Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn đó, được sự đồng ý và phân công của Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIB TẠI TIỂU KHU 175, BAN
QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ THỌ SƠN, HUYỆN BÙ ĐĂNG,
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Họ và tên sinh viên: HUỲNH VĂN HOÀNG Ngành: Lâm nghiệp
Niên khóa: 2005 - 2009
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIB TẠI TIỂU KHU 175, BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ THỌ SƠN, HUYỆN BÙ ĐĂNG,
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Tác giả
HUỲNH VĂN HOÀNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Cấp bằng Kỹ sư ngành LÂM NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
ThS Nguyễn Minh Cảnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn tất khoá luận tốt nghiệp cuối khoá này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ mọi người, tập thể lớp Quản Lí Rừng 31 và sự quan tâm của quý thầy cô trong khoa Lâm Nghiệp, ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TPHCM
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến:
- Thầy Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này
- Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thực hiện và hoàn thành khóa luận
- Quý thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và Khoa Lâm nghiệp đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường
- Các anh trong Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và các tài liệu liên quan
- Ban lãnh đạo cùng toàn thể Cán bộ, nhân viên Ban quản lý rừng phòng hộ
xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu để hoàn thành khóa luận này
- Tập thể lớp DH05QR đã dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin dành tình cảm lớn nhất tới gia đình tôi đã luôn động viên trong suốt thời gian tôi thực hiện khoá luận này
Kính chúc quý Thầy Cô giáo luôn dồi dào sức khoẻ !
Xin chân thành cảm ơn !
Tp.HCM, tháng 07 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Văn Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
Trang tựa
Lời cảm ơn - i
Tóm tắt - ii
Mục lục - iv
Danh sách các chữ viết tắt -vii
Danh sách các bảng -viii
Danh sách các hình - ix
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU - 1
1.1 Đặt vấn đề - 1
1.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu -2
1.4 Đóng góp của khoá luận - 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU - 4
2.1 Trên thế giới -5
2.1.1 Những nghiên về cấu trúc rừng trên thế giới - 5
2.1.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới - 9
2.2 Tại Việt Nam - 11
2.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam - 11
2.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam - 13
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -16
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu -16
3.1.1 Vị trí địa lí -16
3.1.2 Đặc điểm địa hình -16
3.1.3 Đặc điểm về đất đai -17
3.1.4 Khí hậu - thuỷ văn -17
3.1.4.1 Khí hậu -17
3.1.4.2 Thuỷ văn -18
Trang 53.1.5 Tình hình dân sinh - kinh tế -18
3.2 Nội dung nghiên cứu -18
3.3 Phương pháp nghiên cứu -19
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu -19
3.3.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu cơ bản -19
3.3.1.2 Phương pháp điều tra -19
3.3.2 Phương pháp phân tích và tính toán số liệu -21
3.3.2.1 Cấu trúc tổ thành loài cây -21
3.3.2.2 Tính toán mật độ cây gỗ lớn trong rừng -22
3.3.2.3 Tính toán độ hỗn giao -22
3.3.2.4 Tính toán tiết diện ngang và thể tích thân cây -22
3.3.2.5 Tính toán độ tàn che của rừng -23
3.3.2.6 Phương pháp đánh giá tái sinh rừng -23
3.3.2.7 Phương pháp tính toán các đặc trưng mẩu và mô hình hoá -23
3.3.2.8 Phương pháp kiểm tra giả thuyết về luật phân bố -24
3.3.2.9 Phương pháp đánh giá tương quan hồi quy -25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN -28
4.1 Cấu trúc tổ thành loài -28
4.2 Phân bố số cây theo chiều cao ( N/H ) -31
4.3 Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) -35
4.4 Độ hỗn giao của rừng -39
4.5 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) -39
4.6 Tương quan giữa chiều cao và đường kính (H/D1,3) -41
4.7 Tình hình tái sinh dưới tán rừng -44
4.7.1 Tổ thành loài cây tái sinh - 45
4.7.2 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao và chất lượng - 46
4.8 Độ tàn che của rừng -48
4.9 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh -48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ -50
5.1 Kết luận -50
Trang 65.2 Tồn tại -51 5.3 Kiến nghị -51
* Tài liệu tham khảo -53
* Phụ biểu
* Phiếu nhận xét của giáo viên hướng dẫn
* Phiếu nhận xét của giáo viên phản biện
Trang 7D1,3_lt Đường kính 1,3 m tính theo lý thuyết
EX Hệ số biểu thị cho độ nhọn của phân bố
H Chiều cao của cây, m
Hvn Chiều cao vút ngọn, m
H_tn Chiều cao thực nghiệm, m
H_lt Chiều cao lý thuyết, m
Log Logarit thập phân (cơ số 10)
Ln Logarit tự nhiên (cơ số e)
P_value Mức ý nghĩa (xác suất)
Pa, Pb, Pc, Pd Mức ý nghĩa (xác suất) của các tham số a, b, c và d 4.1 Số hiệu của bảng hay hình theo chương
(4.1) Số hiệu của hàm thử nghiệm
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tổ thành loài thực vật trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu - 29
Bảng 4.2 Bảng phân bố N/H trạng thái IIB và các đặc trưng mẫu - 32
Bảng 4.3 Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm (N/H) - 32
Bảng 4.4 Bảng phân bố N/D1,3 trạng thái IIB và các đặc trưng mẫu - 36
Bảng 4.5 Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm (N/H) - 37
Bảng 4.6 Bảng phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) - 40
Bảng 4.7 Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm (H/D1,3) - 42
Bảng 4.8 Tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng tại khu vực nghiên cứu - 45
Bảng 4.9 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và chất lượng khu vực nghiên cứu 46
Trang 9Nhờ chính sách của Đảng và Nhà nước, huyện Bù Đăng đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế Tuy nhiên, để phát triển kinh tế một cách bền vững và vẫn giữ được bản sắc văn hóa các dân tộc nơi đây lại là một vấn đề không dễ dàng Hiện nay, Bù Đăng đang đối mặt với nạn di dân tự do ồ ạt từ nơi khác đến Những người di dân tự do này chủ yếu từ các tỉnh lân cận như Đắc Nông, Đắc Lắc và các tỉnh phía Bắc vào phá rừng để trồng cây công nghiệp như: Hồ tiêu, Cao su, Điều …
40 năm trước, theo lời kể của các già làng, ban đêm người bản không dám ra khỏi nhà vì sợ thú dữ ăn thịt Thế nhưng bây giờ lên Bù Đăng đâu đâu cũng thấy toàn là Cao su, Điều Những cánh rừng mất đi kéo theo sự mai một truyền thống văn hóa của người S’Tiêng, M’Nông …
Vì vậy, bảo vệ rừng chính là bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc nơi đây cũng chính là đảm bảo sự ổn định về kinh tế và quốc phòng, đảm bảo cân bằng môi
Trang 10trường sinh thái Những khu rừng sẽ nâng cao giá trị của các điểm du lịch nơi đây như: Trảng cỏ Bù Lạch, Thác Voi… hay là sẽ đảm bảo nguồn nước cho tuabin hoạt động của thủy điện Thác Mơ
Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý và bảo vệ rừng ở huyện Bù Đăng nói chung và Ban quản lý rừng phòng hộ Thọ Sơn nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn Đội ngũ cán bộ bảo vệ rừng ở đây vừa thiếu người, vừa thiếu những kiến thức
cơ bản trong việc đánh giá cấu trúc và sinh trưởng rừng Trong khi đó, để công tác
tổ chức, quản lý rừng một cách hiệu quả cần thiết phải hiểu biết một cách sâu sắc các đặc trưng cấu trúc rừng để làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm điều khiển rừng đạt đến trạng thái mục đích, vừa đảm bảo khả năng sản xuất gỗ, vừa đáp ứng được yêu cầu phòng hộ và bảo vệ sinh thái môi trường
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn đó, được sự đồng ý và phân công của Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Cảnh, đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIB tại tiểu khu 175, Ban quản lý rừng phòng hộ Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước ” được thực hiện, với nguyện vọng muốn được đóng góp những ý kiến nhỏ
bé mà bản thân đã được học từ những kiến thức lý thuyết đến kỹ năng thực hành ngoài hiện trường trong việc kiến nghị và đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
áp dụng cho đối tượng là rừng tự nhiên trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu
1.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện ở một số diện tích điển hình trạng
thái IIB tại tiểu khu 175 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
Đối tượng nghiên cứu: Rừng non phục hồi trạng thái IIB
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề này, đề tài đặt ra các mục tiêu sau:
Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản nhất về cấu trúc rừng trạng thái IIB tại Ban quản lý rừng phòng hộ Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
Trên cơ sở các quy luật cấu trúc rừng đã phát hiện, đề xuất các biện pháp kỹ
Trang 11thuật lâm sinh phù hợp nhằm bảo vệ và phát triển rừng, phát huy tốt chức năng phòng hộ và các chức năng khác của rừng
1.4 Đóng góp của khóa luận
Việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trên địa bàn Ban quản lý xã Thọ Sơn bước đầu đã đánh giá được tiềm năng về trữ lượng rừng Trong đó những chỉ tiêu về
tổ thành loài, phân bố số cây theo cấp đường kính, phân bố số cây theo cấp chiều cao, lớp cây tái sinh và cây triển vọng là những chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng để từ
đó làm cơ sở để đề xuất những biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của rừng
Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về cấu trúc rừng, tuy nhiên với đặc điểm về khí hậu và điều kiện tự nhiên, thành phần loài cây, lịch sử tác động … của mỗi vùng khác nhau ít nhiều sẽ có phần khác nhau Vì vậy, các kết quả có được từ đề tài này cũng góp phần làm phong phú và đa dạng hơn về các đặc điểm cấu trúc của rừng tự nhiên tại Việt Nam nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc điều tra, khảo sát, tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan để thực hiện đề tài, nhưng do những hạn chế nhất định, nhất
là sự phức tạp và phong phú về mặt lâm học của rừng nhiệt đới, nên đây chỉ là những kết quả bước đầu nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu các đặc điểm cấu trúc rừng ở vùng Đông Nam Bộ nói chung và Ban quản lý rừng Thọ Sơn nói riêng
Trang 12Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần
xã thực vật rừng theo không gian và thời gian Tùy từng hoàn cảnh nghiên cứu người ta chia cấu trúc rừng theo tổ thành, tầng thứ, tuổi, mật độ:
Cấu trúc tổ thành: Tổ thành là nhân tố diễn tả số loài tham gia và số cá thể
của từng loài trong thành phần cây gỗ của rừng Hiểu một cách khác, cấu trúc tổ thành cho biết sự tổ hợp và mức độ tham gia của các loài cây khác nhau trên cùng đơn vị diện tích
Cấu trúc tầng thứ: Sự phân bố theo không gian của tầng cây gỗ theo chiều
thẳng đứng, phụ thuộc vào đặc tính sinh thái học, nhu cầu ánh sáng của các loài tham gia tổ thành Cấu trúc tầng thứ của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thước nhiều tầng thứ hơn các hệ sinh thái rừng ôn đới
Cấu trúc tuổi: Cấu trúc về mặt thời gian, trạng thái tuổi các loài cây tham gia
hệ sinh thái rừng, sự phân bố này có liên quan chặt chẽ đến cấu trúc về không gian
Cấu trúc mật độ: Cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích
Phản ánh mức độ tác động giữa các cá thể trong lâm phần Mật độ ảnh hưởng đến tiểu hoàn cảnh, khả năng sản xuất của rừng Theo thời gian, cấp tuổi của rừng thì mật độ của rừng luôn thay đổi Đây chính là cơ sở để áp dụng các biện pháp lâm sinh trong kinh doanh rừng (dẫn theo www.Wikipedia.com.vn)
Theo các số liệu thống kê cho thấy, các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới thì đồng thời nền lâm nghiệp của họ cũng rất phát triển Bằng chứng là các nước như: Đức, Nhật, Mỹ …có độ che phủ rừng rất lớn Điều đó có được là do họ
đã chú trọng quan tâm nghiên cứu đặc điểm sinh thái, cấu trúc rừng từ đó đưa ra các biện pháp lâm sinh làm giàu vốn rừng Trong đó, Đức là một trong những cái nôi lớn của nền lâm nghiệp thế giới và lâm nghiệp của họ đã mang lại lợi ích rất lớn về
Trang 13Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã bắt đầu diễn ra ở châu Âu vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Thời gian này, đã có nhiều tác giả công bố những kết quả nghiên cứu về quy luật phân bố số cây ổn định theo tần suất hoặc tần số ở các cỡ tự nhiên về đường kính, chiều cao, thể tích … Sau này, định hướng nghiên cứu cấu trúc rừng đã được các nhà khoa học lâm nghiệp khái quát dưới dạng các mô hình toán học, từ đơn giản đến phức tạp để định lượng các quy luật tự nhiên, nhờ đó giải quyết được nhiều vấn đề trong kinh doanh rừng cũng như xây dựng các biện pháp kinh doanh, nuôi dưỡng cho từng kiểu rừng cụ thể
Cho đến nay, các thành tựu trong nghiên cứu về cấu trúc rừng của nhân loại
là rất đồ sộ Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp Đại học, tác giả chỉ khái quát một số công trình tiêu biểu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong khóa luận, làm cơ sở định hướng cho việc lựa chọn nội dung và phương pháp nghiên cứu phù hợp
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới
Thuật ngữ “cấu trúc” đã được các nhà lâm nghiệp trên thế giới nghiên cứu sử dụng và đã được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu nhất định nào đó Theo Assmann, “Một lâm phần hay một rừng cây là tổng thể các cây cùng sinh trưởng và phát triển trên một diện tích tạo thành một điều kiện hoàn cảnh nhất định và có cấu trúc bên ngoài cũng như bên trong, khác biệt với diện tích rừng khác …” Như vậy, một rừng cây hay một lâm phần trên một diện tích đất sẽ được hình thành khi nó có đủ số lượng cá thể, tạo nên một tầng tán cũng như một mật độ tàn che và những điều kiện hoàn cảnh rừng rất ổn định nào đó Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Trong đó, hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều đứng Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và Richards (1933 - 1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của
Trang 14rừng Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian
ba chiều Phương pháp biểu đồ trắc diện do David và Richards đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Cũng cùng quan điểm này, Richards (1968) cho rằng: “Một quần xã thực vật gồm những loài cây có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau nhưng tạo ra một hoàn cảnh sinh thái nhất định và được sắp xếp một cách tự nhiên và hợp lý trong không gian” Theo Richards, cách sắp xếp được xem xét theo hướng thẳng đứng và hướng nằm ngang có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt với các quần xã thực vật khác và có thể mô tả bằng các biểu đồ Các biểu đồ mặt cắt có giá trị không những mô tả được cấu trúc tầng tán mà còn là những chỉ dẫn cho các nhà lâm sinh lựa chọn các biện pháp kỹ thuật thích hợp tác động vào rừng, nhằm giúp cho rừng
có một cấu trúc bền vững và ổn định hơn (dẫn theo Trần Mạnh Cường, 2007)
Theo Prodan (1951) đã nghiên cứu quy luật phân bố, chủ yếu là phân bố đường kính có liên hệ với giai đoạn phát dục của lâm phần và biện pháp kinh doanh Theo Prodan, sự phân bố số cây theo cỡ đường kính có giá trị tiêu biểu nhất cho lâm phần, phản ánh được cấu trúc lâm sinh của lâm phần Những quy luật mà ông xác định được ở rừng tự nhiên được chấp nhận và kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới Đó là phân bố đường kính của rừng tự nhiên có quy luật một đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất nhiều ở các cấp đường kính nhỏ do bởi có nhiều loài cây, nhiều thế hệ cùng tồn tại Song ở các cỡ đường kính lớn, chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh học hay bởi vị trí thuận lợi trong rừng chúng mới có khả năng tồn tại và phát triển Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có dạng nhiều đỉnh, rừng có nhiều thế hệ hay do bởi các biện pháp chặt chọn không quy tắc nên phân bố chiều cao của rừng thường có nhiều đỉnh và giới hạn của đường cong phân bố nhiều đỉnh là phân bố giảm đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi (dẫn theo Nguyễn Minh Vũ, 2007)
Trang 15Theo Meyer (1952), Turnbull (1963), Rollet (1969) thì “cấu trúc” dùng để xác định các quy luật phân bố cây thân gỗ theo đường kính hay phân bố diện ngang thân cây theo cấp đường kính … (dẫn theo Hoàng Sĩ Động, 2002)
Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot (1965); Plaudy J đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến (dẫn theo Mai Trí Mân, 2007)
Theo Wenk (1995) khi nghiên cứu xác định cấu trúc của một loại hình rừng nhằm mục đích không những đánh giá được hiện trạng và động thái sinh trưởng của rừng qua các quy luật phân bố số cây theo chiều cao H, theo đường kính D1,3, theo đường kính tán (DT), theo tổng diện ngang (G)… mà còn có thể xác định được chính xác kích thước bình quân của lâm phần phục vụ cho công tác điều tra quy hoạch rừng (dẫn theo Giang Văn Thắng, 2002)
Cũng theo Wenk, ở loại rừng trồng thuần loài đều tuổi, phân bố số cây theo
D1,3, H, khi mới trồng thường có quy luật chính thái, sau đó lệch trái khi bước vào giai đoạn khép tán và dần chuyển sang lệch phải khi rừng lớn tuổi
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng suất thảm thực vật Ngay từ nửa đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grisebach đã sử dụng dạng sinh trưởng (toàn
bộ hình thái hoặc cấu trúc và trạng thái của thực vật) của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật Phương pháp hình thái của Humboldt và Grisebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1904; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển Raunkiaer đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong một quần xã có các dạng sống khác nhau) Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của Humboldt và Grisebach Trong các phương pháp phân loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Trang 16Nhìn chung, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và nó được chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô hình hóa cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất
Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Loeth và cộng sự (1967), Brung (1970), Rollet (1971) Rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các quy luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2002)
Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính ngang ngực (N/D1,3) là một trong các chỉ tiêu quan trọng nhất của cấu trúc rừng đã được nghiên cứu khá đầy đủ
từ đầu thế kỷ 20 bằng phương pháp biểu đồ hoặc phương pháp giải tích Quy luật phân bố N/D1,3 được mô phỏng bằng nhiều cách khác nhau như phân bố thực nghiệm N/D1,3, phân bố số cây theo cỡ tự nhiên Các tác giả đã dùng phương pháp giải tích để mô tả quy luật này Kết quả là họ đã xác lập được các phương trình toán học dưới nhiều dạng phân bố xác suất khác nhau
Một số tác giả đưa ra các hàm: hàm Meyer, hàm Hyperbol, hàm Poisson, hàm Charlier, hàm Logarit chuẩn, họ Pearson, hàm Weibull Một số tác giả khác: Suzuki (1971), Bock.W và Diener.W (1972), Preussner K (1974) lại nghiên cứu theo xu hướng khác với quan điểm đường kính cây rừng là một đại lượng ngẫu nhiên và phụ thuộc vào thời gian và coi quá trình biến đổi của phân bố đường kính theo tuổi là một quá trình ngẫu nhiên Quá trình đó biểu thị một tập hợp các đại lượng ngẫu nhiên (Xt) với thời gian t lấy trong một khoảng thời gian nào đó Nếu trị số của đường kính tại thời điểm t chỉ phụ thuộc vào trị số ở thời điểm t -1 thì đó
là quá trình Markov Nếu Xt = X có nghĩa là quá trình ở thời điểm t có dạng X Nếu tập hợp các trạng thái có thể xảy ra của quá trình Markov có thể đếm được thì
đó là chuỗi Markov, tức là mỗi trị số của t sẽ ứng với 1 số tự nhiên (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Dùng hàm này hoặc hàm khác để xây dựng dãy phân bố thực nghiệm N/D1,3
phụ thuộc vào kinh nghiệm từng tác giả và bản chất quy luật điều tra đo đạc Một
Trang 17dãy phân bố thực nghiệm có thể chỉ phù hợp cho một dạng hàm số, cũng có thể phù hợp cho nhiều hàm số ở các mức xác suất khác nhau
Tóm lại, nghiên cứu định lượng cấu trúc N/D1,3, các tác giả có xu hướng dựa vào dãy tần số lý thuyết để mô tả phân bố N/D1,3 và ứng dụng của dãy tần số đó Đồng thời, bằng phương pháp giải tích, các tác giả đã lựa chọn được nhiều hàm toán học để mô phỏng phù hợp quy luật cấu trúc Những kết quả nghiên cứu định lượng trên là những cơ sở quan trọng cho việc vận dụng vào đối tượng nghiên cứu trong khóa luận này
Một số tác giả khác như Rollet B (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân bố đường kính bằng các dạng phân
bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính theo mô hình của Schumacher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó, các dạng hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, Poisson, cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Nghiên cứu tương quan H/D1,3 là một trong những quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần Từ kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ kính cho trước luôn tăng theo tuổi, đó là kết quả quá trình tự nhiên của sự sinh trưởng
Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu cấu trúc rừng trên thế giới đã góp phần rất lớn cho công tác lâm nghiệp Đó là thông tin cơ bản để so sánh và phân các quần xã thực vật với nhau Những nghiên cứu này cho phép nhận được nhiều chỉ dẫn tốt về sinh thái cảnh và sinh vật cảnh của quần xã thực vật
2.1.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Trang 18Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng
Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nigieria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1964) tổng kết trong tác phẩm: “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa”
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 m x 1 m, 1 m x 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson
Nghiên cứu quá trình tái sinh rừng là một vấn đề đặc biệt được quan tâm trong quá trình nghiên cứu về đặc điểm lâm học của rừng Để giải quyết vấn đề này, nhiều tác giả đều thống nhất là phải làm rõ các vấn đề, những đặc điểm về sự hình thành cơ quan sinh sản, thời kỳ ra hoa, kết quả, và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này; kiểu cách phân tán hạt giống; sự hình thành và động thái biến đổi của cây mầm và cây con dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường thay đổi; cấu trúc độ tuổi; mật độ và sức sống của cá thể,
Theo Richards, quá trình tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới rất phức tạp, tuy nhiên sự hiểu biết của con người còn ít mặc dù nó có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Theo tác giả, các cây tái sinh tự nhiên có một thời gian ức chế kéo dài ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng, nếu đạt được chiều cao khoảng 2 m thì chúng có khả năng tồn tại
và tham gia vào quần thể rừng
Khi nghiên cứu sự tái sinh của rừng tự nhiên nhiệt đới, G.Van Steenis (1956) cũng đã nhận định: tái sinh của rừng mưa nhiệt đới là liên tục gần như quanh năm Còn theo các nhà nghiên cứu khác như I.T.Haig và M.A.Huber (1956) thì sự tái
Trang 19sinh tự nhiên được xem là căn bản nhất trong quá trình cải thiện tình hình rừng Baur (1962) đã nêu rõ các đặc điểm của các giai đoạn tái sinh ở rừng nhiệt đới và cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa các loài cây tiên phong ưa sáng, bán chịu bóng và chịu bóng từứ khi ra hoa, kết quả, phát tán hạt giống, nẩy mầm và phát triển (dẫn theo Nguyễn Minh Vũ, 2007)
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu ô vuông với diện tích ô quy định từ 1 – 2 m2, phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên theo dãi hẹp với kích thước 10 – 100 m2 cũng được sử dụng, song phổ biến vẫn là phương pháp lập ô dạng bản có kích thước 4 m2 được bố trí theo hệ thống ô tiêu chuẩn
Ngoài ra, khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng, A.Lauprech (1989) nhấn mạnh phải đi sâu vào phân tích sự phong phú về thành phần loài, quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng theo cấp kính, theo cấp chiều cao, cũng như theo cấp tuổi của rừng, của quần thụ rừng (dẫn theo Nguyễn Minh Vũ, 2007)
Ngoài ra, còn một vấn đề quan trọng nữa trong nghiên cứu lâm sinh học là xác định kích thước và số lượng ô tiêu chuẩn:
Đối với cây tái sinh diện tích của ô đo đếm (ô dạng bản) thay đổi từ 1 m2 –
25 m2 được dùng để thống kê cây có chiều cao thấp hơn 1 m, mật độ N > 1000 cây/ha Ngược lại các ô dạng bản từ 25 m2 – 100 m2 được dùng để điều tra cây tái sinh có chiều cao h > 1 m và mật độ N < 1000 cây/ha
2.2 Tại Việt Nam
2.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam chỉ được thực hiện vào sau năm 1945 khi mà nước ta dành được độc lập Còn trước đó những công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng ở nước ta hầu như chỉ có người Pháp thực hiện về Đông Dương, trong đó đáng kể nhất là nghiên cứu của Paul Maurand (1943) tác
giả cuốn Lâm nghiệp Đông Dương; Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil (1952) tác giả cuốn Những quần thể thực vật Nam Đông Dương (dẫn theo Thái Văn Trừng)
Sau năm 1945 rừng nước ta được nhiều nhà nghiên cứu lâm nghiệp trong
và ngoài nước rất quan tâm, nhưng các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu định
Trang 20lượng đối với cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới thì vẫn còn ít
Năm 1965, Trần Ngũ Phương và những người cộng tác đã thu thập được khá nhiều tài liệu trên những vùng địa lý khác nhau ở miền Bắc Việt Nam và cho công bố
tập Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam Phần nghiên cứu về vùng Đông
Bắc trong bản báo cáo đã được trình bày tại Hội nghị khoa học Bắc Kinh năm 1964
Năm 1974, Đồng Sĩ Hiền khi lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng gỗ hỗn loài ở miền Bắc nước ta, đã nghiên cứu phân bố đường kính, phân bố chiều cao và phân bố các hình dang của thân cây Qua kết quả nghiên cứu tác giả rút ra kết luận là quy luật cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài nước ta có dạng phân bố giảm theo đường kính và dạng phân bố nhiều đỉnh theo chiều cao và sự phân bố của các chỉ tiêu hình dạng f0,1 và f1,3 của các loài cây trong rừng tự nhiên hỗn loài dạng phân bố tiệm cận với phân bố chuẩn, các quy luật này khác hẳn so với rừng thuần loài đều tuổi
Với tác giả Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B)
và tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến bổ sung phương pháp biểu đồ, mặt cắt đứng của David và Richards để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong
đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và có ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, ông còn dựa vào 4 tiêu chuẩn
để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam Đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu Rõ ràng các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Theo tác giả, khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng phải tập trung xác định thành phần loài cây, tìm hiểu về cấu trúc của từng loại rừng, cấu trúc đường kính qua phân bố số cây và tổng diện ngang trên mặt đất, cấu trúc nhóm loài cây,
Trang 21tình hình tái sinh và diễn thế của rừng, từ đó mới có những kết luận logic cho những biện pháp xử lý rừng có khoa học và hiệu quả, vừa cung cấp được lâm sản, vừa nuôi dưỡng và tái sinh rừng
Thời gian gần đây, khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo đường kính và theo chiều cao đã được các tác giả chú
ý nhiều hơn Đây là các quy luật được xem là cơ bản nhất trong các quy luật kết cấu lâm phần Biết được quy luật phân bố có thể xác định được số cây tương ứng từng
cỡ chiều cao, làm cơ sở để xác định trữ lượng lâm phần
Trần Văn Con (2002), đã sử dụng mô hình Weibull để mô phỏng cấu trúc tổ thành số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) của rừng Khộp và đã cho rằng khi rừng còn non thì phân bố có dạng giảm, và chỉ khi rừng càng lớn thì có xu hướng chuyển sang phân bố một đỉnh và lệch dần từ trái sang phải Đó là sự biến thiên lập địa có lợi cho hay không có lợi cho quá trình tái sinh
Công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng ở nước ta đáng chú ý nhất là công
trình của Pau Maurand về rừng miền Đông Nam Bộ và Nguyễn Văn Trương về Quy
luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài được xuất bản năm 1983 Tác giả đã nghiên cứu đặc
điểm lâm học của rừng, tập trung làm rõ những vấn đề về thành phần loài cây, tìm hiểu cấu trúc của từng loài như: cấu trúc đứng, cấu trúc đường kính của rừng, phân
bố số cây và tổng diện ngang thân cây trên mặt đất rừng, tái sinh và diễn thế các thế
hệ của rừng… từ đó đưa ra những kết luận hợp lý và đề xuất các biện pháp lâm sinh
có hiệu quả, vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng tái sinh được rừng, là cơ sở khoa học góp phần giải quyết chiến lược nghề rừng ở nước ta
2.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam
Tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng,
mà biểu hiện là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ Hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi có nghĩa là lợi dụng tái sinh tự nhiên kết hợp với tác động hợp lý của con người tạo ra một thế hệ mới có thành phần loài cây đáp ứng mục đích kinh doanh và phù hợp với điều kiện tự nhiên, tạo
ra hệ sinh thái rừng ổn định, bền vững hơn hệ sinh thái ban đầu đã bị tác động Tái
Trang 22sinh rừng mưa nhiệt đới có đặc điểm là phân tán liên tục, ngoài ra còn có tái sinh theo vệt Rừng nhiệt đới Việt Nam thích hợp với cả hai kiểu tái sinh trên, ngoài ra còn có hiện tượng nảy mầm đồng thời tạo ra một thế hệ rừng tiên phong thuần loài, như rừng Sau Sau (Hữu lũng - Lạng Sơn), rừng Bồ Đề (Vĩnh Phú), Rừng tự nhiên nước ta thường bị tác động không theo quy tắc, nên quy luật tái sinh cũng bị xáo trộn Do đó, việc nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới là rất phức tạp và khó khăn
Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các “loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962 - 1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Nhìn chung, nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) đã tổng kết và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương
tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Với những kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng, miền Bắc nước ta (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Thái Văn Trừng (1978) khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam đã kết luận, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng
Tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới là một vấn đề rất đa dạng và phong phú Quá trình này bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, như vị trí địa lý, biện pháp tác động đến tầng cây cao, nguồn gốc hình thành rừng, Chính vì thế, cho dù quá trình tái sinh
có những quy luật nhất định, vốn có, tồn tại khách quan, nhưng do các tác động trên làm cho chúng trở nên rất phức tạp Tái sinh là vấn đề quan trọng, quyết định đến
Trang 23quá trình kinh doanh rừng bền vững, vì thế nghiên cứu quá trình tái sinh là một việc làm không thể thiếu trong các nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng và tái sinh rừng của các tác giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian cũng như hạn chế của trình độ bản thân, nên những công trình và những đề tài nghiên cứu trên là cơ sở bước đầu và tài liệu tham khảo rất hữu ích để giúp tôi học tập, tiếp tục
nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trang 24- Vĩ độ: 11042’01” đến 11053’23”
- Kinh độ: 107017’23” đến 107025’53”
Ranh giới hành chính:
- Phía Đông giáp với huyện Đăklấp, tỉnh Đắc Nông
- Phía Nam giáp xã Đồng Nai
- Phía Tây giáp xã Đoàn Kết và xã BomBo
- Phía Bắc giáp xã ĐăkNhau
Trung tâm xã cách thị trấn Đức Phong khoảng 20 km
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Toàn bộ địa hình của khu vực này đều thoải dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh bởi các con suối đổ về thủy điện Thác Mơ và sông Đồng Nai thuộc dạng địa hình đồi núi thấp
Độ cao tuyệt đối: Cao nhất 535 m, thấp nhất là 125 m so với mực nước biển
Độ dốc thấp nhất là 3 - 80, cao nhất là 250
Trung bình từ 10 - 150
Trang 25Trong địa phận rừng thuộc Ban quản lý có nhiều thắng cảnh thiên nhiên như: trảng cỏ Bù Lạch rộng hơn 500 ha, cạnh bên đó là bàu nước rộng cả chục ha, hay là Thác Voi … đây là những thắng cảnh đẹp đang được tỉnh đầu tư để làm du lịch
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau
♦ Số giờ nắng: tổng số giờ nắng trong năm là 2340 giờ, số giờ nắng bình quân trong ngày là 6,5 giờ (thời gian nắng nhiều nhất tập trung vào các tháng 2, 3,
4, thời gian nắng ít nhất tập trung vào các tháng 7, 8, 9)
♦ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hằng năm là 2044 mm
- Nhiệt độ trung bình hằng năm: 26,20C
♦ Chế độ gió:
- Trong năm có hai loại gió chính là gió Tây Nam và gió mùa Đông Bắc
Trang 26- Mùa mưa hình thành gió Tây Nam
- Mùa khô hình thành gió mùa Đông Bắc
3.1.5 Tình hình dân sinh kinh tế
Trên địa bàn của xã Thọ Sơn hiện có nhiều dân tộc đang sinh sống Thành phần dân tộc gồm có: S’Tiêng, M’Nông, H’Mông, Châu Mạ, Tày… nhưng người Kinh ở đây vẫn chiếm đa số Trước đây, tập quán sản xuất của người dân chủ yếu dựa vào nghề rừng, phá nương làm rẫy, du canh du cư Hiện nay, nhờ có chính sách của nhà nước, người dân đã định cư sản xuất nông nghiệp trên mảnh đất của mình không con du canh du cư như trước đây nữa Trên địa bàn xã người dân đã canh tác các loài cây công nghiệp dài ngày như: Điều, Cao su… thay thế các loài cây ngắn ngày vẫn thường thấy Nhờ vậy, cuộc sống của người dân khấm khá rất nhiều, tỉ lệ đói nghèo trên địa bàn của xã giảm xuống rõ rệt
Cơ sở hạ tầng: Trên địa bàn xã có tuyến đường quốc lộ 14 chạy qua tạo điều
kiện cho kinh tế ở đây phát triển Bên cạnh đó, nhờ có chính sách 135 của nhà nước những con đường nhựa đã vào đến tận những bản làng Trong xã có một trạm xá phục vụ khám chữa bệnh cho người dân
Dù đã có rất nhiều bước phát triển trong kinh tế nhưng xã Thọ Sơn vẫn nằm trong những vùng có thu nhập đầu người thấp so với cả nước Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn làm cho chất lượng cuộc sống ở đây chưa được đảm bảo, cả xã chỉ có một trạm xá nên người dân không tiếp cận với điều kiện y tế tốt nhất
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đã được xác định, các nội dung được tiến
hành nghiên cứu trong khóa luận bao gồm:
Trang 27+ Cấu trúc tổ thành loài thực vật
+ Độ hỗn giao của rừng
+ Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H)
+ Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3)
+ Tương quan giữa chiều cao và đường kính (H/D1,3)
+ Tình hình tái sinh dưới tán rừng
+ Xác định độ tàn che của rừng (trắc đồ David và Richards)
+ Sơ bộ đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu cơ bản
- Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài, kế thừa những tài liệu có sẵn (điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu …), kế thừa thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước làm cơ sở lựa chọn hướng nghiên cứu đơn giản, phù hợp với đối tượng nghiên cứu
- Trên cơ sở tài liệu thu thập được về diện tích đất đai và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, tiến hành điều tra, khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu
3.3.1.2 Phương pháp điều tra
* Lập ô tiêu chuẩn:
Áp dụng các quy trình điều tra trong các công tác ngoại nghiệp để điều tra trên các ô mẫu điển hình Đề tài tiến hành lập 3 ô tiêu chuẩn tạm thời theo phương pháp điều tra lâm học, diện tích mỗi ô là 2000 m2 (40 m x 50 m), đại diện cho tình hình sinh trưởng ở trạng thái rừng IIB Số lượng ô mẫu cho trạng thái này là 3 ô
* Điều tra tầng cây cao (cây gỗ lớn):
- Trong ô tiêu chuẩn (2000 m2) mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ dốc, hướng phơi,
độ cao, lịch sử tác động, sau đó xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao, loài nào chưa rõ ghi ký hiệu sp1, sp2
- Đường kính ngang ngực (D1,3, cm) được đo bằng thước mét dây và ghi số hiệu cây ở vị trí 1,3 m Đo toàn bộ cây đứng có đường kính D1,3 ≥ 6 cm
Trang 28- Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m) được đo bằng bằng gậy đo cao kết hợp mục trắc Chiều cao Hvn của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây Chiều cao Hdc được xác định từ gốc cây đến cụm cành đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng
- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước mét dây Đo hình chiếu tán lá trên mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân
- Xác định phẩm chất cây: phẩm chất cây phân theo ba loại a, b,c và ghi chú tình hình dây leo ảnh hưởng trực tiếp đến cây đứng
+ Loại a: Cây thân thẳng, phát triển tốt, tán cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh, cụt ngọn, hai thân
+ Loại b: Thân cong, phát triển trung bình, tán mất cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sâu non
+ Loại c: Thân cong queo, phát triển kém, cụt ngọn, có từ hai thân trở lên, có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh
- Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây gỗ lớn
* Điều tra cây tái sinh:
Trong ô tiêu chuẩn 2000 m2, tiến hành lập 4 ô dạng bản, diện tích của mỗi ô dạng bản là 25 m2 (5 m x 5 m) được thiết kế ở 4 góc của ô tiêu chuẩn Thống kê tất
cả cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:
+ Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ có thể ghi sp1, sp2
+ Xác định mật độ cây tái sinh, thành phần loài cây tái sinh
+ Chiều cao phân thành 4 cấp: H < 0,5 m; H: 0,5 – 1,5 m; H: 1,5 – 3,0
m và H > 3,0 m ở những cây có D1.3 < 6 cm Đo chiều cao cây tái sinh bằng sào
+ Chất lượng cây tái sinh: Được phân làm 2 loại: khỏe và yếu
• Cây khỏe: là cây luôn xanh tốt, sinh trưởng và phát triển tốt, không bị sâu hại, không có biểu hiện bị ức chế
• Cây yếu: được phản ánh bằng sức sinh trưởng kém và không ổn định, cây bị sâu hại nặng, cây đang chết từng phần hoặc bị gãy đổ
Trang 29+ Điều tra số lượng cây tái sinh
+ Số liệu điều tra được ghi biểu riêng cho từng ô dạng bản
* Xác định độ tàn che:
Dùng phương pháp vẽ trắc đồ rừng theo phương pháp của David và Richards (1934), biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với dải rừng có diện tích 500 m2 (10 m x 50 m), vẽ với tỷ lệ 1/200 Sử dụng các yếu tố đã xác định để vẽ như: chiều cao, đường kính, đường kính tán, chiều dài tán lá, và xác định toạ độ từng cây, sau đó tính diện tích tán che trên giấy kẻ ly, tính tỷ lệ %
3.3.2 Phương pháp phân tích và tính toán số liệu
Số liệu đo đếm trước khi đưa vào phân tích được kiểm tra lại nhằm loại bỏ các số liệu khác biệt so với tổng thể chung trong quá trình đo đếm Sau đó nhập số liệu vào máy vi tính để xử lý, phân tích tính toán bằng phần mềm Excel hoặc Statgraphics Plus 15.1 dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Cảnh
Các nhân tố điều tra, đo đếm trong ô tiêu chuẩn được tổng hợp, xử lý và tính toán bao gồm:
+ Tính tổ thành loài (IV %)
+ Tính các đặc trưng mẫu: D1,3 bình quân, Hvn bình quân, N/ha bình quân, trữ lượng bình quân …
+ Xác lập phân bố N theo cấp D1,3, phân bố N theo H, phân bố M theo cấp
D1,3, tương quan giữa H và D1,3 … cho trạng thái rừng IIB
+ Đánh giá tình hình tái sinh của loài cây dưới tán rừng
+ Vẽ trắc đồ cho trạng thái rừng đang nghiên cứu, tính toán độ tàn che
Cụ thể như sau:
3.3.2.1 Cấu trúc tổ thành loài (tầng cây gỗ):
Để tính toán xác định tổ thành loài cây, đề tài sử dụng công thức của Daniel Marmillod (Vũ Đình Huề, 1984):
2
%G
%N
Trang 30Ni là % theo số cây của loài i trong quần xã thực vật rừng
Gi là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong quần xã thực vật rừng Theo Daniel Marmillod, những loài cây có IV ≥ 5 % mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó lớn hơn 50 % tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV % của những loài có trị số này lớn hơn 5 %, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV % đạt 50 %
2
%G
%N
3.3.2.2 Tính toán mật độ cây gỗ lớn trong rừng (N/ha)
Mật độ (số cây/ha) được xác định bằng công thức sau:
10.000S
nN/ha = × Trong đó:
n: Tổng số cá thể trong 3 ô tiêu chuẩn S: Diện tích của 3 ô tiêu chuẩn (6000 m2)
Khi X < N => 0 < K < 1 : rừng hỗn loài có độ hỗn giao
0 < K < 0,5 : rừng hỗn loài có độ hỗn giao thấp 0,5 < K < 1 : rừng hỗn loài có độ hỗn giao cao
3.3.2.4 Tính toán tiết diện ngang (G, m 2 /cây) và thể tích thân cây (V, m 3 /cây)
+ Tính tiết diện ngang của các cây trong ô tiêu chuẩn theo công thức:
2 3 , 1
+ Tính thể tích thân cây đứng được xác định theo công thức:
Trang 313 , 1
2 3 , 1
1,3 = 0,45)
3.3.2.5 Tính toán độ tàn che của rừng
Kết hợp quan trắc và phẫu đồ ngang để xác định tỉ lệ che phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng theo phương pháp vẽ trắc đồ của David và Richards
3.3.2.6 Phương pháp đánh giá tái sinh rừng
+ Tổ thành cây tái sinh:
Xác định số cây trung bình theo loài dựa vào công thức:
m
nin
m 1 i
∑
=
= Trong đó: n là số cây trung bình theo loài
m là tổng số cá thể điều tra
ni là số lượng cá thể loài i
+ Mật độ cây tái sinh:
Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:
odb
S
n10.000
Với S là tổng diện tích các ô dạng bản điều tra tái sinh (m2) và n là số lượng cây tái sinh điều tra được Cụ thể, tổng diện tích các ô dạng bản điều tra tái sinh là: 300
m2 (4 ô dạng bản/1 ô tiêu chuẩn x 25 m2/1 ô dạng bản * 3 ô tiêu chuẩn = 300 m2)
3.3.2.7 Phương pháp tính toán các đặc trưng mẫu và mô hình hóa
Để phục vụ cho việc phân bố số cây theo các chỉ tiêu D1,3, H, … đề tài tập hợp số liệu theo hình thức chia tổ sau:
+ Số tổ: m = 5* log(n) hay m = 3,3*log(n) + 1