1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU SỰ THAM GIA CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG GIAO KHOÁN QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG THEO CHƯƠNG TRÌNH 304 TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM HIỆP, HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

82 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 795,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng đã góp phần đáng kể trong việc tạo công ăn việc làm cho người dân tại địa phương, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc nghèo, thiếu đất sản xu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU SỰ THAM GIA CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG GIAO KHOÁN QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG THEO CHƯƠNG TRÌNH 304 TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM HIỆP,

HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

Họ và tên sinh viên: HÀ HỌC TUẦN

Ngành: LÂM NGHIỆP Niên khoá: 2005 – 2009

Tháng 07/2009

Trang 2

TÌM HIỂU SỰ THAM GIA CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG GIAO KHOÁN QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG THEO CHƯƠNG TRÌNH 304 TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM HIỆP, HUYỆN DI LINH,

Giáo viên hướng dẫn:

Thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Tài

Tháng 07 năm 2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua bốn năm tham gia lớp học Đại học lâm nghiệp theo chương trình đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Tại chức Lâm Đồng, bản thân xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

- Ban Giám đốc Trung tâm Tại chức Lâm Đồng

- Ban Chủ nhiệm Khoa Lâm, nghiệp – Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

- Toàn thể hầy Cô và cán bộ nhân viên trường Đại học nông Lâm TP Hồ Chí Minh

và Trung tâm tại chức Lâm Đồng đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học tập

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc:

- Cô: Nguyễn Thị Kim Tài đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này

- Quý Thầy Cô trong Bộ môn Lâm Nghiệp Xã hội đã tạo điều kiện hướng dẫn, giảng dạy, giúp đỡ tôi trong việc học tập các môn học thuộc bộ môn Lâm Nghiệp xã hội

- Ban giám đốc, cán bộ, nhân viên Công ty Lâm Nghiệp Tam Hiệp, lãnh đạo địa phương, bà con xã Tam Bố, cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện hoàn thành nội dung đề tài này

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài, không tránh khỏi những khuyết điểm, thiếu sót Rất mong được sự thông cảm, đóng góp ý kiến chân tình của quý thầy cô cùng bạn đọc

Sinh viên: Hà Học Tuần

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu "Tìm hiểu sự tham gia của các bên liên quan trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo chương trình 304" được tiến hành tại xã Tam Bố, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, thời gian từ ngày 01 tháng 1 năm 2009 đến ngày 31 tháng 5 năm 2009

Qua kết quả điều tra nghiên cứu cho thấy công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo quyết định 304 / 2005 / QĐ – TTg tại địa bàn có liên quan đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau từ các ban ngành chức năng tỉnh đến huyện, xã và đơn vị chủ rừng Các cơ quan, ban nghành liên quan đều có những vai trò và chức năng cụ thể khác nhau, nhưng chung một mục tiêu và nhiệm vụ là triển khai thực hiện dự án đạt hiệu quả theo chương trình 304

đề ra Đặc biệt là sự đóng góp quan trọng của cộng đồng người dân tộc tại địa phương vì

họ là đối tượng được nhận giao khoán bảo vệ rừng và là đối tượng trực tiếp tác động vào rừng, là lực lượng chủ yếu trong việc tham gia bảo vệ phát triển rừng

Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu cụ thể sự phân công, cách tổ chức và mức độ tham gia của các bên liên quan trong việc triển khai thực hiện dự án giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ dân tại địa phương Với chức năng và nhiệm vụ khác nhau nhưng các bên liên quan đều hướng tới thực hiện mục tiêu chung là quản lý bảo vệ và phát triển rừng, quản lý tốt diện tích rừng và đất rừng hiện có, ngăn chặn sự suy giảm nguồn tài nguyên trên địa bàn nói riêng và trong khu vực nói chung Qua hoạt động giao khoán quản

lý bảo vệ rừng đã góp phần đáng kể trong việc tạo công ăn việc làm cho người dân tại địa phương, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc nghèo, thiếu đất sản xuất, tăng thu nhập đáng

kể cho các hộ dân, tạo điều kiện ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung và ở địa bàn xã Tam Bố nói riêng Với lợi ích của dự án mang lại góp phần xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa miền núi và đồng bằng, nông thôn và thành thị

Với hiệu quả đạt được đã thu hút người dân tham gia hoạt động nghề rừng, giảm tỷ

lệ thất nghiệp, sự nhìn nhận về rừng, nguồn lợi rừng mang lại cho con người của người dân địa phương thay đổi theo hướng tích cực Từ đó giảm đáng kể các vụ vi phạm lâm luật, góp phấn vào việc bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng ở địa phương một cách bền vững ,

Trang 5

đẩy nhanh tiến dộ thực hiện xã hội hóa nghề rừng và đất rừng có chủ thực sự Qua đó hàng năm nhà nước đã có những chính sách hổ trợ, khuyến khích người dân nhận giao khoán bảo vệ rừng như, tăng đơn giá giao khoán, hỗ trợ thêm gạo, chủ dự án phụ cấp thêm tiền trách nhiệm cho các tổ trưởng, tổ phó tổ nhận khoán Bên cạnh đó nhà nước cũng triển khai các dự án giao cho người dân trồng rừng trên khu vực đất trống, đồi trọc mà ngoài tiền công trồng rừng người dân còn được nhận giao khoán hàng năm, trồng xen cây nông nghiệp ….nhằm tạo công ăn việc làm cho người dân sống gần rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc, tăng độ che phủ của rừng Với kết quả đạt được của chương trình giao khoán quản

lý bảo vệ rừng theo quyết định 304 có sự tham gia của các bên liên quan, chủ dự án đang tiếp tục triển khai và nhân rộng việc giao khoán bảo vệ rừng cho người dân ở địa phương với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại địa phương

Trang 6

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các hình vii

Danh sách các bảng viii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Sự ra đời của Lâm nghiệp xã hội 4

2.2 Sự tham gia 5

2.3 Nhóm liên quan và phân tích nhóm liên quan 6

2.4 Những chính sách liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu 7

2.5 Các chương trình, dự án lâm nghiệp được triển khai xã Tam Bố 7

Chương 3 ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.1 Địa điểm nghiên cứu 11

3.2 Nội dung nghiên cứu 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

4.1 Chức năng nhiệm vụ và hoạt động của các bên liên quan trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng và lợi ích của hộ nhận khoán tại xã Tam Bố 18

4.1.1 Chức năng nhiệm vụ và hoạt động của các bên liên quan trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng 18

4.1.2 Lợi ích của hộ nhận khoán khi tham gia hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng 29 4.2 Tầm quan trọng và ảnh hưởng của các bên liên quan trong giao khoán quản lý

Trang 7

bảo vệ rừng ở khu vực nghiên cứu 30

4.2.1 Tầm quan trọng của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng 30

4.2.2 Ảnh hưởng của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng 33

4.3 Hiệu quả của chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng đối với người dân ở khu vực nghiên cứu 38

4.3.1 Hiệu quả về mặt kinh tế xã hội 38

4.3.2 Hiệu quả về mặt môi trường sinh thái 42

4.3.3 Một số tồn tại và kiến nghị về chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng tại Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp 42

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Kiến nghị 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 48

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thống kê diện tích đất rừng do công ty LN Tam Hiệp quản lý (ha) 13

Bảng 4.1 Hoạt động lâm nghiệp của các bên liên quan thuộc cơ quan nhà nước 24

Bảng 4.2 Cách thức và thời gian kiểm tra hoạt động quản lý bảo vệ rừng của các bên liên quan thuộc cơ quan nhà nước 25

Bảng 4.3 Cách thức quản lý bảo vệ rừng của các hộ nhận khoán 27

Bảng 4.4 Thời gian tuần tra bảo vệ rừng của các hộ nhận khoán 27

Bảng 4.5 Tổ chức đóng vai trò quan trọng nhất trong quản lý bảo vệ rừng 31

Bảng 4.6 Phân tích SWOT trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng của các bên liên quan 37

Bảng 4.7 Ý kiến của hộ gia đình khi tham gia quản lý bảo vệ rừng 39

Bảng 4.8 Ý kiến của đại diện các cơ quan nhà nước về lợi ích của người dân khi tham gia chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng 40

Bảng 4.9 Chất lượng rừng sau khi giao khoán 42

Trang 10

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt Vấn Đề

Di Linh là một trong mười huyện của tỉnh Lâm Đồng có diện tích rừng rộng lớn và

có độ che phủ rừng cao so với các huyện khác trong tỉnh, với tổng diện tích rừng và đất rừng là 161000 hécta, trong đó đất có rừng là 95000 hécta, nằm trải dài từ Bắc (giáp tỉnh Đắc Nông) đến Nam (giáp tỉnh Bình Thuận) Di Linh là huyện có vị trí địa lý thuận lợi, có miền đất bazan màu mỡ, giàu tiềm năng về phát triển kinh tế nông lâm nghiệp và các dịch

vụ khác Di Linh còn là một trong những huyện có các dân tộc thiểu số cư trú đông nhất của tỉnh, với tập quán canh tác và cuộc sống gắn bó với rừng từ lâu đời Do đó rừng có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống của người dân ở đây và sự tác động của con người vào tài nguyên rừng cũng không nhỏ

Trong những năm gần đây, tài nguyên rừng ở địa phương huyện Di Linh chịu ảnh hưởng chung của những yếu tố bất lợi của tự nhiên và xã hội Tập tục du canh du cư, phát rừng làm rẫy của đồng bào bản địa, tình trạng dân di cư tự do khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng một cách bừa bãi, vấn đề này có xu hướng ngày một gia tăng Nhà nước còn thiếu các cơ chế, cách thức quản lý rừng và tài nguyên rừng, các cơ quan chức năng quản lý rừng chưa chặt chẽ, hiệu quả còn hạn chế, chủ rừng vừa yếu vừa lúng túng trong việc quản

lý bảo vệ rừng trong tình hình áp lực của người dân địa phương vào rừng ngày càng tăng Tất cả các vấn đề này đã có những ảnh hưởng bất lợi đến tài nguyên rừng tại địa phương,

từ đó gây nên sự nghèo kiệt vốn rừng, vai trò phòng hộ của rừng ngày càng suy giảm, dẫn đến đất bị xói mòn rửa trôi

Trang 11

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế nghề rừng, nâng cao đời sống của cộng đồng người dân ở đây, trong đó đáng chú ý là việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho người dân theo chương trình 304 Bên cạnh đó, đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc địa phương xã Tam

Bố, huyện Di Linh còn gặp nhiều khó khăn, chậm phát triển Do tập quán canh tác lạc hậu chưa được thay đổi, tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất còn nhiều hạn chế, sản phẩm làm ra còn ít, chất lượng thấp, tiêu thụ rất khó khăn, nhiều hộ dân còn thiếu đất canh tác, tình trạng du canh, du cư tự do còn diễn biến phức tạp, cuộc sống chủ yếu dựa vào việc lấn chiếm đất rừng và khai thác lâm sản từ rừng, khoảng cách chênh lệch mức sống giữa các vùng ngày càng tăng, cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa, vùng gần rừng còn thấp kém Song thực tế tại địa phương, kinh tế lâm nghiệp còn chuyển biến chậm, các chính sách về lâm nghiệp ở đây hiệu quả còn hạn chế, chưa thu hút người dân gắn bó với nghề rừng

Để khắc phục tình trạng trên cần có sự kết hợp tốt của các bên liên quan, các đơn vị chủ rừng với các cấp chính quyền, các ngành hữu quan, các tổ chức quần chúng và nhân dân địa phương nhằm quản lý tốt tài nguyên rừng và vốn rừng, góp phần cải thiện đời sống cho người dân, thu hút họ gắn bó với nghề rừng Nhằm thực hiện chủ trương này, công ty lâm nghiệp Tam Hiệp đã thực hiện công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo chương trình 304 cho cộng đồng dân cư tại xã Tam Bố, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng Nhằm tìm hiểu sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo

vệ rừng tại địa phương, đồng thời để biết được họ đã thực hiện việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng như thế nào, họ đã làm những gì và làm như thế nào, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Tìm hiểu sự tham gia của các bên liên quan trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo chương trình 304 tại xã Tam Bố, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng”

Tam Bố là một xã có nhiều điều kiện thuận lợi và phù hợp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về các hoạt động lâm nghiệp Tam Bố là xã thuộc huyện Di Linh,

có diện tích rừng lớn, có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số bản địa cao, người dân địa phương có tập quán sinh sống gắn bó với rừng, là một xã thuộc diện khó khăn trong huyện Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp là đơn vị chủ rừng, có địa bàn quản lý thuộc địa

Trang 12

phận hành chính xã Tam Bố và là chủ dự án 304 Bên cạnh đó Hạt kiểm lâm huyện là đơn

vị có nhiều hoạt động giám sát trực tiếp việc thực thi công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng tại địa phương này Do đó đây là địa điểm thích hợp cho việc tìm hiểu “sự tham gia của các bên” trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng

1.2 Mục Tiêu nghiên Cứu

- Mô tả chức năng nhiệm vụ và hoạt động của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng và lợi ích của hộ nhận khoán tại xã Tam Bố

- Phân tích vai trò của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng ở khu vực nghiên cứu

- Xác định và phân tích hiệu quả về kinh tế xã hội và về môi trường sinh thái của chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng ở khu vực nghiên cứu

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Sự ra đời của Lâm nghiệp xã hội

Lâm nghiệp xã hội (LNXH) ra đời trong thời kỳ mà những xung đột trong sử dụng tài nguyên rừng ngày càng nhiều Lâm nghiệp nhà nước không còn khả năng kiểm soát có hiệu quả việc quản lý tài nguyên rừng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Trong bối cảnh như vậy cần phải có một phương thức quản lý rừng thích hợp, làm sao vừa đáp ứng được lợi ích của người dân địa phương vừa bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Từ đó LNXH được hình thành, được xã hội chấp nhận và ngày càng phát triển

Vào thập niên 70 của thế kỹ XX, LNXH được hình thành Từ những thực tế của mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội và ý thức hệ của mổi dân tộc, nên khái niệm LNXH được dịch ra theo rất nhiều cách khác nhau ở mổi quốc gia, nhưng về cơ bản đã giải quyết được những tồn tại hạn chế về kiểm sóat nguồn tài nguyên rừng, phá vỡ sự độc canh, tập trung, thiếu dân chủ, đáp ứng được nhu cầu về lương thực và lâm sản, giải quyết được mâu thuẫn về đất đai và lợi ích giữa nhà nước và cộng đồng dân cư địa phương đối với sản phẩm từ rừng

Thuật ngữ LNXH được các tổ chức quốc tế, các nhà nghiên cứu quan tâm và giới thiệu đã đánh dấu một bước quan trọng trong quản lý và phát triển tài nguyên rừng Theo FAO (1978), LNXH là tất cả những hoạt động mà trong đó người dân địa phương liên kết chặt chẽ với hoạt động lâm nghiệp

Trang 14

Theo Wiersum (1994), LNXH là một chiến lược phát triển hoặc can thiệp của các nhà lâm nghiệp và các tổ chức phát triển với mục đích khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân địa phương vào các hoạt động lâm nghiệp ở mức độ khác nhau, nhằm bảo tồn tài nguyên rừng và cải thiện đời sống của chính họ

Từ các khái niệm trên cho thấy mục tiêu chính của LNXH là nâng cao đời sống của nhân dân trong cộng đồng và bảo vệ môi trường sinh thái Người dân chính là chủ thể của mọi hoạt động trong LNXH Phát triển con người là vấn đề trung tâm của LNXH, muốn bảo vệ được tài nguyên rừng có hiệu quả lâu dài, trước hết phải bảo vệ con người Do vậy vấn đề quan tâm đầu tiên của LNXH là phải tìm ra các giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân từ nguồn tài nguyên rừng Giải quyết được các nhu cầu này sẽ gắn lợi ích sống còn của nhân dân với tài nguyên rừng Các hoạt động LNXH thích hợp với hình thức sở hữu đất đai Đặc trưng của LNXH là loại trừ bất cứ hình thức lâm nghiệp nào kinh doanh độc nhất, thuê lao động và trả lương

Do chịu ảnh hưởng của nền lâm nghiệp truyền thống có nguồn gốc phát triển ở châu Âu, các nước vùng nhiệt đới cũng chịu ảnh hưởng và bị cuốn theo trào lưu đó Với nền lâm nghiệp dựa trên một phương thức quản lý rừng nhằm mục đích phục vụ nhu cầu

xã hội về sản phẩm gỗ ngày càng cao, được can thiệp bằng các kỹ thuật lâm sinh thuần túy, coi trọng lợi ích về mặt kinh tế hơn lợi ích khác của rừng Do đó phương thức quản lý rừng truyền thống chỉ phù hợp với những nơi không có tranh chấp đất đai, có nhiều cơ hội việc làm và thu nhập khác cho các cộng đồng dân cư Phương thức quản lý này khó phù hợp với những nơi đông dân cư và hòan cảnh xã hội như ở các nước đang phát triển nhiệt đới hiện nay Lâm nghiệp truyền thống có những mặt mạnh, mặt yếu và là tiền đề của LNXH của các nước đang phát triển thuộc vùng nhiệt đới hiện nay

Trang 15

hạn của các bên liên quan trong quá trình quản lý, sự bàn bạc thảo luận để đi đến thống nhất về một chương trình hành động và tiến hành các hành động tập thể để thay đổi một tình hình theo hướng tích cực Ở mức độ cao nhất, sự tham gia thể hiện sự tự giác, chủ động chia sẻ trách nhiệm của các bên liên quan trong một hệ thống quản lý, kể cả việc ra quyết định và kiểm tra tiến trình thực hiện Như vậy, các mức độ khác nhau của sự tham gia thể hiện mức độ chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan trong một hệ thống quản lý (Võ Văn Thoan, 2002)

Tìm hiểu sự tham gia trong quản lý rừng là một đề tài cần thiết và có thể có ích Lý do

là các vấn đề của lâm nghiệp đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Lâm nghiệp không phải đơn thuần là một ngành sản xuất mà là một ngành quản lý tài nguyên thiên nhiên Sự suy thoái tài nguyên rừng không chỉ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lâm nghiệp mà còn tác động mạnh mẻ đến các vấn đề về môi trường và cuộc sống của các cộng đồng Một mặt khác, ngành lâm nghiệp đang trong quá trình chia sẻ trách nhiệm với các bên liên quan khác Giao đất lâm nghiệp và giao khoán quản lý bảo vệ rừng là những chủ trương thể hiện sự chia sẻ trách nhiệm đó (trích từ Tiêu Mạnh Vĩnh, 2003)

2.3 Nhóm liên quan và phân tích nhóm liên quan

Trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, Grimble và Wellard (1996) định nghĩa

“nhóm liên quan” hay còn gọi là "các bên liên quan" là “các nhóm người bất kỳ, có hay không được tổ chức, cùng chia xẻ các mối quan tâm đối với một vấn đề hay một hệ thống

Họ có thể ở các cấp độ hay vị trí khác nhau trong xã hội, từ toàn cầu cho đến quốc gia và khu vực cho đến nông hộ và nhóm nông hộ và có thể là các nhóm có quy mô tập hợp khác nhau”

Theo Hoàng Hữu Cải (Phân tích nhóm liên quan và lập kế hoạch có sự tham gia), trong lâm nghiệp, nhóm liên quan có thể được nhìn nhận trong một chuỗi liên tục và có thể bao gồm các nhóm người đa dạng sinh sống trong vùng có rừng và nông dân, người thu hoạch gỗ củi ở cấp độ địa phương cho đến các tổ chức tài trợ quốc tế ở cấp độ quốc tế/toàn cầu

Trang 16

Do vậy, các bên liên quan là tất cả những ai tác động đến và/hoặc bị tác động bởi các chính sách, quyết định, hành động của hệ thống Họ có thể là những cá nhân hay cộng đồng, những nhóm hay những định chế xã hội của bất kỳ sự kết hợp trong xã hội Các bên liên quan có thể là những nhà làm chính sách, nhà làm kế hoạch, nhà quản lý trong chính quyền hay những tổ chức khác, kể cả những nhóm thương mại hay những nhóm tự cung, tự cấp (Grimble, 1995)

Phân tích các bên liên quan nhằm tìm hiểu tốt hơn cách sử dụng tài nguyên và quản

lý tài nguyên cũng như các chính sách và thực thi chính sách của nhà nước liên quan đến phát triển đời sống nông thôn đặc biệt là nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó

khăn (trích từ Tiêu Mạnh Vĩnh, 2003)

2.4 Những chính sách liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu

Quyết định 245/1998/TTg của thủ tướng chính phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp Quyết định nêu rõ phân cấp quản lý rừng của các cấp hành chính, phân định rõ trách nhiệm tổ chức quản lý phát triển rừng của từng cấp, từng địa phương, giúp cho việc quản lý tài nguyên được xác định rõ ràng và có định hướng phát triển Trong quyết định đặc biệt nêu rõ vai trò, trách nhiệm của cấp xã

Quyết định 304/2005/QĐ-TTg ngày 15/11/2005 của thủ tướng chính phủ về thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ ở các tỉnh Tây Nguyên

Luật bảo vệ và phát triển rừng của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm

2.5 Các chương trình, dự án lâm nghiệp được triển khai xã Tam Bố

Thực hiện các chủ trương chính sách nói trên, lâm trường Tam Hiệp đã thực thi một

số chương trình và dự án lâm nghiệp cụ thể, triển khai tại hai thôn 4, 5 xã Tam Bố nhằm duy trì và bào vệ diện tích rừng lâm trường quản lý và góp phần cải thiện kinh tế hộ gia

Trang 17

đình, cộng đồng tại chổ, nhằm giảm áp lực phụ thuộc vào rừng của đồng bào trong đó đáng

kể có các chương trình đang được triển khai:

Chương trình 327 được ban giám đốc lâm trường đưa vào thực hiện năm 1995 kể từ ngày chủ tịch hội đồng bộ trưởng ký quyết định thi hành ngày 15 – 9 – 1992

Thực hiện theo quyết định 2002/TTg ban hành ngày 2/5/1994 quy định khoán bảo vệ rừng được lâm trường thực hiện nghiêm túc và bước đầu cho kết quả tương đối khả quan Đặc biệt lâm trường đã tiến hành giao khoán trên diện tích rừng mà lâm trường quản lý cả rừng tự nhiên và rừng trồng đến các hộ đồng bào dân tộc trong thôn 4, 5 xã Tam Bố quản

lý bảo vệ, góp phần cải thiện kinh tế hộ và công ăn việc làm cho đồng bào

Chương trình định canh định cư của nhà nước đối với đồng bào vùng cao đã giúp cộng đồng dân tộc thiểu số được định cư và sống ổn định tại hai thôn 4, 5 xã Tam Bố kể từ nhiều năm nay

Và hiện nay là Quyết định 304/2005/QĐ–TTg về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên với các nội dung như sau:

• Mục tiêu:

- Tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên, trong đó tập trung ưu tiên giải quyết cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc đối tượng quy định tại Quyết định số 132/2002/QĐ–TTg ngày 08/10/2002 và số 134/2004/QĐ–TTg ngày 20/07/2004 của tủ Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là các Quyết định số 132 và 134) về việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên và một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn

- Bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng ở các tỉnh Tây Nguyên một cách bền vững Đẩy nhanh tiến độ thực hiện xã hội hóa nghề rừng để rừng và đất rừng phải có chủ thực sự (Điều 2 – Quyết định 304 / 2005 / QĐ – TTg)

• Đối tượng và hạn mức giao rừng, khoán bảo vệ rừng:

- Đối tượng rừng được giao và khoán bảo vệ:

Trang 18

+ Rừng được khoán bảo vệ ; Là các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và các khu rừng tự nhiên là rừng sản xuất có trữ lượng giàu, trung bình nhưng đang đóng cửa Các lọai rừng này được ngân sách nhà nước đầu tư khoán bảo vệ

+ Rừng được giao là rừng sản xuất, bao gồm:

o Rừng tự nhiên đang được quy hoạch là rừng sản xuất và các loại rừng sau khi quy họach lại được chuyển thành rừng sản xuất, nhưng không thuộc loại rừng được khoán bảo vệ nêu trên

o Diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch để trồng rừng sản xuất

o Rừng sản xuất do lâm trường, công ty quản lý được sắp xếp, tổ chức lại theo Nghị định số 200 / 2004 / NĐ – CP ngày 03 / 12 / 2004 của Chính phủ

o Rừng thiêng, rừng nghĩa trang, rừng phòng hộ bảo vệ mỏ nước của buôn, làng

… do Ủy ban nhân dân xã hoặc cộng đồng dân cư đang quản lý sử dụng

- Đối tượng được giao rừng và khoán bảo vệ rừng:

+ Những hộ đồng bào dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống tại xã có rừng, có nhu cầu được giao rừng và khóan bảo vệ rừng; trước hết ưu tiên đồng bào là người dân tộc thiểu số nghèo tại chỗ thuộc các đối tượng quy định tại các Quyết định số 132 và 134 của Thủ tướng Chính phủ

+ Các cộng đồng dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số sống trong buôn, làng có cùng phong tục tập quán, truyền thống và có các nhu cấu được giao rừng, khoán bảo vệ rừng

- Hạn mức giao rừng và khoán bảo vệ rừng:

+ Giao rừng: Căn cứ vào quỹ rừng, quỹ đất quy hoạch là rừng sản xuất của xã, số lượng hộ gia đình (thuộc các Quyết định số 132 và 134) và cộng đồng dân cư trong xã có nguyện vọng được giao rừng, Ủy ban nhân dân xã lập phương án giao rừng, bảo đảm diện tích rừng giao cho một hộ gia đình không quá 30 ha (theo luật đất đai năm 2003); nếu có đất nông nghiệp trong khu vực rừng được giao thì diện tích rừng được giao bình quân không quá 25 ha một hộ; diện tích rừng giao cho cộng đồng tùy theo quỹ rừng và nhu cầu được giao rừng của từng cộng đồng

+ Khoán bảo vệ rừng: Căn cứ quỹ rừng thuộc địa bàn của xã (rừng đặc dụng; rừng phòng hộ; rừng tự nhiên là rừng sản xuất có trữ lượng giàu, trung bình nhưng đang đóng

Trang 19

cửa và rừng sản xuất thuộc các lâm trường, nông trường quốc doanh quản lý), số lượng hộ gia đình (thuộc đối tượng của các quyết định số 132 và số 134) và cộng đồng có nhu cầu nhận khoán bảo vệ rừng; các chủ rừng chủ trì phối hợp với ủy ban nhân dân xã lập phương

án và triển khai khoán bảo vệ rừng cho các bên nhận khoán Diện tích rừng khoán cho hộ gia đình không thấp hơn mức bình quân chung toàn quốc từ 15 – 20 ha / hộ; diện tích rừng khoán cho cộng đồng tùy theo quỹ rừng và nhu cầu nhận khoán của cộng đồng (Điều 4 – Quyết định 304/2005/QĐ–TTg)

• Quyền lợi của người nhận khoán bảo vệ rừng:

- Được hưởng tiền khoán bảo vệ rừng 50.000 đồng/ha/năm (nay là 100.000 đồng/ha/năm )

- Được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp theo quy trình trồng rừng sản xuất (nếu có nhu cầu trồng rừng, làm giàu rừng nhận khoán) và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo chính sách khuyến lâm, khuyến nông của nhà nước

- Nếu là hộ nghèo đang thiếu đói thì được trợ cấp 10 kg gạo/khẩu/tháng để cứu đói trong thời gian chưa tự túc được lương thực (thời gian trợ cấp gạo do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định)

- Các hộ nhận khoán bảo vệ rừng là đối tượng của các Quyết định số 132 và 134 thì tiếp tục được hưởng các chính sách đã quy định trong các Quyết định này, cụ thể như sau:

+ Hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ để làm nhà ở

+ Hỗ trợ 5 triệu đồng/ha để khai hoang diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì hộ nhận khóan bảo vệ rừng phải báo cáo với chủ rừng để chủ rừng báo cáo cơ quan cấp trên

có thẩm quyền giao đất, xem xét cho phép mới được khai hoang

+ Hỗ trợ 400.000 đồng/hộ để xây dựng bể chứa nước sinh hoạt (Điều 6–Quyết định 304/2005/QĐ–TTg)

• Nghĩa vụ của hộ gia đình và cộng đồng khi được giao rừng, khoán bảo vệ rừng

- Quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng đúng mục đích, ranh giới đã ghi trong quyết định giao rừng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trong hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng

- Tổ chức sản xuất, phát triển rừng theo đúng quy trình kỹ thuật, quy chế, chính sách

về quản lý, bảo vệ rừng và các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

- Thực hiện các nghĩa vụ liên quan theo quy định chung tại địa phương (Điều 7 – Quyết định 304/2005/QĐ–TTg)

Trang 20

Chương 3 ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính

Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp nằm phía Đông Nam của huyện Di Linh, cách thị trấn Di Linh 20 Km Địa bàn quản lý gồm có 28 tiểu khu, thuộc địa danh hành chính hai

xã Tam Bố và Gia Hiệp, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Vị trí địa lý:

+ Từ 108 0 8 ’ 30’’ đến 108 0 17 ’ 30’’ kinh độ đông

+ Từ 11 06’ đến 11 0 40’ vĩ độ bắc

- Ranh giới hành chính:

+ Phía Bắc giáp huyện Lâm Hà

+ Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận

+ Phía Đông giáp huyện Đức Trọng (BQL rừng Đức Trọng)

+ Phía Tây giáp xã Bảo Thuận, huyện Di Linh

3.1.2 Điều kiện tự nhiên

Đặc điểm địa hình đất đai: Nằm trong khu vực núi cao, thấp dần theo hướng Tây Bắc và Đông Nam, chia cắt mạnh bởi các dông và sông suối, độ cao trung bình 800m

Đặc điểm khí hậu, thủy văn: Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ bình quân 21,50C, nhiệt độ cao nhất (tháng 3)

Trang 21

29,30C, nhiệt độ thấp nhất (tháng 1) 12,50C Lượng mưa bình quân 2.037mm Lượng mưa cao nhất (tháng 8) là 4.010 mm, lượng mưa thấp nhất (tháng 1) là 900mm Độ ẩm không khí bình quân 85% Trong khu vực có các hệ thống suối như: Đrion, Đạ Mau, Dạ Le, Đdran, đổ về sông Đạ Dâng và sông Ta Li

Thổ nhưỡng: trong khu vực có các loại đất sau:

+ Nhóm đất Feralít và đất phù sa cổ: phân bố chủ yếu tập trung ở các tiể khu phía nam công ty, giáp tỉnh Bình Thuận, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, khô hạn vào mùa khô, thích hợp với các loài cây chịu hạn

+ Nhóm đất Feralít vàng đỏ phát triển trên đá Mácma acid chiếm phần lớn diện tích của công ty, phân bố chủ yếu ở khu vực phía bắc và tây bắc, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, độ dày tầng đất >=2m Ngoài ra còn có một số loại đất khác như phù

sa sông suối, đất dốc tụ nhưng diện tích không đáng kể

Tình hình tài nguyên rừng và đất đai: do điều kiện đặc biệt của công ty về độ cao cũng như sự chênh lệch về độ cao giữa các khu vực địa hình, các loại rừng của công ty rất phong phú về chủng loại và phân bố theo độ cao rõ rệt Ở độ cao từ 1000 m trở lên chủ yếu là thông 3 lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon) đa số mọc thuần loài trên các đỉnh và sườn dông, ven khe xuất hiện các lọai cây rừng lá rộng như Dẻ, Dầu, Sao, Chò… Và lồ ô, tre nứa Ở độ cao từ 600 m – 100 m theo thứ tự từ cao xuống thấp xuất hiện sự ổn giao giữa hai lòai thông 3 lá và 2 lá, kế đến là sự hỗn giao giữa thông và cây lá rộng Trong rừng lá rộng có rất nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao như Sao đen, Dầu rái, Kiền Kiền, Chò, Gõ, Giáng hương …Vùng giáp tỉnh Bình Thuận xuất hiện rừng nửa rụng lá gồm các loài cây: Dầu đồng, Dầu trà beng, Bằng lăng, Cà chí…Đặc biệt ở vùng này xuất hiện rừng thông 2 lá tương đối tập trung, nhưng những năm trước đây do nạn khai thác gỗ trái phép, chích nhựa thông làm cho loài rừng này giảm về chất lượng, trong những năm gần đây nhờ sự quản lý bảo vệ chặt chẽ của đơn vị nên rừng đang được phục hồi dần tương đối tốt

Trang 22

Bảng 3.1 Thống kê diện tích đất rừng do công ty LN Tam Hiệp quản lý (ha)

Trang 23

Từ bảng 3.1 cho thấy, diện tích đất rừng công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý gồm có tổng diện tích tự nhiên là 27.034,0 hécta, trong đó rừng sản xuất là 24.420,0 hécta

và rừng phòng hộ là 2.614,0 hécta Diện tích giao khoán quản lý bảo vệ là 6.528,24 hécta

Số hộ nhận giao khoán là 258 hộ, trong đó diện tích giao khoán theo quyết định 304 là

733,35 ha với 31 hộ

3.1.3 Điều kiện dân sinh kinh tế

Địa bàn công ty quản lý nằm trong địa giới hành chính hai xã Tam Bố và Gia Hiệp,

xã Tam Bố gồm 04 thôn, có 1.738 hộ và gần 4.904 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc

ít người có 934 hộ với 1.639 nhhân khẩu (đa số là dân tộc K’ Ho) chiếm 53,7 % số hộ của

xã và 33,4 % nhân khẩu của xã; Dân di cư tự do có 121 hộ với 534 nhân khẩu; Người kinh có 1.270 hộ với 5.077 nhân khẩu

Đời sống kinh tế của người dân ở đây đại bộ phận dựa vào sản xuất nông nghiệp, phương thức sản xuất đa phần là quảng canh, truyền thống về đầu tư thâm canh và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế Công tác khuyến nông còn yếu chưa cập nhật đến người dân, trong sản xuất còn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, đầu ra tiêu thụ sản phẩm Hiện nay trên địa bàn sản xuất nông nghiệp cây trồng chủ yếu là cây công nghiệp, như cà phê và một số diện tích lúa nước, hoa màu, cây ăn trái Đặc biệt là xã Tam Bố có hai thôn 4 và 5 là thôn có đồng bào dân tộc cư trú đông nhất, dân ở đây còn thiếu đất canh tác, tình trạng thiếu ăn vẫn xảy ra Số hộ nghèo toàn xã Tam Bố là

702 hộ, chiếm 40,39 % (theo tiêu chí mới)

Cơ sở hạ tầng ở địa phương đã được cải thiện, trục đường quốc lộ 20 nằm về phía nam công ty, qua khu dân cư xã Tam Bố và Gia Hiệp Điện lưới quốc gia đã kéo về xã, hầu hết các thôn đã có điện Hai xã nằm trong khu vực quản lý của công ty đã có trạm y tế, mỗi trạm chỉ có từ 5 – 7 giường, nhưng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ y, bác sỹ còn thiếu, chưa phát huy được hết chức năng, hàng năm y tế huyện có mở các đợt tiêm chủng, phát cấp thuốc, khám chữa bệnh nhưng chưa đạt hiểu quả, bệnh sốt rét, dịch

tả, bại liệt, bướu cổ vẫn còn tồn tại nhiều trong nhân dân

Cơ sở trường lớp ở xã tạm đủ, không có lớp học ca ba, nhưng trang thiết bị dạy học còn thiếu, số các em đến trường trong độ tuổi chỉ chiếm 50 – 60 %, mù chữ và tái mù vẫn

Trang 24

còn diễn ra Số giờ đến lớp các em không đều, nhất là thời gian vào mùa vụ Đội ngũ giáo viên còn thiếu, chất lượng giáo dục còn hạn chế Từ năm 2000 đến nay, nhìn chung bộ mặt nông thôn đã có nhiều đổi mới so với những năm trước, thể hiện được chính sách quan tâm của đảng và nhà nước đối với đồng vào dân tộc địa phương

3.1.4 Đặc điểm sản xuất nông lâm nghiệp của người dân xã Tam Bố

Tam Bố là một xã nghèo, nền tảng kinh tế ở khu vực chủ yếu là nông nghiệp Dân

cư đa phần là đồng bào dân tộc bản địa, các loại cây trồng chính là cà phê, lúa nước, hoa màu, thuốc lá và cây ăn trái Chăn nuôi cũng chỉ dưới hình thức "hộ gia đình" Phần lớn các hộ gia đình thuộc diện trung bình và nghèo, thiếu vốn, nên sản xuất chưa chú trọng đầu tư thâm canh, năng suất thấp; mặt khác diễn biến về giá cả nông sản có nhiều bất lợi gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân địa phương hiện nay

3.1.4.1 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp

Đại bộ phận dân cư sống bằng sản xuất nông nghiệp, phương thức sản xuất đa phần còn quảng canh, đầu tư thâm canh và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, công tác khuyến nông còn yếu chưa cập nhật đến các hộ gia đình,trong sản xuất người dân còn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm Hiện nay, trên địa bàn cây trồng chủ yếu là cà phê và một số diện tích lúa nước, hoa màu, cây ăn trái

Về chăn nuôi gia súc, gia cầm: Với điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi nhưng đồng bào trong khu vực còn nghèo, kinh nghiệm chăn nuôi còn hạn chế nên chưa mạnh dạn đầu tư cho chăn nuôi với quy mô lớn, chủ yếu chăn nuôi theo hộ gia đình

3.1.4.2 Đặc điểm sản xuất lâm nghiệp

Với các hoạt động sản xuất của công ty như: Giao khoán quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng, chăm sóc rừng trồng, phòng chống cháy rừng, nuôi dưỡng rừng trồng …đã thu hút được đại bộ phận đồng bào tham gia vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp, góp phần giải quyết công ăn việc làm tăng thêm thu nhập, phần nào nâng cao đời sống các hộ đồng bào dân tộc

Trang 25

3.2 Nội dung nghiên cứu

Từ những mục tiêu đã đưa ra ở trên, đề tài tập trung vào các nội dung sau:

3.2.1 Chức năng nhiệm vụ và hoạt động của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng và lợi ích của hộ nhận khoán tại xã Tam Bố

3.2.1.1 Hoạt động và trách nhiệm của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản

lý bảo vệ rừng

3.2.1.2 Lợi ích của hộ nhận khoán khi tham gia hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng 3.2.2 Tầm quan trọng và ảnh hưởng của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng ở khu vực nghiên cứu

3.2.2.1 Tầm quan trọng của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng

3.2.2.2 Ảnh hưởng của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng 3.2.3 Hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội của chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng đối với người dân ở khu vực nghiên cứu

3.2.3.1 Hiệu quả về mặt kinh tế xã hội

3.2.3.2 Hiệu quả về mặt môi trường

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin thứ cấp: tìm hiểu các văn bản có liên quan đến chủ trương giao khoán quản lý bảo vệ rừng của ngành và địa phương, bằng cách thu thập toàn bộ văn bản này, đọc và phân tích về các vấn đề liên quan đến đề tài như vai trò trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc triển khai thực hiện việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng; đối tượng rừng nào sẽ được giao khoán? Ai được tham gia nhận khoán? Quyền lợi và trách nhiệm của người nhận khoán? Mối quan hệ giữa công ty và người dân trong việc giao khoán?

Thu thập thông tin sơ cấp: thông qua bộ câu hỏi bán cấu trúc phỏng vấn các đối tượng sau: Ban giám đốc công ty, trưởng phòng kỹ thuật và quản lý bảo vệ rừng; chủ tịch

xã sở tại và cán bộ phụ trách lâm nghiệp; các hộ gia đình tham gia nhận khoán để có được

Trang 26

những thông tin hoạt động của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo

vệ rừng

- Dùng công cụ sơ đồ Venn để thể hiện các đơn vị, tổ chức liên quan trong hoạt động giao khoán bảo vệ rừng, đồng thời thể hiện vai trò, mức độ quan hệ và ảnh hưởng của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng

- Sử dụng công cụ sơ đồ phát thảo tài nguyên và xã hội để xác định khu vực rừng được giao khoán và để nhận biết thôn, buôn Có thể nhờ một hoặc vài người dân thông thạo khu vực nghiên cứu phác họa cơ bản các sơ đồ này

- Thực hiện sơ đồ lát cắt qua phạm vi của một thôn bằng cách đi quan sát trực tiếp kết hợp phỏng vấn để mô tả những hoạt động sản xuất, những chi tiết về tài nguyên và những thuận lợi khó khăn của khu vực

3.3.2 Phương pháp phân tích thông tin

Phân tích SWOT: phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng Qua các yếu tố phân tích để đánh giá tình hình

và mức độ thực hiện nhiệm vụ giao khoán quản lý bảo vệ rừng của các bên liên quan

Sử dụng phần mềm SPSS 15.0 để xử lý và phân tích số liệu từ các bảng phỏng vấn

hộ gia đình và các bên liên quan khác

Dựa vào các thông tin thu thập được phân tích quá trình thực hiện dự án nhằm xác định những vướng mắc, những khó khăn, thuận lợi từ dự án Đồng thời phân tích các mối liên quan lẫn nhau giữa sản xuất và bảo vệ trong khi thực hiện dự án

Trang 27

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Chức năng nhiệm vụ và hoạt động của các bên liên quan trong giao khoán quản

lý bảo vệ rừngvà lợi ích của hộ nhận khoán tại xã Tam Bố

Nạn phá rừng làm rẫy và khai thác gỗ trái phép trên địa bàn công ty lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý đang diễn ra rất phức tạp làm suy giảm nhanh chóng tài nguyên rừng cả

về số lượng và chất lượng Trước nguy cơ nguồn tài nguyên rừng ngày càng nghèo kiệt, công ty lâm nghiệp Tam Hiệp đã tiến hành giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo quyết định 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của thủ tướng chính phủ về việc "thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc tại chổ ở các tỉnh Tây Nguyên" nhằm tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho các hộ đồng bào dân tộc gặp khó khăn trong địa bàn, vừa tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, hạn chế sự xâm hại đến rừng, đưa hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn hướng vào người dân, cộng đồng sống gắn bó với rừng Những chủ trương giao quyền, hưởng lợi của người tham gia nghề rừng đã từng bước xã hội hóa nghề rừng theo định hướng lâm nghiệp

xã hội

4.1.1 Chức năng nhiệm vụ và hoạt động của các bên liên quan trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng

4.1.1.1 Chức năng nhiệm vụ của các bên liên quan

• Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp

Công ty được thành lập ngày 07 / 12 / 1992 với nhiệm vụ chính là quản lý bảo vệ rừng , xây dựng và phát triển vốn rừng Ngoài ra ngành nghề kinh doanh chủ yếu là khai

Trang 28

thác, chế biến các loại lâm nông sản, đồng thời cung ứng vật tư kỹ thuật, giống cây trồng

và tiêu thụ nông lâm sản Tư vấn, thiết kế và thực hiện các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, sản xuất nông – lâm kết hợp trong xây dựng trang trại, vườn rừng cho các tổ chức, cá nhân và

hộ gia đình

Công tác quản lý bảo vệ rừng là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài và là tiền đề cho khái niệm "bền vững" trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động khác của công ty Trước hết, đó là nhiệm vụ giữ vững nguồn tài nguyên rừng hiện

có Hạn chế và tiến đến chấm dứt mọi hành vi xâm lấn, phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, kịp thời phòng chống các tác nhân bệnh hại cây rừng và cháy rừng ảnh hưởng xấu đến tỉ lệ tăng trưởng và trữ lượng, chất lượng rừng Đẩy mạnh công tác xã hội hóa ngành lâm nghiệp bằng các hình thức giao khoán rừng và cho thuê đất rừng theo hướng đầu tư hưởng lợi nhằm bảo vệ rừng và phát triển vốn rừng đạt hiệu quả cao hơn

Sản xuất kinh doanh của Công ty dựa trên lợi thế về các quỹ đất chưa có rừng hoặc rừng nghèo kiệt, gắn liền với nhiệm vụ phát triển vốn rừng bằng nhiều phương thức phù hợp Trồng rừng sản xuất tập trung thuần túy hoặc kết hợp nông – lâm bằng phương thức liên kết, liên doanh với nhà đầu tư có thực lực và có uy tín Trồng thử nghiệm và phát triển

mở rộng một số rừng kinh doanh đặc sản, các loại cây lấy gỗ tăng trưởng nhanh có chu kỳ nhỏ hơn 15 năm Sản xuất kinh doanh từ lợi thế về nguồn lâm sản trên quan điểm khai thác bền vững tài nguyên rừng Tận thu, tận dụng các loại lâm sản bị chết, bị ngã đổ và từ

vệ sinh rừng Khai thác các lọai lâm sản ngoài gỗ, như lồ ô, tre nứa, song mây, lá buông…

Mở rộng các hoạt động chế biến lâm sản sau khai thác để nâng cao giá trị hàng hóa, tăng sức cạnh tranh và thu hút lao động Thành lập xưởng chế biến gỗ có quy mô tương ứng với sản lượng nguyên liệu khai thác hàng năm của công ty Phát triển công nghệ chế biến lâm sản từng giai đoạn theo hướng tinh chế, không chỉ với gỗ và cả với các lâm sản khác như tre, mây Kinh doanh - dịch vụ - thương mại các ngành nghề có liên quan đến khuyến nông, khuyến lâm Kinh doanh các mặt hàng vật tư kỹ thuật nông nghiệp, giống cây trồng và vật liệu xây dựng, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp từ các nguồn sản xuất trong khu vực

Trang 29

Trong công tác giao khoán, Công ty Tam hiệp là đơn vị chủ dự án Sau khi có quyết định phân bổ kế hoạch và kinh phí giao khoán quản lý bảo vệ rừng của cấp có thẩm quyền chuyển cho chủ dự án, chủ dự án thành lập ban chỉ đạo dự án gồm các thành viên sau: Giám đốc công ty: Chủ dự án; Cán bộ phòng kế hoạch – kỹ thuật: ủy viên; Cán bộ phòng quản lý bảo vệ rừng: ủy viên; Cán bộ phòng kế toán: ủy viên; Chủ tịch xã sở tại: ủy viên

• Chính quyền địa phương - Ủy ban nhân dân xã

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất trồng rừng trong phạm vi của địa phương theo quy hoạch, kế hoạch, thể lệ, chế độ nhà nước Hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước về quản lý, bảo vệ, khai thác rừng trong phạm vi địa phương mình Chỉ đạo các thôn, bản và đơn vị tương đương xây dựng

và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật Phối hợp với các lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội, tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng trên địa bàn; phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm phạm, hủy hoại rừng

Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng; hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, huy động các lực lượng chữa cháy rừng trên địa bàn Tổ chức quản lý, bảo vệ rừng và có kế hoạch trình Ủy ban nhân dân cấp trên đưa rừng vào sử dụng đối với những diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê

Hướng dẫn nhân dân thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp, làm nương rẫy, định canh, thâm canh, luân canh, chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt Kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ về quản lý, bảo vệ rừng đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn trên địa bàn; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật

Trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trong việc bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn xã

Quản lý danh sách chủ rừng, diện tích, ranh giới khu rừng, hợp đồng khế ước giữa

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Chỉ đạo thôn, buôn xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng Lập kế hoạch, phương án giao đất, giao rừng, theo giỏi diễn biến tài nguyên rừng và

Trang 30

biến động đất lâm nghiệp Phối hợp với kiểm lâm, lực lượng công an, quân đội trên địa bàn, tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng trên địa bàn Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng, huy động lực lượng giúp chủ rừng chữa cháy rừng Xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, hòa giải tranh chấp về rừng và đất lâm nghiệp

• Kiểm lâm

Kiểm lâm có nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật bảo vệ rừng; đấu tranh, ngăn ngừa những hành vi phạm pháp luật về rừng Thực hiện việc quản lý và bảo vệ

rừng Tuyên truyền vận động nhân dân bảo vệ và xây dựng vốn rừng

Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của nhà nước có chức năng bảo vệ rừng giúp cho Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT và chủ tịch UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành về pháp luật bảo vệ phát triển rừng

Xây dựng chương trình kế hoạch bảo vệ rừng, phương án phòng chống các hành vi

vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng Hướng dẫn chủ rừng lập và thực hiện phương án bảo vệ rừng, bồi dưỡng nghiệp vụ cho chủ rừng

Kiểm tra, giám sát việc bảo vệ rừng, khai thác rừng, sử dụng rừng, lưu thông vận chuyển, kinh doanh lâm sản, đấu tranh, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo

vệ và phát triển rừng

Tuyên truyền vận động nhân dân bảo vệ và phát triển rừng, phối hợp với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xây dựng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng

Hạt kiểm lâm là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật

về quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Phối hợp công tác và giám sát tình hình quản lý bảo vệ rừng, chống chặt phá rừng, khai thác lâm sản trên địa bàn Đồng thời, thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng và kiểm soát kinh doanh thực

vật rừng, động vật rừng

• Chi cục phát triển lâm nghiệp

Với vai trò quản lý nhà nước về lâm nghiệp, chi cục phát triển lâm nghiệp, thuộc

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phối hợp với đơn vị điều tra quy hoạch, cơ quan

Trang 31

kiểm lâm tham gia kiểm kê rừng, thẩm định phương án thiết kế trong các hoạt động liên quan đến rừng và đất rừng

Định kỳ kiểm kê tài nguyên rừng được giao, định kỳ đánh giá mức độ tăng trưởng của rừng, đề xuất với cấp trên ra quyết định xử lý những trường hợp để mất rừng, tài nguyên bị suy giảm nghiêm trọng

Trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng, hướng dẫn, chỉ đạo và giải quyết những vấn đề phát sinh về hồ sơ thủ tục trong quá trình triển khai thực hiện việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng Tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện khoán rừng theo quyết định 304 toàn tỉnh Phối hợp với Sở tài chính, Sở kế hoạch và đầu tư, Ban dân tộc xây dựng kế hoạch hàng năm để triển khai thực hiện

• Hộ nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng

Thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng nhận khoán

Phòng chống và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi tác động trái phép đến rừng như ; lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản, đốt than, khai thác nhựa, khai thác khoáng sản, đất đá…

Khi phát hiện thủ phạm phá rừng trái phép trên khu vực giao khoán phải báo cáo ngay cho đơn vị chủ rừng biết, đồng thời phối hợp với chủ rừng lập biên bản đình chỉ hoặc báo ngay cho hạt kiểm lâm, chính quyền địa phương để xử lý ngăn chặn kịp thời các vụ việc vi phạm

Tổ chức phòng cháy, chữa cháy rừng, thực hiện tốt các biện pháp PCCC rừng theo hướng dẫn của bên giao khoán

Nếu vi phạm các điều khoản trong hợp đồng khoán bảo vệ rừng thì bị thu hồi, hủy

bỏ hợp đồng khoán quản lý bảo vệ rừng tùy theo mức độ nặng, nhẹ mà hợp đồng quy định

Trả lại rừng và đất rừng được khoán bảo vệ khi cơ quan chức năng có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật

4.1.1.2 Hoạt động của các bên liên quan trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng

• Hoạt động của Công ty Tam Hiệp

Sau khi có hướng dẫn liên ngành của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở tài chính và Ban dân tộc về việc triển khai thực hiện giao khoán rừng theo quyết định

Trang 32

304/2005/QĐ-TTg, công ty lâm nghiệp Tam Hiệp tiến hành thiết kế và lập báo cáo kinh tế

- kỹ thuật về công trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định

Khi công trình giao khoán được phê duyệt, Công ty tiến hành thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất, hộ nghèo, đói

đã được chính quyền xã xét và bình chọn Từ đó tiến hành lập hồ sơ, hợp đồng giao khoán, bản đồ cho từng hộ nhận khoán và tiến hành bàn giao hiện trường cụ thể cho từng hộ nhận khoán

Hàng quý và cuối năm công ty tiến hành kiểm tra, nghiệm thu đánh giá các lô giao khoán về tình hình sinh trưởng, phát triển của rừng kể cả số lượng và chất lượng Thanh toán đầy đủ tiền công giao khoán, tiền hỗ trợ gạo và các chế độ khác theo dự toán được duyệt

Thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn và đôn đốc bên nhận khoán thực hiện tốt nhiệm

vụ quản lý bảo vệ rừng theo hợp đồng khoán, cùng với hộ nhận khoán thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn các hành vi khai thác, phát rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép…trên các khu rừng giao khoán

• Hoạt động của Ủy ban nhân dân xã

Tổ chức họp dân để xét và lựa chọn các hộ dân được nhận giao khoán bảo vệ rừng theo nội dung của quyết định 304 của Thủ Tướng chính phủ

Tập hợp danh sách những hộ dân được nhận giao khoán, biên bản họp xét, chuyển

về cho đơn vị chủ rừng để đưa vào báo cáo kinh tế - kỹ thuật theo quy định

Ủy ban nhân dân xã cùng với hạt kiểm lâm tiến hành kiểm tra hiện trường thiết kế giao khoán quản lý bảo vệ rừng của chủ rừng

Cùng với công ty lâm nghiệp Tam Hiệp lập thủ tục và xác nhận các chứng từ thanh toán các chế độ về giao khoán bảo vệ rừng hàng quý, năm cho các hộ nhận giao khoán

Ban lâm nghiệp xã là bộ phận tham mưu chính cho ủy ban nhân dân xã về các vấn

đề liên quan đến lâm nghiệp Là bộ phân trực tiếp cùng với đơn vị chủ rừng, kiểm lâm địa bàn hỗ trợ hộ giao khoán trong việc ngăn chặn các hành vi phá rừng trên địa bàn quản lý

Trang 33

• Hoạt động của Hạt kiểm lâm

Hạt kiểm lâm cùng với ủy ban nhân dân xã tiến hành kiểm tra hiện trường thiết kế giao khoán quản lý bảo vệ rừng của đơn vị chủ rừng

Kiểm lâm địa bàn là thành viên của ban lâm nghiệp xã, thực hiện nhiệm vụ tham mưu về chuyên môn nghiệp vụ về công tác quản lý bảo vệ rừng, tham mưu và đề nghị ủy ban nhân dân xã ra quyết định xử phạt các hành vi vi phạm luật bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn quản lý Kiểm lâm địa bàn là lực lượng trực tiếp cùng với ủy ban nhân dân xã, đơn

vị chủ rừng hỗ trợ hộ giao khoán trong việc ngăn chặn các hành vi phá rừng trái phép

Hạt kiểm lâm là cơ quan thực hiện việc thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng của đơn vị chủ rừng, làm cơ sở cho Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng của đơn vị chủ rừng

Trong thực tế thực hiện hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng, về phía các cơ quan nhà nước, chủ yếu chỉ có sự tham gia của Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp, Hạt kiểm lâm và Ban lâm nghiệp của Ủy ban nhân dân xã Chính vì thế khi phỏng vấn về hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng, chúng tôi chỉ tiến hành phỏng vấn đại diện của các cơ quan này

Những đại diện này cho biết một số hoạt động lâm nghiệp mà cơ quan họ đang tiến hành được trình bày ở bảng 4.1 sau:

Bảng 4.1 Hoạt động lâm nghiệp của các bên liên quan

thuộc cơ quan nhà nước

Hoạt động Tần số xuất hiện câu trả lời Phần trăm

Trang 34

Khi được hỏi về nguồn nhân lực tham gia trong hoạt động lâm nghiệp của cơ quan

có đáp ứng hay không, cả 11 đại diện đều nói rằng lực lượng lao động trong cơ quan của

họ không đủ Chính vì thế những người này cho biết đối tượng tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp của cơ quan họ gồm có nhân viên trong cơ quan, người dân địa phương và người dân tại nơi khác Nguồn kinh phí để chi trả cho lực lượng lao động này gồm có nguồn vốn từ trung ương, từ vốn tự có của Công ty lâm nghiệp và chủ yếu là từ nguồn ngân sách của Tỉnh

Về cách thức và thời gian kiểm tra hoạt động quản lý bảo vệ rừng của các cơ quan này được tổng hợp trong bảng 4.2 dưới đây:

Bảng 4.2 Cách thức và thời gian kiểm tra hoạt động quản lý bảo vệ rừng của các bên

liên quan thuộc cơ quan nhà nước

Thời gian kiểm tra hoạt

động quản lý bảo vệ rừng Tần số xuất hiện câu trả lời Phần trăm

Trang 35

• Hoạt động của những hộ nhận khoán

Tất cả công việc trong công tác giao khoán rừng cho các hộ dân đều do chủ dự án thực hiện, từ việc tiến hành thiết kế khu vực giao khoán đến giao diện tích khoán quản lý bảo vệ rừng cho từng hộ gia đình Người dân chỉ được tham gia trong các cuộc họp về thông báo mục đích, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lợi và diện tích được nhận khoán do chính quyền địa phương và đơn vị chủ rừng chủ trì Sau khi được hợp đồng nhận khoán, các hộ tham gia vào việc đóng cột mốc phân định ranh giới, diện tích được nhận khoán giữa các nông hộ

Nói chung dự án chỉ diễn ra một chiều từ trên xuống trong quá trình lập kế hoạch

và thực hiện dự án, ý kiến của người dân chỉ được phản hồi thông qua các cuộc họp sơ kết công tác quản lý bảo vệ rừng vào tháng 6 hàng năm và cuộc họp tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng vào cuối năm (tháng 12) do đơn vị chủ rừng tổ chức Các cuộc họp này do công ty lâm nghiệp chủ trì và có sự tham gia của toàn thể hộ dân nhận khoán, sự tham dự của các cơ quan chức năng liên quan như Hạt kiểm lâm, chính quyền địa phương, mời đại biểu tham dự là Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục kiểm lâm Tại cuộc họp này đơn vị chủ rừng sẽ đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng của đơn vị và tình hình thực hiện hợp đồng nhận khoán quản lý bảo vệ rừng của các hộ nhận khoán trong một năm qua Trong cuộc họp này các hộ dân nhận giao khoán được trình bày những khó khăn, vướng mắc, những tâm tư nguyện vọng và những vấn đề cần đề xuất với đơn vị chủ rừng và các

cơ quan chức năng liên quan hỗ trợ trong công tác quản lý bảo vệ rừng nhận khoán Các ý kiến của hộ nhận giao khoán được giám đốc công ty lâm nghiệp (chủ trì cuộc họp) tổng hợp và ghi nhận để triển khai cho các phòng ban chuyên môn trong đơn vị và cũng như phối hợp với cơ quan liên quan triển khai cùng với hộ nhận khoán thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng đạt hiệu quả tốt hơn

Số hộ dân nhận khoán quản lý bảo vệ rừng theo chương trình 304 tại xã Tam Bố có

31 hộ, trong đó 100% là nam giới được phân thành 5 tổ, mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 1 tổ phó

Tổ trưởng và tổ phó có vai trò là người đi đầu trong việc bảo vệ rừng, thường xuyên liên lạc và thông tin kịp thời mọi tình hình, diễn biến về khu vực rừng thuộc tổ mình nhận

Trang 36

khoán quản lý bảo vệ Bên cạnh đó tổ trưởng, tổ phó còn có nhiệm vụ đôn đốc, tập hợp và cùng các hộ nhận khoán trong tổ mình thực hiện công tác tuần tra bảo vệ rừng theo lịch đã phân công Việc bầu tổ trưởng, tổ phó và sắp xếp các thành viên trong tổ được tiến hành dưới sự chủ trì của cán bộ tiểu khu, phân trường của công ty với sự tham gia bầu chọn của toàn thể các hộ nhận giao khoán Người được bầu làm tổ trưởng, tổ phó là những người tham gia nhận khoán có uy tín, tích cực, đi đầu trong công tác bảo vệ rừng

Khi được hỏi về cách thức quản lý bảo vệ rừng, có 28 hộ nhận khoán (chiếm hơn 90% số hộ phỏng vấn) cho biết họ tự thành lập tổ tự quản để quản lý bảo vệ rừng nhận khoán, còn lại 3 hộ khác kết hợp với chủ rừng tuần tra bảo vệ (xem bảng 4.3)

Bảng 4.3 Cách thức quản lý bảo vệ rừng của các hộ nhận khoán

Cách thức QLBVR Số hộ phỏng vấn Phần trăm

Nguồn: tổng hợp từ số liệu phỏng vấn Những hộ nhận giao khoán có lô rừng gần nhau, có nhà ở gần nhau được phân cùng một tổ nhằm tiện trong việc tập hợp lực lượng và trong công tác tuần tra bảo vệ rừng Sau khi đã thống nhất với các thành viên trong tổ, tổ trưởng lên lịch tuần tra bảo vệ rừng cho các hộ gia đình thuộc tổ mình và gửi về phân trường hoặc tiểu khu để theo dõi, kiểm tra Các tổ luân phiên nhau đi tuần tra rừng, các hộ sẽ được phân công cụ thể theo ngày Theo các hộ nhận khoán cho biết (26 hộ) trung bình cứ hai tuần đi tuần tra một lần (bảng 4.4)

Bảng 4.4 Thời gian tuần tra bảo vệ rừng của các hộ nhận khoán

Thời gian Số hộ phỏng vấn Phần trăm

Trang 37

Trong công tác quản lý bảo vệ rừng nhận khoán, các khâu công việc thường gắn

với mùa vụ đặc thù của ngành lâm nghiệp Từ tháng 12 đến tháng 5 (năm sau) các hộ nhận

khoán tập trung cho công tác xử lý vật liệu cháy, tuần tra canh gác, phòng cháy chữa cháy

rừng Từ tháng 6 đến tháng 12 tăng cường công tác tuần tra bảo vệ rừng, chống chặt phá,

lấn chiếm đất rừng, phát rừng làm rẫy trái phép

Vị trí diện tích nhận khoán của các hộ gia đình được thể hiện ở sơ đồ phác thảo sau

Suối đá

Nương+rẫy

Cà fê+Bắp

Khu vực

(tiểu khu 676) Đỉnh Cô Ra

Loài cây: Thông+Dầu+Sao

Hình 4.1 Sơ đồ phác thảo tài nguyên xã Tam Bố

Trang 38

4.1.2 Lợi ích của hộ nhận khoán khi tham gia hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng

Trong tổng số 31 hộ nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng có 15 người là mù chữ, chiếm 48,4%; tiểu học là 15 người, chiếm 48,4 % Những người này có vai trò là chủ hợp đồng nhận khoán và là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra bảo vệ rừng nhận khoán Với trình độ văn hóa thấp như trên đã ảnh hưởng đến kết quả công tác khoán quản

lý bảo vệ rừng Do đó lúc mới nhận khoán, đa số các hộ chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt là có thêm nguồn thu nhập từ việc nhận khoán quản lý bảo vệ rừng, có thể nhờ vào số tiền này

mà họ có thể trang trải cuộc sống gia đình Họ vẫn chưa hiểu hết mục đích của công tác giao khoán, nên trong những thời gian đầu rừng giao khoán còn bị xâm hại nhiều như việc chặt phá, phát rừng làm rẫy…Với số tiền nhận khoán được từ việc tham gia công tác quản

lý bảo vệ rừng là 100.000 đồng/ha/năm, họ vẫn cho là thấp so với làm công lao động ở ngoài Tuy đã phân lịch tuần tra rất cụ thể của tổ và đơn vị chủ rừng nhưng việc tuần tra bảo vệ của họ cũng không được thường xuyên mà chỉ kết hợp đi tuần tra với công việc làm rẫy, đồng áng của gia đình họ, hoặc những lúc chăn thả gia súc và lúc nông nhàn

Mỗi hộ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng được hưởng số tiền là 100.000 đồng/ha/năm và 10 kg gạo/khẩu/6 tháng, gạo được tính theo đơn giá 6000 đồng/kg Trong một năm tối đa họ có thể ứng trước tiền là 3 lần, mỗi lần muốn ứng tiền trước phải được chủ dự án nghiệm thu kết quả quản lý bảo vệ rừng tốt, rừng không bị xâm hại thì mới được ứng Tổng số hộ được nhận khoán theo chương trình 304 là 31 hộ, 200 nhân khẩu Với cách tính tiền như vậy thì trung bình mỗi năm một hộ nhận được số tiền là: (733,35:31) x 100.000 = 2.370.000 đồng; tiền hỗ trợ gạo: 200 x10 x 6 x 6 = 72.000.000 đồng Trung bình một năm một hộ sẽ nhận được số tiền là 4.692.000 đồng

Ngoài các khoản tiền trên, riêng đối với tổ trưởng, tổ phó tổ nhận khoán bảo vệ rừng được đơn vị chủ rừng hỗ trợ thêm 200.000 đồng/năm (trong đó tổ trưởng là 120.000 đồng, tổ phó 80.000 đồng) Số tiền này đã phần nào giải quyết được những khó khăn nhất định trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày của các hộ dân Số tiền này sẽ được trả ổn định nếu hợp đồng được tiếp tục

Trang 39

Ngoài khoản tiền nhận được như trên, trong quá trình tuần tra bảo vệ rừng, họ có thể gom lượm cành, nhánh khô làm củi để sử dụng trong gia đình, bắt tổ ong và các lâm sản phụ khác Các hộ có lô nhận khoán gần nhà thì có thể thuận lợi cho việc chăn thả gia súc và kết hợp với bảo vệ rừng Ngoài ra, họ có thể trồng xen cây nông nghiệp, hoa màu

để có thêm thu nhập Qua quá trình tham gia nhận khoán quản lý bảo vệ rừng thì những hộ nhận khoán sẽ có sự hiểu biết hơn về vai trò của rừng đối với đời sống và ý nghĩa của việc duy trì bảo vệ nó

4.2 Tầm quan trọng và ảnh hưởng của các bên liên quan trong giao khoán quản lý bảo vệ rừng ở khu vực nghiên cứu

4.2.1 Tầm quan trọng của các bên liên quan trong hoạt động giao khoán quản lý bảo

vệ rừng

Tầm quan trọng của các bên liên quan (hộ nhận giao khoán bảo vệ rừng tại thôn 5,

ủy ban nhân dân xã, công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp và hạt kiểm lâm) lần lượt được thể hiện trong sơ đồ Venn dưới đây:

Hình 4.2 Sơ đồ Venn các tổ chức, cơ quan tham gia hoạt động giao khoán quản lý

bảo vệ rừng tại xã Tam Bố

Hoạt động giao khoán quản lý bảo

vệ rừng

Hạt kiểm lâm

Ủy ban nhân dân xã

Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp

Hộ nhận

giao khoán

Trang 40

4.2.1.1 Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp

Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp là chủ dự án có vai trò rất quan trọng trông việc tổ chức, triển khai thực hiện việc giao khoán rừng cho các hộ dân và cùng với hộ dân thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng Là đơn vị có vai trò chủ chốt từ khâu lập dự án giao rừng cho hộ dân đến việc cùng với hộ dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng trên diện tích giao khoán Vai trò của đơn vị chủ rừng rất quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho dân, là đơn vị có vai trò ảnh hưởng nhiều nhất, gần gũi và trực tiếp với các hộ dân nhất trong hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng Cùng với hộ nhận khoán cán bộ công ty lâm nghiệp là lực lượng đi đầu trong công tác quản lý bảo vệ khu vực rừng giao khoán

Khi phỏng vấn các bên liên quan về tầm quan trọng của tổ chức, cơ quan trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng, tất cả những người được phỏng vấn đều cho rằng Công ty lâm nghiệp Tam Hiệp là đơn vị có tầm quan trọng nhất trong hoạt động này (bảng 4.5)

Bảng 4.5 Tổ chức đóng vai trò quan trọng nhất trong quản lý bảo vệ rừng

Vai trò quan trọng nhất Đại diện các cơ quan nhà nước Phần trăm

Nguồn: tổng hợp từ số liệu phỏng vấn 4.2.1.2 Hộ nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng

Các hộ nhận giao khoán rừng đóng vai trò là chủ các lô rừng mà đã được công ty lâm nghiệp giao thể hiện bằng hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng Hợp đồng này đã được hai bên thống nhất, một bên là công ty lâm nghiệp, bên kia là các hộ nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng Hầu hết những đại diện của các cơ quan nhà nước cho rằng những hộ nhận khoán đều có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại địa phương

Hộ nhận khoán thực hiện việc tuần tra bảo vệ khu vực rừng được giao khoán, ngăn chặn mọi hành vi xâm hại đến rừng như: khai thác lâm sản, phát rừng, lấn chiếm đất rừng

Ngày đăng: 13/09/2018, 08:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w