1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI GIÓ MÙA TRONG QUÁ KHỨ ĐẾN CHỈ SỐ ĐỘ RỘNG VÒNG NĂM CỦA LOÀI CÂY PƠ MU (Fokienia hodginsii) TẠI VƯỜN QUỐC GIA KONKAKINH – GIA LAI

85 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI GIÓ MÙA TRONG QUÁ KHỨ ĐẾN CHỈ SỐ ĐỘ R

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI GIÓ MÙA TRONG QUÁ KHỨ ĐẾN CHỈ SỐ

ĐỘ RỘNG VÒNG NĂM CỦA LOÀI CÂY PƠ MU

(Fokienia hodginsii) TẠI VƯỜN QUỐC GIA

KONKAKINH – GIA LAI

Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ BÍCH LY Ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

Niên khóa: 2005 – 2009

Tháng 7/2009

Trang 2

NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI GIÓ MÙA TRONG QUÁ KHỨ ĐẾN CHỈ SỐ ĐỘ RỘNG VÒNG

NĂM CỦA LOÀI CÂY PƠ MU (Fokienia hodginsii) TẠI

VƯỜN QUỐC GIA KONKAKINH – GIA LAI

Tác giả

LÊ THỊ BÍCH LY

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ Sư ngành Lâm Nghiệp

Giáo viên hướng dẫn Thạc Sĩ: TRƯƠNG VĂN VINH

Tháng 7 năm 2009

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến toàn thể Quí Thầy Cô trong khoa Lâm Nghiệp

– Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy và tạo điều kiện

thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi học tại trường

Xin kính gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo Thạc Sĩ, Trương Văn Vinh đã

tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Xin kính gửi lời cảm ơn đến cô Thạc Sĩ, Trương Mai Hồng đã giúp đỡ, tạo điều

kiện cho tôi tiếp cận và học hỏi phương pháp nghiên cứu mới để tôi có thể thực hiện

khóa luận tốt nghiệp này

Xin kính gửi lời cảm ơn đến ông Brendan M Buckley, Masaki Sano và những

người thực hiện dự án Dendrochronology đã hướng dẫn và chỉ dạy cho tôi nhiều thông

tin về phương pháp nghiên cứu này trong suốt thời gian qua

Xin cảm ơn các cán bộ trong Ban Quản Lí VQG KonKaKinh đã giúp đỡ tôi

trong quá trình thu thập mẫu nghiên cứu

Xin cảm ơn toàn bộ tập thể lớp DH05QR đã động viên và trao đổi kiến thức,

kinh nghiệm trong suốt thời gian tôi theo học khóa học này

Xin kính dâng lên ba, mẹ lòng biết ơn sâu sắc với tất cả những khổ nhọc mà ba,

mẹ đã phải gánh chịu để cho tôi có được ngày hôm nay và vô cùng biết ơn bà ngoại

cùng các anh chị em trong gia đình đã gúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian

qua

Trang 4

TÓM TẮT

Tên khoá luận “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thay đổi khí hậu nhiệt đới gió

mùa trong quá khứ đến chỉ số độ rộng vòng năm của loài cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) tại vườn quốc gia KonKaKinh – Gia Lai” được thực hiện từ ngày 17 tháng

01 năm 2009 đến ngày 11 tháng 07 năm 2009

Quá trình sinh trưởng của loài cây Pơ Mu và ảnh hưởng của khí hậu trong quá khứ đến quá trình sinh trưởng vòng năm của loài Pơ Mu được nghiên cứu bằng phương pháp khí hậu thực vật (Dendroclimatology) Đây là một phương pháp nghiên cứu mới dựa vào kết quả phân tích vòng năm để đánh giá sự ảnh hưởng của khí hậu trong quá khứ đến quá trình sinh trưởng của cây Ảnh hưởng của các giai đoạn khô hạn trong quá khứ đến quá trình sinh trưởng của cây được đánh giá thông qua chỉ số khô hạn Palmer (PDSI) Chỉ số khô hạn Palmer (PDSI) được phát triển bởi W.C Palmer (1965) như một công cụ khí tượng học để đánh giá khí hậu khô hạn trong thời gian dài PDSI được xem như một công cụ dùng để đo mức độ khô hạn nghiêm trọng

và đánh giá tác động khô hạn Bằng phương pháp khí hậu thực vật, đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng và ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa đến sự sinh trưởng vòng năm

của loài cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) tại vườn quốc gia KonKaKinh – Gia Lai” đã

đạt được một số kết quả sau:

1) Sinh trưởng đường kính của loài Pơ Mu tuân theo qui luật hàm số mũ Mayer với hệ số tương quan r = 0,99

2) Chỉ số biến động độ rộng vòng năm (RWI) trung bình của loài Pơ Mu ở khu vực nghiên cứu là 0,503

4) Các giai đoạn khô hạn trong quá khứ đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của loài Pơ Mu cụ thể tại các năm 1973, 1980, 1993, 1997, 2004, 2007 RWI của loài

Pơ Mu có giá trị rất thấp, lần lượt là 0,142; 0,009; 0,167; 0,222; 0,217; 0,331

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH SÁCH CÁC BẢNG vi

DANH SÁCH CÁC HÌNH vii

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Khái niệm cơ bản về khí hậu gió mùa 3

2.2 Khái quát về phương pháp khí hậu thực vật (Dendroclimatology) 6

2.3 Sơ lượt về chương trình COFECHA 9

2.4 Cơ sở khoa học của phương pháp nghiên cứu vòng năm 10

2.5 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 12

2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước 14

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16

3.1 Đối tượng nghiên cứu 16

3.2 Khu vực nghiên cứu 18

3.2.1 Điều kiện tự nhiên 18

3.2.1.1 Vị trí địa lí 18

3.2.1.2 Địa hình địa thế 19

3.2.1.3 Khí hậu - thủy văn 20

3.2.2 Tài nguyên rừng 21

3.2.3 Đặc điểm dân sinh – kinh tế - xã hội 25

3.2.3.1 Dân số, dân tộc, lao động 25

3.2.3.2 Tập quán canh tác, sinh hoạt văn hóa của các dân tộc 26

3.2.3.3 Tình hình văn hóa, xã hội, đời sống cộng đồng, y tế 26

CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

4.1 Nội dung nghiên cứu 29

4.2 Phương pháp nghiên cứu 29

Trang 6

4.2.1 Ngoại nghiệp 29

4.2.2 Nội nghiệp 30

4.2.2.1 Đo độ rộng vòng năm 30

4.2.2.2 Xử lý số liệu 31

CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

5.1 Kết quả nghiên cứu vòng năm của loài Pơ Mu 35

5.1.1 Đặc điểm vòng năm cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh 35

5.1.2 Kết quả đo đếm vòng năm 37

5.2 Kết quả xử lí số liệu vòng năm bằng phần mềm COFECHA 38

5.2.1 Phần một về kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm COFECHA 38

5.2.2 Phần hai về kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm COFECHA .40

5.2.3 Phần ba về kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm COFECHA .41

5.2.4 Phần năm về kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm COFECHA .42

5.2.5 Phần sáu về kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm COFECHA 42

5.2.6 Phần bảy về kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm COFECHA 44

5.3 Sinh trưởng đường kính của cây Pơ Mu theo cấp tuổi BiDoup – Núi Bà 45

5.4 So sánh sự biến động RWI của loài Pơ Mu ở VQG KKK và ở khu vực MCC 47

5.5 So sánh sự biến động RWI của cây Pơ Mu tại VQG KKK và VQG BiDoup – Núi Bà (BDNB) với sự biến động của chỉ số khô hạn Palmer (PDSI) tại VQG

BDNB 50

5.6 Chỉ số độ rộng vòng năm (RWI) của loài Pơ Mu 50

5.7 So sánh sự biến động RWI của cây Pơ Mu tại VQG KKK với các giai đoạn khô hạn tại khu vực Tây Nguyên 53

CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

6.1 Kết luận 55

6.2 Kiến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ BIỂU 59

Trang 7

RWI: Chỉ số độ rộng vòng năm (Ring Width Index)

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Biểu 3.1: Thành phần thực vật VQG Kon Ka Kinh 22

Biểu 3.2: Danh sách và tình trạng các loài thực vật VQG trong sách đỏ VN và TG 23

Biểu 3.3: Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng của VQG KonKaKinh 39

Bảng 5.1: Kết quả xử lý số liệu vòng năm bằng phần mềm COFECHA (phần 1) 40

Bảng 5.2: Bảng thống kê số vòng năm mất trên các mẫu nghiên cứu 40

Bảng 5.3: Kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm COFECHA (phần 2) 41

Bảng 5.4: Kết quả phân tích số liệu phần mềm COFECHA (phần 3) 42

Bảng 5.5: Kết quả phân tích số liệu phần mềm COFECHA (phần 5) 43

Bảng 5.6: Kết quả phân tích số liệu phần mềm COFECHA (phần 6) 44

Bảng 5.7: Kết quả phân tích số liệu phần mềm COFECHA (phần 7) 45

Bảng 5.8: Số liệu đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m (D1,3) theo từng độ tuổi 46

Bảng 5.9: Chỉ số độ rộng vòng năm (RWI) của cây Pơ Mu tại VQG KKK 47

Bảng 5.10: Bảng phân loại khô hạn của Palmer 52

Bảng 5.11: Những giai đoạn khô hạn tại khu vực Tây Nguyên trong 50 năm qua 53

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 3.1: Bản đồ mô tả phân bố loài Pơ Mu ở Việt Nam 18

Hình 3.2: Tình trạng khai thác gỗ trái phép tại VQG Konkakinh 27

Hình 3.3: Cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh – Gia Lai 28

Hình 3.4: Cây Pơ Mu tái sinh tại VQG Konkakinh – Gia Lai 28

Hình 4.1: Khoan tăng trưởng và lõi mẫu cây Pơ Mu được lấy bằng khoan tăng trưởng 30

Hình 4.2: Mẫu gỗ sau khi chà nhám, kính hiển vi và dụng cụ đo mẫu 31

Hình 4.3: Mẫu khoan xuyên tâm của cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh 32

Hình 4.4: Khoan mẫu cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh – Gia Lai 33

Hình 4.5: Mẫu khoan cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh 34

Hình 4.6: Cây Pơ Mu bị khai thác trái phép tại VQG Konkakinh 34

Hình 5.1: Vòng năm giả của cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh 35

Hình 5.2: Phần gỗ sớm và gỗ muộn của cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh 36

Hình 5.3: Vòng năm mất (Missing ring) của cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh 36

Hình 5.4: Vòng năm cây Pơ Mu bị mờ và khó xác định do chứa nhiều tinh dầu 37

Hình 5.5: Biểu đồ biểu diễn biến động vòng năm của hai mẫu FH27a và FH27b của cùng một cây 37

Hình 5.6: Biểu đồ biễu diễn mối tương quan giữa đường kính và tuổi cây .46

Hình 5.7: Biểu đồ biểu diễn sự biến động RWI của cây Pơ Mu tại Konkakinh 49

Hình 5.8: Biểu đồ biểu diễn biến động RWI của loài Pơ Mu tại VQG KKK và MCC50 Hình 5.9: Biểu đồ biểu diễn sự biến động RWI của loài Pơ Mu tại Bidoup – NúiBà 51 Hình 5.10: Biểu đồ biểu diễn sự biến động chỉ số khô hạn PDSI tại VQG BDNB 51

Hình 5.11: Chỉ số độ rộng vòng năm của loài Pơ Mu trong 50 năm 53

Trang 10

Chương 1

MỞ ĐẦU

Khí hậu là tác nhân có thể nói là quan trọng nhất, vì chính khí hậu đã quyết định chiều hướng phát triển của lớp vỏ phong hóa và của đất, còn các thành phần khác chỉ làm chi tiết hóa chiều hướng đó Điều kiện nóng ẩm của khí hậu Việt Nam đã khiến cho quá trình phong hóa hóa học trở thành chủ yếu, làm biến đổi sâu sắc đá mẹ

Đã quan sát thấy ở Việt Nam hiện tượng đồng qui về thành phần hóa học ở các loại vỏ phong hóa phát sinh từ các đá mẹ rất khác nhau trong quá trình feralit hóa Tác động của địa hình mang tính chất thụ động, còn các nhân tố chủ động vẫn là các điều kiện nhiệt ẩm tại các yếu tố địa hình và tại các đai cao cụ thể Tính chất nội chí tuyến gió mùa ẩm của khí hậu, với lượng nhiệt và lượng ẩm cao và thay đổi theo mùa đã khiến cho quá trình feralit là nội dung cơ bản của thổ nhưỡng Việt Nam

Khí hậu gồm một số nhân tố khí tượng có tầm quan trọng tột bậc đối với sự phát triển của bất kỳ một thảm thực vật nào Về căn bản khí hậu là một thước đo khả năng của khí quyển đưa lại được ẩm, nhiệt, chuyển động không khí và ánh sáng cho hoàn cảnh Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và phân bố sinh vật chủ yếu thông qua các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm không khí, nước và ánh sáng Khí hậu còn ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố của các kiểu thực bì thông qua nền tảng nhiệt ẩm

Ở Việt Nam có đến 11 tương quan nhiệt ẩm dẫn đến 11 nhóm kiểu thực bì, đi từ á xích đạo khô ở Ninh Thuận đến ôn hòa ẩm ướt dãy Pansipan Sự phân chia khu vực thực vật trên những nét lớn theo sát sự phân chia khu vực khí hậu Trong khí hậu yếu tố chính chi phối sự phân hóa rừng là yếu tố nước Do nhiều hay ít nước mà ta có một kiểu loại rừng từ rừng mưa đến rừng mưa mùa, rừng thưa, savan, truông gai Đối với thảm thực vật, tình hình phân bố mưa trong năm có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều, dạng thực bì vẫn thiên về khô nhất là các thực bì thứ sinh

Chính sự phong phú, đa dạng về các kiểu rừng, kết cấu tầng tán phức tạp đã hình thành dưới tán rừng một hoàn cảnh khí hậu độc đáo có ảnh hưởng quyết định đến

Trang 11

sự tồn tại, phát triển và chiều hướng tái sinh của một lâm phần nhất định Là một nhà lâm học, chúng ta cần nắm rõ mối tương quan và qui luật tác động qua lại giữa rừng và khí hậu để có những biện pháp tác động thích hợp nhằm điều chỉnh mối quan hệ ấy, tạo cho rừng có một điều kiện phát triển tốt nhất

Một nhiệm vụ khá quan trọng được đặt ra là làm thế nào để rừng tồn tại lâu bền

và duy trì được sức sản xuất Do đó, vấn đề nghiên cứu các đặc tính sinh thái học của thực vật có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định tiềm năng sản xuất của rừng, đánh giá tài nguyên rừng cũng như việc xác định các nhân tố tác động lên hoàn cảnh rừng Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sự sinh trưởng của thực vật bằng phương pháp phân tích vòng năm là một phương pháp nghiên cứu mới Vòng năm là vòng gỗ do tầng phát sinh phân sinh ra thường là 1 năm (tuỳ theo vị trí địa lý, ví dụ ở Việt Nam thì vòng tăng trưởng trùng với một năm) Độ rộng của vòng năm phản ảnh tốc độ sinh trưởng của một cây, số lượng vòng năm cho biết tuổi cây Trên mặt cắt ngang, vòng năm là những đường tròn đồng tâm, trên mặt cắt xuyên tâm chúng là những đường thẳng song song với nhau và có thể song song với trục dọc thân cây Tùy từng đặc điểm sinh học của loài, đặc điểm thời tiết, điều kiện dinh dưỡng mà vòng năm có thể là dễ nhận biết hoặc khó nhận biết Vì thế, qua kết quả phân tích vòng năm chúng ta có thể biết được các thông tin quan trọng về tăng trưởng hàng năm của cây cũng như ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sự sinh trưởng của cơ thể thực vật

Từ đó, trong giới hạn của một khóa luận cuối khóa, em thực hiện khóa luận: “Nghiên

cứu sự ảnh hưởng của thay đổi khí hậu nhiệt đới gió mùa trong quá khứ đến chỉ số

độ rộng vòng năm của loài cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) tại vườn quốc gia KonKaKinh – Gia Lai”

Trang 12

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Khái niệm cơ bản về khí hậu gió mùa

Sự chênh lệch nhiệt độ xuất hiện khi bức xạ mặt trời làm cho bề mặt đất và đại dương nóng lên Bức xạ mặt mặt trời làm nóng những khối đất nhanh hơn là những bộ phận khác trong nước Đối với khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới thì sự bức xạ mặt trời là khắc nghiệt nhất trong các tháng mùa hè Bức xạ Mặt Trời làm đại dương ấm lên, nhưng hiệu quả chậm hơn do nhiệt dung nước cao Vì vậy, nhiệt độ bề mặt biển cũng như lớp không khí bên trên bề mặt biển luôn mát hơn Lớp không khí mát ở phía trên đại dương là ẩm và dày hơn tạo nên một vùng áp suất cao hơn so với áp suất bên trên đất liền Gió thổi từ khu vực áp suất cao đến khu vực áp suất thấp là do độ dốc gây ra Điều kiện nhiệt độ ở đất liền và đại dương thay đổi dẫn đến sự thay đổi áp suất là nguyên nhân thay đổi hướng gió từ đất liền ra biển và từ biển vào đất liền

Từ “gió mùa” (monsoon) bắt nguồn từ tiếng Ai Cập là mausim có nghĩa là mùa Nổi bậc nhất là gió mùa ở Ấn Độ, Những vùng này có lượng mưa rất lớn là nguyên nhân gây ra lũ lụt và phá hại mùa màng Vào mùa khô, gió mùa là một nguồn cung cấp quan trọng cho sự sống như mang lại nước cho những vùng bị hạn nặng trên thế giới Một trong những nguyên nhân làm cho Ấn Độ bị ảnh hưởng của gió mùa lớn

là do độ cao Ở khu vực đất cao sẽ tạo ra một vùng áp suất thấp, Cao Nguyên Tây Tạng ở phía Bắc Ấn Độ là một vùng lớn nhất và là Cao Nguyên cao nhất trên Trái Đất

Thuật ngữ “gió mùa” được giải thích sớm nhất vào năm 1686 bởi nhà thiên văn học người Anh là nhà toán học Edmond Halley Halley là người đầu tiên hình thành khái niệm về sự chênh lệch nhiệt độ giữa đất liền và đại dương là nguyên nhân tạo nên những luồng gió khổng lồ thổi từ biển vào đất liền Theo Trung Tâm Dự Báo Khí Hậu, ông Walker đã sử dụng giới hạn dao động để mô tả sự chuyển động qua lại theo hướng Đông Tây ảnh hưởng đến sự thay đổi áp suất trong số liệu về khí hậu Trong tạp chí khí hậu, Walker đã nhận xét rằng khi áp suất tăng lên ở phía Đông thì thường giảm

Trang 13

xuống ở phía Tây và ngược lại Walker cũng nhận định rằng mùa gió mùa ở châu Á thường đi đôi với sự khô hạn ở Úc, Indonesia, Ấn Độ và một số khu vực ở châu Phi

Những lý thuyết về sự phát triển gió mùa đã được công nhận khoảng hơn 300 năm Suy nghĩ cổ điển về gió mùa là sự phát triển của chúng được sinh ra do sự chênh lệch nhiệt độ giữa đất liền và đại dương như đã mô tả ở trên Nhưng gần đây theo Trạm thiên văn Trái Đất NASA thì những khái niệm này sẽ được thay đổi Các nhà khoa học địa chất ở khoa công nghệ Bang California đã có khái niệm mới đúng đắn hơn về nguyên tại sao gió mùa phát triển

Hai nhà nghiên cứu Schneider và Simona Bordoni của Trung tâm Quốc gia về nghiên cứu khí quyển (the National Center for Atmospheric Research) ở Colorado, đã

sử dụng mô hình máy tính để xây dựng lại Trái Đất mà không có một khu vực đất đai rộng lớn Một điều bất ngờ là họ đã phát hiện ra rằng sự chênh lệch nhiệt độ không phải là điều cần thiết để hình thành nên gió mùa Thay vào đó, họ đã kết luận rằng, gió mùa xuất hiện là do sự tương tác giữa chu trình lưu thông không khí nhiệt đới và sự nhiễu loạn trên diện rộng ở khu vực giữa xích đạo Sự nhiễu loạn ở giữa xích đạo đã làm thay đổi sự lưu thông của vùng nhiệt đới do thay đổi chu trình lưu thông một cách nhanh chóng điều này mang lại đặc trưng là gió trên bề mặt lớn và lượng mưa nhiều trong mùa gió mùa

+ Một số đặc điểm chính của khí hậu gió mùa:

- Đặc điểm của gió mùa trước hết phải kể là hướng gió thay đổi: mùa đông gió

từ đất liền thổi ra biển, thời tiết lạnh giá, hanh khô Mùa hè gió từ biển thổi vào đất liền, thời tiết nóng ẩm Chiều gió gần như ngược nhau, đó là đặc điểm nổi bật nhất

- Mùa hè gió thổi từ biển vào, khối không khí nóng ẩm, dễ hình thành mây và mưa, càng gần biển, mưa càng nhiều, ở sâu trong đất liền mưa rất ít Hơn nữa thời gian mưa cũng bắt đầu từ miền ven biển rồi mới vào đến bên trong và thời gian kết thúc mùa mưa cũng bắt đầu ngược lại Đây là đặc điểm thứ hai

- Vì núi cao có thể ngăn cản sự di chuyển của một thành phần khối này, khả năng mưa nhiều, nhất là ở phía dốc núi hứng gió Như vậy có nghĩa là mưa ở vùng núi nhiều hơn vùng đồng bằng, phía dốc núi hứng gió mưa nhiều hơn phía bên kia Đây là đặc điểm thứ ba

Trang 14

- Đặc điểm thứ tư là mưa tập trung vào mùa hạ, chiếm hơn một nửa lượng mưa

cả năm, vì mùa này gió từ biển thổi vào Mùa đông ít mưa vì gió từ đất liền thổi ra

Những nước có gió mùa như Trung Quốc, Đông Á, Đông Nam Á, Triều Tiên, Nhật Bản, vào mùa hè vừa nóng vừa mưa nhiều là điều kiện tốt cho nông nghiệp phát triển Do đó, đều là những nước trồng lúa nước tập trung nhất Tuy nhiên, gió mùa đổi hướng giữa mùa đông và mùa hè không phải đúng thời gian, đúng địa điểm và có cường độ như nhau, mỗi năm một khác, do đó cũng có những năm bị hạn hán nặng

+ Vài nét về khí hậu Việt Nam

Lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới, và nằm ở rìa phía Đông Nam của phần Châu Á lục địa, giáp với Biển Đông nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa Việt Nam có ba miền khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu phía Nam, miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ

Miền Bắc Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa Xuân, Hè, Thu, Đông rõ rệt Mùa xuân miền Bắc bắt đầu từ tháng 2 cho đến hết gần tháng 4, là mùa đẹp nhất trong năm Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, vào mùa này thì nhiệt độ trong ngày khá nóng và mưa nhiều Tháng nóng nhất thường là vào tháng 6 Tháng 5 đến tháng 8 là tháng có mưa nhiều nhất trong năm Mùa thu chỉ vỏn vẹn trong hai tháng 9

và 10 Mùa đông thường vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, mùa này khí hậu lạnh và hanh khô

Miền Nam Việt Nam gồm khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ Miền này có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với hai mùa: mùa khô và mùa mưa (mùa mưa từ tháng

4 - 5 đến tháng 10 - 11, mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau) Quanh năm nhiệt độ của miền này cao Khí hậu miền này ít biến động nhiều trong năm

Khí hậu miền Trung Việt Nam thì được chia ra làm hai vùng khí hậu là Bắc Trung Bộ và vùng khí hậu Duyên Hải Nam Trung Bộ Vùng Bắc Trung Bộ là vùng Bắc đèo Hải Vân, về mùa đông do bị ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc cộng thêm bị dãy núi Trường Sơn tương đối cao ở phía Tây (dãy Phong Nha - Kẽ Bàng) và phía Nam (tại đèo Hải Vân trên dãy Bạch Mã) chắn ở cuối hướng gió mùa Đông Bắc Nên vùng này thường lạnh nhiều vào Đông và thường kèm theo mưa nhiều, do gió mùa thổi theo đúng hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào, hơi khác biệt với thời tiết khô hanh của miền Bắc cùng trong mùa đông Về mùa Hè, lúc này do không còn hơi nước

Trang 15

nên gió mùa Tây Nam gây ra thời tiết khô nóng (có khi tới > 40 °C, độ ẩm không khí thấp), gió này gọi là gió Lào Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ phía Nam đèo Hải Vân nóng quanh năm

2.2 Khái quát về phương pháp khí hậu thực vật (Dendroclimatology)

Khí hậu thực vật (dendroclimatology) là khoa học xác định khí hậu trong quá khứ từ những vòng sinh trưởng của thực vật, vòng sinh trưởng rộng hơn khi điều kiện sinh trưởng thuận lợi và hẹp hơn khi thời tiết khắc nghiệt Sử dụng vòng sinh trưởng, các nhà khoa học có thể xây dựng lại khí hậu ở một số địa phương từ hàng trăm đến hàng ngàn năm trước Bằng cách kết hợp nhiều nghiên cứu về vòng sinh trưởng, các nhà khoa học có thể xây dựng lại khí hậu trong quá khứ cho khu vực và toàn cầu

+ Thuận lợi

Có thể sử dụng mẫu nghiên cứu từ những cây đã chết, thậm chí là những cây từ các tòa nhà hay từ khảo cổ học Một thuận lợi khác của vòng sinh trưởng là có sự tăng trưởng hàng năm rõ ràng, trái ngược với các phương pháp khác như khoan vào lòng đất (để lấy nước, dầu) sẽ không có tăng trưởng hàng năm Hơn nữa, vòng sinh trưởng

có khả năng phản ứng lại với những tác động của môi trường sống (như nhiệt độ, độ ẩm,…)

+ Các yếu tố bất lợi: Có nhiều yếu tố khí hậu và yếu tố phi khí hậu (như sâu bệnh, lửa rừng,…) cũng như những ảnh hưởng không đồng thời đến độ rộng vòng năm Một số phương pháp nghiên cứu đã cô lập từng yếu tố riêng lẻ như các phương pháp nghiên cứu về thực vật học, sự ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và lấy mấu của các lâm phần cố định (limiting stands)

+ Yếu tố khí hậu: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến thực vật bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng mặt trời và gió Để phân biệt giữa các yếu tố này, các nhà khoa học đã thu thập mẫu từ những lâm phần cố định, ví dụ: tại một lâm phần cố định, ở độ

Trang 16

cao trên sườn núi thì sẽ chịu ảnh hưởng của nhiệt độ nhiều hơn lượng mưa, ngược lại ở phía dưới sườn núi sẽ chịu ảnh hưởng của lượng mưa nhiều hơn nhiệt độ Trên lý thuyết, việc thu thập mẫu từ những nơi khác nhau trên cùng một lâm phần cố định (như trên và dưới sườn núi của cùng một dãy núi) thì sẽ cho phép sử dụng phương pháp toán học đối với nhiều yếu tố khí hậu Tuy nhiên phương pháp này rất hiếm khi được sử dụng

+ Yếu tố phi khí hậu: Sự kết hợp phức tạp các yếu tố liên quan đến khí hậu ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây như: ánh sáng mặt trời, các cấp độ ẩm của đất và nhiệt

độ đất và không khí Suốt mùa sinh trưởng, sự hết hợp của tất cả các yếu tố này ảnh hưởng đến độ rộng mỗi vòng sinh trưởng hàng năm, cũng như kích thước và mật độ của các tế bào trong mỗi vòng Hơn nữa, sự sinh trưởng của một cây cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các điều kiện khí hậu bên ngoài mùa sinh trưởng và trong những năm trước Một số các yếu tố khác, không liên quan đến điều kiện khí hậu cũng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cây, bao gồm sự cạnh tranh về các chất dinh dưỡng cho cây trồng, tuổi cây và côn trùng tấn công, các yếu tố tác động này phải được tách ra để cô lập những thông tin khí hậu từ việc phân tích vòng năm

+ Những ảnh hưởng không đồng thời: Nhìn chung, các nhà khí hậu học cho rằng sự lệ thuộc tuyến tính của độ rộng vòng năm vào các biến số quan tâm (ví dụ như

độ ẩm) Tuy nhiên, nếu các biến thay đổi đạt đến mức thỏa mãn thì phản ứng có thể giảm mức độ hoặc thậm chí là phán ứng theo hướng ngược lại Ngoài ra, có thể xảy ra ảnh hưởng tương tác như nhiệt độ và lượng mưa có thể ảnh hưởng một cách đồng thời đến tốc độ sinh trưởng Ở đây, lâm phần cố định giúp cô lập một số biến quan tâm Ví dụ: ở phía trên sườn núi cây nằm trong giới hạn lạnh (cold limited), nó không chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiệt độ cao (tuân theo hàm bậc hai nghịch), khi đó sẽ có tác động đáng kể về mặt số lượng đối với độ rộng vòng năm trong cả quá trình của một

mùa sinh trưởng

+ Hạn chế các yếu tố ảnh hưởng

Những nghiên cứu về thực vật học có thể giúp cho việc đánh giá tác động của những biến bất lợi Những thử nghiệm có thể được tiến hành ở nơi mà tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng đều được kiểm soát (như trong nhà kính), hay kiểm soát một phần (như FACE – Free Airborne Concentration Enhancement) hoặc

Trang 17

tiến hành ở những nơi mà điều kiện tự nhiên được theo dõi thường xuyên Trong bất

cứ trường hợp nào, điều quan trọng là những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phải được ghi chép lại một cách cẩn thận Điều này giúp cho việc xác định những phản ứng của độ rộng vòng năm với các yếu tố khí hậu chính xác hơn Nói chung, đây là những nguyên tắc cơ bản của lâm phần cố định nhưng nó được định lượng nhiều hơn

− Bao phủ địa lí: Trái đất của chúng ta không phải hoàn toàn được bao phủ bởi thực vật, do đó các vùng khí hậu địa cực và khí hậu biển không thể sử dụng phương pháp này Trong khu vực nhiệt đới, cây sinh trưởng quanh năm nên vòng sinh trưởng hàng năm không rõ ràng Ở một số khu vực rừng khác, quá trình sinh trưởng của cây chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố phức tạp, điều này cho phép xây dựng lại khí hậu một cách rõ ràng Những khu vực không có thực vật rừng có thể sử dụng mẫu

nghiên cứu khác như khoan lõi băng, san hô

− Vòng sinh trưởng: Vòng sinh trưởng thể hiện những ảnh hưởng của khí hậu đến tốc độ sinh trưởng thực vật trong suốt một mùa sinh trưởng Do đó, những thay đổi sâu sắc của khí hậu vào mùa cây ngừng hoạt động (mùa đông) sẽ không được thể hiện ở vòng sinh trưởng Trong một mùa sinh trưởng, các giai đoạn sinh trưởng khác nhau (chẳng hạn như sinh trưởng vào tháng năm so với tháng chín) có ảnh hưởng quan trọng đối với độ rộng vòng năm Tuy nhiên, độ rộng vòng năm được sử dụng để suy luận cho những biến đổi tổng thể của khí hậu trong năm tương ứng Một cây bị tổn thương sinh lí do sự tác động của một mùa sinh trưởng khắc nghiệt có thể phải mất một hoặc hai năm để khôi phục lại

− Những khó khăn khi lấy mẫu: Mẫu được lấy từ những cây trong tự nhiên, thường là những vùng xa xôi, cần phải xác định chính xác địa điểm lấy mẫu trên bản

đồ Ngoài ra, việc lấy mẫu thường ở những nơi có điều kiện địa hình khó khăn (thường

là địa hình dốc) Mẫu được lấy bằng cách sử dụng khoan tay khoan vào thân, điều này đòi hỏi cần phải có nhiều kỹ năng để lấy mẫu đạt tiêu chuẩn Cách lấy mẫu tốt nhất là

hạ cây và cắt nó thành nhiều đoạn, tuy nhiên cách lấy này sẽ gây thiệt hại lớn cho rừng

và không được cho phép ở một số khu vực, đặc biệt với những cây lâu năm ở những khu vực không được tác động Các nhà nghiên cứu họ sẽ cố gắng xử lý tốt nhất những

dữ liệu chưa hoàn hảo hơn là thu thập lại mẫu do việc lấy mẫu rất phức tạp và tốn kém Việc hiệu chỉnh dữ liệu cho phù hợp là rất khó khăn bởi vì thu thập mẫu (ở thực

Trang 18

địa) và phân tích dữ liệu (trong phòng thí nghiệm) hoàn toàn tách biệt nhau về mặt không gian và thời gian

+ Đo độ rộng vòng năm

Lúc đầu người ta chỉ đo độ rộng vòng năm theo phương pháp đơn giản, đặc biệt mật độ gỗ muộn là yếu tố đánh giá nhiệt độ nhưng rất khó để đo chính xác mật độ gỗ muộn Các phương pháp khác cũng được thử nghiệm như phân tích chất đồng vị hay các đặc tính về hóa học Trên lý thuyết, có nhiều phương pháp đo đếm phức tạp các đặc tính khác của vòng năm để phân biệt các yếu tố tác động đến sinh trưởng, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu vẫn còn dựa vào độ rộng vòng năm và phạm vi nghiên cứu tại các lâm phần cố định

2.3 Sơ lượt về chương trình COFECHA

COFECHA là một chương trình máy tính hổ trợ kiểm tra định tuổi chéo và đo đếm vòng năm một cách chính xác hơn Được viết bởi Richard L Holmes vào năm

1982, là một chương trình quan trọng và được sử dụng rộng rãi trong khoa học niên đại thực vật Nó là một chương trình quan trọng nhưng chú ý rằng nó không phải thực hiện tất cả các bước trong định tuổi chéo Hơn nữa, nó là một công cụ để giúp các nhà niên đại thực vật đánh giá chất lượng định tuổi chéo và đo đếm vòng năm một cách chính xác

Mức độ tương quan giữa các mẫu là khác nhau đối với các loài khác nhau, khu vực địa lý khác nhau, tính đồng nhất của mỗi vùng, sự cạnh tranh và mức độ bị nhiễu loạn trong lâm phần Các cá thể trong một lâm phần sẽ chịu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau do sự đấu tranh sinh tồn, như cạnh tranh về ánh sáng và độ ẩm và còn chịu ảnh hưởng do sự tác động của các yếu tố bên ngoài như lửa, sâu bệnh Với các nguyên nhân này, COFECHA không đưa ra một tiêu chuẩn cụ thể nào để chấp nhận hay loại

bỏ những vòng năm không phù hợp mà nó dùng để hỗ trợ kiểm soát dữ liệu trong quá trình kiểm tra tất cả các chuỗi dữ liệu Hơn nữa nó không được dùng như một công cụ thay thế để quan sát và định tuổi chéo trực tiếp trên mẫu gỗ Cuối cùng các chuỗi vòng năm có được xác định niên đại thành công hay không thì đó là việc của các nhà niên đại thực vật chứ không phải do phần mềm quyết định Do vậy, chương trình COFECHA cho kết quả tốt nhất sau khi đã hoàn thành giai đoạn định tuổi chéo bằng mắt thường hoặc vẽ mô hình vòng năm trên giấy để xác định và sau đó tiến hành đo

Trang 19

đếm Nếu mẫu được định tuổi chéo đúng và đo đếm một cách chính xác sẽ có độ tin cậy cao, điều đó đảm bảo cho việc đánh giá môi trường ảnh hưởng đến quá trình sống của thực vật như thế nào

2.4 Cơ sở khoa học của phương pháp nghiên cứu vòng năm

Khí hậu là một nhân tố quan trọng của mỗi hệ sinh thái Sự suy thoái của môi trường, trong đó có sự biến đổi bất lợi của khí hậu sẽ dẫn đến sự giảm sút tài nguyên sinh học cả về chất và lượng Sinh vật rất nhạy cảm với sự biến đổi của khí hậu, do đó

sự ảnh hưởng của khí hậu đến sự tồn tại và phát triển của một loài sinh vật nào đó ngay trong môi trường sống của chúng là rất lớn

Các khu rừng nhiệt đới khi đã phát triển đạt đến rừng cực đỉnh thì các loài cây ở mỗi tầng sẽ thích nghi với điều kiện tiểu khí hậu mỗi tầng và mỗi khi có tác động bên ngoài vào một tầng nào đó thì các điều kiện tiểu khí hậu thay đổi làm ảnh hưởng đến

cả quần xã thực vật và mất đi một số loài Sự suy thoái của tài nguyên rừng cũng như các quần xã động thực vật tự nhiên đều có nguyên nhân bởi sự biến đổi của tiểu khí hậu Chính vì thế quan tâm và hiểu biết sâu hơn nữa về sự tồn vong của sinh vật và sinh khí hậu là rất cần thiết cho các nhà sinh học, lâm học Nước Việt Nam có đa dạng thực vật do có đa dạng sinh khí hậu nhưng cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tập hợp và phân tích các yếu tố khí hậu Điều đó đã gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu về Lâm nghiệp, Nông nghiệp nói riêng và về thực vật gây trồng và hoang dại nói chung

Tính phân mùa của khí hậu là một đặc trưng của khí hậu nước ta, cũng là nguyên nhân tạo nên sự phân bố đặc thù của các kiểu thực vật theo chế độ khí hậu như thực vật vùng ôn đới, nhiệt đới và á nhiệt đới và cũng đã làm thay đổi nhiều hiện tượng ở thực vật trong đó có sự thay đổi vòng năm Tùy theo chu kỳ sinh trưởng dài hay ngắn, điều kiện khí hậu, đất đai, độ ẩm, ánh sáng, đặc tính di truyền của từng loài cây mà vòng năm rộng hẹp khác nhau Đối với nhiều loại gỗ nhiệt đới có sự tăng trưởng quanh năm khá đều đặn nên khó quan sát được vòng năm Những cây sống ở vùng ôn đới, nơi mà những mùa trong năm khác nhau một cách rõ rệt thì vòng năm của chúng có thể dễ nhìn thấy hơn, gỗ sớm, gỗ muộn phân biệt khá rõ Ngoài ra, ở vùng nhiệt đới chu kỳ sinh trưởng trong năm của thực vật dài hơn vùng ôn đới, hàn đới nên cây thường có vòng năm rộng hơn Trên mặt cắt ngang vòng năm là những vòng

Trang 20

tròn đồng tâm vây quanh tủy cây, trên mặt cắt xuyên tâm vòng năm thể hiện là những dải song song với trục dọc thân cây Trên mặt cắt tiếp tuyến vòng năm là những hình chữ V ngược Những vòng có thể nhìn thấy được do sự thay đổi tốc độ sinh trưởng giữa các mùa trong năm, do đó vòng năm sẽ biểu hiện được sự ảnh hưởng của các điều kiện sinh trưởng trong năm đó đối với đời sống của cây

Khi gặp các điều kiện không bình thường như nắng hạn, tổn thương cơ giới, sâu bệnh, … làm cho tầng phát sinh ở các nơi này bị kìm hãm không sinh trưởng bình thường, phần còn lại của tầng phát sinh vẫn hoạt động bình thường, nghĩa là vẫn tạo được một lớp gỗ Tuy nhiên trong cả vòng năm thì lớp gỗ sẽ không đều đặn, nên trên mặt cắt ngang người ta nhận thấy loại vòng năm này có hình bán nguyệt còn được gọi

là vòng năm giả Như vậy, trong một chu kỳ sinh trưởng có thể từ một đến hai hoặc nhiều vòng gỗ tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng thay đổi trong năm

Khí hậu tác động đến thực vật nói chung và phân bố thảm thực vật nói riêng một cách tổng hợp Điều đó có nghĩa là tất cả các yếu tố thành phần tạo nên chế độ khí hậu tác động đồng thời lên đa dạng thực vật và kiểu thảm thực vật ở các mức độ khác nhau Do đó, sự thay đổi khí hậu và các yếu tố khác của môi trường có thể được phản ánh thông qua sự sinh trưởng và phát triển của thực vật như độ rộng, hẹp của vòng năm, khả năng tái sinh, sự ra hoa, kết quả, Hơn nữa, sự tác động của các yếu tố khí hậu thường theo qui luật và tác động đồng thời lên những khu vực tương đồng trong một phạm vi nhất định Vì vậy, qua phân tích vòng năm có thể dự đoán được những tác động của khí hậu đến sự sinh trưởng của thực vật trong quá khứ, nhằm biết được các hiện tượng khí hậu đã xảy ra tại một khu vực nào đó

Trên cùng một khu vực địa lý, vòng sinh trưởng giữa các năm sẽ không bao giờ giống nhau Khi khí hậu thay đổi đặc biệt là khí hậu ẩm ướt thì vòng sinh trưởng sẽ rộng hơn và ngược lại vào mùa khô chúng sẽ hẹp Vào mùa quá khắc nghiệt, những cây có thể sẽ không hình thành vòng sinh trưởng trong năm đó Để đảm bảo tính chính xác, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp kiểm tra chéo, so sánh nhiều chuỗi dữ liệu sinh trưởng của cùng một loài và đối chiếu những vòng tương ứng ở các năm sao cho phù hợp

Trang 21

Điều kiện để nghiên cứu phương pháp này bao gồm 4 yếu tố cơ bản:

− Loài nghiên cứu phải cho một vòng sinh trưởng trong mỗi mùa sinh trưởng hoặc trong mỗi năm

− Chỉ một yếu tố môi trường có ưu thế nhất có thể làm tăng hoặc giảm tốc độ sinh trưởng

− Yếu tố môi trường có ưu thế nhất khác nhau qua các năm để thấy được sự thay đổi vòng năm một cách rõ ràng

− Yếu môi trường phải ảnh hưởng trên một khu vực địa lý rộng lớn

Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng vòng năm bao gồm: Độ dốc, đặc tính của đất, nhiệt độ, gió, ánh sáng mặt trời Ngoài ra, ở những xứ lạnh sinh trưởng vòng năm còn chịu ảnh hưởng của sự tích tụ tuyết

2.5 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Phương pháp khí hậu thực vật (Dendroclimatology) là phương pháp khoa học dựa vào việc phân tích mối liên hệ giữa vòng năm với các yếu tố khí hậu Phương pháp này đã được phát triển suốt nửa đầu thế kỷ XX bởi một nhà thiên văn học A.E Douglass, người sáng lập ra phòng thí nghiệm Tree-Ring Research tại trường đại học Arizona Douglass đã tìm hiểu chu kỳ hoạt động của vệt đen (ở mặt trời) và sự thay đổi đó đối với hoạt động mặt trời sẽ ảnh hưởng đến các kiểu khí hậu trên trái đất và điều đó sẽ được thể hiện ở kiểu sinh trưởng vòng năm của thực vật (hoạt động của vệt đen ==> thay đổi khí hậu ==> biến động vòng năm)

Kohler (1964) và Kozlowski (1966) cho rằng, các phương pháp khí hậu thực vật có thể được sử dụng rộng rãi để xác lập mối quan hệ giữa các hiện tượng xảy ra trên trái đất với hoạt động của mặt trời, khôi phục và dự báo biến động của các quá trình tự nhiên Phương pháp khí hậu thực vật còn được sử dụng không chỉ trong các nghiên cứu về động thái nguồn nước, chế độ thủy văn, quy luật biến động của khí hậu

và dự báo khí hậu, mà còn về sinh thái cá thể và quần thể cây rừng, dự báo năng suất

và diễn thế rừng, dự báo sâu bệnh, đánh giá hiệu quả các biện pháp kỹ thuật lâm sinh

và ảnh hưởng của con người tới rừng (Bitvinskas, 1974, 1985, Koerber, 1970)

Fritts (1972) phát hiện thấy sự sinh trưởng của loài Picea glauca dọc theo các

con kênh đào và các dòng suối phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm Vào những năm

Trang 22

khô hạn, tăng trưởng của vòng năm kém hơn nhiều so với những năm có lượng mưa lớn

Theo Bitvinskas (1974) và Kohler (1981) ngày nay những nghiên cứu về khí hậu thực vật ngày càng được đẩy mạnh hơn Mục đích của những nghiên cứu này là nhằm xây dựng ngân hàng dữ liệu biểu hiện sự biến động của vòng năm trong thời gian dài, xây dựng những thang chuẩn của biến động vòng năm đối với từng vùng địa

lí riêng biệt Kết quả của những nghiên cứu đó sẽ làm sáng tỏ những ảnh hưởng định lượng của các yếu tố sinh thái, đặc biệt là hoạt động của mặt trời đến sinh trưởng và năng suất của rừng

Bằng phương pháp khí hậu thực vật, Vương Văn Quỳnh (1990) đã nhận thấy

rằng biến động của tăng trưởng và phân hóa cây rừng của các lâm phần Pinus

sylvestris ở Varônhezơ (Nga) chịu ảnh hưởng rất rõ rệt từ các điều kiện khí hậu Ở các

lâm phần non, tăng trưởng cây rừng phụ thuộc chặt chẽ vào khí hậu Hoạt động của mặt trời hoạt động trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng cây rừng, cây có cấp sinh trưởng kém thì tăng trưởng phụ thuộc ít hơn vào hoạt động của mặt trời

Sinh vật luôn chịu ảnh hưởng của tất cả các yếu tố khí tượng, sự sinh trưởng của các bộ phận cơ thể sinh vật cũng là một khía cạnh nghiên cứu về niên đại thực vật Daniel Penny đã nghiên cứu về su hướng phát triển của địa lí sinh vật ở lục địa Đông Nam Á dựa vào phấn hoa thực vật ở Thái Lan và Campuchia Qua những công trình nghiên cứu phấn hoa và các tài liệu về khảo cổ học cho thấy, hệ sinh thái và địa lý sinh vật sẽ phản ứng lại với những thay đổi của khí hậu trong thời gian dài Trong giai đoạn đầu của thể Haloxen các quần thực vật chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Vào thời kỳ đầu và giữa thể Haloxen mực nước biển cao hơn gây ra sự bố trí lại về chiều sâu ở lưu vực châu thổ sông Mê Kông Sự thay đổi của thực vật và chế độ lửa trong suốt giai đoạn cuối của thể Haloxen là do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa

William E Wright đã phân tích dữ liệu vòng năm để đánh giá những thay đổi của khí hậu trong thiên niên kỷ trước ở biển phía Nam Trung Quốc Ông sử dụng vòng

sinh trưởng của cây Chamaecyparis obtusa (var formosana) một nghìn tuổi từ một

đảo ở Đài Loan, điều này đã cho thấy tiềm năng lớn để phát triển chỉ số sinh trưởng ở những cây lá kim lâu năm và từ đó có thể phát hiện nhiều về chiều hướng thay đổi của khí hậu trong thiên niên kỷ trước Những phân tích sơ bộ đã cho thấy sự tương quan có

Trang 23

ý nghĩa giữa độ rộng vòng năm và các tham số khí hậu khác bao gồm nhiệt độ bề mặt (ST), nhiệt độ bề mặt nước biển (SST), … t.ừ mối liên hệ này cũng đã chỉ ra số ngày

có bão lớn và vị trí phát sinh lốc xoáy

Nhiều nhà nghiên cứu điều khẳng định rằng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa

các yếu tố khí hậu với sinh trưởng của các loài cây gỗ Khi nghiên cứu hai loài Abies

lasiocarpa và Pseudotsuga menziesli, Fritt và Mayer (1980) đã nhận thấy rằng tăng

trưởng vòng năm của chúng có mối liên hệ với nhiệt độ và lượng mưa Đối với loài

Pseudotsuga menziesli tương trưởng đường kính có mối quan hệ tuyến tính dương với

lượng mưa từ tháng 7 năm trước đến tháng 2 năm sau Ngược lại, chỉ số tăng trưởng

đường kính của loài Abies lasiocarpa có quan hệ tuyến tính dương với lượng mưa của

các tháng 11, 12 năm trước và tháng 2, 3 và tháng 6 năm sau Rõ ràng lượng mưa lớn

giúp cho loài Abies lasiocarpa tăng trưởng trong một thời gian dài từ tháng 11 đến

tháng 2 năm sau Nghiên cứu của Fritt và Mayer cũng cho thấy chỉ số tăng trưởng của

cả hai loài trên đều có tương quan duwong với nhiệt độ tháng 8 (cuối mùa tăng trưởng)

2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về ảnh hưởng của khí hậu đến thực vật ở nước ta chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp mặt dù rừng nước ta rất có tiềm năng cho lĩnh vực nghiên cứu này nhưng hầu như vẫn chưa được quan tâm một cách thích đáng

Gần đây cũng đã có một số nghiên cứu về các loài cây lá kim ở nước ta, trong

đó có các nghiên cứu về loài thông 3 lá (Pinus kesiya) ở Lâm Đồng, Alder (1978) cho

rằng tốc độ của địa hình và độ ẩm không khí có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao của thông 3 lá ở Lâm Đồng Theo Nguyễn Ngọc Lung (1989), các điều kiện ngoại cảnh ở Đà Lạt và Bảo Lộc có ảnh hưởng giống nhau tới sinh trưởng của thông ba lá, nhưng có sự khác nhau về tăng trưởng đường kính thân cây theo từng tháng trong năm

là rất lớn Theo Nguyễn Trọng Nhân, chỉ số tăng trưởng đường kính của thông ba lá ở

Đà Lạt có quan hệ tuyến tính âm khá chặt chẽ với nhiệt độ không khí trung bình của các tháng 2 – 4 và 9 – 10, với lượng mưa của các tháng cuối mùa mưa năm trước (10 – 12) đến đầu mùa khô năm sau (1 – 2) và các tháng đầu và giữa mùa mưa (6 – 8) Nhưng chỉ số lượng mưa của tháng 9 (giữa mùa mưa) tăng lên lại kéo theo sự nâng cao rất rõ rệt chỉ số tăng trưởng đường kính cảu thông ba lá

Trang 24

Masaki Sano, Brendan M Buckley và Tatsuo Sweda đã phân tích biến động về

độ rộng vòng năm của cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) ở phía bắc Việt Nam để xây

dựng lại khí hậu lục địa Đông Nam Á Sự sinh trưởng của cây Pơ Mu đã chịu ảnh hưởng của độ ẩm đất trong mùa gió mùa, qua phân tích bằng phương pháp khí hậu thực vật cho thấy có hai thời kỳ khô hạn nổi bậc là giữa thế kỷ 18 và cuối thế kỷ 19 Thời kỳ đại hạn vào thế kỷ 18 đã kéo dài gần 30 năm và đã trải rộng trên toàn bộ khu vực Đông Nam Á, khô hạn xuất hiện cùng với hiện tượng ấm lên của nhiệt độ bề mặt nước biển

Trang 25

Chương 3

TỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Mô tả: tên thông dụng: cây Pơ Mu, tên khoa học: Fokienia hodginsii (Dunn)

A Henry et Thomas, 1911, thuộc họ hoàng đàn (Cupressaceae) Cây gỗ to, có tán hình tháp, thường xanh, cao 25 -30 m hay hơn, đường kính thân tới hơn 1m Thân thẳng, không có bạnh gốc Vỏ thân màu xám nâu, bong thành mảng khi non, sau nứt dọc, mùi thơm Lá hình vảy, xếp thành 4 dãy Ở cành non hoặc cành dinh dưỡng, lá lưng bụng ngắn và hẹp hơn hai lá bên, dài đến 7mm, rộng đến 4mm, có đầu nhọn dựng đứng; ở cành già hay cành mang nón, lá hình vảy nhỏ hơn (dưới 1mm), có mũi nhọn cong vào trong

Nón đơn tính cùng gốc; nón đực hình trứng hay hình bầu dục, dài 1cm, mọc ở nách lá; nón cái gần hình cầu, đường kính 1,6 - 2,2 cm, mọc ở đỉnh một cành ngắn, khi chín tách thành 5 - 8 đôi vảy màu nâu đỏ, hoá gỗ, hình khiên, đỉnh hình tam giác, lõm giữa và có mũi nhọn Mỗi vảy hữu thụ mang 2 hạt có 2 cánh không bằng nhau

- Đặc tính sinh học: Cây tái sinh ít bằng hạt trong bóng râm có lớp đất mặt sâu,

ẩm, không có khả năng tái sinh bằng chồi

- Đặc điểm sinh thái: Cây mọc ở độ cao 900 – 2500 m, tập trung nhiều ở 950 –

1500 m, trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, trên sườn núi, thường

hỗn giao với một số loài cây lá rộng, lá kim khác như Sồi cau (Lithocarpus fenestrata), Hồi núi (Illicium griffithii), Đỗ quyên (Rhododendron simsii), Kim giao (Nageia

fleuryi), Thông nàng (Podocarpus imbricatus), …, trên đất mùn màu vàng xám, phong

hoá từ đá granít có tầng dày thay đổi, thành phần cơ giới nhẹ Trên các dông núi thường gặp các giải rừng hẹp thuần loại pơ mu

- Vùng phân bố

+ Ở Việt Nam

Trang 26

Vùng Bắc Trung Bộ: Hương Sơn (Hà Tĩnh); Quế Phong (Nghệ An); Quỳ Châu (Nghệ An); Thanh Chương (Nghệ An); Thừa Thiên Huế

Vùng Đông Bắc: Đồng Văn (Hà Giang); Hoàng Su Phì (Hà Giang); Mường Khương (Lào Cai); Sapa (Lào Cai)

Vùng Đông Nam Bộ: Lạc Dương (Lâm Đồng)

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: Nha Trang (Khánh Hoà)

Vùng Tây Bắc: Bắc Yên (Sơn La); Mai Châu (Hoà Bình); Phong Thổ (Lai Châu); Tủa Chùa (Lai Châu); Tuần Giáo (Lai Châu)

Vùng Tây Nguyên: Gia Lai; Kon Plông (Kon Tum); Krông Bông (Đắk Lắk) + Thế giới: Lào, Trung Quốc

- Giá trị: Gỗ tốt, có thớ mịn, thơm và không bị mối mọt Trước kia gỗ pơ mu thường được dùng đóng quan tài Người Lào, Dao và Mông thường xẻ ván lợp nhà, làm vách Than pơ mu cho nhiệt lượng cao Gỗ rễ dùng chưng cất tinh dầu để làm hương liệu và làm thuốc

- Tình trạng: Biết không chính xác (K) Do gỗ quí và rễ có tinh dầu giá trị cao nên cây bị khai thác mạnh Hiện nay chỉ còn gặp rải rác ở nơi xa dân hoặc trên đỉnh và đường đỉnh núi hiểm trở Tái sinh kém, sinh trưởng chậm nên số lượng giảm nhanh chóng

- Mức độ đe dọa: không có trong sách đỏ Việt Nam, danh sách đỏ IUCN, 2000: LR/nt

- Biện pháp bảo vệ: Bảo vệ nguyên vẹn các khu rừng cấm Cần khai thác có kế hoạch nguồn gỗ pơ mu còn lại và gấp rút đưa trồng rộng rãi để tạo nguồn nguyên liệu dồi dào và chắc chắn

Trang 27

3.2 Khu vực nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên

3.2.1.1 Vị trí địa lí

Hình 3.1: Bản đồ mô tả phân bố loài Pơ Mu ở Việt Nam

Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Gia Lai, cách thành phố Pleiku 50km về phía Đông Bắc phân bố trên phạm vi hành chính của 5 xã thuộc 3 huyện: K’Bang, Mang Yang và Đăk Đoa tỉnh Gia Lai

− Tọa độ địa lí

+ Từ 140 09’ đến 140 30’ vĩ độ Bắc

KKK

3

Trang 28

+ Từ 1080 16’ đến 1080 28’ độ Kinh Đông

− Ranh giới

+ Phía Bắc giáp KonTum và một phần xã Đăk Roong huyện K’Bang

+ Phía Nam giáp xã Hà Ra và một phần xã A Jun huyện Mang Yang

+ Phía Đông giáp một phần xã Đăk Roong, một phần xã K’Roong và xã Lơ Ku huyện K’Bang

+ Phía Tây giáp một phần xã Hà Đông huyện Đăk Đoa

− Qui mô diện tích

Tổng diện tích tự nhiên của VQG Kon Ka Kinh là 41780ha Phân bố trong 44 tiểu khu sau: 18, 23, 31, 62, 63, 64, 65A, 56C, 67B, 58, 70B, 71, 73B, 74, 75, 76, 77,

VQG với độ cao 600m Nhìn chung địa hình Kon Ka Kinh thấp dần từ Bắc xuống Nam, với kiểu địa hình núi trung bình là chủ yếu

− Địa chất: Nền địa chất của VQG Kon Ka Kinh dược hình thành từ 4 nhóm đá

mẹ sau:

+ Nhóm đá macma axit chủ yếu là đá Granite

+ Nhóm đá macma kiềm trung tính chủ yếu là dá Bazan

+ Nhóm đá phiến chủ yếu là đá phiến thạch sét và phiến thạch mica

+ Nhóm vật chất dốc tụ ven suối chủ yếu là phù sa mới

− Đất đai: VQG Kon Ka Kinh có 6 loại đất chính sau

+ Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá sét biến chất (FHs)

+ Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá macma axit (Fha)

+ Đất Feralit mùn nâu vàng phát triển trên đá macma kiềm trung tính (FHk) + Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá macma axit (Fa)

Trang 29

+ Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá macma kiềm trung tính (Fk)

+ Phù sa ven sông suối (P)

3.2.1.3 Khí hậu - thủy văn

Š Khí hậu

VQG Kon Ka Kinh chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Một năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

− Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 210C – 250C, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 5 (250C), tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1nhiệt độ trung bình

160C, riêng khu vực Kon Ka Kinh có nhiệt độ thấp nhất 150C

− Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình biến động từ 2000 – 2500mm, lượng mưa trung bình từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 70 – 75% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 5 thấp nhất là tháng 1

− Độ ẩm: Độ ẩm bình quân hàng năm 80%, độ ẩm cao nhất vào các tháng mùa mưa

là 87%, các tháng mùa khô có độ ẩm tương đối thấp 71%

− Chế độ gió: Hàng năm có hai hướng gió chính, các tháng mùa khô có hướng gió chính là gió mùa Tây Nam, các tháng mùa mưa hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc

Š Thủy văn

VQG Kon Ka Kinh có 2 hệ suối chính cũng là nơi bắt nguồn của 2 con sông trong vùng, với nhiều nhánh suối nhỏ, mật độ tương đối dày, phân bố rải đều trên diện tích VQG Các dòng suối này mùa mưa có lưu lượng nước lớn, mùa khô tuy chưa bị cạn kiệt nhưng lượng nước dự trữ thấp

Sông Ba: Là hệ sông lớn nhất, được bắt nguồn từ các suối ở phía Bắc xã Đăk Roong chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua VQG tại tiểu khu 18 với chiều dài khoảng 11km Toàn bộ các hệ thống suối ở mạng sườn Đông Bắc, Đông Nam VQG Kon Ka Kinh thuộc lưu vực sông Ba với diện tích khoảng 230km2, modun dòng chảy trung bình toàn lưu vực đạt 22,2l/s/km2, vùng thượng lưu có lưu lượng dòng chảy trng bình năm cao 40 – 50l/s/km2 Hệ số dòng chảy lưu vực thấp, trung bình đạt 0,41

Sông ĐăkPne: Bắt nguồn từ nhiều nhánh suối ở sườn phía … VQG Kon Ka Kinh thuộc địa bàn xã KonPne với diện tích lưu vực khoảng 144km2 sông chảy thei

Trang 30

hướng Bắc nhập với sông ĐăkPla tại KonPlong, chảy qua thị xã Kon Tum, nhập với

sông PôKô cung cấp nước cho thủy điện YaLy, SêSan III…

3.2.2 Tài nguyên rừng

Do đặc điểm đa dạng về địa hình đai cao khí hậu, đất đai và các nhân tố hình

thành rừng khác đã tạo cho hệ thực vật rừng ở VQG Kon Ka Kinh rất phong phú và đa

dạng nơi đây là điểm hội tụ của các luồng thực vật sau:

− Luồng thực vật thuộc khu hệ Bắc Việt Nam có các loài cây thuộc họ Đậu, họ

Thầu dầu, họ Mộc lan, họ Dâu tằm, họ Na, họ Giẻ…

− Luồng thực vật thuộc khu hệ Vân Nam – Quí Châu và chân dãy núi Hymalya có

các loài cây lá kim của ngành phụ hạt trần như: Thông nàng, Hoàng đàn giả, Kim giao,

Pơ mu…

− Luồng thực vật thuộc khu hệ Malayxia – Indonexia đại diện cho luồng thực vật

này là các loài cây thuộc họ Dầu như: Chò Chai, Chò Đen, Chò Chỉ, Cẩm Liên…

− Luồng thực vật India – Mianma tiêu biểu có các loài cây thuộc họ Bàng như

Choại…, họ Tử Vi như Bằng Lăng Ổi…

Š Thành phần thực vật

Qua kết quả điều tra hệ thực vật rừng của VQG Kon Ka Kinh bước đầu đã

thống kê được 687 loài thực vật thuộc 459 chi 140 họ Trong đó ngành thực vật cây

hạt kín 2 lá mầm chiếm đa số (140 họ, 337 chi, 582 loài) Tiếp đó là ngành hạt kín 1 lá

mầm (15 họ, 82 chi, 111 loài) Các ngành khuyết thực vật có 16 họ, 32 chi, 40 loài

Trang 31

Kết quả điều tra cho thấy VQG có hệ thực vật rất phong phú đa dạng về thành

phần loài Đặc biệt có nhiều loài thực vật đặc hữu, quí hiếm cần bảo tồn nguồn gen

như:

- Các loài đặc hữu: Có 11 loài như Thông Đà Lạt, Hoa khế, Gõ đỏ, Trắc, Xoay, …

- Các loài quí hiếm: Hệ thực vật rừng VQG Konkakinh có 34 loài quí hiếm có giá

trị bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu khoa học được ghi trong sách Việt Nam và thế

giới

Biểu 3.2: Danh sách và tình trạng các loài thực vật VQG trong sách đỏ VN và TG

VN

Sách đỏ

TG

1 Cibolium barometz Cẩu tích K

2 Pinus dalatensis Thông 5 lá R E

3 Fokienia hodginsii Pơ mu K R

4 Dcrydium elatum Hoàng đàn giả K

5 Nageia fleuryi Kim giao V V

6 Cephalotaxus hainamensis Đỉnh tùng R V

7 Pachylarnax precalva Sói gỗ V

8 Xylopia pierrei Giền láng V

9 Coscinium fenentratum Dây vàng đắng V

13 Craibiodendron scleranthum Cây núi hòn R R

14 Enkianthus quinqueflorus Trợ hoa R

18 Plerocarpus macrocarpus Giáng hương quả to K

Trang 32

20 Rhopalocnema phalloides Chùy đầu dương huỳnh R

23 Schefflera kontumensis Chân chim KonTum R

25 Rhodoleia championii Hồng quang champion

28 Pleioblatus babiensis Sặt Ba Vì

29 Anoectochilus roxburghii Giải thùy roxburgh E

33 Dalbergia cochinchinensis Trắc (Cẩm lai nam)

Trong tổng số 34 loài ghi trong sách đỏ có 24 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam

bao gồm 2 loài thuộc cấp E , 7 loài thuộc cấp R, 1 loài thuộc cấp T, 8 loài cấp K Theo

phân loại của IUCN có 15 loài trong sách đỏ thế giới bao gồm 1 loài cấp E, 2 loài bị đe

dọa thuộc cấp V, 12 loài thuộc cấp hiếm

Š Thảm thực vật rừng

Theo thông lệ phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng thì VQG

KonKaKinh có các kiểu thảm thực vật rừng chính sau:

Biểu 3.3: Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng của VQG KonKaKinh

TT Kiểu thảm thực vật Diện tích (ha) Tỉ lệ (%)

Trang 33

3 Rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt

đới

45 0,1

Kiểu phụ thứ sinh nhân tác

− Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này phân bố ở đai cao từ 900 – 1000 m trở lên, có diện tích lớn nhất

ở VQG KonKaKinh 11.837 ha chiếm 28,9% diện tích đất có rừng Thực vật trong kiểu

rừng này tương đối đa dạng, trữ lượng tương đối lớn, giao động từ 260 – 300 m3/ha,

trữ lượng bình quân 280 m3/ha

− Kiểu rừng kín hỗn giao lá rộng, lá kim mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này có diện tích 1.253 ha, chiếm tỉ lệ 3,1% diện tích đất có rừng

Kiểu rừng này phân bố ở độ cao từ 900 – 1300 m Hệ thực vất cũng tương đối phong

phú, đa dạng, có các loài thực vật có giá trị cao, quí hiếm Các loài Hoàng đàn giả,

Thông nàng mọc khá phổ biến, loài Pơ mu lại chỉ phân bố tập trung từ 1300 m trở lên

và chủ yếu mọc ở phía sườn Đông VQG KonKaKinh Trữ lượng của kiểu rừng này

dao động 260 – 300 m3/ha

− Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới

Kiểu rừng này phân bố tập trung ở đai cao dưới 900 (1000) m, diện tích nhỏ

khoảng 45 ha, chiếm tỉ lệ 0,1% diện tích đất có rừng Cấu trúc rừng có sự khác biệt,

các loài cây họ Đậu, họ Dầu có kích thước lớn chiếm giữ tàng vượt tán và tầng ưu thế

sinh thái Trữ lượng của rừng tương đối lớn, giao động từ 260 – 300 m3/ha, trữ lượng

bình quân 280 m3/ha

− Kiểu phụ thứ sinh nhân tác

+ Rừng kín lá rộng thường xanh nghèo kiệt

Trang 34

Kiểu rừng này có diện tích 13.253 ha, hiếm tỉ lệ 32,3% diện tích đất có rừng, bao gồm các lâm phần đã bị tác động Trũ lượng thấp, bình quân từ 110 – 180 m3/ha

+ Rừng kín thường xanh phục hồi

Kiểu rừng này có diện tích 6.160 ha, chiếm tỉ lệ 15% diện tích đất có rừng, có mật độ cây/ ha cao, trữ lượng không ổn định 40 – 80 m3/ha

Ngoài ra còn có một số loại hình rừng khác: rừng Le, rừng trồng, đất trống trảng cỏ, đất trống cây bụi…

3.2.3 Đặc điểm dân sinh – kinh tế - xã hội

3.2.3.1 Dân số, dân tộc, lao động

Dân số

Theo thống kê dân số của các xã liên quan đến VQG KonKaKinh, tổng dân số toàn vùng hiện có 5.895 hộ, với 30.508 người, phân bố như sau:

+ Trong VQG có 70 hộ với 201 nhân khẩu

+ Trong vùng đệm có 5.825 hộ với 30.207 nhân khẩu

+ Mật độ dân số bình quân 19 người/km2

+ Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 2,8%

- Lao động

Tổng số lao động toàn vùng hiện có 15.039 lao động, chiếm tỉ lệ 49,3% dân số Trong đó:

+ Trong VQG có 151 lao động, chiếm tỉ lệ 1,2% tổng số lao động trong vùng,

cơ cấu lao động 100% lao động Nông nghiệp

+ Vùng đệm có 14.888 lao dộng chiếm tỉ lệ 99% tổng số lao động trong vùng

Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế như sau:

+ Nông nghiệp có 14.321 lao động, chiếm 96.2% lao động của vùng đệm

+ Lâm nghiệp có 155 người, chiếm tỉ lệ 1% lao động của vùng đệm

+ Tiểu thủ công nghiệp có 47 lao động, chiếm tỉ lệ 0,3%

+ Các ngành khác có 365 người, chiếm tỉ lệ 2,5%

- Dân tộc

+ Trong vùng dân tộc Ba Na chiếm tỉ lệ cao nhất 71,3%

+ Dân tộc kinh chiếm tỉ lệ 26,9%

Trang 35

3.2.3.2 Tập quán canh tác, sinh hoạt văn hóa của các dân tộc

Cộng đồng dân tộc Ba Na là người bản địa đã sinh sống lâu đời ở đây, họ đã định canh, định cư thành các thôn, bản quanh các trục đường giao thông và ven cá thung lhung lũng sông, suối Với mo hình sở hữu đất đai truyền thống theo hộ gia đình, diện tích đất canh tác manh mún, nhỏ lẻ, nên việc áp dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật rất khó khăn

Trong các năm gần đây đòng bào dân tộc đã làm lúa nước 1 vụ, 2 vụ Nhưng phương thức canh tác vẫn lạc hậu, chưa áp dụng biện pháp thâm canh cho nên năng suất không cao

Nét văn hóa lâu đời của đồng bào dân tộc là văn hóa Cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, bỏ mả, cưới hỏi… mangt tính cộng đồng ca, phong tục tập quán còn mang nét mẫu hệ, người phụ nữ được đề cao trong gia đình nhưng cũng là người lao động nặng nhọc nhất các công việc hàng ngày Người đàn ông làm việc như: hạ cây, làm nhà, săn bắn, làm rẫy…

Sản xuất lâm nghiệp: Trong vùng đệm hiện có 6 lâm trường, 1 ban quản lia rừng phòng hộ trực thuộc UBND tỉnh Gia Lai (Kbang có 4 lâm trường, Mangyang 1 lâm tường và 1 ban quản lí, Đak Đoa 1 lâm trường) Các lâm trường và ban quản lí rừng phòng hộ có nhiệm vụ chính là quản lí, bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng Công tác trồng rừng cũng được chú trọng đặc biệt là rừng phòng hộ Công tác giao khoán quản lí bảo vệ được triển khai trên địa bàn 6 xã, cho đến nay đã giao khoán 18603 ha rừng cho 1180 hộ

3.2.3.3 Tình hình văn hóa, xã hội, đời sống cộng đồng, y tế

Trang 36

− Giáo dục

Hệ thống giáo dục ở các xã hình thành từ thôn bản, mỗi thôn, bản có 1 trường mẫu giáo, mỗi xã có 1 trường tiểu học ở khu vực trung tâm xã

− Đời sống cộng đồng

Đời sống cộng đồng đã từng bước được cải thiện nhưng kết quả chưa cao, trong

5895 hộ có 310 hộ có mức sống khá 5,3%, 4446 hộ trung bình 66,9%, đói nghèo 27,8%, đói 5,7%

− Đánh giá chung về tình hình dân sinh, kinh tế, xã hôi

+ Qua kết quả điều tra, tình hình kinh tế, xã hội của VQG KonKaKinh còn rất khó khăn, nghèo đói chủ yếu rơi vào các hộ đồng bào dân tộc BaNa

+ Trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, du canh du cư không chú trọng đến việc xen canh các loại đất nên đất đai nhanh chóng bị thoái hóa, năng suất cây trồng giảm, thiếu lương thực vào các tháng 7, 8, 9 hàng năm

+ Hiện trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản, săn bắn vẫn xảy ra tạo

áp lực đối với tài nguyên của VQG

+ Hạ tầng cơ sở thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, điện lưới quốc gia chỉ kéo tới trung tâm một số xã, hệ thống liên lạc chưa phát triển, phương tiện nghe nhìn chưa

có điều kiện sử dụng … là những khoa khăn cơ bản

Hình 3.2: Tình trạng khai thác gỗ trái phép tại VQG Konkakinh

Trang 37

Hình 3.3: Cây Pơ Mu tại VQG Konkakinh – Gia Lai

Hình 3.4: Cây Pơ Mu tái sinh tại VQG Konkakinh – Gia Lai

Trang 38

Chương 4

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Nội dung nghiên cứu

− Nghiên cứu sinh trưởng và tăng trưởng vòng năm của cây Pơ mu (Fokienia

hodginsii)

− Nghiên cứu biến động về chỉ số độ rộng vòng năm của loài Pơ Mu

− Nghiên cứu mối quan hệ giữa chỉ số độ rộng vòng năm với diễn biến về khí hậu trong quá khứ

4.2 Phương pháp nghiên cứu

+ Chọn cây đạt tiêu chuẩn lấy mẫu, cây lây mẫu phải có phẩm chất tốt, không

bị bệnh, không bị cháy, khuyết tật, … để loại bỏ những yếu tố khác như sâu bệnh, cháy rừng tác động đến sinh trưởng và phát triển của cây

+ Dùng khoan tăng trưởng để lấy mẫu, lấy 3 – 4 mẫu/cây theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và lấy tại vị trí thân cây cách mặt đất 1,3m

+ Ghi số thứ tự theo từng cây trên mỗi mẫu

+ Dùng ống đựng mẫu để cất giữ mẫu

Trang 39

Hình 4.1: Khoan tăng trưởng và lõi mẫu cây Pơ Mu được lấy bằng khoan tăng trưởng

(Nguồn: Tree – Ring Laboratory)

− Thu thập dữ liệu liệu khí tượng

- Sau khi keo khô và mẫu đã được gắn chặt vào thõi gỗ, dùng máy bào, bào bề mặt trên của mẫu

- Chà mẫu bằng giấy nhám, với 3 loại giấy nhám có độ mịn khác nhau làm cho các vòng năm được nhìn thấy rõ ràng

Trang 40

+ Xác định tuổi chéo (Cross – dating)

Dùng kính lúp để xem và đánh dấu vòng năm, cứ một khoảng 10 năm thì đánh dấu bằng một dấu chấm, một khoảng 50 năm thì đánh dấu bằng hai dấu chấm, một khoảng một trăm năm thì đánh dấu bằng ba dấu chấm

So sánh độ rộng, hẹp của các năm giữa các mẫu trong cùng một cây Từ đó xác định đúng các vòng năm giả (false ring), vòng năm mất (missing ring) để xác định tuổi cây cho chính xác

+ Đo độ rộng vòng năm

Đo vòng năm với độ chính xác 0,01mm, bằng thước trắc vi có bệ trượt và có đường dẫn qua máy tính để đưa số liệu đo được trực tiếp vào máy tính Độ rộng vòng năm sẽ được quan sát và đo dưới độ phóng đại của kính hiển vi, bên trong thị kính có một thước đo hình chữ thập

Đặt mẫu lên bệ trượt và di chuyển sao cho mẫu song song với tia nằm ngang của thước chữ thập Độ rộng vòng năm sẽ được kiểm tra lại bằng phần mềm COFECHA (Holmes, 1983), nhằm kiểm tra lại độ chính xác của quá trình định tuổi chéo

Hình 4.2: Mẫu gỗ sau khi chà nhám, kính hiển vi và dụng cụ đo mẫu

4.2.2.2 Xử lý số liệu

+ Xử lý số liệu vòng năm bằng chương trình COFECHA

- Sử dụng phần mềm COFECHA xử lý số liệu độ rộng vòng năm để tổng hợp chỉ số độ rộng vòng năm hàng năm chung cho tất cả số mẫu nghiên cứu

- Phân tích cụ thể kết quả sau khi xử lý bằng chương trình COFECHA

+ Đánh giá sinh trưởng đường kính của loài Pơ Mu tại khu vực nghiên cứu

Ngày đăng: 13/09/2018, 08:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w