1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang (Khóa luận tốt nghiệp)

71 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Hà Văn Trường, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.

Trang 1

- -

HOÀNG THANH TÙNG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI HÀ VĂN TRƯỜNG HUYỆN HIỆP HÕA TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

- -

HOÀNG THANH TÙNG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI HÀ VĂN TRƯỜNG HUYỆN HIỆP HÕA TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hướng tới thành công của mỗi con luôn có sợ giúp đỡ,

hỗ trợ của những người xung quanh Và để có được kết quả của ngày hôm

nay ngoài sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân, em đã nhận được sự chỉ bảo

giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên cũng như sự giúp đỡ nhiệt tình của trại chăn nuôi Hà Văn

Trường Nhân dịp này em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm

khoa cùng quý thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình truyền đạt vốn

kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại trường

Trại chăn nuôi Hà Văn Trường huyện Hiệp Hòa, tỉnhBắc Giang đã tạo

điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo nhiều kiến thức thực tế, giúp em hoàn thành tốt

quá trình thực tập tại trại

Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáoPGS.TS Trần Huê Viên đã

luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá

trình thực hiện chuyên đề thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè,

những người luôn ở bên và ủng hộ em giúp đỡ em hoàn thành tốt nhất khóa

luận tốt nghiệp

Thái Nguyên,ngày 18tháng12năm2017

Sinh viên

Hoàng Thanh Tùng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Hàm lượng axit amin thích hợp trong thức ăn cho lợn nái chửa và

lợnnái nuôi con 17

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Hà Văn Trườngqua 3 năm 2015- 2017 39

Bảng 4.2 Khẩu phần ăn cho đàn lợn tại trại 41

Bảng 4.3 Số lượng lợn nái, lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trang trạiqua 6 tháng 42

Bảng 4.4 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõitrong thời gian thực tập 44

Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi trong thời gian thực tập 47

Bảng 4.6 Lịch sát trùng trại lợn nái 48

Bảng 4.7 Quy trình phòng bệnh bằng vaccine cho trại lợn nái 50

Bảng 4.8.Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 51

Bảng 4.9 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 53

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNTY: Chăn nuôi thú y

ĐVT: Đơn vị tính NLTĐ: Năng lượng trao đổi Nxb: Nhà xuất bản

TT: Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

Phần 1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2.Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 5

2.2 Tổng quan tài liệu 6

2.2.1 Cơ sở khoa học 6

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 35

Phần 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 37

3.1 Đối tượng 37

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37

3.3 Nội dung thực hiện 37

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 37

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 37

3.4.2 Phương pháp thực hiện 38

3.4.3 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu 38

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 38

Trang 7

Phần 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

4.1.Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại trong những năm gần đây (2015– 2017) 39

4.2.Kết quả thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 40

4.2.1 Kết quả thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 40

4.2.2 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái 46

4.2.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Hà Văn Trường 47

4.2.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Hà Văn Trường 51

Phần 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của nhà nước chăn nuôi lợn đang ngày càng phát triển Chăn nuôi lợn cung cấp một lượng lớn thực phẩm

có giá trị dinh dưỡng cao, mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định đời sống người dân Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn cũng chuyển từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó đã giúp cho ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về chất lượng và số lượng Mặt khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn như có nguồn nguyên liệu dồi dào cho chế biến thức ăn, sự đầu tư của nhà nước…

Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta

để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa CNTY - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập em thực hiện chuyên đề:“Thực hiện quy

trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại

Hà Văn Trường huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”.

Trang 9

1.2.Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản,khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại trang trại Hà Văn Trường huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

-Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại đạt hiệu quả cao

- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi tại trại

- Xác định được tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái nuôi tại trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Hợp Tác xã chăn nuôi của ông Hà Văn Trường là một đơn vị chăn nuôigia công của công ty cổ phần chăn nuôi Charoen Pokphand Việt Nam, được thành lập và đi vào chăn nuôi lợn thịt từ năm 2005 Trang trại chăn nuôi lợn giống của ông Hà Văn Trường được xây dựng và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp từ năm 2014 địa điểm xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, ở phía tây nam của tỉnh Bắc Giang Huyện lỵ là thị trấn Thắng cách thành phố Bắc Giang 30 km và cách thủ đô Hà Nội 50 km theo đường bộ Phía Đông Bắc giáp huyện Tân Yên, phía Đông giáp huyện Việt Yên, phía Nam giáp vùng đồng bằng châu thổ Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh, phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn của Hà Nội, phía Tây Bắc giáp các thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên

Địa hình đặc trưng là đồi thấp, xen kẽ các đồng bằng lượn sóng thấp dần

từ Đông - Bắc xuống Tây – Nam.Đồi núi và gò thấp ở một số xã phía bắc, vùng đồng bằng tập trung ở phía đông nam và giữa huyện Tổng diện tích đất

tự nhiên của huyện là 20.110 ha (tức 201 km2

) Đấtđai ở đây chủ yếu được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp thuận lợi cho việccanh tác của nhân dân, mặt khác cơ cấu đất đa dạng nên rất thuận lợi cho việcphát triển nhiều loạihình kinh tế khác nhau Trang trại chăn nuôi của ông Hà Văn Trường nằm ở khu

Trang 11

vực cánh đồng rộng thuộc xã Lương Phong có địa hìnhkhá bằng phẳng vớidiện tích là 1 ha

2.1.1.2Điều kiện khí hậu

Về điều kiện tự nhiên và các yếu tố khí hậu của xã Lương Phongcó thể kháiquát như sau:

- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.060 mm, thấp nhất là 1.160 mm,trung bìnhlà 1.650 mm,lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7trongnăm

- Khí hậu: Là xã nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, Khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của bão, lạnh về mùa đông,nóng ẩm về mùa hè Độ ẩm không khi trung bình hàng năm là 65%

- Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,40C, mùa nóng tập trungvào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió mùađông nam nên

có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa

- Về chế độ gió: Về mùa đông vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam

2.1.1.3 Cơ sở vật chất và cơ cấu tổ chức trang trại ông Hà Văn Trường

Cơ sở vật chất của trang trại

- Trại lợn có khoảng 0,1 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà chocông nhân,bếp ăn và các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt độngkhác của trại

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thốngchuồng trại cho 200 nái bao gồm: 1 chuồng đẻ có 40 ô kíchthước 2,4m × 1,6m/ô, 1 chuồng bầu có 200 ô kích thước 2,4m ×0,65m/ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống cùng một số công trình phụphục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức

ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh,kho thuốc…

Trang 12

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệthống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 6 quạt thông gió đối với chuồng bầu, và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ códiện tích 1m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 1,5m Trên trần đươclắp hệ thống chống nóng bằng tôn

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đềuđược đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nướcuống cholợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻvàchuồng bầu Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khácđược bố trí từ bể lọc

và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa

 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn

Trang 13

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luônquan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệttình

và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất

Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khépkín

và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dụcvà

có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dụcđã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắtđầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, conđực có phản xạ giao phối

Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực cóphản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thànhthục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày),ở lợn ngoại (180 - 210 ngày) (Võ Trọng Hốt và cs (2000) [13])

Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính nhưgiống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cáthể,…

Trang 14

+ Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nộithuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt50 - 55kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 – 7tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thànhthục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi Cụ thể lợn nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổiđộng dục lần đầu là 208 - 209 ngày

+ Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tínhcủa lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổithành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡngkém Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấulên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnhhưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồngtrứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặtkhác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trongmáu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết đểthúc đẩy sự thành thục

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tớituổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu -đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liềnvới mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức

+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tíchtrong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránhnuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu chothấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thụctính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thìđực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục củalợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanhđộng

Trang 15

dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Lợn cái hậu bịngoài 90

kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực,mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu

*Sự thành thục về thể vóc

Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thểchất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổnđịnh Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục vềtính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, tronggiai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợnmẹ

có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xươngchậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năngsuất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm.Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nêncho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -110 kg mới nên cho phối

* Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơthể

đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không cóhiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãnbao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng

Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệtlà

cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chứcnăng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳnên gọi

là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thụcvề tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu

Trang 16

-Tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày)

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục Ở giai đoạn này các noãn baophát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Buồng trứng to hơnbình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lôngnhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệthống tuyến ở cổ tử cung tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứngtách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều,con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinhtrùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh

Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo sưng to, đỏ hồng, không có hoặc có ítnước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông Ở giaiđoạn này lợn thường bỏ ăn hoặc ít ăn, hay kêu rít

