1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)

60 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 814,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội.Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội.Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội.Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội.Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội.Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội.Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân Chương Mỹ Hà Nội.

Trang 1

HOÀNG MINH HÒA

Tên chuyên đề:

THEO DÕI BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TỪ GIAI ĐOẠN SƠ SINH ĐẾN CAI SỮA VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI

TRẠI LỢN BẨY TUÂN, CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Trang 2

TRẠI LỢN BẨY TUÂN, CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: TY – K45 – N01 Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2013 - 2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Trương Hữu Dũng

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 3

Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp trước hết em xin chân thành cảm

ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo và nhất là các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập vừa qua

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Trương Hữu

Dũng đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập, để em có thể hoàn

thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình

Em xin chân thành cảm ơn trang trại lợn Bảy Tuân, kỹ thuật trại và toàn thể các anh chị công nhân trong trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội

đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt quá trình thực tập Nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập

Một lần nữa em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo, bạn bè lời cảm ơn chân thành, lời chúc sức khoẻ, thành đạt và hạnh phúc

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Hoàng Minh Hòa

Trang 4

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc theo dõi, ứng dụng các tiễn

bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển Đất Nước

Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, chúng em đã tiến hành thực hiện đề

tài: “ Theo dõi bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa

và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội”

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

Bảng 4.1: Lịch phun thuốc sát trùng của trại 30

Bảng 4.2: Lịch tiêm phòng vắc xin của đàn lợn 31

Bảng 4.3: Cơ cấu đàn lợn tại trại Bảy Tuân từ năm 2015 đến 2017 33

Bảng 4.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong thời gian thực tập 36

Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 37

Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng 39

Bảng 4.8 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 41

Bảng 4.9 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 42

Trang 6

Cs : Cộng sự

Hb : Hemoglobin

IM : Tiêm bắp IgG : Immunoglobulin KHKT : Khoa học kỹ thuật LCPT : Lợn con phân trắng Nxb : Nhà xuất bản VTM :Vitamin STT : Số thứ tự

Trang 7

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.3 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.1.4 Tình hình sẳn xuất tại cơ sở thực tập 6

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 7

2.2.Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 8

2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 8

2.2.2 Bệnh phân trắng lợn con 12

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26

3.1 Đối tượng 26

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26

3.3 Nội dung thực hiện 26

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 26

Trang 8

3.4.2 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 26

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 27

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 29

4.1.1 Công tác vệ sinh, chăm sóc, phòng trị bệnh cho đàn lợn 29

4.1.2 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 33

4.1.3 Công tác khác 35

4.2 Kết quả theo dõi 36

4.2.1 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong thời gian thực tập 36

4.2.2 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 37

4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng 38

4.2.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 41

4.2.7 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 42

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nước Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển, nó chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong đó, chăn nuôi đã

và đang là trọng tâm phát triển của nền kinh tế nước ta

Sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã đưa nền kinh tế nước ta tiến thêm một bước mới Cùng với sự phát triển nhanh về số con đã kéo theo các trang trại, xí nghiệp đã và đang được tăng cường xây dựng và đưa vào hoạt động Nhờ đó chăn nuôi lợn không những chỉ đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho bữa ăn hàng ngày mà tiến tới còn phục vụ cho xuất khẩu với số lượng lớn

Trong chăn nuôi “giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở”, để ngành chăn nuôi

có thể phát triển nhanh và bền vững, thì con giống là một vấn đề hết sức quan trọng Muốn chăn nuôi thắng lợi và đạt được hiệu quả cao thì con giống phải khoẻ mạnh Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn cũng gặp phải rất nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Đó là nguyên nhân chủ yếu gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi cũng như gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp nói chung

Đối với các trang trại nuôi lợn, vấn đề cấp thiết hiện nay vẫn là bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tuỳ thuộc vào các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu Khi lợn con mắc bệnh thì hiệu quả chăn nuôi sẽ giảm, chi phí thú y cao

Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh lợn con phân trắng và đưa ra các biện pháp phòng và trị bệnh góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra Tuy nhiên sự phức tạp của

cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân, đặc điểm cơ thể của gia súc non đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng của các kết

Trang 10

quả nghiên cứu Vì thế các phương pháp đưa ra vẫn chưa thực sự đem lại kết quả như mong muốn

Xuất phát từ vấn đề trên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Trương

Hữu Dũng, chúng em tiến hành thực hiện đề tài: “Theo dõi bệnh phân trắng

lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và biện pháp phòng, điều trị

bệnh tại trại lợn Bẩy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội

Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại

1.3 Yêu cầu

Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội

Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại đạt hiệu quả cao

Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết các phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trang trại lợn Bảy Tuân nằm trên địa bàn của xã Tiên Phương, huyện Trương Mỹ, Hà Nội Chương Mỹ Là một huyện ngoại thành nằm ở phía Tây nam Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 20 km

 Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai

 Phía Đông giáp với quận Hà Đông, huyện Thanh Oai

 Phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức

Phía Tây giáp với huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình)

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 237,4 km2, là huyện có diện tích lớn thứ 3 của thành phố

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%

Nhiệt độ trung bình trong năm là 21C - 23C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa

Về chế độ gió: Gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió

mùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12

Trang 12

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2006 trại đi vào sản xuất được 11 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện, trại chăn nuôi có chủ trang trại là những người đam

mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi

đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ công nhân thâm niên họ đã gắn bó với trang trại rất nhiều năm và trở thành những người có kinh nghiệm, thực tiễn

và yêu nghề

Trại gồm có 31 người trong đó có :

+ 1 quản lý

+ 3 kỹ sư

+ 2 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)

+ 23 công nhân và 4 sinh viên thực tập

Trang 13

- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và giường nằm (đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy

- Trong chuồng lợn thịt được xây làm các ô và chia làm 2 dãy được lãng bằng nền xi măng

- Chuồng trại được xây dựng hoàn toàn kép kín Phía đầu chuồng có hệ thống dàn mát, cuối chuồng có các quạt thông gió và có dàn phun mái ở trên

- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Trong trại giữa các ô chuồng và các khu khác đều được đổ bê tông thường xuyên được quét vôi và phun sát trùng

Nước sử dụng chủ yếu ở trại là nước giếng khoan được lọc và được lọc giữ trong bể chứa Gồm 2 bể chứa lớn và 3 bẻ chứa nhỏ được bơm tới hệ thông cung cấp nước uống cho các chuồng cũng như cung cấp nước sinh hoạt

Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân,sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà bếp và nhà ăn được đặt cạnh nhau rộng rãi và sạch sẽ

+ Trại có một nhà kho chuyên để chứa cám để cung cấp cho các chuồng nuôi đến để lấy cám và kho thuốc để chứa các loại thuốc phòng và chữa bệnh cho lợn cũng như các loại vắc xin được giữ trong tủ lạnh tại kho

Hệ thống chuồng nuôi

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 3 chuồng đẻ, 3 chuồng bầu và 4 chuồng thịt Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc Đảm bảo thoáng mát về mùa hè và

Trang 14

ấm áp về mùa đông Chuồng lợn bầu gồm 3 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng

2.1.4 Tình hình sẳn xuất tại cơ sở thực tập

- Công tác chăn nuôi:

+ Đây là trại tư nhân nên trại vừa cung cấp lợn con và lợn thịt ra thị trường với các khối lượng khác nhau

+ Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,7 con/đàn, số con cai sữa: 10,55 trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của chủ trại

+ Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 27 ngày tuổi thì bắt đầu tiến hành cai sữa và lợn con được nuôi tại ô sau 1 tuần sẽ được đuổi sang chuồng cai sữa

+ Trong trại có 15 con lợn nhằm mục đích kích thích động dục lợn cái

và khai thác tinh thụ tinh nhân tạo Trại lợn có 2 giống là lợn Landrace và Yorshire Lợn cái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực

+ Thức ăn cho lợn nái là loại thức ăn hoàn chỉnh được cung cấp từ công ty CP cung cấp cho từng đối tượng lợn khác nhau

Công nhân, kỹ thuật, khách thăm quan khi vào khu chăn nuôi lợn phải tắm sát trùng trước khi mặc quần áo bảo hộ lao động

Trang 15

+ Công tác phòng bệnh: hạn đi lại giữa các chuồng với nhau, mỗi

chuồng đều có 1 xô đựng nưới vôi ngoài cửa Hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được quét vôi Các phương tiên khi vào trại đều được phun sát trùng nghiêm ngặt tại cổng vào.Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh nên việc tiêm phòng vắc xin được làm đầy đủ cho tất cả lợn

Quy trình phòng bệnh được trại thực hiện đầy đủ và nghiêm túc đúng

kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình làm vắc xin riêng, từ lợn con, lợn nái, lợn đực, lợn hậu bị Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc bệnh truyền nhiễm hay các bệnh mãn tính để việc tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn

+ Công tác điều trị bệnh: các kỹ thuật tại trại và trưởng chuồng có nhiệm vụ theo dõi và kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra tại trại luôn được phát hiện sớm, cách ly điều trị sớm ở giai đoạn đầu của bệnh việc điều trị đạt hiệu quả từ 80% - 90% trong thời gian ngắn nên không gây thiệt hại lớn cho đàn lợn

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại

- Thuận lợi:

+ Trại được xây dựng giữa cánh đồng nên cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh và đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn dịch bệnh

+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

- Khó khăn:

+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn

Trang 16

+ Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao

+ Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại

+ Vào khoảng thời gian những năm gần đây, giá lợn có xu hướng giảm thấp khiến trang trại gặp nhiều khó khăn hơn

2.2.Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con

2.2.1.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Tiêu hóa là quá trình phân giải thức ăn bằng các biện pháp cơ học, hóa học, vi sinh vật học để biến các hợp chất hữu cơ phức tạp thành các hợp chất hữu cơ đơn giản mà cơ thể động vật có thể hấp thụ được

Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là

cơ quan tiêu hóa chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hóa chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hóa ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với niêm dịch

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [16], cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng nhanh về dung tích dạ dày, ruột non, ruột già

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, (2003) [26], lợn con 1 tháng tuổi không

có HCl tự do, lúc này lượng acid tiết ra ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật dễ có điều kiện phát triển gây bệnh đường dạ dày - ruột cho lợn, điển hình là bệnh tiêu chảy và phân trắng lợn con

Trang 17

2.2.1.2 Cơ năng điều tiết thân nhiệt

Khi còn ở trong cơ thể mẹ, thân nhiệt của bào thai được giữ ổn định Sau khi sinh ra, cơ thể bị mất một lượng nhiệt lớn do tác động của môi trường làm con vật sơ sinh bị giảm thân nhiệt trong những giờ đầu tiên

Cơ năng điều tiết thân nhiệt lợn con còn kém do:

- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở

cả hai giai đoạn trong và ngoài bào thai

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn

so với lợn trưởng thành nên lợn dễ bị mất nhiệt và lạnh (Đào Trọng Đạt và cs, (1996) [5])

- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, trong vòng 10 - 15 ngày thể trọng tăng 1 - 3 lần, sau 2 tuần tuổi trọng lượng lơn có thể tăng gấp 14 -

15 lần so với lợn sơ sinh Vì vậy, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng của cơ thể chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống Điều đó làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém

2.2.1.3 Hệ miễn dịch của lợn con

Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang qua nhau thai hay sữa đầu

Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu Lượng enzyme tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng quá trình tiêu hóa gây rối loạn tiêu hóa vì vậy mầm bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa

Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [25], trong quá trình đáp ứng

miễn dịch trên bề mặt kháng nguyên có thể tập trung nhiều Lymphosis tham

Trang 18

gia miễn dịch tế bào hoặc kháng thể là các globulin miễn dịch Với lợn con

mức độ đáp ứng miễn dịch được xác định không những phụ thuộc vào sự có mặt của kháng thể mà còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của hệ thống miễn dịch đối với phản ứng

2.2.1.4 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con

Hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm

- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E.coli,

Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus Trong nhóm vi khuẩn này, người ta

quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E.coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất

hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng

E.coli trở lên cường độc gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức

tạp Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80 kháng nguyên

K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên F

- Nhóm vi khuẩn Vãng lai: Chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước

uống vào hệ tiêu hóa gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus

subtilis Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn còn có các trực khuẩn yếm

khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus

fasobacterium, Bacillus puticfus

2.2.1.5 Đặc điểm thích nghi của lợn con

Lợn con theo mẹ có những điểm yếu khiến lợn con thích ứng kém với môi trường: Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, hệ thống miễn dịch chưa phát triển, điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng cơ thể rất ít, thiếu sắt

* Hệ thống enzyme tiêu hoá chưa hoàn chỉnh

Ở lợn 15 - 21 ngày hệ thống enzyme chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa ( chymozin, chymotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipid và lactaza cho lactoz) Bắt đầu từ 3 tuần, hoạt tính enzyme tiêu hoá Vì vậy, việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển đầy đủ các loại enzyme tiêu hoá

Trang 19

* Hệ thống miễn dịch chưa phát triển

Lợn con sơ sinh nhận từ sữa đầu một lượng kháng thể đặc hiệu (IgG)

có hiệu quả trong 10 ngày đầu Nhưng sự hấp thụ Immuglobulin của sữa đầu cũng giảm nhanh trong vòng 24 giờ sau khi sinh

Do đó tất cả các tác nhân, yếu tố hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh, tỷ lệ tử vong sau khi sinh Miễn dịch chủ động được thực hiện bắt đầu từ 3 tuần tuổi

* Điều hoà thân nhiệt kém

Hệ thống thần kinh ở lợn con chưa phát triển, chưa có các phản xạ có điều kiện, khả năng điều tiết nhiệt ở đại não và các trung khu vỏ não là rất kém Thân nhiệt ở gia súc non thường cao hơn ở gia súc trưởng thành và hay biến động Khả năng giữ nhiệt ở da kém, thường thay đổi theo ngoại cảnh và khó thích nghi với điều kiện môi trường cho nên rất dễ bị cảm lạnh về mùa đông Thân nhiệt ở lợn con dao động từ 39,5 - 40,5OC thường cao, còn ở lợn trưởng thành ổn định ở mức trung bình 38 - 40O

C

* Dự trữ năng lượng cơ thể rất ít

Khi mới sinh, cơ thể lợn con chứa 80% nước và 20% chỉ có lipid, còn ở

3 tuần có 65% là nước và 12% là lipid Ngoài chất dự trữ cơ thể là lipid còn

có glycogen Tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) khoảng 1000 - 1200 Kcal, chỉ tương đương với 1 lít sữa, năng lượng này chỉ đủ cho lợn con sống khoảng 2 ngày Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con bú sữa sớm và giữ

ấm Vì năng lượng và các chất dinh dưỡng thu được đều được sử dụng vào việc cấu tạo cơ thể Có thể nói con vật giai đoạn này rất dễ bị mắc bệnh

Trang 20

khác nhau, và ngay trong cùng một giống thì hàm lượng cũng dao động lớn Ngoài ra, gia súc ở độ tuổi khác nhau thì số lượng hemoglobin cũng thay đổi

Dự trữ sắt lúc mới sinh rất ít (60 - 70 mg ở gan), trong khi đó nhu cầu của cơ thể lợn tới 6 - 7 mg/ngày, mà lượng sắt ở sữa chỉ có 1mg/con/ngày Điều đó cho thấy lợn con thiếu sắt, nhất là sau khi cai sữa Do vậy, việc bổ sung sắt là việc làm rất cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế bệnh lợn con phân trắng

2.2.2 Bệnh phân trắng lợn con

Bệnh lợn con phân trắng là một bệnh thường gặp ở lợn con đang theo

mẹ, đặc biệt từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng hay gặp nhất khi thời tiết thay đổi: Nóng lạnh thất thường, mưa nhiều, độ ẩm cao

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2000) [11], thì bệnh lợn con phân trắng là một bệnh cấp tính làm chết nhiều lợn con đang bú mẹ, thể hiện đặc trưng bằng triệu chứng ỉa chảy phân trắng - vàng kèm theo bại huyết

2.1.2.1 Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh phân trắng lợn con là bệnh của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa Bệnh xảy ra quanh năm, tùy theo ảnh hưởng của thời tiết mà phát sinh, phát triển Bệnh thường phát sinh vào mùa mưa khi thời tiết ẩm thấp hay thay đổi đột ngột, lứa tuổi mắc bệnh trầm trọng nhất là lợn từ 1 - 21 ngày tuổi (Hoàng Văn Tuấn, (1998) [22])

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng làm phát sinh bệnh nhưng cơ bản có các nguyên nhân sau:

* Do bản thân gia súc non

Do đặc điểm sinh lý lợn con, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa hoàn thiện Hơn nữa, lợn con lại có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng chất rất lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì chúng sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn bẩn gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy

Trang 21

Trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển, lợn con gặp phải hai thời kỳ khủng hoảng lúc 3 tuần tuổi và lúc cai sữa Lúc 3 tuần tuổi nhu cầu sữa cho lợn con tăng, trái lại lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, một số chất trong cơ thể lợn con giảm dần, đặc biệt là Fe thành phần cấu tạo Hemoglobin

Bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ phát triển chưa hoàn chỉnh, hệ thống miễn dịch ở lợn con dưới 21 ngày tuổi chủ yếu dựa vào kháng thể trong sữa mẹ lượng kháng thể này giảm dần, hoạt tính các men còn thấp, lượng axit HCl tiết ra không đáng kể và nhanh chóng bị liên kết với niêm dịch ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu hóa protein và khả năng diệt khuẩn của cơ thể lợn con Các men có hoạt tính thấp không tiêu hóa được hết dinh dưỡng trong sữa dẫn đến lợn con bị ỉa chảy

Lợn con sơ sinh khả năng điều hòa thân nhiệt kém Đồng thời, mỡ dự trữ và lớp mỡ dưới da của lợn con rất mỏng, chỉ chiếm khoảng 1% khối lượng

cơ thể, cũng làm khả năng giữ nhiệt cho cơ thể lợn bị hạn chế, lợn con dễ nhiễm lạnh và dễ phát sinh bệnh tiêu chảy phân trắng

* Do gia súc mẹ

Trong thời gian mang thai lợn mẹ không được chăm sóc tốt, khẩu phần

ăn không hợp lý dẫn đến lợn con sinh ra yếu ớt, dễ mẫn cảm với môi trường xung quanh, lợn mẹ ăn nhiều khẩu phần chất béo, nhiều tinh bột làm sữa đặc và hàm lượng mỡ sữa cao, lợn con bú không tiêu hóa hết gây rối loạn tiêu hóa sinh ra bệnh lợn con tiêu chảy phân trắng (Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [3])

Lợn mẹ không được nuôi dưỡng đầy đủ khi mang thai trong giai đoạn đang nuôi con Nhưng khi cho mẹ ăn quá nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng cũng làm ảnh hưởng tới lợn con

Trang 22

Trong thời gian mang thai, lợn nái không tiêm phòng vác xin chống các bệnh như: Dịch tả, phó thương hàn, Parvovirus thì lợn con sinh ra dễ mắc bệnh

tiêu chảy hơn

Trong thời gian lợn con theo mẹ, lợn mẹ mắc một số bệnh mãn tính

như: Lao, thương hàn, nhiễm E.coli, mầm bệnh sẽ qua bào thai gây bệnh cho

lợn con

Trong thời gian nuôi con gia súc mẹ bị mắc một số bệnh như: Viêm vú, viêm tử cung, kém sữa sau khi sinh sẽ vấy nhiễm vi trùng vào đường tiêu hóa lợn con

Khi nuôi con mà con mẹ động dục trở lại sớm là một nguyên nhân làm

số lượng và chất lượng sữa giảm vì thế bệnh dễ xảy ra

* Do môi trường, chăm sóc, quản lý

Do điều kiện thời tiết quá khắc nghiệt: Nóng, lạnh, ẩm, có gió lùa, stress, lạnh, ẩm làm cho lợn không giữ được cân bằng hoạt động của trục hạ khâu não - tuyến yên - tuyến thượng thận làm biến đổi hàm lượng Fe2+, Na+,

K+ trong máu, hậu quả là làm giảm sức đề kháng của lợn con nhất là lợn sơ sinh và gây viêm ruột, ỉa phân trắng

Bên cạnh đó, việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn không tốt cũng ảnh hưởng tới sự xuất hiện của bệnh như bú sữa đầu, cắt rốn, úm lợn, bổ sung sắt không được thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật cũng dẫn đến tiêu chảy

Theo Chu Thị Thơm và cs, (2006) [27], nếu chuồng nuôi không thoáng khí,

ẩm, tồn đọng nhiều phân, rác, nước tiểu khi nhiệt độ trong chuồng tăng cao sẽ sinh nhiều khí có hại, NH3, H2S làm cho con vật trúng độc thần kinh nặng, con vật bị stress - một trong những nguyên nhân dẫn đến lợn tiêu chảy

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [4], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc ảnh hưởng trực

Trang 23

tiếp đến cơ thể lợn đặc biệt là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của lợn con còn yếu

* Do rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột

Bình thường trong đường tiêu hóa của lợn nói riêng và động vật nói chung luôn có một số lượng vi khuẩn nhất định và chúng không gây bệnh Nhưng khi hàng rào bảo vệ bị tổn thương số lượng vi khuẩn tăng lên, làm thay đổi tỷ lệ các vi khuẩn có trong đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa và bệnh xảy ra

Theo Hồ Văn Nam và cs, (1997) [14], cho rằng: Lợn bị tiêu chảy thì số

lượng E.coli và Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm Khi các vi khuẩn

gây bệnh phát triển quá mạnh thì sẽ gây mất cân bằng bệ vi sinh vật đường ruột gây ra hiện tượng loạn khuẩn

Vi khuẩn có hại thường gặp ở đường tiêu hóa gây bệnh tiêu chảy ở lợn

gồm Salmonella, E.coli, một số chủng Clostridium Trong đó E.coli xuất hiện

sớm nhất và phổ biến nhất

* Do vi khuẩn

Vi khuẩn E.coli

Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E.coli) còn có tên khác là

Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm

1885 từ phân trẻ em E.coli thường sinh sống ở ruột già, ít khi ở dạ dày và

ruột non của các loài gia súc, gia cầm và cả người

Trang 24

E.coli đề kháng với sự sấy khô, ở môi trường bên ngoài chúng có thể

tồn tại được 4 tháng

E.coli rất mẫn cảm với nhiều loại kháng sinh như: nitrofuratein,

neomicin, streptomycin, ampocilin, gentamicin

Độc tố của vi khuẩn

Trực khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố

- Nội độc tố là yếu tố gây độc của E.coli, chúng gắn chặt vào trong tế

bào vi khuẩn Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp như: Phá

vỡ vỏ tế bào bằng cơ học rồi chiết xuất bằng axit trichoxetic, phenol dưới tác dụng của enzym Cấu trúc nội độc tố là phức chất polysachrido protein - lipit

Vì vậy, nó thuộc về kháng nguyên hoàn toàn và có tính đặc hiệu cao đối với

các chủng của mỗi serotyp Ngoài ra còn có một loại E.coli sinh độc tố hướng

mạch máu gây bệnh phù thũng ở lợn

- Ngoại độc tố là độc tố nhiễm khuẩn tiết ra khuyếch tán vào môi

trường Ngoại độc tố của vi khuẩn E.coli là một chất không chịu được nhiệt,

dễ bị phá hủy ở 560C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của formone và nhiệt độ, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây ra hoại tử Hiện nay, việc chiết xuất ngoại độc tố chưa thành công, mà chỉ có thể phát hiện canh trùng của những chủng mới thành lập được Khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng

* Do virus

Virus cũng là một trong các yếu tố gây bệnh lợn con ỉa phân trắng

Theo Bohl và cs, (1978) [29], cho rằng bệnh do một loại Rotavirus thuộc họ

Reovindae gây ra, bệnh hay xảy ra ở lợn con 1 - 5 ngày tuổi với tỷ lệ chết cao

50 - 100% Bệnh có triệu chứng điển hình là phân nhão như hồ rồi đến phân lẫn nhiều nước màu vàng hoặc xám, chứa nhiều chất vón

Trang 25

Nói chung lợn con mắc bệnh thường tiêu chảy phân nhiều nước, có bọt, màu trắng, lầy nhầy, có mùi tanh khó chịu, đôi khi lẫn máu, lợn bệnh thường hay nôn và luôn ở trạng thái khát nước

2.2.2.3 Cơ chế sinh bệnh

Khi các tác nhân bệnh lý kích thích vào cơ thể gia súc non sẽ làm rối loạn hoạt động trao đổi chất trong cơ thể, làm giảm nhu động, tiết dịch của dạ dày - ruột hoặc gây tổn thường dạ dày - ruột ngay từ đầu, làm rối loạn hoạt động của hệ tiêu hóa Giai đoạn đầu do nhu động, tiết dịch giảm nên gia súc giảm ăn, táo bón Đến giai đoạn sau do thức ăn không tiêu hóa, hấp thu được

bị phân hủy tạo ra các sản phẩm độc, các sản phẩm này kích ứng vào vách dạ dày - ruột làm tăng nhu động gây tiêu chảy

2.2.2.4 Triệu chứng của bệnh

Bệnh xảy ra ở tất cả các lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở lợn con theo

mẹ và lợn sau cai sữa Lợn con thể mắc bệnh rất sớm, ngay ngày đầu tiên sau khi sinh, thường mắc nhiều nhất là sau khi sinh vài ngày

Triệu chứng điển hình: Con vật khát nước, tính đàn hồi của da giảm, mắt lõm sâu, thở nhanh, sâu, nhịp tim nhanh, ít đái (Phạm Ngọc Thạch và cs, (2006) [24]), trong 1 - 2 ngày đầu mắc bệnh, lợn vẫn bú và chạy nhảy như thường Phân táo như hạt đậu xanh, nhạt màu Sau đó phân lỏng dần, có màu vàng hoặc hơi trắng, có bọt và chất nhầy, mùi tanh khắm Con vật có bú hoặc bỏ

bú, lông xù và dựng, da nhăn nheo, nhợt nhạt, đuôi khoeo dính đầy phân

Bệnh thường gặp ở 3 thể:

- Thể quá cấp tính: Lợn tiêu chảy rất mạnh và có thể chết sau 6 - 20 giờ kể từ khi bỏ bú Lợn bỏ bú hoàn toàn, đi đứng siêu vẹo, loạng choạng, hay nằm bẹp một chỗ, co giật rồi chết Thể này rất ít gặp

- Thể cấp tính: Bệnh gặp nhiều ở lợn sơ sinh cho đến 21 ngày tuổi Lợn kém bú rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo

Trang 26

Lợn đi tiêu chảy, da khô nhăn nheo, đầu to, bụng hóp, lợn gầy sút nhanh, hậu môn thường dính bết phân

Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh Lợn rặn rất nhiều khi

ỉa Màu phân lúc đầu xanh đen sau đó chuyển sang xám sau xám như cứt cò,

có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân dính nhiều vào hậu môn

Lợn con bị bệnh thường hay khát nước, nên tìm nước bẩn trong chuồng uống, làm bệnh nặng thêm nếu không đảm bảo đủ nước sạch, Đôi khi có lợn nôn ra sữa chưa được tiêu hoá nên có mùi chua

Bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, lợn suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết Thể cấp tính hay gặp trong thực tế

- Thể mãn tính: Thường gặp ở lợn từ tập ăn đến lúc cai sữa Con vật tiêu chảy liên miên, phân lúc lỏng, lúc sền sệt, có mùi rất khó chịu, lợn gầy còm, lông xù Nếu bệnh kéo dài không được cứu chữa hiệu quả thường dẫn tới bị viêm dạ dày, ruột rồi chết

2.2.2.5 Bệnh tích của bệnh

Lợn chết mất nước nghiêm trọng, thường thấy xác gầy và khô đét, đuôi

và khoeo dính đầy phân, mắt trũng sâu, lông da khô, mất tính đàn hồi

Lợn chết ở thể cấp tính và mãn tính khi mổ khám thấy dạ dày tích thức ăn không tiêu hóa, lổn nhổn bọt khí Niêm mặc dạ dày lác đác có

đám sung huyết

Bệnh tích tập trung ở xoang bụng Ruột non căng do chứa nhiều chất lỏng, bị viêm cata đến xuất huyết Các mạch máu màng treo ruột chứa đầy máu, hạch màng treo sưng mềm và xung huyết Niêm mạc đường ruột (chủ yếu là phần dạ dày và ruột non) bị phù nề, dày lên và được phủ một lớp nhầy xám trắng Khi gạt bỏ lớp nhầy ra thấy niêm mạc bị xuất huyết điểm hoặc xuất huyết từng đám Chất chứa trong đường ruột lỏng có màu vàng hoặc màu nâu Gan bị thái hoá, hơi sưng với màu vàng đất sét Túi mật căng và khi bóc

Trang 27

lớp vỏ cũng dễ thấy xuất huyết Phần bụng của những lợn chết qua đêm thường hóp, phân có màu nâu đen và ruột bị xung huyết, hoại tử

Một biểu hiện đặc trưng của bệnh phân trắng khác với bệnh truyền nhiễm là lách không sưng nhưng ngược lại có khi lại bị teo đi Nếu bệnh nhẹ trạng thái lách hầu như bình thường

2.2.2.6 Biện pháp phòng trị bệnh

* Phòng bệnh

Phòng bệnh là một công tác hết sức quan trọng trong chăn nuôi nhằm ngăn chặn dịch bệnh sảy ra Các biện pháp phòng bệnh đều xoay quanh vấn

đề môi trường, vật chủ gặp mầm bệnh Để đề phòng bệnh phân trắng lợn con

ở giai đoạn theo mẹ, chúng ta có thể thực hiện một số biện pháp sau:

- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng:

Biện pháp phòng tiêu chảy trước hết là hạn chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực Khắc phục những bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng nuôi

Để cho đàn gia súc non khỏe mạnh, điều cần thiết trước tiên là nuôi dưỡng, chăm sóc thật tốt lợn nái giống khi chưa đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng,

bổ sung đầy đủ các loại vitamin, nguyên tố vi lượng cần thiết

Trong mọi trường hợp tiêu chảy, cần tiến hành ngay các biện pháp cách ly lợn bệnh với những con còn lại trong đàn đồng thời điều trị kịp thời những con

bị bệnh, tiêm kháng sinh liều phòng cho những con chưa nhiễm bệnh trên đàn

- Phòng bệnh bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học

Là dùng các vi khuẩn có lợi để phòng trị bệnh Các nhóm vi khuẩn

thường dùng là Bacillus subtilis, Colibacterium, lactobacillus Các vi khuẩn

này khi được đưa vào đường tiêu hóa của lợn sẽ có vai trò cải thiện tiêu hóa thức ăn, lập lại cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột ức chế và khống chế vi sinh vật có hại

