Trong những năm qua, việc quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng còn lỏng lẻo, thiếu sự quan tâm của các ban ngành liên quan, đặc biệt là ngành lâm nghiệp đã dẫn đến tài nguyên rừ
Trang 1NGUYỄN DANH TÙNG
TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN GIẢM SÚT TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC CHƯƠNG
TRÌNH PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ PHÚ SƠN,
HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ LÂM NGHIỆP
TP.HCM – NĂM 2009
Trang 2TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN GIẢM SÚT TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC CHƯƠNG
TRÌNH PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ PHÚ SƠN,
HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
NGÀNH : LÂM NGHIỆP GVHD : TS BÙI VIỆT HẢI SVTH : NGUYỄN DANH TÙNG KHOÁ : 2005 – 2009
TP.HCM – NĂM 2009
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin chân trọng cảm ơn:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
- Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp
- Phòng Đào tạo Trường ĐHNL TP.HCM
- Cùng toàn thể quý thầy cô, cán bộ công nhân viên Trường Đại Học Nông Lâm đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức quý báu và giúp
đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc:
- Đến thầy Bùi Việt Hải đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
- Cảm ơn Ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên Ban Quản lý rừng Nam Ban, Trưởng phòng phát triển Lâm nghiệp Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, bà con xã Phú Sơn
Xin chân thành cảm ơn:
- Toàn thể bạn bè trong và ngoài khóa đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
- Gia đình và những người thân, thành kính xin dâng lên cha mẹ kết quả này với trọn niềm biết ơn vô hạn
Sinh Viên: Nguyễn Danh Tùng
Trang 5MỤC LỤC
Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Định hướng phát triển chính sách Lâm nghiệp Việt Nam 4
2.2 Một số chính sách liên quan đến quản lý tài nguyên rừng 5
2.3 Mục đích và ý nghĩa của công tác giao rừng 8 2.4 Các kết quả liên quan đến giao khoán rừng và sự tham gia 11
Chương 3: ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng của việc thực hiện giao khoán và QLBVR 20
4.1.1 Các chính sách của tỉnh cho các hoạt động QLBVR 20 4.1.2 Sơ lược về hiện trạng rừng nơi giao khoán 21 4.2 Tiến trình thực hiện công tác giao khoán và bảo vệ rừng 23
4.2.1 Điều tra thiết kế diện tích giao khoán QLBVR 23 4.2.2 Diện tích, trữ lượng và tiền công giao khoán 25 4.2.3 Tổ chức thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ 27 4.2.3 Kết quả thực hiện giao khoán và QLBV rừng 29 4.3 Các nhân tố ảnh hưởng trong tiến trình giao khoán rừng 33
4.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình giao khoán rừng 35 4.3.3 Vai trò của các bên liên quan trong giao khoán 37 4.4 Đánh giá kết quả của công tác giao khoán và QLBVR 40
4.4.3 Đánh giá hiệu quả của quá trình giao khoán 45
4.5 Đánh giá mức độ tham gia của người dân nhận khoán 47
Trang 64.5.1 Mức độ tham gia của người dân theo loại hoạt động 47
4.5.2 Mức độ tham gia của người dân theo bước công việc 49
4.5.3 Đánh giá chung về sự tham gia của người dân 51
Chương 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHẦN PHỤ LỤC 57
Trang 7DANH SÁNH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL Ban quản lý BVR Bảo vệ rừng CCKL Chi cục kiểm lâm KNKL Khuyến nông lâm KTXH Kinh tế xã hội
LNXH Lâm nghiệp xã hội NLKH Nông Lâm kết hợp NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn PCCR Phòng chống cháy rừng
PTLN Phát triển Lâm nghiệp QLBVR Quản lý bảo vệ rừng TCĐC Tổng cục địa chính
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên rừng là một kho tàng vô cùng quý báu, nếu chúng ta sử dụng đúng mức vào trong việc phát triển tiềm năng lâm nghiệp Trong những năm qua, việc quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng còn lỏng lẻo, thiếu sự quan tâm của các ban ngành liên quan, đặc biệt là ngành lâm nghiệp đã dẫn đến tài nguyên rừng ngày càng bị suy giảm, vai trò phòng hộ của rừng bị giảm sút theo dẫn đến thay đổi khí hậu, thiên tai xảy ra liên tục, các loại động thực vật quý hiếm đã dần dần bị mất đi
Trước tình hình diện tích rừng ngày càng bị giảm sút, vấn đề quan trọng là
do người dân tác động vào rừng với những hoạt động như: lấn chiếm đất rừng để canh tác (làm rẫy, trồng hoa màu …), chặt phá rừng để lấy củi làm chất đốt, lấy gỗ cho xây dựng, … Đặc biệt hơn là đời sống của cộng đồng dân cư sống phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên càng trở nên nghèo đói và thiếu thốn Cũng chính vì cuộc sống đói nghèo mà nạn phá rừng để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản của người dân càng gia tăng Đây chính là nguyên nhân chính dẫn đến tài nguyên rừng ngày càng bị giảm sút nghiêm trọng
Để giải quyết thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đưa ra nhiều chính sách, nhiều dự án đầu tư phát triển rừng nhằm góp phần bảo vệ, xây dựng và tiếp tục phục hồi các hệ sinh thái rừng, phủ xanh đất hoang hóa, phát triển nông – lâm – ngư nghiệp và thu hút hộ dân tham gia nghề rừng, tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương Đây chính là những hoạt động phát triển lâm nghiệp xã hội (LNXH), bởi vì cuộc sống của người dân được ổn định thì họ mới gắn bó với rừng được bền vững và họ sẽ yên tâm hơn khi tham gia nghề rừng Đồng thời, góp phần thay đổi việc nhận thức của người dân tại
Trang 9Theo đó, giao khoán đất rừng là một trong những chính sách phát triển nông
- lâm - ngư nghiệp và thu hút hộ dân tham gia nghề rừng Khi được thực thi thì đất thuộc quyền sở hữu của người dân và người dân sẽ yên tâm đầu tư về vốn, công sức và thời gian trên phần đất được giao nhằm góp phần tăng thu nhập, giải quyết được công ăn, lao động tại chổ, và phát triển kinh tế nông hộ và cộng đồng Có như vậy thì việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mới được ổn định, tài nguyên rừng
sẽ được phát triển bền vững
Phú Sơn là một xã miền núi thuộc vùng cao của huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, thiếu thốn về cơ sở hạ tầng cũng như về vật chất Dân số sống tập trung và phụ thuộc nhiều vào rừng Trình độ dân trí của người dân và nhất là đồng bào dân tộc còn thấp, nền sản xuất còn lạc hậu, thu nhập bình quân của từng hộ còn bấp bênh Vì vậy, diện tích rừng ngày càng giảm và dần dần bị thu hẹp, đất rừng ngày càng mất đi do tình trạng phá rừng rất phổ biến và như là hoạt động chính để đem lại thu nhập cho gia đình
Để khắc phục tình trạng trên, Ban quản lý rừng Nam Ban thuộc huyện Lâm
Hà và Hạt kiểm lâm kết hợp với chính quyền địa phương đã và đang thực hiện một
số chủ trương, chính sách có liên quan đến phát triển lâm nghiệp xã hội, hỗ trợ vốn cho người dân, triển khai giao đất cho nhân dân trồng rừng, khoán rừng cho nhân dân chăm sóc và bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi tái sinh rừng, thực hiện trồng rừng mới trên diện tích đất quy hoạch của dự án Đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế
xã hội nhằm góp phần ổn định và từng bước nâng cao mức sống nhân dân tại nơi nghiên cứu
Mặc dù tại địa bàn còn rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, nhưng do thời gian và điều kiện không cho phép nên chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu khía cạnh giảm sút, bảo vệ và phục hồi tài nguyên rừng Xuất phát từ thực tế thay đổi tài nguyên rừng của Ban quản lý rừng Nam Ban, được sự đồng ý của Bộ môn Nông
Lâm kết hợp và LNXH, chúng tôi tiến hành đề tài: “Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến giảm sút tài nguyên rừng và đánh giá kết quả các chương trình phát triển rừng tại xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng”
Trang 10Với khả năng, trình độ còn hạn chế và bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các cán bộ ban ngành có liên quan và các bạn đồng nghiệp
1.2 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Từ khi LNXH ra đời cho thấy rằng: rừng cây và con người có một mối quan
hệ khăng khít với nhau Vai trò của con người là hết sức quan trọng Có thể nói: con người vừa là mục tiêu vừa là đối tượng và động lực rất quan trọng thúc đẩy trong các hoạt động LNXH Do đó, mọi hoạt động của LNXH gắn liền với mối quan hệ tương hỗ giữa con người và rừng Trong đó việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là một trong những hoạt động của LNXH mang ý nghĩa kinh tế - xã hội
và sinh thái sâu sắc Không những thế, nó còn mang tính quần chúng rộng rãi đi cùng với những chính sách, những dự án đang thực hiện
Đề tài nghiên cứu này nhằm xác định nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút tài nguyên rừng và đánh giá được giải pháp nhằm hạn chế tốc độ suy thoái tài nguyên rừng Ngoài ra, cần chú trọng việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nhằm phục hồi rừng Đồng thời, về phía các cơ quan ban ngành có liên quan cần quan tâm tạo điều kiện cho người dân trong việc cải thiện kinh tế và đời sống vật chất của cộng đồng nơi đây để họ yên tâm gắn bó lâu dài với rừng Xã Phú Sơn là một địa điểm thích hợp cho việc nghiên cứu và tìm hiểu về đề tài này Do địa bàn nơi đây thuộc vùng sâu, rất khó khăn trong việc đi lại, cuộc sống của người dân còn bấp bênh chưa ổn định và phụ thuộc nhiều vào rừng
Hiện nay, xã Phú Sơn được sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh và sở NN&PTNT đầu tư phát triển rừng nhằm phục hồi lại diện tích rừng đã bị mất Phú Sơn cũng là nơi tiêu biểu thể hiện nhiều hoạt động của cộng đồng dân cư đang tác động rất lớn vào tài nguyên rừng Như vậy, đề tài cần có sự giúp đỡ của các cơ quan ban ngành như Ban quản lý rừng Nam Ban (đơn vị chủ quản), hạt Kiểm lâm, UBND xã Phú Sơn, các trưởng thôn và người dân sinh sống trong xã Phú Sơn
Trang 11Chương 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ
2.1 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG, GIAO ĐẤT GIAO RỪNG VÀ LNXH
Trong hơn hai thập kỷ qua, chính phủ Việt Nam đã ưu tiên phát triển chính sách lâm nghiệp quốc gia nhằm mục đích gìn giữ và phát triển tài nguyên rừng gắn với phát triển kinh tế xã hội Từ đó đã có khá nhiều nghiên cứu để đề xuất chính sách và các mục tiêu của ngành lâm nghiệp:
Từ sau Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế hàng hoá gắn liền với cơ chế thị trường với sự quản lý của Nhà nước, chú trọng đến sự phát triển kinh tế hộ gia đình, coi cơ chế hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ bản, tự chủ… Trong giai đoạn này, nhiều chủ trương đã mở cửa cho LNXH phát triển Quyết định 171 quy định về quy chế quản lý các loại rừng: sản xuất, phòng hộ, đặc dụng, trong quy định này ghi rõ cơ chế quản lý, quy hoạch 3 loại rừng, chức năng nhiệm
vụ của từng loại rừng trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trong cả nước
Đặc biệt là sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 năm 1992 đã khẳng định vai trò kinh tế hộ gia đình và kinh tế xã hội miền núi Từ đó, hàng loạt nghiên cứu tập trung vào vấn đề kinh tế xã hội, phát triển các hệ thống canh tác… đã được thực thi như sau:
- Nghị định 02/CP về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình
sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, ban hành ngày 15.01.1994
- Nghị định 01/CP về giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp và thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước ban hành ngày 04.01.1995 Gần đây, thực hiện nghị định 163, đất lâm nghiệp thuộc đối tượng sản
Trang 12xuất sẽ được giao cho hộ gia đình, và như vậy còn lại đa số diện tích rừng phòng hộ
và đặc dụng được thực hiện theo Nghị định 01 là giao khoán
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Chỉ thị số 202-CT về việc cho vay vốn sản xuất nông lâm ngư nghiệp đến
hộ gia đình ngày 28/06/1991
- Quyết định 264/HĐBT ngày 22/07/1992 của chủ tịch Hội đồng bộ trưởng
về chính sách đầu tư và phát triển rừng
- Nghị định số 14/CP về chính sách cho hộ vay vốn để sản xuất nông lâm ngư nghiệp ngày 02/02/1993
- Quyết định 202/TTg ngày 02/05/1994 vềquy định khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng
- Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 của Thủ Tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện dự án về trồng mới 5 triệu ha rừng
- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ Tướng Chính phủ
về quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, thuê nhận khoán rừng
- Chỉ thị 18/1999/CT-TTg, ngày 01/7/1999 của Thủ Tướng Chính Phủ về một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở nông thôn
Trang 13- Thông tư liên tịch số 1442/1999/TTLT-TCĐT-BTC, ngày 12/9/1999 của tổng Cục Địa chính và Bộ tài chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ
Việc phát triển kinh tế xã hội là một trong những mục tiêu chung của LNXH Chính vì vậy, một số chính sách từ trước tới nay của Nhà nước đã ban hành
và thực thi về lâm nghiệp có liên quan đến phát triển kinh tế xã hội cũng không nằm ngoài mục tiêu chung trên Đó là giải quyết các vấn đề kinh tế của cộng đồng,
và giữ cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường Những chính sách đó có thể được đề cập đến những nội dung sau:
- Ngày 06.03.1968, Hội đồng Chính phủ ra nghị quyết số 38 về định canh định cư kết hợp với công tác nông nghiệp ở miền núi
- Ban chấp hành trung ương Đảng ra chỉ thị 29/CT-TW ngày 12.11.1983 về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo hướng nông lâm kết hợp (NLKH)
- Chỉ thị 100, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988) về đổi mới tổ chức lâm nghiệp đã thúc đẩy các lâm trường quốc doanh áp dụng chế độ khoán sản phẩm đến các hộ gia đình công nhân viên
- Quyết định số 72-HBĐT về chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế
xã hội miền núi ngày 13.03.1990
- Thông tư liên bộ số 01/TT/LB của Bộ Lâm Nghiệp và Tổng cục quản lý ruộng đất ngày 06/12/1991 đã hướng dẫn việc giao rừng và đất để trồng rừng cho các tổ chức và cá nhân để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp
- Quyết định số184 ngày 06.11.1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh giao rừng cho tập thể và cá nhân trồng cây gây rừng
- Nghị định 178 năm 2002 của Chính phủ về phân chia lợi ích cho người nhận đất, nhận rừng
Trang 142.2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN VIỆC PHÂN CẤP QUẢN LÝ BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG
Hiện tại chưa có quản lý rừng cấp xã, ấp Một số xã có cử cán bộ kiêm nhiệm nhưng không có quy chế rõ ràng, không có quỹ lương Có thể nói vấn đề quản lý rừng, lâm nghiệp ở từng cộng đồng chưa có cơ chế chính sách thoả đáng để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác này Hệ thống tổ chức ngành lâm nghiệp chậm đổi mới, còn yếu và thiếu về biện pháp tổ chức thực hiện, chưa xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp lâu dài bền vững Cơ chế chính sách cho
mô hình lâm trường công ích, lâm trường sản xuất chưa xác định được rõ ràng nên trong thực tế rất khó khăn trong tổ chức hoạt động
Trong những năm gần đây, đã có chính sách cho việc đổi mới lâm trường quốc doanh như: giao tài nguyên cho lâm trường; các ban quản lý rừng có quyền tự chủ trong kinh doanh, tổ chức hoạt động hổ trợ kỹ thuật, cung cấp đầu tư vào và tìm kiếm thị trường cho cộng đồng trên địa bàn, đổi mới tổ chức, hành chính; nghĩa
là tăng tính tự chủ của lâm trường, các ban quản lý rừng trong kinh doanh, quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng Tuy nhiên, công tác này còn đang bước đầu và còn
có những trở ngại trong cơ chế cải cách hành chánh lâm nghiệp, kinh doanh…
Quyết định 245/QĐ-TTg đã quy định rõ về phân cấp quản lý rừng của các đơn vị hành chính, điều này phân định rõ trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của từng cấp, từng địa phương, giúp cho việc quản lý tài nguyên rừng được xác định rõ ràng và có định hướng phát triển Nhiều địa phương đã từng bước xây dựng bộ máy tổ chức quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo chức năng nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, trong thực tế điều này còn đòi hỏi nhiều thời gian, đặc biệt là nguồn nhân lực để có thể tổ chức tốt, đặc biệt là quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở cấp xã
2.3 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CÔNG TÁC GIAO ĐẤT GIAO RỪNG
2.3.1 Bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học của rừng và cân bằng sinh thái
Trang 15Bảo vệ tài nguyên rừng là một trong những công việc quan trọng, trong đó công tác giao khoán rừng là gắn trách nhiệm của người dân với rừng, đưa người dân làm trọng tâm trong nghề rừng Nhưng hiện nay, do sự tiếp cận thiếu hiểu biết của cộng đồng bên ngoài vào rừng làm ảnh hưởng lớn đến nhiều diện tích rừng Vì nhu cầu cuộc sống buộc họ phải làm như vậy, họ không cần biết những ảnh hưởng của rừng như thế nào, điều cần trước mắt là ổn định thu nhập cho cuộc sống của họ Đứng trước thực trạng tài nguyên rừng ngày càng bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương chính sách đúng đắn nhưng phải phù hợp với xu thế phát triển lâm nghiệp hiện nay Chính sách này không những dễ áp dụng cho cộng đồng miền núi mà còn có thế áp dụng ở nhiều khu vực khác Trọng tâm là giao khoán rừng, trước mắt là bảo vệ rừng
Ngày nay khi mà sự tác động quá mức của con người vào rừng, sự tiếp cận của con người quá lớn làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, rừng không còn giữ được sự phong phú của một số loài thực vật và nhiều muông thú sẽ không còn nơi để trú ẩn Công tác giao rừng được tiến hành với phương châm bảo vệ và tái tạo lại sự phong phú của vốn rừng trước đây
Hệ sinh thái trên trái đất bao gồm con người, đất, thực vật,… tất cả tồn tại như một mắt xích chung nhất Khi có một lý do nào đó mà một mắt xích bị phá vỡ
nó sẽ kéo theo sự mất đi của mắt xích khác Nhưng để tồn tại thì mắt xích đó phải
có đầy đủ yếu tố để tồn tại Tài nguyên rừng cũng như vậy, chúng phải có những điều kiện cần như: các yếu tố về điều kiện tự nhiên đất, nước, không khí Chúng tồn tại theo chu trình cân bằng nhau, nếu một trong số các yếu tố này mất đi sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của cây Ví dụ khi hệ thực vật rừng không còn thì hệ động vật rừng cũng sẽ không tồn tại được,… Chính vì vậy, việc bảo vệ tài nguyên rừng phần nào bảo vệ và giữ được các hệ sinh thái tồn tại trong tự nhiên, chúng tự điều chỉnh
và cân bằng
2.3.2 Nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư với rừng
Người dân vùng nông thôn vốn kém hiểu biết, họ cho rằng tài nguyên rừng
do thiên nhiên ban tặng sẽ tồn tại vĩnh viễn, dẫu có mất đi trước mắt nhưng về lâu
Trang 16dài sẽ hình thành trở lại Với suy nghĩ ấy mà người dân tác động vào rừng mà không cần chú ý đến những lợi ích do rừng mang lại như: các giá trị sinh học, sinh thái, khoa học, du lịch sinh thái; cũng như không chú ý đến những bất lợi do khai thác gây ra như: lũ lụt, hạn hán,… Khi khai thác đến một lúc nào đó tài nguyên rừng sẽ bị cạn kiệt thì dẫn đến cân bằng sinh thái sẽ không còn và những ảnh hưởng như đã nói ở trên là không thể tránh khỏi
2.4 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Sau đây là một vài kết quả nghiên cứu có liên quan từ các tài liệu của Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
(1) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Luận, luận văn tốt nghiệp 2005, tại Lâm trường Sông Kôn, Bình Định “Tìm hiểu về tiến trình giao khoán đất rừng Lâm trường Sông Kôn thực hiện ở xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh”
(2) Nghiên cứu của Trần Văn Hớn, luận văn tốt nghiệp 2005 “Xác định nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút tài nguyên rừng và đánh giá giải pháp nhằm hạn chế tốc độ suy thoái tài nguyên rừng ở xã Sơn Kiên – huyện Hòn Đất – tỉnh Kiên Giang”
(3) Nghiên cứu của Trương Hải Vân (2007) với đề tài “Tìm hiểu sự tham gia của người dân trong giao khoán bảo vệ rừng tại cộng đồng xã Đông Tiến-huyện Hàm Thuận Bắc- Tỉnh Bình Thuận”
Trang 17Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TẠI ĐỊA PHƯƠNG
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Phú Sơn thuộc huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng có toạ độ địa lý
11o52’30” vĩ độ Bắc, 108o15 kinh độ Đông Phía Bắc giáp xã Phi Liêng, Nam giáp
xã Đạ Đờn, Đông giáp xã Phi Tô, Tây giáp xã Đan Phượng
Địa hình địa mạo: Có địa hình đồi núi, độ dốc lớn, có các dãy núi thấp dần
từ Bắc xuống Nam, diện tích bằng phẳng chiếm khoảng 5% Độ cao bình quân 1.100 m, độ cao tuyệt đối: 1.500 – 1.600 m, độ cao tương đối: 250 – 300 m
Khí hậu và thủy văn:
- Nhiệt độ bình quân năm 21oC, nhiệt độ thấp nhất 16,4oC vào tháng 12, nhiệt độ cao nhất 32,2oC vào tháng 4 Số giờ nắng bình quân 6,4 giờ/ngày
- Lượng mưa bình quân năm 1.625 m/m, lượng mưa cao nhất năm 1.967 m/m, lượng mưa thấp nhất năm 990 m/m Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
- Độ ẩm bình quân năm 80,2%, lượng bốc hơi bình quân năm 1.070 m/m Hướng gió chính là gió Đông và gió Tây
- Xã Phú Sơn có 3 nguồn suối chính là suối Dasebung, sông Da Dâng, suối Dachomo, mặt suối rộng từ 4-8m, lưu lượng là 10m/s lưư lượng mùa khô là 1-2 m/s mặt nước cao nhất là 1m Thấp nhất là 0,3m
Thổ nhưỡng: Xã Phú Sơn có các loại đất chính sau:
- Đất phù sa sông suối
- Đất dốc tụ ven sông suối màu xám trắng
Trang 18- Đất ferelit màu vàng đỏ
- Đất Feralit màu đỏ vàng
- Đất Feralit màu đỏ vàng phát triển trên đá Pa xit
Hiện trạng đất đai và tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất tự nhiên là 13.418
3.1.2 Tình hình dân cư và xã hội
Xã Phú Sơn được thành lập tháng 02/1925, trước năm 1950 chỉ có 3 thôn, nay có 11 thôn Trong đó có 4 thôn là dân tộc, chiếm 35% dân số Thành phần dân tộc gồm K’ho, Tày, Thái, Chil, Nùng, Thổ, Hoa nhưng chiếm đa số là dân tộc K’ho với 60% Tính tới ngày 31/12/2007, xã có 8.153 người và 1.682 hộ; trong đó nam
Trang 193.2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích đánh giá sự giảm sút tài nguyên rừng là do sự tác động của con người gây ra, từ đó đưa ra giải pháp hữu hiệu làm hạn chế sự giảm sút tài nguyên rừng Sau khi hoàn thành đề tài sẽ đạt được những mục tiêu sau đây:
- Xác định các loại tài nguyên rừng hiện có tại khu vực nghiên cứu, để từ đó biết được tình hình rừng ở đây như thế nào?
- Xác định mức độ làm giảm sút tài nguyên rừng, phân tích các nguyên nhân nhằm biết được đâu là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp làm cho rừng bị giảm sút
- Xác định mối liên hệ giữa phân bố tài nguyên với các hoạt động kinh tế xã hội của khu vực Xem xét ảnh hưởng của các hoạt động dẫn đến sự suy thoái tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá các giải pháp đã được thực thi nhằm làm giảm tốc độ suy thoái tài nguyên rừng, đưa ra kiến nghị về kết quả thực hiện dự án trên Đồng thời, đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm áp dụng cho điều kiện rừng ở đây được bền vững và quy mô hơn nữa
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
(1) Các loại tài nguyên rừng hiện có tại địa điểm nghiên cứu (đất rừng, rừng tự nhiên, rừng trồng)
+ Hiện trạng sử dụng đất đai tại địa phương
+ Các loại tài nguyên rừng (thực vật, động vật)
(2) Các nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng
+ Nguyên nhân trực tiếp (nạn chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng để canh tác và nuôi trồng thủy sản, …)
+ Nguyên nhân gián tiếp (giao đất, giao rừng cho người dân, cá nhân
và tập thể)
(3) Mối liên hệ qua lại giữa sự phân bố tài nguyên với các hoạt động
Trang 20+ Mối liên hệ giữa tài nguyên với các hoạt động kinh tế xã hội
+ Ảnh hưởng của các hoạt động đến suy thoái tài nguyên rừng
(4) Đánh giá các giải pháp đã thực thi để duy trì tài nguyên rừng, hạn chế tốc
độ làm suy thoái tài nguyên rừng
+ Các giải pháp (chương trình, dự án) đã được thực hiện
+ Kiến nghị từ một góc độ có hướng giải quyết tốt hơn
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
+ Các thông tin thứ cấp qua thu thập tại văn phòng xã Phú Sơn và BQL rừng Nam Ban:
- Các dữ liệu về điều kiện tự nhiên và tình hình dân sinh kinh tế và xã hội của xã Phú Sơn
- Các dữ liệu về điều kiện tự nhiên và tình hình dân sinh kinh tế và xã hội của BQL rừng Nam Ban
- Các số liệu liên quan đến các chương trình và dự án đã được áp dụng thực hiện ở xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (giao đất, giao rừng, chương trình 661)
+ Các thông tin qua phỏng vấn và điều tra, gồm có:
(1) Phỏng vấn: Thông qua việc tiếp cận địa bàn nơi thực hiện đề tài nghiên cứu, có những cuộc tiếp xúc với các hộ gia đình (đặc biệt là người dân nhận giao khoán rừng và đất rừng) Phỏng vấn để tìm hiểu các hoạt động đã áp dụng trên diện tích rừng và đất rừng họ đã nhận và những dự án ấy được thực hiện khi nào theo quy định của chính quyền đảm nhiệm Qua đó nhằm đánh giá được nguyên nhân làm giảm sút tài nguyên rừng ở đây
(2) Bản đồ tài nguyên phác hoạ: Có thể nhờ một số người dân sống lâu năm hay cán bộ quản lý lâm nghiệp thông thạo về tình hình tài nguyên của khu vực
Trang 21nghiên cứu để phác hoạ cơ bản về bản đồ tài nguyên được phân chia trên cơ sở đất
và nước, dùng để mô tả điều kiện tự nhiên tại địa điểm nghiên cứu
(3) Bản đồ lát cắt: Đi thực tế tại nơi nghiên cứu, đồng thời quan sát trực tiếp
để phác họa bản đồ nhằm thể hiện được bức tranh toàn cục thu nhỏ những tình hình hoạt động sản xuất, những chi tiết về các tài nguyên, những ưu điểm và hạn chế của địa điểm nghiên cứu
(4) Cây và mạng lưới vấn đề: Mô tả được tổng thể toàn cục những tình hình hoạt động sản xuất, những chi tiết về tài nguyên, những hạn chế trở ngại và triển vọng phát triển
(5) Thảo luận các nhóm điểm: Thông qua việc tiếp xúc với người dân trong cộng đồng tại nơi nghiên cứu, sau đó tổ chức một cuộc họp nhóm để thảo luận với nhau, bước đầu hướng dẫn và động viên thúc đẩy người dân làm sao cho họ hiểu từ nhu cầu sản xuất của họ
(6) Dòng thời gian và chiều hướng: Tổ chức một hay nhiều nhóm tại địa điểm nghiên cứu Điều quan trọng là giúp cho người nghiên cứu hiểu biết tốt hơn
về những sự kiện quan trọng trong lịch sử của cộng đồng tại nơi nghiên cứu, chính những sự kiện ấy đã gây ra những tai hoạ tự nhiên như thế nào trong quá khứ (tài nguyên rừng trước đây, giao khoá đất lâm nghiệp, trồng rừng, phá rừng, các hoạt động sản xuất…)
3.4.2 Phương pháp phân tích thông tin
+ Phân tích SWOT: Dùng phương pháp SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội có được và những rủi ro của cộng đồng tại nơi nghiên cứu Quá trình thực hiện phương pháp SWOT được tiến hành như sau:
- Lựa chọn thành phần nhóm và số người cần để thảo luận và đưa ra được thế mạnh, điểm yếu, triển vọng và nguy cơ
- Cử ra một thành viên của nhóm thảo luận ghi biên bản trên tờ giấy gồm 4 cột như sau: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ
Trang 22- Khi vấn đề được thảo luận xong và thông tin ghi trên tờ giấy được lấy làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài
+ Phân tích quá trình (CIPP):
Phân tích các nguyên nhân làm suy thoái tài nguyên rừng và mối liên hệ giữa sự phân bố tài nguyên với các hoạt động làm cho tài nguyên rừng bị giảm sút Đồng thời phân tích và đánh giá các giải pháp đã thực thi để duy trì tài nguyên rừng Để thực hiện được điều này cần phải nắm rõ được tình hình sản xuất hoạt động của cộng đồng, sự tác động của người dân vào rừng và diện tích đất lâm nghiệp đang quản lý được người dân và cộng đồng sử dụng và bảo vệ
Phân tích quá trình thực hiện dự án trong việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng nhằm xác định những vướng mắc, những thuận lợi và khó khăn từ chính quyền và các nhà quản lý lâm nghiệp Đồng thời phân tích sự tác động của người dân vào rừng Từ đó tìm ra các giải pháp thích hợp nhất để tiếp tục thực hiện và phục vụ cho rừng ở đây được tốt hơn, bền vững hơn Như vậy, lý do cần phân tích quá trình thực hiện nhằm đưa ra ý kiến và kiến nghị trong đề tài nghiên cứu này
+ Tiến trình xác định nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút tài nguyên rừng và đánh giá các giải pháp:
Bước 1: Khảo sát và xác định tình hình tài nguyên rừng Sau khi định hướng
được địa điểm hay khu vực nghiên cứu, bước đầu khảo sát tình hình tài nguyên rừng cũng như tìm hiểu quá trình hoạt động của cộng đồng nơi đây, lập kế hoạch chi tiết cho toàn bộ quá trình thực hiện Muốn xác định được loại tài nguyên rừng, thực hiện các vấn đề sau:
- Thu thập thông tin bao gồm: các số liệu, tài liệu, bản đồ và sơ đồ Thu thập các tài liệu có liên quan: số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Thu thập các tài liệu, số liệu về hiện trạng tài nguyên rừng của xã Thu thập các tài liệu,
số liệu về tình hình quản lý bảo vệ và phát triển rừng Thu thập các tài liệu về tình hình sử dụng đất đai Thu thập các văn bản pháp lý có liên quan
Trang 23- Xác định nguyên nhân và hậu quả làm giảm sút tài nguyên: Nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp
Bước 2: Điều tra khảo sát thực địa và tìm hiểu nguyên nhân làm giảm sút tài
nguyên rừng:
- Điều tra và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp
- Điều tra đánh giá tình hình kinh tế xã hội
Muốn xác định chính xác nguyên nhân dẫn đến tài nguyên rừng bị giảm sút, cần phải tiến hành hàng loạt các hoạt động như: xác định thành phần dân tộc, phân loại kinh tế hộ, xác định tình hình hoạt động sản xuất và sự phụ thuộc của người dân vào rừng … Các yếu tố này là cơ sở cho việc phân phối rừng và đất rừng
Các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA) sau đây được sử dụng: phỏng vấn, dòng thời gian và chiều hướng, phân loại kinh tế hộ, phân loại cây trồng lâm nghiệp, phân loại rừng, đánh giá tiềm năng đất đai…
Bước 3: Tìm hiểu mối liên hệ giữa nhân tố tài nguyên với các hoạt động làm
suy thoái tài nguyên rừng
Sự thay đổi phương thức lâm nông ngư nghiệp với phương châm phát triển kinh tế nông lâm ngư theo mô hình kinh tế hộ gia đình, nhằm phát huy nội lực của từng hộ gia đình và sự hỗ trợ ban đầu của Nhà nước về vốn xây dựng đồng ruộng, hướng dẫn kỹ thuật, khuyến nông, vay vốn ưu đãi… để mô hình sớm đạt hiệu quả Đồng thời tạo vành đai bên ngoài để ổn định sản xuất cho hộ dân an tâm cuộc sống vừa giữ gìn khu rừng bên trong dự án
Bước 4: Mô tả, phân tích và đánh giá các giải pháp đã thực thi để duy trì tài
nguyên rừng Thực hiện thông qua 3 bước nhỏ:
- Các giải pháp đã được thực hiện
- Đánh giá hiệu quả các giải pháp
- Đề xuất các kiến nghị khắc phục
Trang 24Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
4.1.1 Hiện trạng đất đai của xã Phú Sơn
Tổng diện tích đất quản lý của xã Phú Sơn: 13.418 ha, trong đó:
- Đất quy hoạch cho lâm nghiệp: 11.732 ha, chia ra:
o Đất lâm nghiệp có rừng: 9.753 ha
o Đất lâm nghiệp không có rừng: 1.979 ha
- Đất ngoài lâm nghiệp: 1.686 ha, gồm có:
o Đất có rừng: 105 ha
o Đất không có rừng: 1.763 ha Theo đó, diện tích đất có rừng là 9.753 ha, trong đó phần rừng trên diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp chủ yếu là rừng tự nhiên (9.569 ha, chiếm 98,1%), chỉ có 184 ha là rừng trồng, còn diện tích rừng ở đất ngoài lâm nghiệp hoàn toàn là rừng trồng (105 ha)
Trong diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp thì ngoài diện tích đất trống (Ib, Ic) là 964 ha vẫn có đất sản xuất nông nghiệp là 1.015 ha (chiếm 10,4%), còn diện đất ngoài lâm nghiệp thì chỉ thuần túy đất nông nghiệp là 1.941 ha (theo sổ sách thì đã có sự chênh lệch là 255 ha và hiện tại chưa được điều chỉnh)
Như vậy, số liệu thống kê về diện tích đất đai đã cho ta thấy, trong đất quy hoạch cho lâm nghiệp vẫn có đất nông nghiệp và ngược lại đất ngoài lâm nghiệp cũng có đất rừng trồng Về mặt tài nguyên, chúng tôi sẽ quan tâm tới tài nguyên động thực vật hiện được người dân sử dụng trên các loại đất quy hoạch cho lâm nghiệp, nơi đang thuộc đối tượng quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Ban, huyện Lâm Hà
Trang 254.1.2 Tình hình tài nguyên rừng
4.1.2.1 Phân bố diện tích các loại rừng
Sau đây là phân bố diện tích theo hiện trạng rừng trên 9.753 ha đất lâm nghiệp của xã Phú Sơn:
Bảng 4.1: Diện tích (ha) các trạng thái rừng trên đất lâm nghiệp
Rừng lá rộng thường xanh
(ha)
Rừng hỗn giao (ha)
Đối
tượng
Giàu TB Nghèo P.hồi R-K L-G G-L
Lá Kim (ha)
Tre Nứa (ha)
Rừng trồng (ha) Tổng 1015 4300 1677 1020 156 254 275 746 126 184
(Ghi chú: SX- rừng sản xuất, PH- rừng phòng hộ) Nhận xét:
- Có tới 10 trạng thái rừng các loại là rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng phục hồi (thuộc rừng lá rộng thường xanh), rừng hỗn giao lá rộng-lá kim, rừng hỗn giao lồ ô-gỗ, rừng hỗn giao gỗ-lồ ô (thuộc rừng hỗn giao), rừng lá kim, rừng tre nứa và rừng trồng Trong đó diện tích rừng lá rộng chiếm 82,2%, rừng hỗn giao chiếm 7,0% và các loại rừng khác chiếm 10,8%
- Trên tổng diện tích rừng lá rộng thường xanh thì diện tích rừng trung bình chiếm ưu thế (4.300 ha chiếm 44,1%), diện tích rừng giàu là thấp nhất (1.015 ha, chiếm 10,4%) Điều đó cũng có nghĩa là tài nguyên gỗ ở khu vực này thực sự là không còn nhiều
- Tổng diện tích các loại rừng thuộc đối tượng sản xuất là 9.524 ha (chiếm tới 97,7% tổng diện tích), phần còn lại 229 ha là đối tượng rừng phòng hộ Hiện trạng rừng thuộc đối tượng là rừng sản xuất thì đa dạng, còn thuộc đối tượng phòng
hộ chủ yếu là rừng lá rộng nghèo kiệt Vấn đề suy giảm tài nguyên diễn ra tại đây chủ yếu thuộc đối tượng rừng sản xuất
Trang 264.1.2.2 Tình hình tài nguyên thực vật
Tài nguyên thực vật gồm có thực vật rừng (cây gỗ, cây thuốc, cây gia dụng
và thương mại), và cây nông nghiệp (cây hàng năm và cây lâu năm) được trồng trên đất quy hoạch cho lâm nghiệp Kết quả điều tra về các loài cây tại xã Phú Sơn hiện đang được người dân sử dụng nhiều nhất, gồm có:
Bảng 4.2: Các loại thực vật rừng chủ yếu đang được người dân sử dụng
TT Cây gỗ Cây gia dụng Cây làm thuốc Cây làm thực
phẩm
1 Bằng lăng Lô ô, tre, nứa Sa nhân Rau nhiếp
Bảng 4.2: Các loại cây nông nghiệp chủ yếu được người dân sử dụng
TT Cây lương thực Cây công nghiệp Cây ăn quả Cây khác
Trang 27và Bông đót dùng làm chổi, các loại tre và lô ô hay nứa dùng làm nhà hoặc lán trại
và vật dụng; cây Gấm và Sanh ân dùng để bán Ngoài ra cũng phải kể đến một số loài cây rừng được ưa chuộng trong giới cây cảnh như Ngũ gia bì (chân chim), các loài Đa, Si v.v
- Tất cả các loại cây thuốc hầu như phân bố trong rừng thường xanh, được người dân thu hái về sử dụng trong gia đình hay bán theo đơn đặt hàng nguyên liệu như sa nhân, hà thủ ô, nghệ rừng, linh chi,
- Các loại cây làm thực phẩm đều là những loài cây rất phổ biến trong rừng
và được lấy về làm thức ăn, nhiều nhất là măng, sau đến các loại làm rau ăn (cây nhiếp, cây bếp, nấm, )
- Các loại cây nông nghiệp được gây trồng không đa dạng so với nhiều vùng khác (vì lý do khí hậu), tuy nhiên số diện tích hay số lượng cá thể cây của những loài phù hợp với điều kiện khí hậu ở đây lại rất nhiều, điển hình là cây công nghiệp như cà phê, cây ăn quả như bơ, hồng Ngoài ra, một số loài cây phong cảnh cũng được quan tâm hơn so với nhiều vùng khác gồm có phong lan, bông bụt và các loại ngũ gia bì (làm cây cảnh)
Tóm lại, khi nói tới tài nguyên thực vật của khu vực này là nói đến các loài cây tự nhiên và các loài cây trồng (trên đất quy hoạch cho lâm nghiệp) Kết quả thống kê từ người dân cho thấy, không những đa đạng về chủng loại (loài cây) mà còn nhiều về mặt cá thể (số cây), những loài càng đáp ứng được nhu cầu sử dụng của con người và yêu cầu của thị trường thì càng ngày càng ít đi (trong rừng tự
Trang 28nhiên), nhưng ngược lại cũng có loài càng ngày càng được gây trồng nhiều hơn Như vậy, tài nguyên thực vật ngoài sự phụ thuộc vào yếu tố khí hậu, đất đai thì còn phụ thuộc mạnh mẽ vào sự can thiệp của con người
Theo mức độ
sử dụng
Khác
4 Chồn Gấu Sơn dương
7 Gà rừng Trâu rừng Các loại chim
Trang 29nhiều nhất (chủ yếu làm thực phẩm) một mặt phụ thuộc vào khả năng sẵn có của tự nhiên (ví dụ các loài bò sát và thú nhỏ), một mặt khác còn tùy thuộc vào chính yêu cầu và sở thích sử dụng của con người (ví dụ như dùng làm thức ăn như Heo rừng, Chồn, Cheo cheo)
4.1.3 Công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
Công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp và khó khăn Để quản lý bảo vệ rừng được tốt, người dân trong cộng đồng luôn luôn phải đối mặt với những thử thách do con người và thiên nhiên gây ra Trong đó, vấn đề cần quan tâm là công tác phòng chống cháy rừng và kiểm tra bảo
vệ rừng bởi tình trạng xâm chiếm đất rừng, khai thác sản phẩm… và những vi phạm khác
Để phòng chống cháy rừng, những hộ chủ rừng (được giao), BQL rừng Nam Ban, Hạt kiểm lâm và các ban ngành liên quan đã có những biện pháp sau:
- Biện pháp tuyên truyền giáo dục, cùng với các cán bộ xã, huyện, người dân tham gia vào các buổi học phòng chống cháy rừng và luật bảo vệ phát triển rừng Chủ rừng cùng với cán bộ quản lý rừng tham gia tuyên truyền giáo dục, đi sâu đi
Trang 30sát các cơ sở tuyên truyền ở các xã, ấp có rừng để giáo dục, hướng dẫn và tập huấn cho đồng bào tham gia vào các hoạt động phòng chống cháy rừng
- Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra giám sát và sớm phát hiện hiện tượng xâm hại đến rừng, lấn chiếm đất rừng và các trường hợp người ngoài vào rừng thu hái lâm sản phụ, săn bắt động vật rừng có khả năng tạo ra nguy cơ cháy rừng làm cho rừng bị suy thoái
- Treo biển cấm ở những nơi dễ xảy ra tình trạng cháy rừng, ví dụ nơi gần đường giao thông, khu dân cư, các cơ sở sản xuất thủ công, v.v
- Phối hợp với cán bộ BQL rừng và Hạt kiểm lâm tổ chức việc kiểm tra, xử
lý nghiêm khắc đối với tình trạng vi phạm liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ phòng chống cháy rừng Đồng thời báo cáo cho các ngành chức năng như: UBND
xã, công an xã, huyện đội về các trường hợp cố tình vi phạm và vi phạm nhiều lần Những cá nhân và tập thể phải xử lý đúng pháp luật nếu để xảy ra cháy rừng
Biện pháp thực tiễn và phương pháp phòng chống cháy rừng cụ thể khi có cháy rừng xảy ra:
+ Dưới sự hỗ trợ của BQL rừng Nam Ban, lập kế hoạch tạo đường băng xanh hoặc bằng trắng ngăn lửa nhằm ngăn chặn kịp thời, hạn chế tối đa khi xảy ra cháy rừng
+ Thực hiện đốt trước các điểm dễ cháy và có nguy cơ cháy xảy ra vào mùa khô (gọi là đốt có kiểm soát)
+ Khi có tình huống xảy ra cháy nhỏ và mới xảy ra cháy, tiến hành dập ngay bằng cách dùng những công cụ thô sơ, tạo đường băng cản lửa, ngăn chặn ngọn lửa lan rộng sang những nơi khác Nếu đám cháy lớn quá không có khả năng chữa thì phải thông tin kịp thời với các nơi có liên quan, đồng thời báo với các cơ quan chức năng và thực hiện những biện pháp kịp thời cấp bách như làm làn ranh cản lửa, đốt trước, tưới trước…nhằm hạn chế và dập tắt ngọn lửa Có thể nhờ huy động các lực lượng an ninh, quân đội, cảnh sát phòng chống cháy rừng cũng như đồng bào địa phương sống trong vùng giúp đỡ để ngăn chặn ngọn lửa
Trang 314.1.3.2 Công tác phòng chống các hoạt động xâm hại rừng
Công tác này hiện nay rất khó khăn, hầu như các chủ rừng đều tỏ ra vất vả trong việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Vì lực lượng quản lý bảo vệ rừng còn rất thiếu, công tác tuần tra kiểm tra thường xuyên còn lỏng lẻo Các hiện tượng vi phạm rất tinh vi, tập trung chủ yếu ở khu vực rừng thường xanh, rừng thuộc đối tượng sản xuất, rừng xa khu dân cư
Hiện tượng xâm lấn đất rừng để canh tác hoa màu, sản xuất nông nghiệp vẫn thường xuyên xảy ra Một số đồng bào các dân tộc chưa hiểu phá rừng sẽ gây ra nhiều tác hại rất nghiêm trọng, họ chỉ cần có đất để làm rẫy vài ba vụ chủ yếu vì sinh kế của gia đình họ; nhưng cả những người hiểu biết mà vẫn cố tình có hành vi xâm lấn đất rừng đề làm đất thổ cư, đất canh tác và san lấp mặt bằng để xây dựng… ở đây động cơ đã là vì lợi nhuận bằng tiền mặt Ngoài ra, một số đồng bào còn cố ý xâm lấn đất rừng để canh tác cây nông nghiệp lâu niên (trồng cà phê) Tất
cả những việc làm ấy đã gây ra nhiều tình trạng khó khăn cho việc xử lý các trường hợp sai phạm Cách quản lý của BQL rừng Nam Ban là kiểm tra định kỳ hàng qúy, lập biên bản những trường hợp vi phạm và thông báo cho xã để xử lý
Việc khai thác lâm sản trái phép cũng thường xuyên xảy ra chủ yếu ở khu vực rừng thường xanh và rừng hỗn giao, tình trạng săn bắt các loài động vật (thú nhỏ, chim, rắn, …) cũng thường xuyên xảy ra ở khu vực rừng có địa hình tương đối bằng phẳng BQL rừng kết hợp tuần tra để phát hiện trường hợp vi phạm và xử lý Tuy nhiên, do địa hình rừng rất phức tạp, với nhiều loại rừng khác nhau, vì vậy công tác này cũng gặp nhiều khó khăn, do đối tượng vi phạm nhiều mà lực lượng kiểm tra thì thiếu
Các biện pháp phòng chống xưa nay vẫn là lập các trạm bảo vệ rừng cố định
để kiểm tra việc vận chuyển lâm sản, lập đội tuần tra cơ động để kiểm tra và xử lý các hoạt động vi phạm khác Các giải pháp mới là kết hợp với chính quyền xã Phú Sơn tiến tới giao quyền sử dụng cho các hộ gia đình để người dân tự bảo vệ rừng của mình
Trang 324.1.3.3 Phân tích SWOT trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
Dưới đây là kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và cản trở từ nhóm thảo luận của người dân về công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay tại địa phương
Bảng 4.5: Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và cản trở
- Người dân được
bị lấn chiếm và khai thác nhiều
- Dự án giao đất giao rừng, trồng mới và phục hồi diện tích rừng trên địa bàn sẽ mang lại nhiều công ăn việc làm cho người dân trong cộng đồng
- Các chương trình dự án chưa thực hiện đồng
bộ ở các nơi, một
số dự án khác vẫn chưa đi vào giai đoạn thực hiện cụ thể
có liên quan tại địa
phương trong việc
quản lý, bảo vệ và
phát triển rừng
- Đồng bào dân tộc chưa nắm rõ sự cần thiết của việc bảo vệ
và phát triển rừng, cho nên thiếu trách nhiệm trong việc bảo
vệ tài nguyên rừng, thậm chí còn làm cho rừng bị giảm rút (lấn chiếm đất, )
- Đảng và Nhà nước đầu tư kinh phí cho BQL rừng
về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng cũng như chính sách xóa đói, giảm nghèo, những hạng mục công trình khác
- Việc thực hiện các chính sách lâm nghiệp chưa đến người dân kịp thời và chưa đúng thực tiễn, còn có nhiều hạn chế trong việc thực thi do cơ chế quản lý
- Được sự hỗ trợ
triển khai kỹ thuật
trong việc làm
- Vấn đề lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp, vườn
- Vốn được đầu tư
từ nhiều nguồn cũng rất đa dạng
- Công tác phòng chống cháy rừng
đã được phổ biến
Trang 33(vốn định canh định cư, vốn phát triển kinh tế, vốn
nghèo…)
rộng rãi nhưng vẫn chưa đem lại hiệu quả Trong khi đó nguy cơ cháy rừng vẫn còn tiềm tàng
- Hệ thống canh tác nông lâm kết hợp được áp dụng rộng rãi và được thử nghiệm thành công Việc bảo vệ rừng được đầu tư trang thiết bị để phục vụ cho công tác phòng chống cháy rừng
- Những biện pháp xử lý vi phạm về lấn chiếm đất rừng, việc săn bắt và tận thu sản phẩm
từ rừng chưa được giải quyết một cách cơ bản, tận gốc của vấn
đề
rừng nằm xa trung tâm huyện Đường
xá xa xôi, việc đi lại khó khăn…nên việc
hỗ trợ và giúp đỡ cho công tác phòng chống các tình huống gặp nhiều khó khăn
- Chính sách đầu
tư và hỗ trợ hợp lý, các dự án đưa đến
cơ hội phát triển cho LNXH và đời sống kinh tế của người dân trong cộng đồng
Nhận xét:
- Những điểm mạnh của công tác quản lý và bảo vệ rừng có được nhưng vẫn mang tính bị động (từ nhà nước và từ chính sách) Các điểm yếu tập trung vào
Trang 34những hoạt động sản xuất để tạo sinh kế của người dân, đặc biệt là nhóm đối tượng đồng bào dân tộc
- Các cơ hội và nguy cơ đều có xuất phát điểm từ các chính sách của nhà nước (về đầu tư, vốn) liên quan đến việc thực hiện của BQL rừng và chính quyền địa phương
4.2 NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM GIẢM SÚT TÀI NGUYÊN RỪNG 4.2.1 Các nguyên nhân trực tiếp
Mọi hoạt động của người dân, suy cho cùng, đều vì miếng cơm manh áo của gia đình họ Vì người dân ở đây sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, cho nên tất cả các vấn đề đều bắt nguồn từ đất đai
Bảng 4.6: Thống kê diện tích đất nông lâm nghiệp xã Phú Sơn
Loại đất Diện tích (ha) % Rừng sản xuất (ha)
Từ số liệu ở bảng 4.6 cho thấy:
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.686,0 ha, chỉ chiếm có 12,5% so với diện tích tự nhiên; nếu tính trên tổng số 1.682 hộ của xã Phú Sơn thì mỗi hộ bình quân nhận được là 1,00 ha
- Trong khi đó, diện tích đất lâm nghiệp rất lớn: 11.732,0 ha và chiếm gần 90% diện tích của xã, vì diện tích này do BQL rừng phòng hộ Nam Ban quản lý, cho nên những tác động của người dân trên đó đều được coi là bất hợp pháp
Con số 1,0 ha/hộ là diện tích bình quân, trên thực tế rất nhiều hộ không có hoặc chỉ có vài trăm mét đất canh tác, từ đó nảy sinh ra những tác động của họ vào
Trang 35đất lâm nghiệp và tài nguyên rừng trên đất lâm nghiệp Đấy chính là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến tác động bất lợi tới TNR ở khu vực
4.2.1.1 Tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp
+ Lấn chiếm đất để sản xuất nông nghiệp
Do dân số ngày càng tăng, nhu cầu của con người cũng ngày một tăng lên, trong khi cung không bằng cầu, đặc biệt và quan trọng hơn cả là nhu cầu của con người về lương thực Chính vì vậy, họ cần phải có một lượng lương thực khá lớn
để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của họ (người dân), nên người dân đã tự ý lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp Vì canh tác nông nghiệp không chỉ đáp ứng cho người dân trong cộng đồng về nhu cầu lương thực, mà còn có khả năng góp phần tăng thu nhập, năng cao cuộc sống cho chính họ, ít nhất là giúp cho người dân thoát khỏi tình trạng nghèo đói, cho nên người dân đã không ngần ngại chặt phá rừng để chuyển qua mục đích sử dụng khác, gây tác hại rất lớn đến tài nguyên rừng và làm giảm đi chức năng phòng hộ của rừng
Bảng 4.7: Các hình thức canh tác trên đất lâm nghiệp của người dân
Loài cây trồng Mức độ sử dụng đất
của hộ gia đình Cây công nghiệp Cây ăn quả Cây lâm nghiệp Không trồng (hộ,%) 106, 76% 106, 76% 132, 94%
Trang 36Lý giải cho những con số này, qua điều tra phỏng vấn, là do:
- Vì thiếu đất canh tác nên phải khai phá đất lâm nghiệp và vì đất mới có độ màu mỡ cao, cây trồng trên đó phát triển tốt hơn
- Trồng cây ngắn ngày hay cây ăn quả thì nhanh cho sản phẩm, nếu trồng cây gỗ do lâu có sản phẩm mà dễ bị phát hiện và thu hồi
- Diện tích đất khai phá trái phép, đơn vị quản lý phát hiện buộc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả tạo vườn rừng và cho canh tác cây nông nghiệp đến khi cây lâm nghiệp khép tán
+ Lấn chiếm đất để san lấp mặt bằng, chuyển mục đích sử dụng:
Đây cũng là một vấn đề thường xuyên xảy ra trong thời gian gần đây, mặc
dù chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan thường xuyên can ngăn, nhắc nhở nhiều lần nhưng giảm một thời gian rồi tái diễn trở lại và cứ tiếp tục như vậy ngày càng tăng lên Chủ định của việc san lấp mặt bằng với nhiều mục đích, nhưng động cơ thương mại là chính, cụ thể là cất nhà ở và làm đất thổ cư (nếu ở gần đường hoặc khu dần cư), làm trang trại và vườn tạp (ở trong rừng)…rồi sang bán với giá cao khi có cơ hội Thực trạng như trên cho thấy đây cũng là một nguyên nhân không nhỏ làm cho tài nguyên đất rừng bị giảm sút về diện tích
4.2.1.2 Các hoạt động khác xâm hại trực tiếp đến tài nguyên rừng
Các hoạt động khai thác trái phép gây tác động tiêu cực tới tài nguyên rừng được phân thành 4 nhóm (bảng 4.8): lấy gỗ, lấy củi, chặt tre nứa lồ ô và khai thác LSNG (gồm măng, cây thuốc, cây làm rau, mật ong và thú nhỏ) Xu hướng của người dân chủ yếu là chặt tre nứa và lấy các lâm sản ngoài gỗ cho nhu cầu gia đình, chỉ rất ít hoặc không dám khai thác gỗ qúy và săn bắn thú lớn vì bị kiểm soát gắt gao từ các đơn vị quản lý nhà nước
- Khai thác gỗ rừng trái phép:
Người dân nơi đây quen với lối sống tự do, tự tại, nghĩ sao làm vậy Do thiếu suy nghĩ, ý thức kém nên người dân đã tự ý chặt phá rừng bừa bãi với nhu cầu
Trang 37và mục đích rất khác nhau như: khai thác gỗ rừng, chặt phá rừng bừa bãi để lấy gỗ cất nhà, làm củi chất đốt, lấy gỗ hoặc củi để bán và tận thu cành nhánh để dùng cho nhiều việc khác nữa
Số hộ vào rừng lấy gỗ chiếm tỷ lệ thấp nhất (17,8%), một mặt do công tác quản lý bảo vệ của đơn vị quản lý, mặt khác việc vận chuyển gỗ tiêu thụ đi nơi khác khó khăn, chủ yếu sử dụng tại chỗ Mặc dù người dân vẫn biết khai thác gỗ là phạm pháp nhưng con số này vẫn là điều thách thức với BQL rừng Nam Ban
Bảng 4.8: Tổng số hộ gia đình vào rừng khai thác và sử dụng lâm sản
Loại lâm sản sử dụng Mức độ tham gia của
Không vào rừng (hộ) 95 61 86 2
Không trả lời (hộ) 20 16 20 52
- Khai thác các loại tre nứa làm vật dụng gia đình
Cộng đồng dân cư nơi đây thường xuyên vào rừng để chặt các loại sản phẩm
từ tre nứa (nhất là lấy lô ô làm lán trại và làm vật dụng) Số hộ vào rừng lấy củi (45,0%) còn tương đối cao, có lẽ bếp ga chưa phải là mặt hàng có công cụng tuyệt đối ở nơi đây, người dân còn tận dụng cành ngọn của sản phẩm khai thác ở rừng trồng Bên cạnh, số hộ khai thác tre nứa, lồ ô (24,3%) cũng khá thấp, vì hàng tre nứa khó có khả năng tiêu thụ thành hàng hóa do bất lợi trong việc vận chuyển, lợi nhuận thấp, người dân chỉ khai thác cho tiêu dùng tại chỗ
- Thu hái các loại lâm sản phụ và săn bắt các loại động vật rừng:
Hoạt động này lúc nào cũng xảy ra và đây là một hoạt động truyền thống của người dân Cộng đồng dân cư nơi đây cũng có thói quen vào rừng để chặt hái các loại lâm sản phụ (nấm, măng, các loại thực vật làm dược liệu, mật ong, …) với nhu cầu là để cải thiện thêm cuộc sống và tăng thêm thu nhập cho gia đình Họ cũng vào rừng săn bắt các loại động vật hoang dã (thú nhỏ, rắn, chim, chuột, …) ít
Trang 38nhiều đã làm suy thoái nguồn tài nguyên động vật rừng và gây ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái So với các hoạt động khác thì thu hái LSNG có tỷ lệ số hộ vào rừng cao nhất (61,4% số hộ), lý do đơn giản là nó rất thiết thực cho cuộc sống thường nhật hiện tại của mỗi gia đình
4.2.2 Các nguyên nhân gián tiếp
Những hoạt động sau đây tuy không trực tiếp gây ra sự giảm sút tài nguyên rừng, nhưng cũng là nguyên nhân tác động không nhỏ và kéo dài làm suy thoái tài nguyên rừng Các nguyên nhân trực tiếp như đã kể trên, suy cho cùng đều có xuất phát từ các nguyên nhân gián tiếp này Nói cách khác, chúng chính là động cơ để các nguyên nhân trực tiếp trở thành hiện thực
4.2.2.1 Do nhu cầu thị trường và sản phẩm hàng hoá
Có thể nói, nhu cầu của thị trường hiện nay có ảnh nhiều nhất tới quá trình tiêu thụ sản phẩm có nguốn gốc từ rừng, điều đó kéo theo sự giảm sút về mặt số lượng các loài động thực vật cung cấp sản phẩm Các sản phẩm này tuân theo cơ chế thị trường, tự nó chuyển thành hàng hoá, nó không chỉ bó hẹp sử dụng trong cộng đồng mà lan rộng ra ngoài xã hội
Tuy nhiên, khi nói tới thị trường phải để ý tới cả hai mặt tích cực và tiêu cực Thứ nhất về mặt tiêu cực, nó làm giảm đi nguồn sản phẩm vốn có sẵn ngoài tự nhiên mà con người chỉ có khai thác sử dụng mà không có tái sản xuất, do vậy nguồn tạo sản phẩm này ngày càng ít đi, thậm chí dẫn tới tuyệt chủng (ví dụ các loài động thực vật qúy hiếm) Thứ hai theo nghĩa tích cực, cũng do yêu cầu của thị trường mà người dân từ chỗ chỉ lợi dụng sản phẩm có được từ thiên nhiên đã chuyển sang gây trồng và nuôi dưỡng, biến chúng trở thành sản phẩm sản xuất theo kiểu công nghiệp, đáp ứng nhanh và nhiều cho thị trường vào bất cứ lúc nào (điển hình là loài cây trồng công nghiệp như cà phê, bơ, hồng hay một vài loài thú nuôi chuyên cung cấp thực phẩm như heo rừng) Ở đây, vì mục tiêu của đề tài là xem xét các nguyên nhân dẫn đến làm giảm sút tài nguyên rừng cho nên được hiểu là theo nghĩa thứ nhất
Trang 39Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi điều tra mức độ sử dụng các loại
sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, điều đó cũng có nghĩa là đánh giá sự chấp nhận về
mặt thị trường hàng hoá ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên rừng
+ Các loại sản phẩm có nguồn gốc thực vật rừng (bảng 4.9a, b, c, d)
+ Các loại sản phẩm có nguồn gốc động vật rừng (bảng 4.10a, b, c)
Bảng 4.9a: Sử dụng thực vật cây gỗ rừng của người dân xã Phú Sơn
Bảng 4.9a: Sử dụng thực vật cây gỗ rừng của người dân xã Phú Sơn
Trang 40Bảng 4.9b: Thực vật rừng cần thiết làm đồ dùng gia đình và buôn bán
7 Lồ ô, tre, nứa Thân Đan lát