-Động dục (kéo dài 2 -3 ngày)

Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏinoãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âmhộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều,con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, pháchuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác,đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình,thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôicong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàngchịu đực

Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thànhthì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai và cho đến khi đẻxong một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trường hợpgia súc không có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp

Trang 17

-Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày)

Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêngdần dần trở lại trạng thái hoạt đông sinh lý bình thường Các phản xạ về hưngphấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khóăn uống Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron

Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn,làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừngtăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

-Giai đoạn nghỉ ngơi

Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục Thời kỳ này con vậthoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lýbình thường Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầuphát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng, toàn bộ cơ quan sinhdục dần dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo

Sau khi lợn đã thành thục về tính thì trong buồng trứng đã có nhữngbao noãn tương đối lớn, các kích thích bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, thứcăn, mùi vị…, tác động lên vỏ não và kích thích này truyền đến tuyến yên làmcho tuyến yên tiết ra FSH (folliculo stimulating hormon) Hormon này tácđộng lên buồng trứng làm cho noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạttrong noãn bao tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Lúc này lợncó các biểu hiện động dục, biếng ăn, chỉ nhấm nháp chút ít, bồn chồn đi lại nhiều,âm hộ

có hiện tượng xung huyết đỏ mọng, kêu la phá chuồng, thích nhảy lênlưng những con khác, thích gần đực, lấy tay để lên lưng thì thấy lợn đứng yên,

Trang 18

đứngở tư thế giao phối, đuôi cong lên, âm hộ chảy nước nhờn, lúc đầu loãng sauđặc dần

Sau khi thải trứng thì trong một thời gian ngắn, noãn bao sẽ sinh ra thểvàng Thể vàng tiết ra progesteron làm cho tử cung chuẩn bị đón hợp tử và ứcchế sự phân tiết gonado stimulin của tuyến yên, ức chế sự thành thục củanoãn bao trong buồng trứng làm cho lợn nái không động dục trở lại Thuỳtrước của tuyến yên tiết ra prolactin làm cho thể vàng tiết ra progesteron vàkích thích tuyến sữa phát dục Nếu lợn nái có chửa thể vàng sẽ tồn tại trongsuốt thời gian mang thai, đến khi lợn đẻ thể vàng mất đi

Nếu lợn không có chửa, tử cung sản sinh ra hormon protagladine làmtan

rã thể vàng, progesteron không sản sinh ra nữa Tuyến yên lại được giảiphóng

và lại sản sinh ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới

Chu kỳ động dục của lợn thường là từ 18 - 22 ngày, thời gian động dụckéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường 2,5 ngày, phối giốngtrong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất.Đối với lợn Landrace thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ3 đầu ngày thứ 4 tính từ lợn bắt đầu động dục Để phối giống mang lại hiệuquả cao nhất có 3 cách, tính từ khi nái đứng im chịu đực như sau:

+ Sau 12 giờ và 36 giờ

+ Sau 12 giờ, 36 giờ sau đó cứ 12 giờ cho phối 1 lần đến khi nái khôngchịu thì thôi

+ Đối với lợn nái hậu bị nên cho phối giống sớm hơn nái từ 6 - 8 giờ Kết quả đem lại từ 3 cách phối trên đều như nhau

Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng động dục trở lại là đãcó chửa Có thể phân biệt lợn có chửa hay không qua một số biểu hiện bênngoài Lợn có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt hơn, dáng đi ngàycàng nặng nề Lợn tuy đã có chửa nhưng có thể có hiện tượng “động dục giả”

Trang 19

Biểu hiện như sau: âm hộ đỏ, không có nước nhờn, thời gian động dục ngắn,nói chung biểu hiện không rõ ràng

Có thể phân biệt động dục giả và động dục thật ở lợn: Lợn động dụcgiả vẫn ăn uống bình thường, ăn xong vẫn nằm ngủ, khi thấy đực qua chuồngtai

rủ xuống và lảng tránh Điều này trái với lợn động dục, khi thấy đực quachuồng luôn ve vẩy và đến gần đực

Chẩn đoán phân biệt lợn nái có chửa có một ý nghĩa rất to lớn, chẩnđoán lợn nái có chửa chính xác giúp cho người chăn nuôi nâng cao được tỷ lệsinh sản của lợn nái, định ra được các thời kỳ chửa của lợn nái, từ đó định rađược các chuẩn độ nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp

Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày, dao động từ 112 -116 ngày, cá biệt có những lợn nái ngoại mang thai tới 117 - 118 ngày, thờigian mang thai dài quá hoặc ngắn quá đều không tốt Nếu thời gian mang thaingắn con đẻ ra yếu, sức chống chịu với ngoại cảnh kém, khả năng sống sótthấp Nếu thời gian mang thai dài đẻ ra nhiều con chết, lợn mẹ thường xảy ra đẻ khó

Thời gian mang thai phụ thuộc vào số con sinh ra, số con sinh nhiềuthời gian mang thai ngắn và ngược lại

* Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào thai

Hiểu rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trựctiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên và trên con

-Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)

Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụtinh Saukhi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra Phôithai

Trang 20

được hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơthể mới

Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi Tiếp theotới phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử Tronggiai đoạn này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng

Sau khi thụ tinh được 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hìnhthành Lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ cáctuyến nội mạc tử cung Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấychất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng Sau 7- 8 ngày, màng ối được hình thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa có tác dụngbảo

vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Màng niệu được hìnhthành sau 12 ngày, là nơichứa chất cặn bã do thai thải ra trong quá trình traođổi chất Ở cuối thời kỳ này, một số cơ quan trao đổi chất như : đầu, hố mắt,tim, gan… đã hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh

Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thaichưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn

Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôichỉ nặng 1 - 2 gam Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầulà cực kỳ quan trọng Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như:tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh…) đều ảnh hưởng tới phôi thai,dẫn đến sảy thai Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu,lênmen, mốc…) cũng gây hậu quả tương tự Cần có sự chăm sóc cẩn thận đốivới nái chửa trong 3 tuần đầu sau khi thô tinh

- Giai đoạn tiền thai (23 -39 ngày)

Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ramạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơquan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam

Trang 21

Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày)

Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai Các cơ quan bộphận được hoàn chỉnh dần Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt.Đặc điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện (khoang, đốm, loang…)

Khối lượng của bào thai tăng mạnh, đặc biệt từ ngày thứ 80 trở đi thai pháttriển rất mạnh Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳtrước Dựa vào sự phát triển của bào thai, người ta chia quá trình mang thaicủa lợn nái làm 2 giai đoạn

+ Chửa kỳ I: 1 - 84 ngày

+ Chửa kỳ II: 84 - 114 ngày

Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ IIđược phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:

+ Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày

+ Giai đoạn 2: 100 - 114 ngày

Mỗi giai đoạn này đòi khỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệtchú ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thậthợp lý Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự pháttriển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thunhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng

Trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phụcđiều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệngcho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, nhữngtác động kích thích từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộnsinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ

Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng113 -

116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 – 6giờ Nếu sức khoẻ của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can

Trang 22

thiệpnhiều trong khi lợn đẻ Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sứckhoẻ nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) thì can thiệpngay để đảm bảo cho cả nái mẹ và đàn con

2.2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái

* Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền ở đây chính là thành tích sinh sản của giống, mà cụ thểlà giống con nái Thành tích này thông thường đặc trưng cho giống và cũngmang tính cá thể

Yếu tố giống có ảnh hưởng rõ ràng tới năng suất sinh sản của nái, đặcbiệt

là sự khác biệt giữa giống nội và giống ngoại Theo nghiên cứu của ĐặngVũ Bình (2000) [2] có một số chỉ tiêu năng suất sinh sản phân biệt rõ nét quagiống là: Tương ứng qua các giống Móng Cái, Yorkshire và Landrace có tuổiđẻ lần lượt là: 272,3 ngày; 418,5 ngày và 409,3 ngày; số con đẻ ra / ổ là 10,6;9,8 và 9,9 con và khối lượng sơ sinh trung bình / con là 0,58; 1,2 và 1,2

kg

* Yếu tố ngoại cảnh

Ngoài các nhân tố tác động do di truyền, các nhân tố tác động do ngoạicảnh cũng ảnh hưởng rõ ràng và có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn náinhư: Chế độ nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức nuôi nhốt, mùa vụ, nhiệt độ,thời gian chiếu sáng đều ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản củalợn nái

* Chế độ nuôi dưỡng

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai là phảicung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quảsinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: Dinh dưỡng năng lượng, dinhdưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnhhưởng của vitamin

Trang 23

+ Nhu cầu năng lượng:

Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiếtsữa, nuôi con Nhu cầu về năng lượng khác nhau tuỳ thuộc từng giai đoạn.Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãngphí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lýbình thường của con vật

Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: Gluxit chiếm 70 - 80%, Lipit10

- 13% tổng số năng lượng cung cấp

+ Nhu cầu về protein:

Proteinn là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấpcho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọihoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơthể

Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngàyluôn có một lượng nhất định protein mất đi Trong quá trình đồng hoá và dịhoá của cơ thể thì hàng ngày luôn có các tế bào sinh trưởng và phát triển,phân chia và các

tế bào già cỗi được loại thải ra ngoài Do đó protein đượccung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bàomới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảođủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế:Lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan… hay chính xác hơn nhucầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải cógiá trị sinh học cao, dễ tiêu hoá, hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên việcphối hợp khẩu phần

thức ăn cho lợn bằng nhiều loại thức ăn cần thiết

Trang 24

Bảng 2.1: Hàm lƣợng axit amin thích hợp trong thức ăn cho lợn nái chửa

và lợnnái nuôi con

Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con

+ Ảnh hưởng của khoáng chất:

Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi vàphotpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magiê, sắt, kẽm,đồng, các nguyên tố khác tồn tại ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăntrở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hoá gọi là hiệntượng paraketosis

+ Ảnh hưởng của vitamin:

Vitamin cần cho sự chuyển hoá bình thường cho sự phát triển của môbào, cho sức khoẻ, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổnghợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phảibổ sung (A,D,E) Nếu bổ sung không đúng hoặc thiếu đều không tốt

+ Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mangthai

dễ xảy thai, đẻ non…

Trang 25

+ Thiếu vitamin D: thai phát triển kém,dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ + Thiếu vitamin A: lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn khôngđộng dục hoặc động dục chậm

Đặc biệt lợn nái mang thai, nếu thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới khảnăng sinh sản Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng đượcnhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con…là một trongnhững biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất, hiệu quả trong chăn nuôi

2.2.1.3 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa

* Dinh dưỡng lợn nái có chửa

Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất Thiếu khoáng, xương lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt.Thiếu vitamin, lợn con phát triển chậm, sức sống kém Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ

- Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg

- Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)

Giai đoạn chửa kì I:

+ Với nái hậu bị: 1,6- 1,8 kg/con/ngày cho ăn ngày 1 lần

+ Với nái dạ: 2 - 2,2 kg/con/ngày cho ăn ngày 1 lần

Giai đoạn chửa kì II:

+ Với nái hậu bị: 2,5 kg/con/ngày cho ăn ngày 2 lần

+ Với nái dạ: 3 kg/con/ngày cho ăn ngày 2 lần

- Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh

- Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2- 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

Trang 26

- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu

đủ do dễ gây sảy thai

- Cho lợn uống nước tự do

* Chăm sóc lợn nái chửa

+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống

+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không

+ Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng

+ Vệ sinh xoa bóp bầu vú trước dự kiến đẻ 10 - 15 ngày để kích thích sữa

ra nhiều khi lợn sinh con.Nếu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ cần bôi vazơlin và kháng sinh chống nhiễm trùng

+ Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, giữ cho lợn sạch sẽ, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè Phun thuốc tiêu độc khử trùng 1 lần 1 tuần

+ Không nên tiêm phòng, tẩy giun sán, tắm ghẻ vào tháng chửa đầu và trước đẻ 15 ngày vì do tác động cơ hoành rất dễ sảy thai và đẻ non

+ Cần ghi chép ngày phối giống để tính toán ngày đẻ và có kế hoạch trực lợn đẻ

2.2.1.4 Chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con

có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con, nâng cao chất lượng đàn con

+ Quy trình dinh dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs,(2004) [21]: thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải

là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứvào tình trạng sức khỏe

cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn

Trang 27

nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước

2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽđất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn

Trang 28

nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng

đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con.Ô úm có tác dụng phòng ngừa lợn

mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện

để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m.Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [28]: nếu lợn nái đẻ bọc thì phải xé bọc ngay, lấy nhanh hết dịch ở miệng và mũi, dùng vải mềm lau sạch mũi miệng cho lợn con Nếu lợn con đẻ ra mà bị ngạt thì hà hơi vào mồm lợn con, nâng 2 chân trước lên xuống trong 5 phút lợn con sẽ sống và khỏe dần

2.2.1.5 Một số bệnh ở lợn nái sinh sản

* Bệnh viêm tử cung ở lợn nái

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7] viêm tử cung là một quá trình bệnhlý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ.Quá trình viêm phá hủy các tếbào tổchức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc làảnh hưởng lớn, thậm chí khả năng sinh sản ở gia súc cái

Đào Trọng Đạt và cs (2000) [8] cho biết: bệnh viêm tử cung ở lợn náithường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kĩ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát viêm mạc tử cung,dụng cụ thụ tinhkhông được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào

tử cunglợn nái gây viêm

Trang 29

- Lợn nái phối giống trực tiếp,lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã viêm tử cung, viêm âm đạotruyền sang cho lợn khỏe

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêmmạc

tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau khi đẻ bị sát nhau xử lí không triệt để cũng dẫn đến bệnh viêmtử cung

Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứngnhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian độngđực (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuân sâm nhập vào tử cung theo đườngmáu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàn chung (Lê VănNăm, 1997) [18]

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], Trần Thị Dân (2004)[4], khi lợn náibị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dẫn đến sảy thai

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường tiêu chảy

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Theo KS Nguyễn Văn Điền (2015) [9], khi lợn nái bị viêm tử cungsẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: Lợn dễ bị sảy thai, bào tai pháttriển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn náibị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Trang 30

viêm lớp niêm mạc của tử cung,đây là một trong những nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của giasúc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm

tỉ lệ cao trong các bệnh củaviêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy

ra sau khi gia súc sinh đẻ,nhất là trong trường hợp đẻ khó cần phải can thiệp làm niêm mạc tử cungbị tổn thương, tiếp đó vi khuẩn xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gâyviêm

Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2000) [19] viêm nội mạc tử cung có thểchia làm 2 loại đó là viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính và viêm nội mạctử cung thể màng già

- Viêm cơ tử cung

Viêm cơ tử cung thường kết phát từ viêm nội mạc tử cung thể mànggiả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và pháttriển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương chomạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tửcung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùngtoàn thân (Nguyễn Hữu Ninh và cs, 2000) [19]

- Viêm tương mạc tử cung

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêmnày thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hìnhvà nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏsẫm, sần sùi mất tính trơn bong, sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra,dịchthẩm suất tăng tiết Nếu bị viêm nặng nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc cóthể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung,thành tử cung dày lên có thể kế phát viêm phúc mạc (Theo Đặng Đình Tín,1986) [27]

Xuất phát từ quan điểm lâm sang thì bệnh viêm tử cung thường biểuhiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nêndịch

Trang 31

viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới200

ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau từ dạng dung dịch màutrắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem có thể có màu máu cá.Người

ta có thể thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấptính,viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảymủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc ở tử cung

Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới

Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do hiện tượng sát nhau hoặc tửcung bị tổn thương Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, hoặc đưavào đường sinh dục những chất kích đẻ chúng phá hủy và làm kết tủa chấtnhày ở bộ máy sinh dục

Theo Trekaxova A V (1985) [22], nguyên nhân gây đẻ ít con trong mộtlứa đẻ, vô sinh … của lợn nái,các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm từ 5-15%

Do nhiệt độ lợn nái sau đẻ và đưa ra biện pháp phòng trị cho bất cứ lợnnái nào có nhiệt độ lớn hơn 39,5 (Mekay ,1975) [35]

Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trong nước

Nguyễn Xuân Bình (2005) [3], Phùng Thị Vân (2004) [30] cho biết ởnái viêm tử cung thường cho biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốtnhẹ chiều sốt nặng)

Viêm tử cung là một trong những tổn thương đường sinh dục trên lợnnái sau khi sinh Sau khi có dịch tiết và dịch lẫn mủ là biểu hiện của viêm tửcung (Nguyễn Văn Thanh, 2003) [24]

Lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỉ lệ 42,4% Viêm tửcung trên nhóm lợn nái thuần chiếm 25,48 %, trên nhóm lợn nái lai chiếm50,84 %

* Bệnh sót nhau

Trang 32

Trong quá trình sinh đẻ bình thường của lợn mẹ, sau khi sổ thai 60phút thì nhau thai sẽ ra ngoài Nếu quá thời gian trung bình kể trên mà nhauthai không được đẩy ra ngoài thì được gọi là sót nhau

