1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

59 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 712,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Khóa học : 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 3

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ

em trong suốt thời gian thực hiện đề tài Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn

cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trại Nguyễn Hồng Long, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho

em trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Thái Nguyên, ngày…tháng… năm 2017

Sinh viên

HOÀNG NGỌC ANH

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Chuẩn bị điều kiện để nuôi gà 27

Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các giai đoạn 30

Bảng 4.3 Khả năng tiêu thụ thức ăn (tính chung trống mái) 31

Bảng 4.4 Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh 33

Bảng 4.5 Kết quả công tác phòng bệnh bằng thuốc 34

Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh cho gà bằng vắc xin 38

Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh ở đàn gà tại trại 41

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà thịt lông màu 45

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Hệ tiêu hoá của gia cầm 7

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 6

2.1.5 Giới thiệu về qui trình nuôi gà tại trại 6

2.2 Một số đặc điểm tiêu hóa và sinh trưởng của gà 7

2.2.1 đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà 7

2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 10

2.2.3 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng và gà F1 15

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 17

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 22

3.1 Đối tượng 22

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22

3.3 Nội dung thực hiện 22

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 22

Trang 8

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 22

3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 23

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 23

Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 25

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 25

4.1.1 Công tác chuẩn bị chăn nuôi 26

4.2 Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc gà F1 (Ri x Lương Phượng) 28

4.3 Công tác thú y 32

4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 32

4.3.2 Công tác phòng bệnh bằng thuốc 34

4.3.3 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin 35

4.4 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà lông màu 39

4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn gà thịt lông màu tại cơ sở 39

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh cho đàn gà tại trại 42

4.5 Công tác khác 46

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 9

Phần 1

Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước đang phát triển, trong đó sản xuất nông nghiệp đã trở thành nghề truyền thống và góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập hiệu quả cao, góp phần cải thiện đời sống xã hội của nhiều người lao động Theo thống kê chăn nuôi 10/2016 thì tổng đàn gia cầm của nước ta hiện nay khoảng 100 triệu con, trong đó gà chiếm khoảng 88%, vịt 9%, còn lại là các loại gia cầm khác…, Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tăng 4,5 – 5% so với cùng kỳ năm 2015.Cùng với số lượng lớn thì cơ cấu loài của chăn nuôi gia cầm cũng rất đa dạng, điều này đã đưa ngành chăn nuôi gia cầm lên vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 13 thế giới và vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á Hiện nay, ngành nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Bên cạnh đó xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về thực phẩm có nguồn gốc động vật như: thịt, trứng, sữa ngày càng cao Vì vậy, trong chăn nuôi gia cầm phải không ngừng áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gia cầm, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

xã hội Nhằm đạt được hiệu quả chăn nuôi cao chất lượng sản phẩm tốt, đạt hiệu quả kinh tế cao, trong những năm gần đây với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa ,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Ðảng và Nhà nước, ngành chăn nuôi đã có được sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất, góp phần vào thay

Trang 10

đổi bộ mặt kinh tế nông thôn Với những chính sách thuận lợi và phù hợp của nhà nước, nên ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều trại nuôi gia cầm, với nhiều quy mô khác nhau Chăn nuôi gà là một hướng phát triển lớn trong phương hướng phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Bên cạnh những giống gà và phương thức nuôi truyền thống thì đã xuất hiện những giống gà mới và phương thức nuôi hiện đại, trong đó thực hiện nuôi gà theo phương thức chuồng kín đang được áp dụng ngày càng rộng rãi Xuât phát từ yêu cầu thực tế trên, em tiến hành thực hiện chuyên đề “Thực hiện quy trình nuôi dưỡng gà lông màu

giai đoạn 1 - 75 ngày tuổi tại trại chăn nuôi gia cầm Nguyễn Hồng Long,

xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Vị trí địa lý

2.1.1.1 Vị trí địa lý trại gà

Trại gà thịt Nguyễn Hồng Long được xây dựng năm 2014, là trại gia công của Công ty cổ phần CP Việt Nam với quy mô xây dựng có khả năng nuôi 4000 gà thịt Trại được xây dựng tại xã Khe Mo, Huyện Đồng Hỷ , Tỉnh Thái Nguyên với diện tích 250 m2

Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21o32’ đến 21o51’độ vĩ bắc,

105o46’ đến 106o04’ độ kinh đông Phía bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn, phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lượn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng bắc - nam xuống đến đập Thác huống

Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên là 520.59km2 Trong đó đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất chưa sử dụng chiếm 25,7%.Núi Chùa Hang trước kia còn gọi là núi đá Hóa Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên

Núi Voi, còn có tên là núi Thạch Tượng, núi Tượng Lĩnh, ở xã Hoá Thượng Thế núi hiểm trở, giống hình con voi Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc lấy núi làm căn cứ chống quan quân nhà Lê - Trịnh

Huyện Động Hỷ được đặt tên từ thời nhà Trần Năm 1469, dưới triều

Trang 12

vua Lê Thánh Tông đổi thành Đồng Hỷ; sau đổi là huyện Đồng Gia, rồi lại đổi thành Đồng Hỷ; là một trong 7 châu, huyện thuộc phủ Phú Bình Trong thời nhà Nguyễn (thế kỷ XIX), huyện Đồng Hỷ gồm 9 tổng, 33 xã, thôn, trang, phường, huyện lỵ đặt ở xã Huống Thượng

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Đồng Hỷ là huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên, nằm trong khu vực trung

du và miền núi bắc bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, trại Nguyễn Hồng Long cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng, khí hậu thay đổi theo mùa rõ rệt

Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 8), mùa đông lạnh, khô (từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau) Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4oC Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,7oC; nhiệt độ tối cao lên tới

41oC Ở độ cao 400 m nhiệt độ trung bình năm là 20,6oC; Từ độ cao 1.000 m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16oC Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,2oC Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,1oC

Lượng mưa trung bình là 2.500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8, độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400 m trở lên, không có mùa khô Mùa Đông có gió Bắc với tần suất > 40% Mùa Hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho nghành chăn nuôi phát triển

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức trại gà

Trại gồm có 2 người trong đó có:

+ 1 quản lý

+ 1 công nhân

Trang 13

2.1.3.2 Cơ sở vật chất của trại

Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quan tâm và chú trọng

Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư tương đối đầy đủ Trại được xây dựng trên vùng đất rộng với diện tích 250

m2 với 1 dãy chuồng lớn tách rời riêng biệt Mỗi chuồng lớn lại được chia thành 3 ô nhỏ Trong các dãy chuồng đều có các ô ngăn cách nhau bởi hàng rào Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện chiếu sáng, máng uống nước cho gà tự động.Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho gà con khi mới nhập

Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện.Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt : khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên

và khu chuồng nuôi

Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho gà và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc,vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn gà của trại

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 1 dãy chuồng chạy dài, được tách ra làm 3 ô chuồng Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống máng uống nước tự động ở mỗi dãy chuồng Mùa hè

có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại

Ngoài ra, trang trại còn có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh,

Trang 14

tivi, tủ lạnh, quạt, Những vật dụng cá nhân như : kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại chuẩn bị

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại

- Thuận lợi:

+ Trại được xây dựng trên một bãi đất rộng cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân xung quanh

+ Trại được xây dựng theo mô hình chăn nuôi công nghiệp, trang thiết

bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay

- Khó khăn:

+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn

2.1.5 Giới thiệu về qui trình nuôi gà tại trại

Chuồng trại được thiết kế theo phương thức chăn nuôi khép kín bằng

hệ thống chuồng kín có quạt thông gió và hệ thống làm mát

Ưu điểm: là phương thức chăn nuôi tiên tiến, áp dụng cơ khí hóa và điện khí hóa trong chăn nuôi để điều khiển về khí hậu chuồng nuôi, đáp ứng nhu cầu sinh lý của gà, tạo môi trường tốt nhất cho gà, hạn chế gà mắc bệnh, tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi

Nhược điểm : đầu tư ban đầu quá lớn, cần có thi trường tiêu thụ lớn và diện tích đất rộng, xa khu dân cư, không thích hợp với quy mô nhỏ

Trang 15

2.2 Một số đặc điểm tiêu hóa và sinh trưởng của gà

2.2.1 đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà

Hình 2.1: Hệ tiêu hoá của gia cầm

1.Thực quản; 2 Diều; 3 Dạ dày tuyến; 4 Dạ dày cơ; 5 Lá lách; 6 Túi mật;

7 Gan; 8 Các ống mật; 9 Tuyến tụy; 10 Tá tràng; 11 Ruột non; 12 Mang tràng ; 13 Ruột già; 14 Ổ nhớp

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật

có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm (Xelianxki V.M, 1986) Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác Do đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn

ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001 [3])

* Tiêu hóa ở miệng

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều đầu mút dây thần kinh , có tác dụng cảm giác

Trang 16

Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt

là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng tiêu hóa

Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu rồi vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt

*Tiêu hóa ở diều

Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với một phần tinh bột được thủy phân

*Tiêu hóa ở dạ dày

Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như cái túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch Màng nhầy rất phát triển Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 - 4,5

Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzym và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric Các

tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên [18]

Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan

Trang 17

Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác ( ở lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua) sau đó thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (ở thực quản và diều), qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)

Dưới ảnh hưởng của men amylaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình phân giải ở diều Thời gian thức ăn ở diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút còn khối lượng lớn thì vài giờ

Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30 phút: Gà khoảng 11,3 ml , còn ở ngỗng là 24 ml ở giờ thứ nhất Sau khi ăn dịch vị tiết nhiều hơn

*Tiêu hóa ở ruột

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào tá tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với

tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic , lypolytic và cả men enterokinaza

Dịch tụy là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )

Dịch tụy của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amylaza, mantaza, invertaza và lipaza

Trang 18

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này

Các men amylaza và mantaza phân giải các polysacarit thành các monosacarit như glucoza Lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo

Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu

Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào

để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn

2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

2.2.2.1 Khái niệm sinh trưởng

Là một sinh vật, hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc trưng cơ bản của sự sống Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh

trưởng là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Trang 19

Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [13], tác giả Mozan (1997) đã đưa ra khái niệm: sinh trưởng của cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các

bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc

độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác Trần Đình Miên (1992) [7], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”

2.2.2.2 Những chỉ tiêu sản xuất của gà thịt

- Tỷ lệ nuôi sống: Là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này không những là thước đo việc thực hiện qui trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn đánh giá sức sống, sức sản xuất và khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm

- Sinh trưởng:

+ Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Cân vào các thời điểm 1 ngày tuổi, cân hàng tuần từ 1 tuần tuổi cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân từng con một Đồ thị sinh trưởng tích lũy

có hình chữ S

+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là hiệu số của khối lượng cơ thể cuối kỳ và khối lượng cơ thể đầu kỳ chia cho thời gian giữa hai kỳ cân Đồ thị sinh tuyệt đối có hình parabol

+ Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước

và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi

Trang 20

- Tiêu thụ thức ăn: Lượng thức ăn thu nhận là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm theo phương thức công nghiệp, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nồng độ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của mỗi loại gia cầm, chất lượng giống, mùa vụ Thông qua chỉ tiêu này, có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của đàn gia cầm, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Dựa vào lượng thức ăn thu nhận và năng suất của mỗi đàn gia cầm, người ta tính được tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm chăn nuôi (FCR) Vì vậy, lượng thức ăn thu nhận có một ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong sản xuất của ngành chăn nuôi gia cầm

- Hệ số chuyển hóa thức ăn: Thức ăn chiếm đến 70% trong tổng giá thành sản phẩm chăn nuôi Chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg thịt là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia cầm lấy thịt Hiện nay ở các nước tiên tiến, người ta thường giết thịt gia cầm ở độ tuổi từ 35 - 60 ngày tuỳ theo các giống khác nhau

- Thành phần và tỷ lệ cấu thành thân thịt gà khi giết mổ:

+ Tỷ lệ thân thịt (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối lượng sống

+ Tỷ lệ thịt lườn:là tỉ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt lườn vói khối lượng thân thịt.Tách thịt lườn bằng cách: rạch một lát cắt dọc theo xương lưỡi hái đến xương ngực, cắt tiếp từ xương đòn đến vai Bỏ da ngực, tách cơ ngực nông và cơ ngực sâu bên trái, bỏ xương, cân

+ Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi, thịt ngực với khối lượng thân thịt

+ Tỷ lệ mỡ bụng (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng sống hoặc là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối

lượng thân thịt

Trang 21

- Chỉ số sản xuất (Performance index - PI): Chỉ số sản xuất là một đại lượng biểu thị mối quan hệ tổng hợp giữa khối lượng cơ thể, tỷ lệ nuôi sống, FCR và thời gian nuôi

- Chỉ số sản xuất (Economic number – EN): EN càng cao thể hiện hiệu quả kinh tế càng lớn

2.2.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm

- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định, trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái

Theo Phùng Đức Tiến (1997) [8], đã xác định biến dị di truyền về tốc

độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính Theo Siegel và Dumington (1978) [14] thì những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn

gà trống

Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm

có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính (Bichell và Brandsch, 1978) [1]

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Trang 22

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống

Theo Chanbers J R (1990) [13] thì tương quan giữa khối lượng của gà

và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 – 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng về protein, acid amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gà ở các giai đoạn khác nhau

- Ảnh hưởng của môi trường

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh; nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh , ảnh hưởng đến sức khỏe của gia cầm

Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới (Wesh Bunr K W và cộng sự, 1992 [15])

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Ngoài ra, trong chăn nuôi gà cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gà

Trang 23

Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn

2.2.3 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng và gà F1

2.2.3.1 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri

* Nguồn gốc

Đến nay chưa rõ nguồn gốc của

gà Ri Gà Ri phân bố rộng khắp các

vùng trong cả nước, đặc biệt là miền

Bắc và miền Trung của Việt Nam

* Đặc điểm ngoại hình

Rất đa dạng, gà mái: lông màu

vàng rơm, vàng đất hoặc nâu nhạt,

xung quanh cổ có hàng lông đen, mào

kém phát triển, lá tai chủ yếu màu đỏ, một số lá tai màu trắng

Gà trống: Màu lông phổ biến là đỏ thẫm, đầu lông cánh và lông đuôi có lông đen ánh xanh, ngoài ra còn có các màu: trắng, hoa mơ đốm trắng Mào

cờ, mào tích đốm đỏ tươi rất phát triển

Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng ,chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi [8]

* Khả năng sản xuất

Dẫn theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [10], theo các kết quả nghiên cứu được công bố của Nguyễn Viết Ly, 2001; Át lát vật nuôi, 2004; Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Thanh Sơn, 2000; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006 thì:

Trang 24

Khối lượng mới nở là 30 – 31 g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130 g, ở gà trống là 1636 g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g Thịt thơm ngon, màu trắng

Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 – 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng

Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 – 15 quả Năng xuất trứng có thể đạt từ

70 – 125 quả Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6%, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78%, tỷ

lệ gà con loại I đạt 94,1%

Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả, không xuất hiện mổ cắn

Gà nuôi thịt đến 12 tuần tuổi: Tỷ lệ nuôi sống đạt 95,7%, khối lượng con trống 1140,70 g, con mái 940,50 g Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75% Còn tỷ lệ thịt đùi +

còn gọi là Lương Phượng Hoa

Trung Quốc do lai tạo giữa giống gà nội của Trung Quốc với gà nhập nội, được nhập vào nước ta từ sau năm 1997

* Đặc điểm ngoại hình

Gà Lương Phượng có hình dáng bên ngoài gần giống với gà Ri của ta Lông màu vàng tuyền, vàng đen hoặc đốm hoa Sở dĩ gọi là gà Lương Phượng

vì trong đàn có nhiều màu lông khác nhau Mào, yếm, mặt và tích tai màu đỏ

Gà trống mào đơn ngực nở, lưng thẳng lông đuôi vươn cong, chân cao vừa

Trang 25

phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon

Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ thể 2700 g, gà mái đạt khối lượng 2100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu vào đẻ lúc 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1500 – 1600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 – 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95% Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, thích hợp với

mọi điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam Nuôi

công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả

2.2.3.3 Đặc điểm sinh học và khả năng sản

xuất của gà F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng)

Thế hệ con lai vẫn giữ được màu lông

tương tự gà Ri, qua ba thế hệ tự giao ngoại

hình vẫn ổn định, tỷ lệ nuôi sống từ 1 – 19

tuần tuổi là 89 – 91 % khối lượng cơ thể lúc

19 tuần tuổi đạt 1,7 – 1,9 kg, sản lượng đến

52 tuần tuổi đạt 115 – 118 quả/mái

Gà lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12

tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 97 – 100%, khối lượng cơ thể 2,0 - 2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn tăng khối lượng cơ thể là 3,2 – 3,3 kg Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi

có tỷ lệ nuôi sống đạt 94 – 96%, khối lượng cơ thể 1,8 - 2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 2,8 – 3,0 kg, chất lượng thịt ngon như gà Ri

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Sau hơn 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Chăn

Trang 26

nuôi gia cầm có giá trị sản xuất năm 1986 là 1.701 tỷ đồng tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002, năm 2006 đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19% trong chăn nuôi Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con, đến năm 2003 đạt 254 triệu con (gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng bình quân 7,87%/năm Trong đó số lượng đàn gà thời gian 1990 – 2003 tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/năm Từ năm 2003 do ảnh hưởng của dịch cúm số lượng đầu con giảm Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con Đạt được những kết quả trên, khoa học công nghệ đã có những đóng góp quan trọng như nghiên cứu thích nghi và đưa vào sản xuất các giống gà cao sản Đồng thời với việc đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp,

từ năm 1995 đã tập trung nghiên cứu các giống gà chăn thả có năng suất, chất lượng cao trên phạm vi cả nước

Theo Trần Công Xuân và cộng sự (2001) [11], khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của gà Lương Phượng của Trung Quốc đã kết luận: dòng M1có tuổi đẻ quả trứng đầu lúc 145 ngày tuổi, đẻ 5% lúc 160 ngày tuổi, 30% lúc

170 ngày tuổi và đạt 50% lúc 184 ngày tuổi Khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi đạt 55,42 gam, tỷ lệ lòng đỏ đạt 30,92%, tỷ lệ phôi đạt 94,59%, tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp là 83,11%, tỷ lệ nở/ tổng trứng có phôi đạt 88,08%

Theo Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến và cộng sự (1991) [12] khi nghiên cứu về khả năng sản xuất trứng của bốn dòng gà kabir ông bà nhập nội nuôi tại trung tâm Nghiên Cứu Gia Cầm Thuỵ Phương - Viện Chăn Nuôi đã kết luận: khả năng sinh sản khá cao, năng suất trứng đến 70 tuần tuổi mái B: 163,34 quả, mái D quần thể 177,03 quả Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng giống thấp, tương đương 2,94 và 2,97 kg, khối lượng trứng trung bình 55 – 56 gam, đơn vị Haugh: 84 Tỷ lệ trứng chọn ấp là 92 – 93% Tỷ lệ trứng có phôi 92,18 – 96,02%

Trang 27

Nghiên cứu tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng hoa dòng M1, M2 nuôi tại trại thực nghiệm Liên Ninh : Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (2001) [2] cho biết: sức sống cao qua các giai đoạn của hai dòng gà Gà con 1 – 5 tuần tuổi dòng M1 đạt 97,3 – 97,8%, dòng M2 đạt 96,3% Gà 6 – 20 tuần dòng M1 đạt 97,5%, dòng M2 đạt 96% Gà đẻ dòng M1 đạt 98,4 – 98,8 %, dòng M2 đạt 98,35% Sản lượng trứng 7 tháng đẻ dòng M1 đạt 157,1 – 167,6 quả, dòng M2 đạt 158,3 quả Thức ăn tiêu tốn cho 10 quả dòng M1 là 3 – 3,26

Theo Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2007 [9] khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của bốn dòng gà Sasso đã kết luận: Gà có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta, do vậy tỷ lệ nuôi sống đạt 95,12 – 100% Năng suất trứng/mái/11 tuần đẻ của mái X04 là 39,29 quả Năng suất trứng/mái/13 tuần đẻ của mái A01 là 55,93 quả Tỷ lệ có phôi cao 94,93%, tỷ lệ nở/tổng số trứng vào đạt 79,23%

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận (1996) [5] gà Ri có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm 135 – 140 ngày, sản lượng trứng đạt 80 – 120

Trang 28

quả/mái/năm, chất lượng thịt tốt, thơm ngon đậm đà Nhưng cũng giống như những giống gà nội khác gà Ri có nhiều hạn chế về sinh trưởng cũng như sản xuất thịt Theo kết quả nghiên cứu của Trần Long và cộng sự (1994) [4], gà

Ri sinh trưởng chậm, nuôi từ 1 – 42 ngày tuổi khối lượng bình quân đạt 327,6/g tiêu tốn thức ăn là 2,985/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nuôi sống hai tuần đầu chỉ đạt 73,8%

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã và đang phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Hà Lan, Đức Theo tài liệu của FAO công bố: Năm 1997 sản lượng thịt gia cầm trên thế giới đạt trên 59 triệu tấn, tăng 3 triệu tấn so với năm 1996 Đứng đầu thế giới về sản lượng thịt gia cầm vẫn là Hoa Kỳ (25,3%) Từ năm 1994 Trung Quốc đã vượt Brazil để chiếm lĩnh vị trí thứ 2 (19,5%), có 41 nước chăn nuôi gia cầm phát triển, đảm đương sản xuất 90% sản lượng thịt gia cầm Năm

1998 có 9 nước đạt sản lượng thịt gia cầm trên 1 triệu tấn (dẫn theo Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan và cs (2015) [10])

Đến năm 2005, về sản lượng thịt: Mỹ đứng đầu trên thế giới 18.538.000 tấn (22,9%), thứ 2 là Nga 14.689.000 tấn (18,1%) tiếp theo đến Trung Quốc 8.895.000 tấn (11,0%), Pháp 2.272.000 tấn (2,8%), Italia 1.971.000 tấn (2,4%) và Anh 1.965.000 tấn (2,4%) tổng sản lượng thịt trên thế giới là 81.014.000 tấn Còn về sản lượng trứng: đứng đầu vẫn là nước Mỹ với 24.348.000 tấn (41,1%), sau đó đến Nga 5.330.000 tấn (9,0%), Nhật Bản 2.492.000 tấn (4,2%), Trung Quốc 2.465.000 tấn (4,2%) tổng sản lượng trứng trên thế giới là 59.233.000 tấn

Để có được những sản phẩm chất lượng tốt, năng suất cao đáp ứng nhu cầu của con người cũng như đòi hỏi khắt khe của thị trường các nước, trên thế giới đã không ngừng cải tiến con giống cũng như dinh dưỡng và phương thức

Trang 29

nuôi Mỗi nước đều có những cơ sở, trung tâm chọn lọc, lai tạo để cho ra các giống gà mới với năng suất và chất lượng cao như ở Mỹ đã tạo ra các giống

gà đã được sử dụng như Plymouth, gà siêu thịt Avian, AA Ngoài ra còn rất nhiều các giống gà chuyên trứng như: Goldline 54 của Hà Lan, Leghorn của Italia, Babcock – B380 của hãng IPS (International Porltry Serices Limited) vương quốc Anh

Bên cạnh những giống gà công nghiệp chuyên thịt, chuyên trứng thì các giống gà thả vườn, kiêm dụng cũng được chú ý nghiên cứu rất nhiều, điển hình như: gà Lương Phượng của Trung Quốc đã được tạo ra sau gần 20 năm nghiên cứu, gà Tam Hoàng có nguồn gốc từ Quảng Đông Trung Quốc được tạo ra do lai giữa gà Thạch Kỳ với một số giống gà Kabir, Discau Năm

1978 ở Pháp hãng Sasso đã tạo ra giống gà Sasso với các mục đích sử dụng khác nhau Các hãng trên thế giới hiện nay đã xác định được công thức lai để tạo ra gà thương phẩm từ 4 dòng thuần chủng Mỗi hãng sở hữu hàng chục dòng thuần để tạo ra công thức lai theo yêu cầu Ngoài ra còn có gà Kabir của Israel, gà Rhode – Island của Mỹ đều là kết quả của chọn lọc và lai tạo Việc lai tạo các giống gà với nhau nhằm giữ lại các đặc điểm quý, cải thiện những tính trạng còn hạn chế và dần hình thành một số giống mới có khả năng sản xuất tốt, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của con người

Ngày đăng: 13/09/2018, 08:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm