1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY TÂN MAI

77 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY TÂN MAI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY TÂN MAI

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN TỐNG KIM PHƯƠNG Ngành: CÔNG NGHỆ BỘT GIẤY VÀ GIẤY

Niên khoá: 2005 – 2009

Tháng 06/2009

Trang 2

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY TÂN MAI

Tác giả

NGUYỂN TỐNG KIM PHƯƠNG

Khóa luận được đệ trình đề để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư ngành Công nghệ sản xuất Bột giấy và giấy

Giáo viên hướng dẫn T.S HOÀNG THỊ THANH HƯƠNG

Tháng 06 năm 2009

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp và các thầy cô trong Bộ môn Công Nghệ Giấy và Bột Giấy đã dạy

dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian học tập qua

Ban Giám Đốc Nhà máy giấy Tân Mai cùng các cô chú, anh chị các phòng ban

đã tạo mọi điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ, truyền đạt kinh nghiệm và chỉ bảo em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tại Nhà máy

TS Hoàng Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt giúp em hoàn thành tốt đề tài

Các bạn lớp DH05GB đã luôn đồng hành, chia sẻ buồn vui, động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và làm đề tài

Và xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bố mẹ và gia đình đã luôn động viên, quan tâm chăm sóc, tạo điều kiện giúp đỡ con trong suốt thời gian học tập

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 7 năm 2009

Nguyễn Tống Kim Phương

Trang 6

TÓM TẮT

Đề tài : “ Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng Giấy In Báo ”, được tiến hành tại Nhà máy giấy Tân Mai, thời gian từ 04/03/2009 đến 29/05/2009

Kết quả thu được là:

- Nắm bắt được dây chuyền sản xuất giấy in báo, thông số máy móc tại nhà máy,

tỷ lệ phối trộn bột và hoá chất trong sản xuất giấy in báo, phương pháp kiểm tra giấy thành phẩm

- Đồng thời tìm hiểu được các bệnh mà giấy in báo thường gặp và nêu lên được cách khắc phục nhằm tăng năng suất chất lượng cho công ty

Trang 7

MỤC LỤC

Trang tựa i

Nhận xét của giáo viên hướng dẫn ii

Nhận xét của giáo viên phản biện iii

Lời cảm ơn iv

Tóm tắt v

Danh mục các chữ viết tắt ix

Danh mục các hình x

Danh mục các bảng xi

Chương 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Giới hạn đề tài 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Chương 2: TỔNG QUAN 3

2.1 Tổng quan về Công Ty CP giấy Tân mai 3

2.1.1 Giới thiệu 3

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 3

2.1.3 Sơ đồ tổ chức 5

2.1.4 Tình hình nguyên liệu cấp cho công ty 5

2.2 Khái niệm Giấy in báo 6

2.3 Tình hình tiêu thụ và nhập khấu giấy in báo trong quý I/2009 7

2.4 Tình hình công nghiệp giấy ở Việt Nam 7

Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

3.1 Nội dung nghiên cứu 9

3.1.1 Khảo sát nguyên liệu sản xuất giấy in báo 9

3.1.2 Các máy móc thiết bị của quá trình xeo giấy in báo 10

3.1.2.1 Thùng đầu 10

3.1.2.2 Bộ phận lưới 13

3.1.2.3 Bộ phận ép 17

Trang 8

3.1.2.4 Bộ phận sấy 20

3.1.3 Các loại phụ gia, hóa chất 21

3.1.3.1 Talc 21

3.1.3.2 Chất tăng độ bền ướt 21

3.1.3.3 Chất tăng độ bền khô 22

3.1.3.4 Chất trợ bảo lưu: 23

3.1.3.5 Chất chống cáu cặn, tạp chất bám vào thiết bị 23

3.1.3.6 Chất chống vi sinh 25

3.1.3.7 Phẩm màu 25

3.1.3.8 Hóa chất giặt mền 26

3.2 Một số tiêu chuẩn chất lượng của giấy in báo 28

3.2.1 Xác định tiêu chuẩn bột CTMP (phụ lục 1) 28

3.2.2 Xác định tiêu chuẩn bột DIP (phụ lục 2) 28

3.2.3 Xác định tiêu chuẩn chất lượng giấy in báo 28

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Phương pháp xác định mẫu chuẩn 29

3.3.2 Phương pháp xử lý và thu thập số liệu 31

3.4 Định mức phân cấp sản phẩm giấy in báo58048 tại Công Ty Giấy Tân Mai 39

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Các yếu tố công nghệ cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng của giấy in báo 40

4.1.1 Yếu tố nguyên liệu 40

4.1.2 Yếu tố hóa chất, phụ gia 42

4.1.3 Yếu tố máy móc thiết bị 43

4.1.3.1 Bộ phận thùng đầu 43

4.1.3.2 Bộ phận lưới 44

4.1.3.3 Bộ phận ép 45

4.1.3.4 Bộ phận sấy 46

4.2 Kết quả kiểm tra các tính chất của giấy in báo 580ISO, 48g/m2 47

4.2.1 Tính chất cơ học 47

4.2.1.1 Độ dày: 47

4.2.1.2 Độ chịu xé theo chiều ngang 48

Trang 9

4.2.1.3 Chiều dài đứt 49

4.2.2 Tính chất quang học 50

4.2.2.1 Độ trắng 50

4.2.2.2 Độ đục 51

4.2.2.3 Độ nhám bề mặt 51

4.3 Các bệnh thường gặp của giấy in báo, nguyên nhân gây ra và cách khắc phục 52

4.3 Kết quả kiểm tra phân cấp sản phẩm 55

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Kiến nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 62

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 : Cơ cấu tổ chức quản lý Công Ty Cp Giấy Tân Mai 5

Hình 3.2: Thùng đầu kín đệm khí 11

Hình 3.3: Ống phân phối chính dạng hình côn 11

Hình 3.4: Các ống phân phối nhỏ cung cấp bột cho thùng đầu 11

Hình 3.5: Bộ phận lưới xeo 13

Hình 3.6: Bộ phận ép 18

Hình 3.7: Minh họa sự thoát nước của trục ép loại khắc rãnh .19

Trang 12

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Dự báo ngành giấy năm 2020 8

Bảng 3.1: Tỉ lệ nguyên liệu sử dụng cho giấy in báo 58oISO 10

Bảng 3.2 Hóa chất phần ướt sử dụng cho giấy in báo độ trắng 58oISO 26

Bảng 3.3 Tiêu chuẩn chất lượng giấy in báo IB58 tại Công ty giấy Tân Mai 28

Bảng 4.1 Kết quả kiểm tra chất lượng bột CTMP 40

Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra chất lượng bột DIP 42

Bảng 4.3 Kết quả khảo sát lượng hóa chất phụ gia dùng sản xuất giấy in báo 42

Bảng 4.4 Kiểm soát chất lượng bột tại công đoạn điều chế bột: 43

Bảng 4.5 Kết quả độ bảo lưu xơ sợi và hạt mịn trên lưới: 44

Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra áp lực ép đối với giấy in báo 580ISO 48 45

Bảng 4.7 Kết quả kiểm tra độ khô của giấy khi qua bộ phận ép 45

Bảng 4.8 Kết quả độ khô của giấy khi ra khỏi bộ phận sấy 46

Bảng 4.9 Kết quả khảo sát chỉ số độ dày của giấy in báo độ trắng 58oISO 47

Bảng 4.10: Kết quả khảo sát chỉ số độ độ chịu xé theo chiều ngang của giấy in báo độ trắng 58oISO 48

Bảng 4.11 Kết quả khảo sát chỉ số chiều dài đứt của giấy in báo độ trắng 58oISO 49

Bảng 4.12: Kết quả khảo sát chỉ số độ trắng của giấy in báo độ trắng 58oISO 50

Bảng 4.13 Kết quả khảo sát chỉ số độ đục của giấy in báo độ trắng 58oISO 51

Bảng 4.14: Kết quả khảo sát chỉ số độ nhám của giấy in báo độ trắng 58oISO 52

Bảng 4.10 Kết quả tỉ lệ phân cấp sản phẩm 55

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ lâu Giấy được coi là một phát minh có giá trị lâu bền của nền văn minh nhân loại Công dụng của nó ngày càng đáp ứng các nhu cầu sử dụng của con người không chỉ ở các lĩnh vực ghi chép, trao đổi, phổ biến thông tin mà còn trong các lĩnh vực khác như bao gói, vật liệu xây dựng, điện, điện tử,…Vì thế, giấy ngày càng trở nên quan trọng trong mọi hoạt động của bất kỳ đất nước nào

Cho đến nay ngành giấy đã thực sự phát triển thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng cho nền kinh tế quốc gia Các sản phẩm giấy ngày càng đa dạng và được ứng dụng rộng rãi đã và đang trở thành một ngành công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Công nghiệp giấy ngày càng phát triển mạnh mẽ với hàng trăm nhà máy, xí nghiệp lớn nhỏ khác nhau lần lượt hình thành

Chúng ta đang sống trong sự bùng nổ của Ngành công nghệ thông tin tuy nhiên giấy in báo vẫn giữ một vai trò khá quan trọng trong đời sống của chúng ta Giấy in báo ngày càng trở nên hữu ích và sản phẩm của nó ngày càng đa dạng Nhằm đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng những nhà sản xuất giấy in báo không ngừng nỗ lực ngoài việc mong muốn truyền tải thông tin đến người đọc mà họ còn tạo ra những tin tức thời sự với hình ảnh đa dạng phong phú Vì vậy các máy in với tốc độ cao và hình ảnh nhiều màu đã nhanh chóng được sử dụng rộng rãi nhằm phục vụ những thị hiếu của chúng

ta Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa quan tâm nhiều đến chất lượng của giấy in báo, làm thế nào để có được tờ giấy báo như ta mong muốn vừa có ngoại quan đẹp mà vẫn đạt yêu cầu về các tính chất cơ lý của tờ giấy báo

Để hiểu rõ hơn những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến chất lượng giấy in báo và được sự cho phép của lãnh đạo nhà máy giấy Tân Mai, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và Bộ môn Công nghệ sản xuất giấy và bột giấy, tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của giấy in báo tại nhà máy giấy Tân Mai”

Trang 14

1.2 Mục tiêu đề tài

Khái quát những điểm nổi bật nhất về yêu cầu chất lượng của giấy in báo Từ

đó xác định được những yếu tố công nghệ cơ bản nhất ảnh hưởng đến chất lượng giấy

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo giúp cho nhà máy đánh giá lại các đơn vị sản xuất đồng thời phân tích lại hệ thống công nghệ thiết bị của nhà máy nhằm cải thiện quy trình sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm giấy cũng như sự phát triển của công ty

Trang 15

Công Ty CP tập đoàn Tân Mai là nhà sản xuất giấy in báo duy nhất tại Việt Nam, đặc biệt trở thành một trong hai đơn vị sản xuất giấy lớn nhất cả nước sau khi Công Ty Giấy Bình An sát nhập vào Giấy Tân Mai và hợp nhất với Công Ty CP Giấy Đồng Nai năm 2008

Công ty giấy Tân Mai cách sông Đồng Nai 400m về phía Nam, cách ga Biên Hoà 3 km và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30km

Công ty giấy Tân Mai có tên giao dịch: TÂN MAI PAPER JOINT STOCK COMPANY Địa chỉ: Khu phố 1, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai Điện thoại: 0613 822257 Website: www.tanmaipaper.com

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển

Năm 1958-Công ty Kỹ Nghệ giấy Việt Nam (Cogivina) được thành lập ngày 14/10/1958 do Chính phủ Việt Nam (cũ) và Công Ty Hoa Kỳ Parsons Whitetemore Development Co.,Ltd đầu tư

Năm 1959: Khởi công xây dựng máy giấy số 1 và các công trình phụ trợ

Năm 1962: Vận hành máy giấy số 1

Năm 1968: Vận hành máy giấy số 2

Năm 1972: Xây dựng lò hơi số 2

Năm 1975: Khôi phục lại sản xuất sau khi thống nhất đất nước

Trang 16

Năm 1985: Ký hiệp định giữa hai Chính Phủ Việt Nam và Vương Quốc Thụy Điển phục hồi nhà máy cũ (do SiDa tài trợ)

Năm 1987: Vận hành phân xưởng dăm mảnh

Năm 1989: Vận hành phân xưởng Bột Nhiệt Cơ

Năm 1990: Vận hành máy giấy số 3

Năm 1992: Sản lượng giấy đạt 20.100 tấn

Năm 1993: Thay thế nguyên liệu gỗ thông bằng gỗ bạch đàn

Năm 1995: Chuyển đổi công nghệ TMP sang CTMP và đạt sản lượng 42000 tấn giấy

Năm 1996: Ký hợp đồng với ABB cải thiện chất lượng giấy in báo.Lắp đặt hệ thống chất lượng giấy QCS