Trang 28

Xí nghiệp thuốc thú y đã sản xuất sản phẩm Subtillis, Viện Thú y quốc gia đã chế thành công chế phẩm men tiêu hóa Biolacty cho hiệu quả tốt

Một số tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu chế tạo và sử dụng chế phẩm sinh học để phòng bệnh Đây là biện pháp miễn dịch thụ động để phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con tức là đưa thêm một lượng kháng thể thụ động vào cơ thể của chúng

Theo Phan Thanh Phượng và cs, (2008) [18], đã công bố kết quả phòng

bệnh bằng kháng thể E.coli được chiết xuất từ lòng đỏ trứng gà dạng bột

Theo Trần Thị Hạnh và cs, (2002) [7], đã nghiên cứu chế phẩm sinh

học: E.coli sữa, Clpepsingen toxid dùng cho nái chửa và Baderin EBC (E.coli

Baclerin và C.pefringen toxid ) dùng cho lợn con để phòng và trị bệnh tiêu

chảy phân trắng lợn con

- Phòng bệnh bằng vác xin

Ngoài việc sử dụng chế phẩm sinh học, một số tác giả đã nghiên cứu chế tạo các loại vác xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

Sử dụng vác xin cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống trước khi đẻ 4 - 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miễn dịch, sản sinh kháng thể đặc hiệu trong máu, truyền qua sữa đầu, cung cấp cho lợn con khi

bú sữa

Theo Đặng Văn Bình và cs, (2008) [2], đã thử nghiệm và công bố kết quả của vác xin chuồng (Autovaccine) trong phòng bệnh lợn phân trắng trên thực địa ở Hà Tây, Cao Bằng, Thái Nguyên

Ngoài ra, có thể dùng thuốc nam để phòng bệnh, có thể hái khoảng 200g cây nhọ nồi cho lợn mẹ ăn sống hoặc nấu chín cùng thức ăn, cứ 2 - 3 ngày một lần như vậy lợn con sẽ không bị ỉa phân trắng

Trang 29

* Điều trị

- Điều trị bằng kháng sinh

Kháng sinh có vai trò quan trọng trong thú y Tuy nhiên trong những năm gần đây, việc sử dụng kháng sinh điều trị bệnh LCPT tỏ ra kém hiệu lực

do vi khuẩn E.coli và Salmonella có tỷ lệ kháng thuốc cao

Theo kết quả nghiên cứu Tô Thị Phượng (2006) [19], kháng sinh Enrofloxacine, Enrofloxacine dùng điều trị tiêu chảy ở lợn cho kết quả cao 85,16% và 81,03% ở lợn 1 - 21 ngày tuổi Khi kết hợp hai kháng sinh này với chế phẩm sinh học Microcin để điều trị cho tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn 93,33%

và 91,94%

Để điều trị có hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:

Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hóa

Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát

Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa

Bổ sung nước và điện giải

- Điều trị bằng các chế phẩm sinh học

Các chế phẩm sinh học không chỉ được dùng để phòng bệnh mà còn được sử dụng để điều trị bệnh cho hiệu quả tốt Các chế phẩm sinh học đã được sử dụng điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn như:

Trang 30

Sử dụng chế phẩm E.M1 30% điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con có tác dụng điều trị tương đương điều trị kháng sinh (Nguyễn Thị Hồng Lan, (2007) [10])

Bài thuốc 2: Cỏ nhọ nồi khô 100g; Lá bạc thau khô 100g; Gừng khô 100g; Nước sạch 1000ml Đung sôi, cô đặc còn 300ml, cho thêm một ít đường cho lợn con uống với liều 2ml/con/lần, ngày uống 2 lần, liên tục trong

7 - 10 ngày

Theo Nguyễn Thị Thanh Hà và cs, (2009) [6], đã nghiên cứu và bào chế thử nghiệm cao mật bò để phòng bệnh LCPT và đã cho kết quả khá khả quan

- Khôi phục hệ vi sinh vật đường ruột

Khôi phục và ổn định trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột

sẽ có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị

Nguyễn Thị Hồng Lan (2007) [10] sử dụng chế phẩm E.M1 30% điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con có tác dụng điều trị tương tự sử dụng kháng sinh N-ticol để điều trị nhưng có hiệu quả cao hơn sử dụng kháng sinh Tóm lại, để việc điều trị bệnh LCPT đạt kết quả cao thì nên thực hiện sớm, tích cực và kết hợp nhiều biện pháp khác nhau nhằm giảm tỷ lệ thiệt hại do bệnh gây ra, góp

phần tăng hiệu quả cho người chăn nuôi

Ngày đăng: 13/09/2018, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w