10 Nguyên nhân:theo Văn Lệ Hằng và cs, (2009) [10] bệnh sát nhau có thểdo nhiều nguyên nhân

+ Giai đoạn chửa nhất là thời gian cuối lợn không được vận động thích hợp,dẫn đến cơ tử cung bị liệt, khi đẻ tử cung co bóp yếu, không đẩy được nhau vàthai ra

+ Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau đẻ nhau không ra hết

+ Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt vàsót lại

+ Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được

+ Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo

+ Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là canxi

+ Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung→ giảm sức rặn của con mẹ

+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnhtruyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấutạo của nhau làm cho nhau mẹ và nhau con liên kết chặt chẽ

- Triệu chứng: theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2014) [15] căn cứ vào mức độsát nhau người ta chia ra làm 3 loại:

+Sát nhau hoàn toàn: toàn bộ nhau thai còn dính trên niêm mạc tử cungcủa con mẹ

+Sát nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa nhau thai ở giasúc đơn thai, chứa ít thai ở gia súc đa thai thì nhau thai đã tách ra khỏi phần niêm mạctử cung của con mẹ Phía còn lại nhau thai còn dính chặt trong

tử cung

Trang 33

+Sát nhau từng phần: phần lớn màng nhau đã tách khỏi niêm mạc tử cung,chỉ một phần màng nhung hoặc núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cungcủa con mẹ

Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: con vật đứng nằm không yên,nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện cósót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn có sót nhauhay không

- Điều trị: theo Trịnh Đình Thâu và cs, (2010) [25] can thiệp kịp thờingay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung,can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêmoxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy rangoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cungtrong ba ngày liên tục

+ Tiêmoxytoxin dưới da để kích thích co bóp cơ trơn của tử cung đẩy nhau

ra hết

+ Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 0,1% hoặc nước muối 0,9%để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

Trang 34

* Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA)

Theo trung tâm Chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [31] hội chứng viêm tửcung - viêm vú - mất sữa (MMA - Mastitis - Metritis - Agalactia) là một hội chứngphức hợp các căn nguyên bệnh trên lợn nái, bệnh thường xảy ra trong giai đoạn lợnnái trước và sau khi đẻ Giống tên gọi của nó, hội chứng bao gồm hiện tượng viêmvú trên lợn nái (trong giai đoạn trước khi đẻ), bệnh viêm

tử cung ở lợn nái (tronggiai đoạn sau đẻ khoảng 1 tuần), hiện tượng mất sữa ở lợn nái (trong giai đoạn lợnnái nuôi con) Hội chứng này nằm trong nhóm bệnh do quản lý, bởi vậy, ta hoàntoàn có thể khống chế được

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh và cs (2013) [17], triệu chứng lâm sàng và điểnhình của lợn nái mắc hội chứng MMA là: sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung,không cho con bú, viêm sưng vú Số lượng hồng cầu, thể tích hồng cầu, nồng độhuyết sắc tố và huyết sắc tố trong 1 hồng cầu của lợn mắc hội chứng MMA đều caohơn các chỉ tiêu ở lợn bình thường

Bệnh viêm vú trên lợn nái

Lợn nái bị phù tuyến vú: nguyên nhân là do lợn nái ăn nhiều trước khi đẻ,lợn nái uống ít nước dẫn đến bị táo bón, hay cũng có thể do lợn nái bị stress Lợnnái bị dịch phù tích lại trong mô bào tuyến vú, dẫn đến các bầu vú cứng, lợn náicảm thấy khó chịu do sức ép của dịch phù

Trang 35

Lợnnái có tuyến vú kém phát triển: nguyên nhân có thể do di truyền, dohormone, do thiếu dinh dưỡng, độc tố nấm mốc, có thể dẫn đến tuyến vúcủa lợn nái kém phát triển, gây thiếu sữa, mất sữa

- Triệu chứng

Lê Hồng Mận (2002) [16] cho biết, bình thường bệnh viêm vú xảy rangay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Viêm vúthường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vúcó màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứngđau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42ºC kéo dàitrong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vúxuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% Vắt sữa ởnhững

vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vónlại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

- Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đóảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

+ Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [3] mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từbệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trìnhtrao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóabị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạnchế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn conbú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp

Ngày đăng: 13/09/2018, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w