Năm 1998: Sản lượng giấy đạt 59000 tấn

Năm 1999: Thực hiện nâng cấp máy giấy số 3 lên 45000 tấn/năm.Lắp đặt dây chuyền khử mực giấy vụn (DIP) 20000 tấn/năm

Năm 2000: Vận hành dây chuyền khử mực giấy vụn (DIP)

Năm 2002: Xây dựng, chứng nhận hệ thống Quản lý Chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9000 SA8000 và lắp đặt dây chuyền xử lý giấy vụn carton OCC

Năm 2003: Xây dựng, chứng nhận hệ thống Quản lý Chất lượng theo tiêu chuẩn ISO14000 và đưa vào hoạt động dây chuyền xử lý giấy vụn Carton OCC

Năm 2004: Đạt sản lượng 72000 tấn giấy

Năm 2005: Sáp nhập Công Ty Giấy Bình An, các nguyên liệu giấy tại Đông Nam Bộ, Đak Lak, Lâm Đồng vào Công ty Giấy Tân Mai

Năm 2006: Công ty Giấy Tân Mai chính thức mang tên Công Ty Cổ Phần Giấy Tân Mai

Năm 2007: Tổng sản lượng giấy đạt 120000 tấn giấy, 90000 tấn bột giấy

Năm 2008: Sáp nhập Công Ty CP Giấy Đồng Nai, nâng tổng sản lượng giấy lên 140.000 tấn Chính thức mang tên Công Ty CP tập đoàn Tân Mai

Trang 17

2.1.3 Sơ đồ tổ chức

Cơ cấu tổ chức quản lý Công Ty được thể hiện dưới hình 2.1

Hình 2.1 : Cơ cấu tổ chức quản lý Công Ty Cp Giấy Tân Mai

2.1.4 Tình hình nguyên liệu cấp cho công ty

Trước đây công ty phải mua lại gỗ ngoại hoặc trong nước để sản xuất ra bột CTMP Hiện nay công ty đã được xác nhập thêm 03 xí nghiệp nguyên liệu giấy giúp chủ động về nguyên liệu gỗ gần 40% tổng lượng nhu cầu trong năm

Trang 18

a Vùng rừng nguyên liệu Đông Nam Bộ:

Tổng diện tích: 2.362,15 ha

Loại cây: Keo lai

Diện tích trồng: 1.426,6 ha

Năm khai thác: 2006 – 2013

Lượng gỗ khai thác : 125 m3/ha

b Vùng rừng nguyên liệu DakLak

2.2 Khái niệm Giấy in báo

Giấy in báo là giấy không tráng có tỷ trọng sợi gỗ (không bao gồm sợi tre nứa) thu được từ phương pháp chế biến cơ học hoặc cơ-hóa học ≥ 65% tổng trọng lượng sợi, không hồ hoặc hồ rất mỏng, có độ ráp bề mặt Parker Print Surt (IMPa) trên 2.5

Trang 19

micromet, trọng lượng riêng ≥ 40g/m² nhưng ≤ 65g/m², phục vụ mục đích in báo Giấy

in báo có thể ở dạng tờ rời hoặc cuộn

2.3 Tình hình tiêu thụ và nhập khấu giấy in báo trong quý I/2009

Tình hình tiêu thụ giấy in báo ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang trong đà sụt giảm mạnh và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi tổng tiêu thụ giấy in báo quý I/2009 là 15,8 ngàn tấn giảm 50,76% so với cùng kỳ năm 2008 Trong

đó, sản xuất trong nước đã đạt gần 5,7 ngàn tấn, giảm 45,16% so với quý I/2008, nhập khẩu giấy in báo các loại cũng đã đạt gần 9 ngàn tấn giảm 51,61% so với cùng kỳ năm

2008 Đáng chú ý, quý I/2009 Indonesia vượt qua Philippine trở thành thị trường cung cấp giấy in báo cho nước ta chiếm tỉ trọng cao nhất, chiếm 52% tổng lượng, đạt trên 5 ngàn tấn Giá giấy in báo định lượng 48,8 g/m2 nhập về từ thị trường này dao động từ

729 đến 745 USD/T, tăng từ 60 đến 90 USD?T so với giá nhập khẩu cùng kỳ năm trước Lượng giấy in báo nhập về từ thị trường Philippine đạt khoảng 3 ngàn tấn với kim ngạch gần 225 triệu USD, giảm 39,75% về lượng và giảm 53,06% về trị giá so với quý I/2008 Giá nhập khẩu trung bình từ thị trường này đạt 750 USD/T, tăng 26,9% so với giá nhập khẩu cùng kỳ năm ngoái Giá giấy in báo, nhập khẩu tháng 1 và tháng 2

ổn định ở mức 754 USD/T, đến tháng 3 giá giảm 40 USD/T, xuống còn 710 USD/T Hiện nay, giá bán giấy in báo đang trong giai đoạn hết sức nghịch lý là giá bán giấy in báo cao hơn giá giấy in giấy viết vì chưa khi nào giá giấy in báo lại bằng hoặc cao hơn giá giấy in viết Nguyên nhân chủ yếu là giá nguyên liệu đầu vào và giá giấy tái chế (loại onP) hiện đang ở mức rất thấp Hiện giá giấy in báo (loại 45 & 48.8 gsm, độ trắng 58ISO) cao hơn khoảng 40 đến 50 giá giấy in viết (loại 70 gsm, độ trắng 90 ISO) Hiện giá giấy in báo bán lẻ trong nước khoảng 12,6 triệu USD/T, giảm gần 1 triệu USD/T so với giá bán đầu năm 2009

2.4 Tình hình công nghiệp giấy ở Việt Nam

Đối với Việt Nam, trong những năm gần đây nước ta đã tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực Do đó hoạt động thương mại thế giới đã và đang ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến hoạt động sản xuất thương mại ở nước ta trong đó có ngành công nghiệp giấy Việt Nam Ngành giấy Việt Nam cũng đang đứng trước những khó khăn và thách thức mới trong thời cuộc hiện nay Việc tham gia vào các tổ chức thương mại thế giới đã làm cho giấy và bột giấy ngoại thâm nhập vào thị trường

Trang 20

Việt Nam ngày càng nhiều với sự đa dạng về mẫu mã hàng hóa, số lượng, chất lượng cũng như giá cả cạnh tranh Đã và đang đặt ngành giấy Việt Nam trong khó khăn phải cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập trong khi chất lượng của chúng ta chưa thật tốt Trước tình hình này, hơn lúc nào hết ngành giấy cần phải có những chiến lược để tồn tại và có thể cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập Trong khi đó giá giấy in báo ở Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Thái Lan giảm mạnh do nhu cầu tiêu dùng thấp mặc dù các nhà sản xuất vẫn còn chịu sức ép về chi phí tăng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do một số yếu tố như: sự sụt giảm của nền kinh tế thế giới, sự khủng hoảng về tài chính làm cho nền công nghiệp quảng cáo bị sụt giảm kéo theo nhu cầu giấy in báo giảm

Tại Hội thảo Kỹ thuật do Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA), ABB, Andritz và Marubeni tổ chức ngày 24/8/2007 đã công bố dự báo phát triển công nghiệp giấy Việt Nam đến 2010 và tầm nhìn 2015 Theo đó năm 2010 tiêu dùng giấy ở Việt Nam lên đến 2,9 tiệu tấn giấy và năm 2015 tiêu dùng tới 6 triệu tấn giấy, tăng so với năm 2007 (1,8 triệu tấn) lần lượt là 1,6 lần và 3,35 lần Tiêu dùng tính theo đầu người (kg/người/năm) là 32 kg và 60 kg Điều này được thể hiện rõ trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Dự báo ngành giấy năm 2020

Trang 21

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Khảo sát nguyên liệu sản xuất giấy in báo

Tại Tân Mai nguyên liệu chính dùng để sản xuất giấy in báo gồm có bột CTMP

và bột DIP

Nguyên liệu gỗ là thông số quan trọng nhất trong công nghệ sản xuất bột giấy.Nó ảnh hưởng đến chất lượng của hầu hết các loại giấy Một nguyên liệu gỗ tốt sẽ cho bột chất lượng cao mà tiêu tốn năng lượng lại thấp.Yếu tố hình thái học của xơ sợi, thành phần hóa học nguyên liệu gỗ có những ảnh hưởng quan trọng đến đối với tính chất bột, tính chất giấy, độ trắng bột, tính ổn định của quy trình công nghệ Ngoài ra, những tính chất cơ học như khuyết tật gỗ, hàm lượng mắt gỗ, điều kiện thu hoạch, vận chuyển bảo quản đều được xem xét để đánh giá tính chất của nguyên liệu

Một số tính chất của của gỗ ảnh hưởng đến tính chất bột giấy là:

- Khối lượng riêng

- Độ ẩm

- Nhiệt độ

- Tính chất xơ sợi (chiều dày, chiều rộng, bề dày vách tế bào )

- Hàm lượng gỗ đầu mùa hoặc cuối mùa

- Hàm lượng gỗ lõi và gỗ giác

- Khuyết tật gỗ

Nguyên liệu CTMP 65/TM do công ty tự sản xuất từ keo lai dùng để sản xuất giấy in báo không cần độ trắng cao

 Ưu điểm

Độ đục cao, tính chất mực in tốt, hiệu suất cao do vậy giá thành rẻ, thích hợp để

sản xuất các loại giấy: giấy in báo, giấy viết, giấy vệ sinh, giấy bao bì carton

Trang 22

độ sạch, độ đồng đều và chất lượng xơ sợi

Thông thường bột DIP có chất lượng xơ sợi kém hơn so với xơ sợi mới chưa qua tái chế lần nào, do bột DIP đã qua ít nhất một lần chế biến và đã từng được sử dụng Đồng thời mỗi lần giấy được tái chế thì lượng xơ sợi dài bị giảm đi đáng kể làm mất đi tính mềm dẻo và khả năng liên kết xơ sợi cũng giảm Thành phần của chúng rất phức tạp

đó là hỗn hợp của các sớ ngắn, dài của bột cơ, bột hóa,…Vì vậy cần kiểm soát sự đồng đều của chủng loại nguyên liệu Ưu điểm của việc sử dụng bột DIP là nhằm hạn chế được mức ô nhiễm môi trường cũng như hạn chế việc khai thác quá mức nguồn nguyên liệu tài nguyên tự nhiên Bảng 3.1 dưới đây thể hiện tỉ lệ nguyên liệu sử dụng cho giấy in báo 580ISO tại công ty giấy Tân Mai

Bảng 3.1: Tỉ lệ nguyên liệu sử dụng cho giấy in báo 58oISO

Thùng đầu nhà máy sử dụng là thùng đầu kín kiểu thủy lực có đệm khí Thùng đầu kín đệm khí được thể hiện ở hình 3.2 dưới đây

Trang 23

Hình 3.2: Thùng đầu kín đệm khí

Hình 3.3: Ống phân phối chính dạng hình côn

Hình 3.4: Các ống phân phối nhỏ cung cấp bột cho thùng đầu

Trang 24

- Nguyên tắc hoạt động của thùng đầu

Bột được cấp vào ống phân phối hình côn Việc thu nhỏ ống phân phối nhằm

bù lại sự giảm dần áp lực từ đầu đến cuối và ống hồi lưu 10% để duy trì áp lực phun đều trên toàn bộ bề mặt tiếp nhận của thùng đầu Người ta nối hai đầu múp của ống phân phối bằng một ống trong suốt để quan sát dòng chảy của bột theo chiều ngang ống này gọi là ống cân bằng

Sau khi lên ống phân phối sẽ tiếp tục qua các ống nhỏ Vận tốc bột trong các ống nhỏ này rất cao tiếp tục đi qua hộp giảm chấn vì vậy có tác dụng làm xáo trộn chống hiện tượng bột bị vón cục làm ảnh hưởng đến độ đồng đều khi lên lưới Bơm cấp bột đảm bảo cho áp lực bơm và lưu lượng cấp là không đổi Vì vậy cần phải có van điều chỉnh áp lực và dùng áp lực khí nén trên thùng đầu để giữ được mức huyền phù bột ổn định trong thùng đầu Bột sau khi qua ống phân phối nhỏ sẽ qua hòm giảm

áp Trên hộp giảm áp có một vách ngăn để giữ mức chiều cao cột nước trong thùng đầu là không đổi Lượng bột tràn qua vách ngăn hồi lưu 3%, phần còn lại chảy qua các tấm thanh xiên đến môi phun và chảy lên lưới Ngăn định mức có mục đích giữ ổn định chiều cao mực nước trong thùng đầu và một phần gạt lớp bột có lẫn không khí nổi lên về ống hồi lưu

Thanh xiên có cấu tạo là các thanh kim loại hình chữ nhật đặt song song với nhau nhưng hơi lệch một góc nhỏ so với phương thẳng đứng về bên phải Với cách thiết kế kiểu các thanh xiên này tạo sự sáo trộn dòng bột và hình thành tờ giấy được tốt hơn

+ Môi phun

Có cấu tạo theo kiểu thẳng đứng, môi dưới cố định và cách tâm trục ngực 8mm Môi trên điều chỉnh được theo phương ngang và theo phương thẳng đứng Trên môi trên có 29 vít chỉnh theo chiều ngang Môi phun có đặc điểm rất sắc và rất phẳng Độ

mở của môi phun có thể điều chỉnh được

Các thông số công nghệ tại thùng đầu

- Nồng độ: 0.7-1%

- Nhiệt độ: 45-470C

- PH= 6.8-7.2

- Vbột /Vlưới =0.94

Trang 25

- Áp lực thùng đầu: 7.44 mH2O

- Độ mở môi: 11

3.1.2.2 Bộ phận lưới

- Vai trò

Bộ phận lưới là bộ phận hình thành tờ giấy ướt, thoát một phần lớn lượng nước

từ tấm giấy ướt mới được hình thành, là một phận quan trọng trong cả dây chuyền sản xuất Hình 3.5 thể hiện bộ phận lưới xeo

Hình 3.5: Bộ phận lưới xeo

- Cấu tạo

Cấu tạo của bộ phận lưới là của máy xeo lưới dài kiểu cải tiến gồm một lưới xeo dài ở dưới và một lưới xeo trên ngắn hơn, hai lưới này giáp nhau tại guốc cong tạo thành tấm lưới dài liên tục Tấm lưới được làm bằng sợi chất dẻo tổng hợp có độ bền cao Mức độ thô hay mịn của lưới được thể hiện qua số mesh Số mesh được xác định bằng số sợ dệt dọc có trên mội inch ( 2,54 cm ) tính theo chiều ngang của lưới Các loại lưới xeo thường có từ 40 – 100 mesh Số mesh càng cao thì lưới càng mịn

- Một số thông số của lưới xeo dài tại công ty giấy Tân Mai

Lưới dài có chiều dài : 25.85m

Rộng : 4.7m

Lực căng lưới : 600psi

Lưới ngắn có chiều dài : 17.85m

Rộng : 4.8m

Lực căng lưới : 538psi

Trang 26

Cấu tạo các bộ phận chính của bộ phận lưới gồm các lô dẫn động, các hòm hút,

lô hút chân không để tăng độ thoát nước, các lô phụ trợ…Khi máy xeo hoạt động, bộ phận môtơ dẫn động kéo lưới chuyển động, huyền phù bột nước từ hòm phun chảy trên lưới xeo, qua các cơ cấu như bàn tạo hình, lô dẫn lưới, dao gạt; bột được thoát nước dưới hình thức tự nhiên, nước lọt qua các lô dao gạt, bột hình thành một lớp màng xơ sợi đan dệt lại với nhau làm thành một tấm giấy ướt Lượng nước thoát ra ở khu vực này rất nhiều Thường nồng độ ở thùng đầu khoảng 0.7-1%, qua các cơ cấu trên độ khô đạt được 2-3% Qua bộ phận Guốc cong để tạo độ đồng đều hai mặt tờ giấy có dao gạt nước độ khô đạt khoảng 5% Ở bộ phận tiếp theo nước khó thoát ra được dưới hình thức tự do Vì vậy, người ta bố trí các hòm hút chân không để thực hiện thoát nước cưỡng bức Khi qua các hòm hút độ khô đạt được khoảng 15% Băng giấy sau khi qua trục bụng có hút chân không độ khô đạt được khoảng 18-22%

+ Trục ngực

Trục ngực còn gọi là trục đảo chiều chuyển động của lưới Được định vị ngay dưới môi phun, có đường kính tương đối lớn để có thể chịu được áp lực của lưới xeo tác dụng lên nó Trục ngực trên máy xeo có phủ cao su Một vòi nước thường được đặt dưới môi phun để nạp đầy nước cho khoảng không gian giữa môi phun và trục ngực Nước sẽ đuổi khí qua các lỗ lưới, vì sự có mặt của khí là điều hoàn toàn không có lợi, khi nó bị lẫn trong huyền phù bột sẽ gây ảnh hưởng xấu trong quá trình thoát nước trên lưới, sẽ sinh bột và làm xuất hiện những lỗ trống trên giấy

- Nhiệm vụ trục ngực

Nhiệm vụ của trục ngực là vừa phải đỡ lưới vừa phải căng lưới ở một đầu bàn lưới và quay chuyển tấm lưới vào vùng hình thành tờ giấy Vì vậy trục ngực được làm bằng kim loại đủ cứng và đủ lớn để tránh hiện tượng võng trục

+ Tấm định hình

Bàn tạo hình là các tấm phẳng ghép lại với nhau, ở đây tấm định hình gồm bốn tấm Do tiếp xúc với lưới khi lưới chạy qua tạo ra ma sát lớn do đó các tấm định hình được làm bằng sứ Tấm định hình được đặt ở ngay sau trục ngực, là cơ cấu đầu tiên tiếp nhận dòng bột phun ra từ thùng đầu Sự thoát nước tự do qua các lỗ lưới xeo khi vận hành xảy ra ở bàn tạo hình, đồng thời xơ sợi có sự sáo trộn, đan xen với nhau và

xơ sợi thay đổi vị trí sắp xếp theo đa hướng Tại bàn tạo hình, nước thoát ra không

Trang 27

đáng kể làm cho các xơ sợi có thời gian để hình thành sự sắp xếp đồng đều và liên kết được tốt hơn

Điểm chạm khi bột rơi trên bàn tạo hình là điều rất được cân nhắc, cạnh đầu bàn tạo hình được bố trí hơi thấp xuống và cạnh cuối phải được ngang bằng với các tấm gạt nước, trục ngực và được tỳ sát lên

Góc phun bột, điểm phun bột (điểm chạm) được tính từ môi phun đến điểm dòng bột tiếp xúc trên lưới xeo Góc phun bột không được quá lớn tạo nên bắn tóe, gây sốc bột trên lưới Điểm phun không được quá dài có thể làm kéo theo lượng không khí bên ngoài vào vùng hình thành, và điểm rơi trước hoặc sau bàn tạo hình sẽ làm thoát nước nhanh hơn, gây mất mát chất độn và xơ sợi mịn, làm tờ giấy hình thành không đồng đều, kết đám mây Việc thoát nước nhiều ở bàn tạo hình là không tốt, xơ sợi không có điều kiện và thời gian để tự vận động, đan xen, định hướng và tạo thành một màng lọc có độ đồng đều cao

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tờ giấy: độ nghiền SR, tỷ lệ tốc độ bột phun / tốc độ lưới, nồng độ bột, kích thước lỗ, quá trình thoát nước trên lưới…

+ Tấm gạt nước

 Tấm gạt nước bố trí theo từng tấm một

Cấu tạo là các thanh gốm sứ chịu mài mòn và có độ nhẵn bóng cao, phần đầu tiếp xúc với dòng bột và lưới, phần sau thấp hơn với góc lệch 40, góc lệch tạo ra độ chân không giúp cho quá trình thoát nước nhanh hơn

Dùng tấm gạt nước thì lượng nước thoát ra ít hơn suốt đỡ lưới nhưng với cùng một diện tích như nhau thì lượng nước thoát ra nhiều hơn, do vậy dùng tấm gạt nước thì lượng nước thoát ra nhiều hơn các suốt đỡ lưới Máy xeo nhà máy có vận tốc tương đối cao (540m/ phút), dùng tấm gạt nước thay cho suốt đỡ lưới vì lý do: tăng độ thoát nước lưới, không cồng kềnh do các suốt đỡ lưới muốn có hiệu quả vì đường kính lô tương ứng với chiều rộng lưới xeo, khi giảm được suốt đỡ lưới sẽ giảm được tiêu hao

về năng lượng vận hành cho phần lưới

Dòng bột khi vừa mới phun lên tấm định hình, nước thoát qua lưới không đáng

kể, xơ sợi có thời gian đan kết tốt hơn Nên giai đoạn đầu chỉ bố trí 2 tấm gạt nước theo từng cái Sau giai đọan này cần phải tách nước nhiều hơn Vì vậy tấm gạt nước được bố trí theo nhóm, gồm hai nhóm, mỗi nhóm 3 tấm gạt nước

Trang 28

 Bố trí tấm gạt nước theo nhóm

Việc bố trí các tấm gạt nước thành nhóm Mỗi nhóm gồm 3 tấm gạt nước bố trí trong một khoang thoát nước Cách bố trí này áp lực chân không tạo ra yếu - gọi là hòm hút chân không áp suất thấp ( áp lực chân không được tạo ra chủ yếu là do hiện tượng xiphon trong quá trình thoát nước từ khoang thoát nước, nghĩa là không cần sử dụng bơm hút chân không)

Các tấm gạt nước đều có cấu tạo bằng sứ, chống mài mòn cao

Lực hút chân không khô

Hòm thứ nhất : 0.1 bar

Trang 29

để lại vết hằn trên tờ giấy Vì vậy lực hút được tăng dần qua các hòm hút chân không Sau mỗi tổ hút có một khoảng cách để tờ giấy có thể tự do đàn hồi lại, xoá bớt các vết

in hằn trên tờ giấy do tác động hút chân không, làm cho tờ giấy có độ ẩm đồng đều hơn không quá khô ở mặt dưới lưới và không qúa ướt ở trên lưới Việc điều chỉnh độ chân không phù hợp sẽ làm tăng khả năng ở ép ướt, tờ giấy hạn chế khuyết điểm mà vẫn đạt độ bền, độ khô cho công đoạn ép

Lực hút chân không của trục bụng là 140mmHg

Độ khô tờ giấy sau khi qua trục bụng tăng lên 18-22%

3.1.2.3 Bộ phận ép

Bộ phận ép của máy xeo giấy in báo tại nhà máy bố trí theo kiểu ép kép Bao gồm 4 lô ép ghép lại với nhau tạo thành 3 khe ép được gọi là ép 1,2,3 Bộ phận ép được thể hiện ở hình 3.6 dưới đây

Trang 30

Trục ép có khối lượng và chiều dài trục lớn nên khi lắp đặt đã bị võng Để khắc phục hiện tượng này bề mặt được được gia công có độ trung cao thích hợp, đường kính ở giữa trục lớn hơn hai bên biên một chút

Ở lô ép 4, lô ép cuối cùng không có hút chân không nên bề mặt lô có gia công rãnh Trục này tiếp xúc với chăn, có xẻ rãnh sâu khoảng 2.5mm, rộng khoảng 0.5mm

và cách nhau khoảng 3.2mm Thiết kế này cho phép giảm quỹ đạo của dòng nước theo phương ngang Các trục xẻ rãnh này là những trục đặc nên nó có thể chịu được áp lực cao hơn Nước chảy vào các rãnh sẽ được tách ra bằng lực ly tâm Cách thiết kế này giúp tăng đáng kể khả năng thoát nước từ tấm giấy sang chăn và từ chăn sang khe ép,

do đó cho phép tăng áp lực lên khe ép Kết quả là làm tăng độ khô của tấm giấy sau khi qua lô ép dạng này so với ép nhẵn Nước từ các khe sẽ văng ra do lực li tâm khi máy xeo chạy với tốc độ cao Các khe ép được làm sạch bằng cách phun nước sau đó

có tấm gạt nước để làm khô bề mặt lô trước khi tiếp xúc với giấy trong chu trình mới Hình 3.7 minh họa cho sự thoát nước của trục ép

Trang 31

Hình 3.7: Minh họa sự thoát nước của trục ép loại khắc rãnh

- Nguyên tắc tách nước ở bộ phận ép

Chăn ép đỡ tấm giấy ướt cùng đi qua khe ép Dưới tác dụng của lực ép, nước từ tấm giấy ướt thấm qua chăn Trong khe ép hút bố trí lực hút chân không để lấy nước từ chăn ép

Để tăng quá trình thoát nước và giảm được việc đứt giấy do băng giấy ướt đi vào vùng sấy nhiệt độ cao Ở đây có bố trí một ống hơi có nhiệt độ là 650C dọc theo chiều dài của lô ép 2 và nằm giữa ép 1 và ép 2 Ống hơi này gồm 15 ống phun nhỏ lượng hơi có thể điều chỉnh được Khi độ ẩm băng giấy không đồng đều theo chiều ngang, tại chỗ có độ ẩm cao hơn sẽ được mở hơi lớn hơn để điều chỉnh độ ẩm này Ép

có gia nhiệt có ý nghĩa quan trọng trong việc vận hành và vấn đề công nghệ Tờ giấy

ẩm tại bộ phận ép được gia nhiệt Nhiệt độ băng giấy được gia nhiệt từ từ khi vào lô sấy giảm được dính và đứt giấy đồng thời giúp cho băng giấy có thời gian tiếp xúc nhiệt lâu hơn, băng giấy được khô hơn

- Một số thông số của bộ phận lô ép

Lực hút chân không của lô ép 2: 500mmhg

Trang 32

hệ điều chỉnh áp suất hơi riêng lẻ

- Cấu tạo

Hệ thống sấy giấy của công ty Tân Mai gồm 23 lô sấy Và được chia làm hai nhóm: nhóm truyền động và nhóm hơi

Đường kính lô sấy: 1500 mm

Chiều dày lô sấy: 30 mm

Áp suất hơi nước bão hoà: 3 bar

Hệ thống sấy sử dụng hơi nước bão hoà đi vào các lô sấy, sau khi gia nhiệt cho

bề mặt bên trong của lô sấy, hơi ngưng tụ thành nước và được lấy ra ngoài nhờ hệ thống xy phông quay chuyển động cùng với lô sấy

Nhóm truyền động:

- Tổ 1: 5 lô, từ lô thứ 1 đến lô thứ 5

- Tổ 2: 8 lô, từ lô thứ 6 đến lô thứ 13

- Tổ 3: 10 lô, từ lô thứ 14 đến lô thứ 23

Nhóm hơi:

- Nhóm 1: nhóm làm ẩm giấy, từ lô thứ 1 đến lô thứ 3

- Nhóm 2: nhóm sấy trung gian, từ lô thứ 4 đến nhóm thứ 10

- Nhóm 3: nhóm sấy chính, từ lô thứ 11 đến lô thứ 23

Theo nhóm hơi thì các lô sấy trong cùng một tổ sấy thì có nhiệt độ bằng nhau Cách phân bố như vậy thuận tiện cho việc phân bố hơi vào các lô sấy và dễ dàng điều khiển nhiệt độ theo các tổ sấy Thường tổ sấy đầu tiên có nhiệt độ cao vì tổ này tương ứng với quá trình tăng dần nhiệt độ của tấm giấy ẩm, tổ sấy giữa có nhiệt độ cao nhất tương ứng với giai đoạn sấy tốc độ không đổi và tổ sấy ba có nhiệt độ sấy thấp hơn tổ giữa để tránh làm giòn giấy vì đây là giai đoạn tương ứng với quá trình làm giảm tốc

Trang 33

độ bay hơi Đối với Tân Mai thì nhiệt độ tổ sấy tăng từ tổ sấy 1, tiếp theo là tổ sấy 2, nhiệt độ cao nhất là tổ sấy 3

3.1.3 Các loại phụ gia, hóa chất

3.1.3.1 Talc

+ Đặc điểm: Talc là một loại khoáng chất silica-magie ngậm nước với cấu trúc

ba lớp, một lớp oxit magie ở giữa hai lớp silica không ưa nước Các tinh thể bột talc nằm kề cận nhau được giữ với nhau bằng lực liên kết yếu Van Der Waals và vì vậy chất độn này cho bề mặt có tính không ưa nước và có độ “mềm mại” Cũng tương tự đất sét, đây là loại chất độn được sử dụng cho công nghệ xeo môi trường acid Chỉ có những tinh thể ở cạnh là có tính ưa nước và có khả năng trao đổi ion (dù chỉ ở mức rất hạn chế) Tính chất không ưa nước và độ mềm mại là lý do nó được sử dụng phổ biến như chất hấp thụ các chất nhựa trong quá trình sản xuất giấy và bột giấy Tuy nhiên, việc đưa bột Talc vào huyền phù trong nước sẽ khó khăn hơn và cần phải thêm một số phụ gia Talc cũng có ái lực khá rõ với không khí và điều này sẽ tạo bọt

Bột Talc có thành phần SiO2 tỷ lệ 54.3% ± 2, MgO tỷ lệ 32.2% ± 2

Ngoài mục đích là làm chất độn để tăng độ trắng, độ đục, tăng tính in của giấy báo thì chất độn bột Talc công nghiệp có tác dụng là chất chống dính

+ Sản xuất : Công ty Thuận Phát Hưng, Long An

Những ưu điểm khác bao gồm sự gia tăng độ bền cả bên trong và bề mặt tờ giấy, cải thiện tính chất in, tăng độ cứng, giảm bớt tính nhạy cảm với hơi ẩm, …

+ Thông số kỹ thuật

Trang 34

Độ nhớt (ở 25oC) : < 120 cps

+ Yêu cầu sử dụng theo nhà sản xuất:

Liều lượng sử dụng : Trung bình từ 0,2 ÷ 2 %/tấn bột khô tuyệt đối Nếu cao hơn mức độ này thì hiệu quả bảo lưu sẽ giảm đi

Nơi cho vào : HP 330C là ion (+) và vì thế nó có ái lực trực tiếp hướng vào Celluloz (ion (-) trong tự nhiên) Vì vậy điểm cho vào thích hợp nhất dược đề nghị là nên cho vào sau công đoạn nghiền, thích hợp nhất là thùng điều tiết

+ Xuất xứ: Được sản xuất tại Ấn Độ, công ty Thuận Phát Hưng, Long An

- Giảm bụi do việc sử dụng nhiều giấy tái sinh

+ Đặc điểm: AnDust 302 là hỗn hợp keo modified cationic polyamide AnDust

302 đang được sử dụng rộng rãi như một chất chống bóc sợi cho giấy in và giấy photocopy AnDust 302 có hiệu quả trong khoảng pH rộng từ 5 ÷ 9, vì thế phù hợp với

cả môi trường acid, trung tính và kiềm tính Sản phẩm này có thể cải thiện đáng kể độ dai, độ bục của giấy và giấy bìa, giúp tận dụng được các xơ sợi phẩm cấp thấp Ngoài

ra, sản phẩm này còn được sử dụng rộng rãi cho giấy tissue nhằm tăng độ dai và giảm bụi do việc sử dụng nhiều giấy tái sinh

Trang 35

- Nhiệt độ bảo quản : 5 - 35oC

+ Yêu cầu sử dụng theo nhà sản xuất:

Liều lượng sử dụng : Trung bình từ 6 tới 15kg/tấn bột khô tuyệt đối tùy

thuộc vào chất lượng nguyên liệu và chất lượng sản phẩm yêu cầu

- Pha loãng : Pha loãng theo tỉ lệ 1:10 với nước thường trước khi sử dụng

- Nơi cho vào : Cho vào hồ quậy (mixing chest)

+ Xuất xứ: Được sản xuất tại Ấn Độ, công ty Thuận Phát Hưng, Long An

3.1.3.4 Chất trợ bảo lưu:

Tại Tân Mai chất trợ bảo lưu sử dụng cho giấy IB58 là PK435

+ Đặc tính kỹ thuật:

- Ngoại quan: Dạng hạt, màu trắng

- Thành phần: Polymer điện phân khối lượng phân tử lớn, điện tích cation trung bình dựa trên dẫn xuất acrylamide cationic và acrylamide (Medium cationic poly electrolyte của acrylamide + cationic poly acrylamide)

+ Thông số kỹ thuật:

- pH ở 200C, 10g/lit : 4 ÷ 5

- Độ nhớt ở 20oC (10g/lit) : Khoảng 600 mPa.s

- Hòa tan trong nước tốt : Khoảng 60 phút

- Nồng độ sử dụng : 0,05 %

+ Xuất xứ: Được sản xuất tại Ấn Độ, công ty Thuận Phát Hưng, Long An

3.1.3.5 Chất chống cáu cặn, tạp chất bám vào thiết bị

Chất chống dính sử dụng cho giấy IB58 tại công ty là Tallopin OT

- Đặc điểm: Tallopin OT là chất chống cáu cặn, bùn giấy, chống bám dính thiết

bị tương thích môi trường, là chất kết hợp của các chất hoạt động bề mặt với một pha không hòa tan trong nước

 Ưu điểm:

- Tương thích với môi trường

- Không gây hại cho người cũng như môi trường

- Ô nhiễm nước loại I

Trang 36

- Dễ bị phân hủy bằng vi sinh

 Các hiệu quả nổi bật và đa năng:

- Khắc phục sự phát triển của vi khuẩn

- Ngăn chặn quá trình hình thành cáu, cặn bẩn

- Chống bám dính trong quá trình tái sinh giấy

- Kiểm soát được chất cặn bã dạng nhựa trong quá trình sản xuất giấy đi từ bột

gỗ

- Loại bỏ được các chất hồ cặn trong quá trình nấu sôi

- Ngăn chặn vi khuẩn sinh mùi

- Làm sạch hệ thống, sạch lưới, nỉ, thùng

 Công dụng của Tallopin trong nhà máy giấy:

 Đối với Thùng Đầu (Headbox) và bộ phận lưới:

- Giữ sạch các khung, lưới và khu vực bị che khuất

- Sản xuất được liên tục do các mảng bùn trong Stock (nguyên vật liệu bột giấy)

bị mang đi theo dòng chảy

- Cải thiện khả năng thoát nước của các lưới

- Giảm mùi hôi khó chịu

 Đối với khu vực ép:

- Tăng đặc tính dễ tháo của cuộn giấy

 Đối với khu vực sấy:

- Giảm sự vướng mắc ở máy, ít vướng mắc trên bề mặt của ống trụ (ít tháo), làm sạch những lưới khô

 Đối với công đoạn chuẩn bị Stock (điều chế bột)

- Ngăn chặn sự giảm cấp của quá trình truyền nhiệt bên trong nồi nấu tinh bột gây ra do cặn, giảm các hư hỏng sản phẩm bằng cách giảm: Lỗ thâm kim, sự mất màu, vết cặn bẩn, mùi hôi

 Vệ sinh hệ thống:

- Tallopin có thể dùng để vệ sinh hệ thống tuần hoàn khép kín trong công nghiệp ngược với phương pháp truyền thống, nó tách bóc thay vì hòa tan cặn

 Mức sử dụng theo nhà sản xuất:

Trang 37

- Cho sản xuất liên tục, mức sử dụng có thể từ 300 ÷ 500 ppm dựa trên tổng số sản phẩm giấy và tùy thuộc điều kiện riêng của máy, đối với việc vệ sinh hệ thống, mức dùng có thể là 200 ppm dựa trên công suất hệ thống và thời gian ngâm tuần hoàn

từ 1 ÷ 2 giờ có thể được chấp nhận

3.1.3.6 Chất chống vi sinh

Chất chống vi sinh nhà máy sử dụng là Busan 94

+ Đặc điểm: Busan 94 chất diệt khuẩn phạm vi rộng, là chất diệt khuẩn dạng hòa tan trong nước đặc biệt có hiệu quả trong kiểm soát nhầy nhớt và vi sinh trong hệ thống sản xuất bột và giấy Busan 94 là chất diệt khuẩn phản ứng nhanh, đặc biệt trong môi trường kiềm

- Xuất xứ: Mỹ, Công ty Thuận Phát Hưng, Long An

3.1.3.7 Phẩm màu

Phẩm màu dùng cho giấy IB58 tại Tân Mai là màu Cartazine Violet RN (Màu tím)

Trang 38

+ Đặc điểm: là dung dịch màu tím (dung dịch Cartazine pigment preparation) Công dụng của màu tím là tăng độ sáng cho tờ giấy, giúp tờ giấy trông có vẻ trắng hơn khi ở ngoài ánh sáng

+ Xuất xứ: Hàn Quốc, Công Ty Thuận Phát Hưng, Long An

Hóa chất phần ướt sử dụng cho giấy in báo độ trắng 580 ISO được thể hiện rõ trong bảng 3.2

Bảng 3.2 Hóa chất phần ướt sử dụng cho giấy in báo độ trắng 58oISO

Đầu bơm H2+H3 (Trước đầu bơm P320 đưa lên lọc nồng độ cao)

6 PK 435 0,02 ÷ 0,025 % Sau 22S420 (Sau sàng áp lực chuẩn

Busperse 2281 là một kết hợp của chất thẩm thấu, phân tán và dung môi được

sử dụng trong sử lý bột giấy và máy xeo giấy nhằm giặt mền, tẩy mực cho giấy tái

Ngày đăng: 13/09/2018, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w