chỉ tiêu sinh trưởng của Thông 3 lá thu thập trong giai đoạn ngoại nghiệp

Trang 33

Chương 5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5.1 Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng

Tổng hợp kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng trồng Thông 3 lá ở khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng 5.1 (kết quả tính toán được đính kèm ở phần phụ lục) như sau:

Bảng 5.1 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của rừng

trồng Thông 3 lá ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng

Từ kết quả nghiên cứu này chúng ta rút ra được các nhận xét sau đây:

- Rừng trồng 23 tuổi (trồng năm 1986) mật độ đạt 420 – 520 cây/ha, đường kính D1,3m đạt 26,5 – 27,5 cm, chiều cao vút ngọn đạt 17 – 18 m, và hệ số tương quan tuyến tính giữa đường kính và chiều cao là 0,860 – 0,897 với mức độ tương quan thể hiện rất rõ rệt xét về phương diên thống kê học (P = 3,74.10-8 << 0,05)

- Đối với rừng trồng năm 1987 (22 tuổi), với mật độ đạt khá cao (1000 cây/ha),

và vì trồng trên đất đồi dốc với điều kiện lập địa xấu nên đường kính chỉ đạt 17,5 cm, chiều cao chỉ đạt 12 m; hệ số tương quan tuyến tính giữa đường kính và chiều cao là 0,83 với mức độ tương quan thể hiện rất rõ rệt xét về phương diên thống kê học (P = 39,22.10-14 << 0,05)

Trang 34

- Rừng trồng năm 1990 (19 tuổi), mật độ đạt 900 cây/ha, đường kính ngang vai đạt 23 cm, chiều cao vút ngọn đạt 16,5 m; mặc dù hệ số tương quan tuyến tính giữa đường kính và chiều cao thấp (0,368) nhưng mức độ tương quan cũng thể hiện rõ rệt xét về phương diên thống kê học (P = 0,013<< 0,05)

- Rừng trồng năm 1995 (14 tuổi) mật độ đạt 880 – 1000 cây/ha, đường kính ngang vai đạt 20 cm, chiều cao vút ngọn đạt 15 m, và hệ số tương quan tuyến tính giữa đường kính và chiều cao là 0,781 – 0,887 với mức độ tương quan thể hiện rất rõ rệt xét

về phương diên thống kê học (P = 3,87.10-10 << 0,05)

5.2 Sự phân phối của đường kính và chiều cao trong lâm phần

Đặc điểm phân phối của đường kính và chiều cao trong lâm phần rừng trồng Thông 3 lá được trình bày ở bảng 5.2 (kết quả tính toán được đính kèm ở phần phụ lục) như sau:

Bảng 5.2 Đặc điểm phân phối của D và H của rừng trồng Thông 3 lá ở BQLR

Trang 35

rừng trồng nhân tạo, chịu nhiều tác động và chi phối của con người cũng như sự thay đổi của điều kiện môi trường trong thời đại ngày nay

Phân tích cụ thể và chi tiết về phân phối của đường kính và chiều cao trên từng năm trồng (tuổi) được trình bày từ bảng 5.3 đến bảng 5.15 (kết quả xử lý được đính kèm ở phần phụ lục) và từ hình 5.1 đến hình 5.6 như sau:

(i) Đối với rừng Thông 3 lá trồng năm 1986 với mật độ hiện tại 420 cây/ha:

Hình 5.1: Tổng quan khu vực nghiên cứu

Bảng 5.3: Phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với

mật độ hiện tại 420 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng

Trang 36

Hình 5.2: Đồ thị phân phối cấp đường kính của rừng Thông 3 lá trồng năm

1986, với mật độ hiện tại 420 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp đường kính, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %)

Histogram

0 10 20

Bảng 5.4: Phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986, với

mật độ hiện tại 420 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng

Cấp chiều cao Tần số Tần số tích lũy %

Hình 5.3: Đồ thị phân phối cấp chiều cao của rừng Thông 3 lá trồng năm 1986,

với mật độ hiện tại 420 cây/ha, ở BQLR D’Ran – Lâm Đồng (bin là cấp chiều cao, frequency là tần số, cumulative là tần số tích lũy %)

Histogram

0 5 10

Ngày đăng: 13/09/2018, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm