Quan trọng là vậy, tuy nhiên ngày nay cây tre vẫn chưa được quan tâm đúng mức, vẫn chưa có nhiều cuộc nghiên cứu về tre nhằm thống kê hay định danh phân loại để từ đó có thể hiểu hơn về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ LOÀI TRE Ở HUYỆN CỦ CHI – TP.HCM
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN KHẮC ĐIỆU Ngành : QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG Niên khóa : 2005-2009
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 7/2009
Trang 2ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ LOÀI TRE Ở HUYỆN CỦ CHI – TP.HCM
Tác giả
NGUYỄN KHẮC ĐIỆU
Khóa luận được đề trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Lâm nghiệp
Giáo viên hướng dẫn:
TS Nguyễn Ngọc Kiểng
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 7/2009
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 1
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 2
Trang 6
LỜI CẢM ƠN
Trước hết con xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đối với ba mẹ vì đã luôn ở bên cạnh
con trong suốt quá trình con thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Ngọc Kiểng đã hướng dẫn tận tình trong
quá trình tôi thực hiện đề tài
Xin cảm ơn thầy Nguyễn Minh Cảnh - thầy chủ nhiệm, cùng toàn thể các thành
viên lớp DH05QR đã động viên giúp đỡ
Xin cảm ơn TS Diệp Thị Mỹ Hạnh đã có những góp ý, chỉ bảo và sự giúp đỡ
tận tình của các anh các chị ở Làng Tre Phú An - Bình Dương trong quá trình tôi điều
tra, miêu tả đặc điểm tre ở Củ Chi
Xin cảm ơn toàn thể bà con ở nơi tôi điều tra, đặc biệt là Bác Sinh, người hiểu
biết rất nhiều về tre, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc điều tra các loài tre ở địa bàn
Trang 7TÓM TẮT
Luận văn tốt nghiệp: “Đặc điểm của các loài tre ở Huyện Củ Chi - Thành Phố Hồ
Chí Minh”, thời gian thực hiện từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2009
Đề tài được tiến hành trên địa bàn Huyện Củ Chi – một huyện ngoại thành cách thành phố khoảng 70 km về phía Tây Bắc Đây là một trong những vùng còn lại nhiều tre trúc nhất của thành phố, số lượng loài khá nhiều
Sau quá trình điều tra khoảng một tháng, bằng các phương pháp quan sát thực địa, thu mẫu, miêu tả mẫu, kết hợp chụp ảnh nhằm dễ dàng trong định danh loài, kết hợp với việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia, một số người hiểu biết về tre ở nước ta cũng như tại địa phương Cuối cùng luận văn cũng được hoàn thành
Kết quả thu được có tất cả 4 chi với 12 loài và một phân loài có ở Huyện Củ
Chi, gồm các chi là: Bambusa, Dendrocalamus, Schyzostachym, Thyrsostachys và 12 loài là : Bambusa vulgaris Schrad ap Wendl, Bambusa vulgaris var aureo-variegata
Hort , Bambusa ventricosa McClure, Bambusa stenostachya Hackel, Bambusa
tuldoides Munro, Bambusa textilis McClure, Bambusa oldhamii (Munro) McClure,
Bambusa pallida Munro, Dendrocalamus latiflorus Munro, Dendrocalamus asper
(Schult.) Back.ex Heyne., Schyzostachym pseudolima McClure, Thyrsostachys
siamensis (Kurz ex Munro) Gamble và một phân loài là Bambusa sp Loài này vẫn
chưa xác định được tên, chỉ biết chúng thuộc chi Tre Bambusa
Trang 8Advisor: Nguyen Ngoc Kieng, PhD
Duration: From March to June, 2009
Results of the survey found out 4 genera, 12 species and 1 subspecies as follows:
1 The genus Bambusa includes 8 species and 1 subspecies as following:
¾ 8 species:
Bambusa vulgaris Schrad ap Wendl
Bambusa vulgaris var aureo-variegata Hort.
Bambusa ventricosa McClure
Bambusa stenostachya Hackel.
Bambusa tuldoides Munro
Bambusa textilis McClure
Bambusa oldhamii (Munro) McClure
Bambusa pallida Munro
¾ 1 subspecies: Bambusa sp
2 The genus Dendrocalamus includes 2 species as following:
Dendrocalamus latiflorus Munro
Dendrocalamus asper (Schult) Back.ex Heyne
3 The genus Schizostachyum includes the species Schizostachyum pseudolima
McClure
4 The genus Thyrsostachys includes the species Thyrsostachys siamensis (Kurz ex
Munro) Gamble
Trang 9MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Nội dung tóm tắt ii
Abstract iii
Mục lục iv
Danh sách các bảng vi
Danh sách hình các bộ phận của cây tre và vùng phân bố của tre vii
Danh sách các loài tre chụp ở Huyện Củ Chi viii
Danh sách các loài tre ở Huyện Củ Chi trên internet ix
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn đề tài 3
1.2.1 Đối tượng 3
1.2.2 Phạm vi 3
1.2.3 Giới hạn của đề tài 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
Chương 2: TỔNG QUAN 4
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo 4
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn 5
2.1.1.3 Đặc điểm tài nguyên đất 6
2.1.1.4 Các nguồn tài nguyên khác 8
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 10
2.1.2.1 Dân số, phân bố dân cư, thành phần lao động, dân tộc 10
2.1.2.2 Thực trạng sản xuất 11
2.2 Tổng quan về tre 13
2.2.1 Đặc điểm hình thái của tre 13
2.2.2 Độ phong phú, đa dạng của loài 19
2.2.2.1 Thế giới 19
Trang 102.2.2.2 Việt Nam 19
2.2.3 Tình hình phân bố 21
2.2.4 Lược sử nghiên cứu phân loại tre 23
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Nội dung 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
3.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 26
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Thành phần các loài tre ở Củ Chi 27
4.2 Mô tả đặc điểm các loài tre ở Củ Chi 28
4.2.1 Chi Bambusa 28
4.2.2 Chi Dendrocalamus 40
4.2.3 Chi Schizostachyum 42
4.2.4 Chi Thyrsostachys 44
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 47
5.3 Tồn tại 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 1: HÌNH ẢNH CÁC LOÀI TRE CHỤP Ở HUYỆN CỦ CHI 51
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH CÁC LOÀI TRE Ở HUYỆN CỦ CHI TRÊN INTERNET .64
PHỤ LỤC 3: BẢNG MIÊU TẢ CÁC LOÀI TRE Ở CỦ CHI 76
PHỤ LỤC 4: BẢNG PHỎNG VẤN NGƯỜI DÂN 80
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích rừng tre của Việt Nam và các vùng 23 Bảng 4.1: Bảng thống kê các loài tre ở Củ Chi 27
Trang 12DANH SÁCH HÌNH CÁC BỘ PHẬN CỦA CÂY TRE VÀ
SỰ PHÂN BỐ TRE TRÊN THẾ GIỚI
Trang
Hình 2.1: Thân ngầm cộng trụ 14
Hình 2.2: Thân ngầm đơn trụ 14
Hình 2.3: Thân ngầm dạng hỗn hợp 15
Hình 2.4: Các dạng cành trên thân 16
Hình 2.5: Mo thân và các thành phần 17
Hình 2.6: Hoa tre 18
Hình 2.7: Bản đồ phaân boá tre treân theá giới 22
Trang 13DANH SÁCH HÌNH CÁC LOÀI TRE CHỤP
Ở HUYỆN CỦ CHI
Trang
1 Tre mỡ (Bambusa vulgaris Schrad ap Wendl) 51
2 Tre vàng sọc xanh (Bambusa vulgaris var aureo-variegata Hort.) 52
3 Tre đùi gà (Bambusa ventricosa McClure) 53
4 Tre gai nhà (Bambusa stenostachya Hackel) 54
5 Trúc đá (Bambusa tuldoides Munro) 55
6 Trúc (Bambusa textilisMcClure) 56
7 Lục trúc (Bambusa oldhamii (Munro) McClure) 57
8 Tre lục bình (Bambusa pallida Munro.) 58
9 Trãi ( Bambusa sp.) 69
10 Tre tàu (Dendrocalamus latiflorus Munro) 60
11 Mạnh tông (Dendrocalamus asper (Schult) Back.ex Heyne) 61
12 Nứa lá nhỏ (Schizostachyum pseudolima McClure) 62
13 Tầm vông (Thyrsostachys siamensis (Kurz ex Munro) Gamble) 63
Trang 14DANH SÁCH HÌNH CÁC LOÀI TRE Ở HUYỆN CỦ CHI
TRÊN INTERNET
Trang
1 Tre mỡ (Bambusa vulgaris Schrad ap Wendl) 64
2 Tre vàng sọc xanh (Bambusa vulgaris var aureo-variegata Hort.) 65
3 Tre đùi gà (Bambusa ventricosa McClure) 66
4 Tre gai nhà (Bambusa stenostachya Hackel) 67
5 Trúc đá (Bambusa tuldoides Munro) 68
6 Trúc (Bambusa textilisMcClure) 69
7 Lục trúc (Bambusa oldhamii (Munro) McClure) 70
8 Tre lục bình (Bambusa pallida Munro.) 71
9 Tre tàu (Dendrocalamus latiflorus Munro) 72
10 Mạnh tông (Dendrocalamus asper (Schult) Back.ex Heyne) 73
11 Nứa lá nhỏ (Schizostachyum pseudolima McClure) 74
12 Tầm vông (Thyrsostachys siamensis (Kurz ex Munro) Gamble) 75
Trang 15Ngay từ rất xưa, đã có truyền thuyết Thánh Gióng nhỗ tre đánh giặc Ân Rồi gần đây nhất, tre cũng xung phong vào các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Nào là tầm vông vạt nhọn, nào là chông tre đã trở thành nỗi kinh hoàng cho bọn đế quốc Những bụi tre gai liên kết thành những bức tường thành bất khả xâm phạm của quân dân ta, giúp ta trụ vững trước những cuộc tiến công với vũ khí hiện đại, tối tân của kẻ thù, góp phần thắng lợi cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Tre làm lương thực, thực phẩm, giúp chế tạo ra vô vàn những món ăn ngon hấp dẫn, nhiều chất dinh dưỡng Mặt khác, ngày nay các loại thức ăn được chế biến từ măng tre không còn chỉ sử dụng đơn lẻ trong từng hộ gia đình, mà chúng còn là một chế phẩm công nghiệp xuất khẩu trên toàn cầu, đem về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia
Tre còn là vật liệu xây dựng không thể thiếu trong xây dựng nhà cửa của người dân, đặc biệt là những người dân ở nông thôn Tre làm cột nhà, làm sà nhà, làm vách… góp phần tạo nên ngôi nhà ấm cúng che chở nắng mưa cho nhân dân
Bên cạnh đó, cây tre còn là những dụng cụ không thể thiếu đối với bà con lao động như cán cuốc, thang tre, rổ rá tre… Ngoài ra trong công nghiệp, cây tre được dùng để chế tạo giấy viết, chế tạo đầu lọc thuốc lá và nhiều loại giấy cao cấp khác mà các nguyên liệu khác không sánh kịp
Về khía cạnh môi trường, tre cũng đóng góp không nhỏ Tre bảo vệ môi trường rất tốt Ở những nơi đất bị xói mòn nhiều nếu trồng tre thì hiện tượng xói mòn sẽ giảm
Trang 16đi đáng kể vì tre được hình thành trên bộ rễ rất chắc chắn bám chặt vào đất nên tạo cho đất có kết cấu rắn chắc khó bị xói mòn Cành lá tre rơi rụng trên mặt đất làm độ ẩm không khí tăng lên rất nhanh có lợi cho sự phân giải thảm mục giúp độ phì đất tăng lên Nhiều vùng trồng tre hai bên bờ sông đã có thể giảm tác hại lũ lụt, vỡ đê, đảm bảo cân bằng sinh thái Một số vùng núi cao có nhiều tre, nhân dân thường coi đó là rừng bảo vệ nguồn nước Không những thế, theo các nghiên cứu cho thấy cây tre có khả năng hấp thu CO2 nhả ra O2 gấp 1,5 lần so với cây gỗ khác Khả năng giảm tiếng ồn cũng mạnh hơn cây thân gỗ Tre còn có tác dụng cân bằng sinh thái tự nhiên Ở những nơi không có rừng, sau khi trồng tre, hàng chục loài chim kéo đến cư trú, tạo nên một
hệ sinh thái đa dạng
Điều quan trọng nhất là cây tre đã tạo nên nét văn hóa đậm chất người Việt Nam Cây tre là biểu tượng của làng quê Việt, là ranh giới của làng này với làng khác Tre còn giúp tạo ra các nhạc cụ tưởng chừng như đơn giản mà làm nên những âm thanh trong trẻo, thánh thót đến lạ kì như sáo tre, khèn tre, đàn tre…đã đi sâu vào lòng người bao thế hệ
Và còn vô số các công dụng khác của tre nữa đã làm cho cây tre trở nên không thể thiếu trong cuộc sống của người Việt Nam
Quan trọng là vậy, tuy nhiên ngày nay cây tre vẫn chưa được quan tâm đúng mức, vẫn chưa có nhiều cuộc nghiên cứu về tre nhằm thống kê hay định danh phân loại để từ đó có thể hiểu hơn về tre, góp phần bảo tồn những loài quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao, đồng thời sử dụng hợp lí và khai thác triệt để các công dụng của tre
để phục vụ đời sống con người Đặc biệt là ở Huyện Củ Chi - huyện có tiềm năng rất lớn về tre, cả về khía cạnh bảo tồn lẫn phát triển kinh tế Hiện ở Việt Nam chỉ có một
số ít các công trình nghiên cứu về tre như của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong cuốn
“Cây Cỏ Việt Nam”, đã mô tả được 23 chi với khoảng 126 loài tre; của Nguyễn Hoàng Nghĩa, trong cuốn “Tre trúc Việt Nam” với khoảng 133 loài…Trong đó bao gồm các
chi như: Bambusa, Dendrocalamus, Phyllostachys, Sasa, Oxynanthera, Thyrsostachys,
Melanocalamus, Tetragonocalamus (hay Chimonobambusa), Dinochloa, Cephalostachyum, Gigantochloa, Schizostachyum, Teinostachyum, Arundinaria, Neohouzeaua…Chính vì vậy, luận văn bước đầu tiến hành nghiên cứu về “ ĐẶC
ĐIỂM CỦA MỘT SỐ LOÀI TRE Ở CỦ CHI” đã được thực hiện
Trang 171.2.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài
1.2.1 Đối tượng
Đối tượng là các loài tre thuộc phân họ Bambusoidae ở Huyện Củ Chi
1.2.2 Phạm vi
Đề tài chỉ nghiên cứu các loài tre ở trên địa bàn Huyện Củ Chi
1.2.3 Giới hạn của đề tài
Ban đầu đề tài hướng đến điều tra tất cả các loài có ở khu vực Củ Chi và những vùng lân cận Nhưng do thời gian quá gấp, địa bàn vùng nghiên cứu lại quá rộng, trong thời gian ngắn không thể hoàn thành được nên chỉ dừng lại điều tra trong khuôn khổ địa bàn Huyện Củ Chi
Đề tài vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa có đủ thời gian để tham khảo nhiều tài liệu
Vả lại các tài liệu miêu tả về tre vẫn còn nhiều chồng chéo, các tác giả khác nhau xác định tên các loài khác nhau, rất khó khăn cho việc tham khảo để điều tra, phân loại Vì vậy vẫn còn một loài vẫn chưa xác định tên khoa học một cách đầy đủ, chỉ xác định được tên chi, ghi lại một số đặc điểm nhận dạng và tên địa phương
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu sự đa dạng về thành phần cũng như đặc điểm các loài tre ở Huyện Củ Chi nhằm làm cơ sở cho việc nhận diện cây dễ dàng ngoài thực địa
Tìm hiểu một số công dụng của các loài tre mà người dân địa phương thường
sử dụng trong cuộc sống
Đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn sự đa dạng của các loài tre ở Huyện Củ Chi
Trang 18Chương 2
TỔNG QUAN
2 1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo
a Vị trí địa lý
Củ Chi là một huyện nằm ở tây bắc Thành phố Hồ Chí Minh từ 100 53’00” đến 10010’00” vĩ độ Bắc và từ 106021’00” kinh độ Đông đến 106040’00”, với 20
xã và một thị trấn Địa giới hành chính của huyện được giới hạn như sau:
- Phía Bắc giáp Huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
- Phía Đông giáp Tỉnh Bình Dương
- Phía Nam giáp Huyện Hốc Môn
- Phía Tây giáp Tỉnh Long An
Nằm ở vị trí quan trọng trong chiến lược quốc phòng an ninh của Thành phố,
có căn cứ Đồng Dù, Địa đạo Củ Chi, Quốc lộ 22 chạy qua Củ Chi là huyện nối giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, vì vậy có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá với bên ngoài Tuy nhiên hệ thống cơ sở hạ tầng còn chậm phát triển đã ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huỵện
a Địa hình - địa mạo
Địa hình
Địa hình Huyện Củ Chi nằm trong vùng chuyễn tiếp giữa miền Tây Nam Bộ
và miền Đông Nam Bộ, với độ cao giảm dần theo hai hướng Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8m - 10m, độ cao lớn nhất là 22m (xã An Nhơn Tây), độ cao nhỏ nhất 0,5m (xã Bình Mỹ)
Cấu trúc địa hình có 3 dạng chính:
Trang 19Vùng gò: Cao độ 10m – 15m tập trung ở phía Bắc của huyện, gồm các xã Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức
Vùng triền: chuyễn tiếp giữa các vùng đồi gò và vùng bưng trũng có độ cao
từ 5m – 10m phân bố trên hầu hết các xã
Vùng bưng trũng: cao độ cao từ 1 - 2m, tập trung ở các xã phía Nam, Tây Nam và ven sông Sài Gòn (xã Bình Mỹ, Trung An…)
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn
a Khí hậu
- Củ Chi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất xích đạo
- Có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, với các đặc điểm chính là:
+ Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi
+ Nhiêt độ trung bình năm khoảng 26, 60 C
+ Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28, 80 C (tháng 4),
+ Độ ẩm trung bình năm khá cao 79,5%, cao nhất vào các tháng 7, 8, 9 là 80% - 90%, thấp nhất vào các tháng 12 là 70%
+ Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2100 - 2920 giờ
- Huyện nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió mùa chủ yếu phân bố vào các tháng trong năm như sau:
+ Từ tháng 2 đến tháng 5 gió tín phong có hướng Đông Nam hoặc Nam với vận tốc trung bình từ 1,5 – 2,0 m/s
+ Từ tháng 5 đến tháng 9 thịnh hành gió Tây – Tây Nam, vận tốc trung bình từ 1,5 -3,0m/s
+ Ngoài ra, từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau có gió Đông Bắc, vận tốc trung bình
1 – 1,5m/s
Trang 20Nhìn chung thời tiết của huyện với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ tương đối ổn định, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên lượng mưa tập trung theo mùa nên có những kỳ xảy ra hạn hán làm thiệt hại cho năng suất hoa màu trong nông nghiệp và đời sống dân sinh
Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế độ thuỷ văn của huyện và nét nổi bật của dòng chảy là sự xâm nhập của thuỷ triều
2.1.1.3 Đặc điểm tài nguyên đất
Huyện Củ Chi có diện tích tự nhiên 43.496,59 ha, chiếm 20,76% diện tích tự nhiên của Thành phố Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, đất đai Huyện Củ Chi được chia thành các nhóm chính sau:
a Nhóm đất phù sa:
Đất phù sa được hình thành trên các trầm tích Alluvi tuổi Holoxen muộn ven các sông, kênh rạch, với diện tích 1.538 ha chiếm tỉ lệ 3,5% diện tích của huyện, phân
bố trên các triền thấp, tập trung ở các xã Trung Lập Thượng, Trung Lập Hạ
Nhóm đất này có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Thành phần cấp hạt sét là chủ yếu (45-55%), cấp hạt cát cao gấp hai lần cấp hạt limon Tỉ lệ cấp hạt giữa các tầng không đồng nhất do hậu quả của thời kỳ bồi đắp phù sa Trị số pH xắp xỉ 4; Cation trao đổi tương đối cao kể cả Ca2+, Mg2+, Na2+, riêng K+ rất thấp, CEC tương đối cao, đạt trị số rất lý tưởng cho việc trồng lúa Độ no bazơ cao Các chất dinh dưỡng
về mùn, đạm, lân và kali rất giàu
Đây là một loại đất quí vì vậy phải được cung cấp nước tưới, ưu tiên sản xuất lúa nước 2 đến 3 vụ và sử dụng một phần diện tích nhỏ cho việc trồng cây ăn trái
b Nhóm đất xám:
Trang 21Đất xám chủ yếu hình thành trên mẫu chất phù ca cổ, có diện tích 15.329 ha, chiếm tỉ lệ 35,20% diện tích đất của huyện, là nhóm đất lớn nhất và phân bố hầu hết ở các xã của huyện
Nhóm đất này thường rất dày, thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt cát trung bình
và cát mịn chiếm tỉ lệ rất cao (40 - 50%), cấp hạt sét chiếm (21 - 27%) và có sự gia tăng sét rất rõ tạo thành tầng tích sét Đất có phản ứng chua, pH (H20) xấp xỉ 5 và pH (KCl) xấp xỉ 4 Các Cation trao đổi trong tầng đất rất thấp, hàm lượng mùn, đạm, tầng đất mặt khá nhưng rất nghèo Kali Do vậy khi sản xuất phải bón phân thích hợp Loại đất này dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hoá và thích hợp với các loại cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, đậu…Nên ưu tiên sử dụng cho việc trồng các cây như cao su, điều, vì khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt Trong sử dụng phải chú ý biện pháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung dinh dưỡng nhất là phân hữu cơ
c Nhóm đất đỏ vàng:
Loại đất này hình thành trên các sản phẩm phong hoá của các loại đá mẹ và mẫu chất khác nhau Đặc điểm chung của nhóm đất này là chua, độ no bazờ thấp, khả năng hấp thụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hoà tan dễ bị rữa trôi Nhóm đất này có diện tích 9.237 ha, chiếm 21,22% diện tích đất của huyện Phân bố trên vùng đồi gò các xã Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Hoà Đông, Phước Vĩnh An
d Đất phèn:
Đất phèn có diện tích 15.011 ha, bằng 35% diện tích đất của huyện, tập trung
ở phía Tây Nam của huyện (Tam Tân) và một số nơi ven sông Sài Gòn và kênh rạch
Đất phèn được hình thành trên trầm tích đầm lầy biển (đầm mặn) Trong điều kiện yếm khí đất phèn ở dạng tiềm tàng, trong phẩu diện chỉ có tầng Pyrite Khi có quá trình thoát thuỷ, tạo ra môi trường oxy hoá, tầng Pyrite chuyển thành Jaroxit làm cho đất chua, đồng thời giải phóng nhôm gây hại cho cây trồng Tầng sinh phèn và tầng phèn thường rất nong, nhiều nơi phát hiện ngay ở tầng đất mặt, hàm lượng lưu huỳnh
và các độc tố Fe2+, Fe3+, Al3+ rất cao Nhìn chung đất có pH thấp, hàm lượng Cl- và các muối tan rất cao vì đất thường xuyên chịu ảnh hưởng của nước biển làm cho đất phèn trở nên phức tạp và diễn biến nhanh chóng theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất cũng
Trang 22như môi trường Các loại đất phèn có tầng sinh phèn sâu và nhẹ không còn chịu ảnh hưởng của nước biển và thường có nguồn nước tưới Hiện nay đất phèn được khai thác
để trồng lúa, hoa màu và các loại cây ăn quả
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các loại đất khác như: Đất nhiễm phèn, dốc tụ trên nền phèn, có diện tích 1.460 ha, chiếm tỉ lệ 3,41% phân bố trên các vùng thấp, tập trung ở các xã Thái Mỹ, Trung Lập Hạ, Tân Phú Trung; đất phù sa trên nền phèn, diện tích 192 ha, chiếm tỉ lệ 0,45% phân bố dọc theo sông Sài Gòn
*Địa chất công trình, địa chất thuỷ văn
- Vùng Huyện Củ Chi chủ yếu là phù sa cổ và trẻ, theo sức chịu tải và mực nước ngầm chia ra như sau:
Đất loại 1: Có sức chịu tải 1,5 Kg/cm2, mực nước ngầm cách mặt đất 12m có diện tích chiếm 34% đất toàn huyện
Đất loại 2: Chiếm 19%
Đất loại 3: Chiếm 5,5%
Đất loại 4: Sức chịu tải < 0,75Kg/cm2, mực nước ngầm cách mặt đất 0,5m chiếm 41,5% diện tích toàn huyện
2.1.1.4 Các nguồn tài nguyên khác
a Tài nguyên nước
Chất lượng nước khu vực Củ Chi nhìn chung khá tốt, trừ các trường hợp thuộc bưng trũng Tam Tân - Thái Mỹ Ngoài ra tác dụng của hệ thống thuỷ lợi kênh Đông
Củ Chi đã bổ sung một lượng nước ngầm đáng kể, nâng mực nước ngầm lên 2 - 4m Tài nguyên nước của huyện gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm:
- Nguồn nước mặt: Chủ yếu được khai thác từ sông, rạch tương đối nhiều, nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở phần phía Đông của huyện (Sông Sài Gòn) và trên các vùng bưng trũng phía Nam và Tây Nam với chiều dài gần 300km hệ thống, đa số ảnh hưởng chế độ bán nhật triều
Hệ thống sông Sài Gòn chạy suốt theo chiều dài của huyện theo hướng Tây Bắc Đông Nam là nguồn cung cấp lượng nước chính cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân huyện Ngoài ra còn có hệ thống kênh, rạch tự nhiên khác như Rạch Tra, rạch Đường Đá, rạch Láng The- Bến Mương…cũng chịu ảnh hưởng của sông Sài Gòn, tạo thành một hệ thống đường thủy và cung cấp tiêu
Trang 23thoát nước, có tác dụng rửa phèn, xả chua…phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp
Hệ thống kênh mương nhân tạo, đáng chú ý nhất là hệ thống kênh Đông, là công trình thủy lợi lớn nhất của các tỉnh phía Nam dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng (tỉnh Tây Ninh) về tưới cho 12.000 - 14.000 ha đất canh tác của huyện
- Nguồn nước ngầm: theo các kết quả điều tra, khảo sát về nước ngầm trên địa bàn Huyện Củ Chi cho thấy, nguồn nước ngầm phân bố khá rộng, nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng nước Pleitoxen ở độ sâu 100 - 300m, trong đó có nơi 20- 30 m Trữ lượng khai thác ước tính khoảng 300 -
400 m3/ngày Nhìn chung nguồn nước ngầm của Huyện Củ Chi khá tốt và dồi dào, đang giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt (trừ các khu vực bưng trũng Tam Tân - Thái Mỹ)
Nhìn chung rừng của huyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là rừng trồng và rừng thứ sinh tự nhiên Diện tích rừng phân bố chủ yếu ở các khu bảo tồn, khu di tích lịch
sử nên trữ lượng hạn chế Tuy nhiên, cùng với việc gia tăng dân số và ý thức bảo vệ rừng của người dân nên diện tích rừng của huyện bị giảm mạnh trong thời gian gần đây
c Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện khá phong phú so với mặt bằng chung của thành phố, gồm các loại chủ yếu sau:
- Mỏ cao lanh có trữ lượng khoảng 5 triệu tấn phân bố chủ yếu ở Rạch Sơn
- Than bùn ở Tam Tân, trữ lượng khoảng 0,5 triệu tấn
Trang 24- Sạn sỏi ở Bàu Chứa, trữ lượng cấp B khoảng 0,5 triệu tấn
Ngoài ra còn có mỏ đất sét làm gạch ngói và đá xây dựng nhưng với trữ lượng không đáng kể
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
2.1.2.1 Dân số, phân bố dân cư, lao động, thành phần dân tộc
a Dân số, phân bố dân cư
Năm 2004, dân số trung bình của huyện là 282.678 người (Nam là 135.135 người, Nữ là 147.543 người) Mật độ dân số trung bình là 649 người trên km2, song phân bố không đều ở 20 xã, một thị trấn ( tập trung đông nhất ở thị trấn Củ Chi 3.848 người/km2 và thấp nhất là xã Phạm Văn Cội 267 người/km2)
b Thành phần dân tộc
Về thành phần dân tộc, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc Kinh chiếm 99,58% tổng dân số, kế đến là dân tộc Hoa chiếm 0,29%, dân tộc Khơme 0,07%, còn lại là các dân tộc khác như Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thái, Giarai, Êđê, Chơro, Thổ, Mông, Sán dìu, Ra glai và người nước ngoài chiếm tỷ lệ không đáng kể
c Lao động việc làm, thu nhập
- Lao động, việc làm:
Những năm qua lực lượng lao động trên địa bàn huyện có xu hướng tăng nhanh,
do số người ngoài độ tuổi tham gia lao động cao, số người mất sức không còn khả năng lao động ngày càng giảm Nguyên nhân do lực lượng lao động nhập cư nhanh theo tốc độ công nghiệp hóa Số người trong độ tuổi lao động từ 170.205 người năm
2000 tăng lên 189.716 người năm 2004 tăng 11,46% so với năm 2000 Số người trên
độ tuổi lao động giảm dần từ 8.787 năm 2000 xuống còn 6.879 người năm 2004, giảm 20,81% Một số tiêu chí về lao động năm 2004 cho thấy số lao động đang làm việc tại các ngành nông – lâm - ngư thủy sản là 61.097 lao động chiếm 45,80% số lao động đang làm việc; các ngành công nghiệp, xây dựng là 41.218 lao động chiếm 30,89%; số lao động còn lại là các ngành như thương nghiệp, giáo dục, y tế, văn hóa thông tin và các ngành khác là 31.083 lao động chiếm 23,30% Tuy nhiên con số lao động chưa có việc làm còn cao, năm 2000 là 10.734 lao động tăng lên 11.796 lao động năm 2004 Nguồn lao động tăng nhanh là một trong những điều kiện thuận lợi của huyện
để phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên chất lượng lao động đang là vấn đề hạn chế còn
Trang 25tồn tại trong quá trình phát triển Huyện Củ Chi là huyện ven của thành phố, lao động chủ yếu làm nghề nông nên trình độ chuyên môn của lực lượng lao động không thể đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả 3 khu vực Mặt khác đội ngũ lao động di chuyển từ nơi khác đến, nhất là các tỉnh, vùng lân cận có trình độ văn hóa thấp, thiếu chuyên môn về một số ngành nghề nhất định nên ảnh hưởng đến chất lượng lao động của huyện nói chung
-Thu nhập và mức sống:
Những năm qua đời sống của nhân dân trong huyện được cải thiện rất nhiều, không còn hộ đói, xóa nhanh hộ nghèo Năm 2000 toàn huyện vẫn còn 5,1% hộ có thu nhấp dưới 2,5 triệu đồng/người/năm Tiếp tục phát huy thành quả chương trình xóa đói giảm nghèo các năm trước Bằng các giải pháp khả thi đến cuối năm 2003, Củ Chi cơ bản hoàn thành chương trình xóa đói giảm nghèo theo tiêu chí của Thành phố Qua điều tra, toàn huyện còn 9.995 hộ nghèo có thu nhập dưới 6 triệu đồng/người/năm, chiếm tỉ lệ 14,16%, khả năng đến cuối năm 2005, mức thu nhập thấp nhất của tất cả hộ nghèo sẽ nâng lên 4 triệu đồng/người/năm và có 1.115 hộ vượt chuẩn thu nhập 6 triệu đồng/người/năm theo tiêu chí mới của Thành phố
Cùng với chương trình xóa đói giảm nghèo, vấn đề chăm lo nhà ở cho gia đình diện chính sách và dân nghèo được Đảng bộ - Chính quyền và nhân dân Củ Chi đặc biệt quan tâm, đến nay diện chính sách và dân nghèo trong huyện đã được trao tặng 3.806 nhà tình nghĩa (tương đương 57 tỉ đồng); 3.754 nhà tình thương (với số tiền 22,783 tỷ đồng) Đến nay, huyện cơ bản xóa hết nhà tranh tre Có 98,8% nhà kiên cố (vượt 8,8% so với nghị quyết)
+ Cây rau phát triển nhanh với diện tích khoảng 3.200 ha
Trang 26+ Ngoài ra còn phát triển các vùng hoa kiểng và nhiều loài cây khác như cao
+ Ngoài ra các vật nuôi khác bước đầu cũng đã được đưa vào nuôi như cá kiểng, cá sấu…
Dịch vụ nông nghiệp: Có xu thế tăng, đến năm 2005 đạt 80,6 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 7,57%
Nhìn chung trong thời gian qua, giá cả nông sản biến động theo xu hướng tăng, đặc biệt là hoa màu thuận lợi cho người nông dân tiêu thụ sản phẩm nên đã khuyến khích nông dân đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện thâm canh tăng vụ, nâng cao chất lượng sản phẩm
Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp có bước phát triển, cùng với sự hỗ trợ có kết quả của dự án trồng rừng, bảo tồn, khoanh nuôi tái sinh rừng Công tác quản lý bảo vệ rừng được coi trọng Tuy nhiên rừng ở Củ Chi chủ yếu tập trung ở một số xã có khu di tích lịch sử nên trữ lượng hạn chế
Thủy sản
Củ chi là huyện có hệ thống sông rạch tương đối nhiều, chủ yếu ở phía Đông của huyện Đây là lợi thế để phát triển môi trường thủy sản, như nghề cá cảnh, cá sặc rằng…Ngoài ra cũng có triển khai nuôi tôm càng xanh với quy mô khoảng 100 ha Tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 25,34% cao hơn gần gấp 3 lần so với chăn nuôi; 1,5 lần so với lâm nghiệp
b Khu vực kinh tế công nghiệp
Trang 27Hiện nay có 1.372 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp do huyện quản lý, 63 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, thu hút trên 33.000 lao động của địa phương và một phần lao động nhập cư, giá trị sản xuất đạt 2.755,99 tỷ đồng năm 2004
Quy mô các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung chủ yếu ở cụm công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, khu công nghiệp Tân Phú Trung, Tân Quy
Tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 21,47%, tăng 6,22% so với chỉ tiêu nghị quyết Cơ cấu sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp tư nhân, khu vực công nghiệp nhà nước giảm dần, hiện nay đã chuyễn sang công ty cổ phần
c Khu vực kinh tế dịch vụ
Trong những năm qua, việc đổi mới cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường đã thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng nhanh nhu cầu giao lưu trao đổi hàng hóa trên địa bàn huyện, đặc biệt các ngành công nghiệp ngày càng phát triển, tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều nên đã thúc đẩy ngành thương mại dịch vụ phát triển với quy mô lớn, số cơ sở dịch vụ đạt khoảng 7.707 cơ sở năm 2004, thu hút 11.505 người Tổng doanh thu bán hàng hóa và dịch vụ 1.400,093 tỷ đồng Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tiếp tục phát triển, giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng trên 95 %
so với toàn ngành Tốc độ tăng trưởng bình quân của thương mại và dịch vụ 27,12%
2.2 Tổng quan về tre
2.2.1 Đặc điểm hình thái của cây tre
Tre thuộc phân họ Bambusoidae, thường có tập tính sinh trưởng giống cây thân
gỗ, được đặc trưng bởi thân hóa gỗ, thường rỗng, hệ thân ngầm và cành phức tạp, có
hệ lá và mo thân
Tre không có vòng năm, do không có cấu tạo tượng tầng Đây là đặc điểm khác với các loài thân gỗ khác Cây có một thân chính hình trụ, thẳng và thường cong ở phần ngọn Khi nhú lên khỏi mặt đất, măng thường có kích thước bằng với kích thước của thân khí sinh và sau đó không tăng lên đáng kể
Cấu tạo hình thái gồm các bộ phận sau:
a Thân ngầm
Do tre không có một thân chính như cây gỗ nên thân ngầm là bộ phận đặc biệt của cây mới Thân ngầm sống dưới đất có cấu tạo cơ bản như thân khí sinh trên mặt
Trang 28đất, chỉ khác là có lóng ngắn, vách dày hoặc thân đặc hoàn toàn, rễ rất phát triễn, lá thành vẩy và các bộ phận thường có màu trắng
Thân ngầm được chia làm 3 loại chính:
- Thân ngầm mọc cụm: Thân ngầm dạng này rất ngắn, không thể bò lan ra xa
Cụm thân ngầm Mặt cắt dọc một thân
Hình 2.1: Thân ngầm cộng trụ(Nguồn: Christine Recht, Max F Wetterwald, Werner Simon, Yves Crouzes)
- Thân ngầm mọc tản: Thân ngầm loại này thường bò lan dài trong đất và được gọi là roi tre
Thân mọc lên từ roi tre Mặt cắt dọc một thân
Hình 2.2: Thân ngầm đơn trụ (Nguồn: Christine Recht, Max F Wetterwald, Werner Simon, Yves Crouzes)
Trang 29- Thân ngầm hỗn hợp: Là kiểu mọc hỗn hợp của hai dạng cụm và tản, khi nhiều chồi ở roi tre phát triển thành các thân khí sinh đơn độc và một số ít chồi phát triển thành cụm nhiều cây
Hình 2.3: Thân ngầm dạng hỗn hợp (Nguồn: Thomas R Soderstrom, Stephen M Young, 1983)
c Thân khí sinh
Thân tre thường có hình trụ, là phần quan trọng nhất của cây tre bao gồm: gốc thân và thân Gốc thân ở giữa thân ngầm và thân Phần thân tre trên mặt đất có thể cao
từ 1-30m hoặc hơn và đường kính từ 1 - 25cm
Thân tròn rỗng, có đốt, giữa hai đốt là lóng, giữa mắt có màng ngăn cách Lóng: Lóng nằm giữa 2 đốt, thường hình trụ, chiều dài thường thay đổi trên một thân tre Lóng thường rỗng, thành của lóng gọi là vách thân Độ dài của các lóng trên thân không giống nhau, các lóng ở đoạn giữa thân thường dài hơn các lóng ở gốc
Trang 30• Màng ngang: là phần đặc ở trong đốt, có thể phẳng, lồi hay lõm, ở một số loài màng ngang của các đốt phía gốc có lỗ thủng
• Chồi thân: Còn gọi là mắt tre, phát triển thành cành tre
• Vòng lông, vòng phấn: màu trắng hay màu hung vàng thường có ở trên và dưới vòng mo, là đặc điểm để dễ phân biệt các loài
Thân thường có màu xanh lục, xanh nhạt hoặc xanh thẵm, đôi khi có sọc trắng hay vàng, có phấn trắng hoặc có màu nâu thẫm
Thân có cành nhiều, mo nang và lá cây phân biệt
Một số loài, cành biến thành gai nhọn
Hình 2.4: Các dạng cành trên thân (Nguồn: Thomas R Soderstrom, Stephen M Young, 1983)
Trang 31e Mo thân: Có hình vảy để bảo vệ măng và thân non, gồm:
• Bẹ mo: Là phần chính của mo, thường ôm bảo vệ măng và thân khí sinh, khi còn non, tuỳ theo mỗi loài có hình dạng khác nhau như: hình thang, hình chuông, hình tam giác…
• Lá mo (phiến mo): Là bộ phận trên cùng của mo thân Phiến mo thường
có hình ngọn giáo, hình trứng, hình tam giác… Phiến mo có thể sớm rụng hay tồn tại khá lâu
• Tai mo: Là phần nhô lên của hai bên đầu bẹ mo, đôi khi thoái hoá Tai
mo thường mang lông
• Thìa lìa (Lưỡi mo): Ở đầu bẹ mo, thường có dạng dài, hẹp và mỏng; mép trên thìa lìa có thể xẻ răng hoặc biến thành lông
Hình 2.5: Mo thân và các thành phần (Nguồn: Christine Recht, Max F Wetterwald, Werner Simon, Yves Crouzes)
f Lá
Lá làm nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp vật chất nuôi cây gọi là lá quang hợp Trong phiến lá có các tế bào fusoid cells và arm cells (Dranfield and Widjaja, 1995) Đây là đặc điểm làm cho các loài tre khác hẳn các loài cỏ khác, chỉ các loài song mây hoặc cau dừa mới có các đặc điểm này
Lá: Gồm các bộ phận:
Trang 32• Phiến lá: Lúc còn non, lá non cuộn lại dạng hình kim Phiến lá màu xanh, thường có hình ngọn giáo, dạng dải, đầu phiến thu nhỏ lại thành mũi nhọn Gốc phiến lá có thể hình tròn, hình tim hay thu hẹp dần dạng chữ V…
• Bẹ lá (mo lá): Phần ôm lấy cành, phía trên có cuốn, nối liền với phiến lá
• Cuống lá: Phần gốc của lá để nối với bẹ lá
• Lưỡi lá (thìa lìa lá): Là phần nổi lên giữa bẹ lá và cuống lá, cao khoảng vài mm, đôi khi có viền răng cưa
• Tai lá: Hai đầu bẹ lá có hai phiến nhỏ nhô cao, trên tai thường có nhiều lông cứng, dài
g Cụm hoa
Hoa tự có dạng chùy lớn gồm rất nhiều nhánh Trên mỗi nhánh, ở các đốt có nhiều bông chét, mỗi bông chét có từ một đến nhiều hoa Hoa có vẩy, bao hoa khá phát triển Vòi nhụy xẻ 2 hoặc 3 có nhiều lông
Chu kì ra hoa dài hàng chục năm và thường sau một lần ra hoa cây chết Hiện tượng cây ra hoa hàng loạt dù non hay già rồi chết hàng loạt trong gần cùng một thời gian gọi là “khuy”
a Các dạng hoa tre b Cấu tạo giải phẩu
(Nguồn: Thomas R Soderstrom, (Nguồn: Christine Recht và cộng sự) Stephen M Young, 1983)
Hình 2.6: Hoa tre
Trang 33Tre trúc với khoảng 1250 loài thuộc 75 chi có đại diện ở mọi châu lục trừ Châu
Âu Châu Á đặc biệt giàu có về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 65 chi và
900 loài (Rao and Rao, 1995, 1999)
Theo Li (1999) thì với hiểu biết hiện tại, tre trúc có khoảng 67 chi (có 1 chi chưa rõ) được đặt vào 10 nhóm (subtribe) trong đó Châu Á có 44 chi với khoảng 600 loài Tuy nhiên những nghiên cứu về tre trúc còn rất lẻ tẻ, đặc biệt với những vùng giàu tre trúc như vùng Đông Nam Á thì các nước lại chưa có điều kiện thống kê hết các loài và chi tre trúc của nước mình Các tác giả khác nhau cũng có những thống kê khác nhau ngay cho một quốc gia, ngay tên khoa học của loài cũng là vấn đề tranh luận
Theo Dranfield và Widjaja (1995) thì Đông Nam Á có khoảng 200 loài của 20 chi, nhưng con số này so với hiện nay sẽ không còn đúng mà thực tế có thể tăng lên rất nhiều
Trung Quốc là nước có nhiều loài tre nhất thế giới với khoảng 500 loài, riêng vùng Vân Nam là vùng phân bố tự nhiên phong phú ở phía Nam Trung Quốc, số lượng loài của riêng vùng này cũng đạt đến 200 loài
Nhật Bản cũng có só lượng tương tự (trên 200 loài)
Còn lại các nước trong khu vực đều có số loài trên dưới 100, đáng kể nhất là Ấn
Trang 34tra khảo sát và định danh chính xác các chi và loài tre trúc ở Việt Nam đang còn là vấn
đề lớn cần sớm được giải quyết cho nên số lượng các chi và loài ở nước ta mới chỉ là tạm thời
Kể từ khi Camus and Camus (1923) thống kê 73 loài tre trúc của Việt Nam tới công bố của Phạm Hoàng Hộ (1999) cho 123 loài, số lượng các loài tre trúc của Việt Nam đã tăng lên đáng kể Các nghiên cứu gần đây của một số nhóm nghiên cứu như Nguyễn Tử Ưởng và Nguyễn Đình Hưng (1995), nhóm định loại tre nứa của đề tài tre, 2003; Nguyễn Hoàng Nghĩa, Xia và Lâm, 2004 cho thấy nước ta có trên 150 loài tre trúc và có thể tìm thấy một số loài mới Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tên khoa học của các loài tre trúc ở Việt Nam là một vấn đề rất phức tạp và cần phải thay đổi lại rất nhiều
Nghiên cứu về tre trúc ở Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã được tiến hành nhiều năm trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả điều tra, thu thập mẫu vật thực vật từ nhiều vùng trên cả nước Mở đầu bằng các nghiên cứu do tiến sĩ Nguyễn Đình Hưng chủ trì trong khuôn khổ của chương trình nghiên cứu KN03, giai đoạn 1991-1995
Vào cuối những năm 1990, Viện tài nguyên di truyền thực vật thế giới (IPGRI)
đã tài trợ một khoảng kinh phí để Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thu thập các tài liệu về tài nguyên tre trúc và song mây ở Việt Nam Chương trình này đã được nhóm các tác giả bao gồm KS Nguyễn Tử Ưởng, TS Nguyễn Hoàng Nghĩa, TS Trần Quang Việt, GS.TSKH Đỗ Đình Sâm và KS Nguyễn Tử Kim triển khai và hai tập tổng hợp tài liệu (riêng cho từng nhóm Tre trúc, song mây) cũng đã được hoàn thành
Do không có kinh phí cho điều tra khảo sát nên các thông tin chỉ dừng lại ỏ các loài đã được công bố chính thức
Đến cuối thế kỷ XX, GS Lê Công Kiệt (1999) thực hiện chìa khóa định danh tre trên thực địa cho 71 loài từ Quảng Trị trở vào miền Nam
Một số đề tài, dự án nghiên cứu về tre:
Đề tài “Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc điểm
sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam” do kỹ sư Nguyễn Tử Ưởng và Thạc
sĩ Nguyễn Viết Lâm chủ trì giai đoạn 2001-2003 đã đề xuất danh sách các loài
Trang 35tre trúc có ở Việt Nam bao gồm 133 loài thuộc 22 chi trong đó có khá nhiều loài mới (sp.nov.) sẽ được các nhà nghiên cứu công bố trong thời gian tới
Dự án mang tên “Đa dạng loài và bảo tồn exsitu một số loài tre ở Việt
Nam’’ do PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa chủ trì giai đoạn 2004 - 2005 đã khảo
sát một số nơi ở miền Bắc và đánh giá lại danh sách năm 2003 và thống nhất một danh sách mới bao gồm khoảng 133 loài thuộc 24 chi tre trúc cho Việt Nam
Trong giai đoạn 2003-2005 có nhiều cuộc khảo sát đã được thực hiện từ Bắc chí Nam đã ghi nhận và bổ sung thêm những loài mới dựa vào tài liệu của
GS Phạm Hoàng Hộ
Hiện nay số loài tre được ghi nhận ở Việt Nam đã tăng lên khoảng 29 chi 150 loài Dự đoán nếu được thống kê đầy đủ số loài tre ở Việt Nam có thể lên 200-250 loài
2.2.3 Tình hình phân bố
Tre thường phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới, rất ít phân bố ở các nước hàn đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000 m trên mặt nước biển, song phân bố tập trung ở vùng thấp và đai cao trung bình, mọc hoang dại hoặc được gây trồng mà một đặc điểm là chúng có mặt trong nhiều môi trường sống khác biệt (Dranfield and Widjaja, 1995)
Nhiều loài và chi được coi là đặc hữu của vùng hoặc quốc gia như khoảng 20 chi tre ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ không tìm thấy ở ngoài vùng phân bố và các loài bản địa của Madagaxca là các loài đặc hữu của hòn đảo này, song hoạt động của con người
từ hàng nghìn năm qua đã tác động rất lớn đến sự lan rộng của các loài tre từ vùng này tới vùng khác (Dranfield and Widjaja, 1995)
Cây tre thường mọc hỗn giao với một số loài cây gỗ khác Theo thống kê, trên thế giới diện tích tre hiện có khoảng 14 triệu ha Trong đó tre mọc cụm chiếm 3/5, tre mọc tản chiếm 2/5
Châu Mỹ có khoảng 270 loài tre, chủ yếu ở Châu Mỹ Latinh
Có thể chia ra 3 vùng phân bố của tre trên thế giới:
+ Vùng tre Châu Á Thái Bình Dương
+ Vùng tre Châu Mỹ
Trang 36+ Vùng tre Châu Phi
Trong đó vùng tre châu Á Thái Bình Dương trên dải gió mùa Đông Nam Á là trung tâm phân bố tre trên thế giới Diện tích và số loài tre vùng này chiếm khoảng 80% diện tích và số loài tre trên thế giới Trong đó, Trung Quốc có vùng phân bố lớn nhất với khoảng 4 triệu ha so với 14 triệu ha của thế giới
Hình 2.7: Bản đồ phaân boá tre treân theá giới (Nguồn: N El Bassam, K Jakob, 1996)
Ở Việt Nam, năm 2001 theo công bố của chương trình tổng kiểm kê rừng toàn quốc, Việt Nam có khoảng 799.221 ha rừng tre thuần loại, 702.871 ha rừng hỗn giao tre nứa + gỗ là rừng tự nhiên, cộng với trên 70.000 ha rừng tre trồng và hàng trăm triệu cây tre trồng phân tán
Trang 37Bảng 2.1: Diện tích rừng tre của Việt Nam và các vùng
Đơn vị: ha Địa phương Tổng diện tích Diện tích rừng Diện tích rừng
tre nứa thuần loại
Diện tích rừng tre nứa hỗn loài
Toàn quốc 32.894.398 10.915.592 789.221 702.871 Đông Bắc 6.746.293 2.368.982 176.449 132.445
(Nguồn: Kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc tháng 1/2001)
2.2.4 Lượt sử nghiên cứu phân loại tre
Các đặc điểm hình thái của tre góp phần quan trọng vào việc định danh các chi
và loài tre trúc
McClure là người đầu tiên đề xuất kiểu cụm hoa (Inflorescence) để xác định tên chi
Riviere anh Riviere (1879) đã là những người đầu tiên phân chia tre trúc thành
hai nhóm theo đặc điểm thân ngầm mọc cụm (caespitose) và mọc tản (spreading habit) Sau này được Gamble (1897), McClure (1925), Keng (1948) phát triển thêm
Mo thân được coi là đặc điểm quan trọng để phân loại tre trúc đã được Gamble(1897) đưa ra đầu tiên Naikai (1925) sử dụng mo thân vào phán đoán chi
Trang 38Ngày nay, để phân loại và nhận biết các loài tre các nhà khoa học bên cạnh việc xem xét đến cơ quan sinh sản của tre (Hoa), còn sử dụng tổng hợp các đặc điểm của cơ quan sinh dưỡng như:
+ Hình thái thân ngầm (mọc cụm, mọc tản)
+ Hình dạng và cấu tạo mo thân
+ Cách mọc và số lượng cành
+ Số lá và hình dạng lá…
Trang 39Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung
Những nội dung đề tài cần giải quyết :
- Điều tra các loài tre có trên địa bàn huyện
- Định danh các loài tre tìm được, xác định và tìm hiểu thành phần các loài tre
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trong quá trình điều tra đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu tài liệu là giai đoạn khởi đầu của quá trình nghiên cứu Đầu tiên, tiến hành thu thập những thông tin liên quan như: Các kết quả nghiên cứu, các thành tựu về lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng như các tài liệu về tài nguyên
tre ở Việt Nam như sách của GS Phạm Hoàng Hộ (Cây cỏ Việt Nam), Nguyễn Hoàng Nghĩa (Tre trúc Việt Nam) Việc xác định tên khoa học dựa vào nội dung của hai tài
liệu này là chủ yếu
- Phương pháp điều tra quan sát thực tế:
Phương pháp này đề tài sử dụng nhằm ghi nhận các thông tin về loài, lấy mẫu vật nhằm tiện cho chụp ảnh và miêu tả
- Phương pháp chuyên gia:
Phương pháp này được đề tài sử dụng nhằm thu thập thông tin thông qua việc lấy ý kiến từ những người đã nghiên cứu lâu năm về tre hoặc những người có hiểu biết
Trang 40về tre ở địa phương Đồng thời tham khảo ý kiến của các chuyên gia về việc phân loại miêu tả
Việc miêu tả được tiến hành theo bảng miêu tả và bảng phỏng vấn (xem phụ lục III, IV)
Việc điều tra đo đếm được thực hiện theo nguyên tắc lấy các mẫu đại diện nhất Để có được mẫu đại diện, cách tiến hành thu thập mẫu như sau:
- Phải chọn những cây đại diện nhất trong một bụi để miêu tả
- Đo đường kính cây phải đo ở khoảng mắt thứ 5 của lóng
- Mo thân cũng phải lấy ở giữa thân
- Lá của những cành đại diện nhất, mẫu lá cũng không được già quá hoặc non quá, để tiến hành quan sát và miêu tả các đặc điểm một cách chính xác nhất
3.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu
- Phân tích, tổng hợp tư liệu, số liệu từ bảng điều tra và các nguồn khác bằng phương tiện máy tính