1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TẠI HUYỆN XUÂN LỘC VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ HỢP TÁC KHOAI LANG NHẬT TẠI XÃ XUÂN HÒA – HUYỆN XUÂN LỘC – TỈNH ĐỒNG NAI

76 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TẠI HUYỆN XUÂN LỘC VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ HỢP TÁC KHOAI LANG NHẬT TẠI XÃ XUÂN HÒA – HUYỆN XUÂN LỘC – TỈNH ĐỒNG NAI NGUYỄN NỮ QUỲNH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TẠI

HUYỆN XUÂN LỘC VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH

TỔ HỢP TÁC KHOAI LANG NHẬT TẠI

XÃ XUÂN HÒA – HUYỆN XUÂN LỘC – TỈNH ĐỒNG NAI

NGUYỄN NỮ QUỲNH ĐOAN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ KHUYẾN NÔNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2009

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học

Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Tìm Hiểu Hoạt Động của

Tổ Hợp Tác tại Huyện Xuân Lộc và Đề Xuất Xây Dựng Mô Hình Tổ Hợp Tác

Khoai Lang Nhật tại Xã Xuân Hòa, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai” do Nguyễn

Nữ Quỳnh Đoan, sinh viên khóa 2005 – 2009, ngành Phát Triển Nông Thôn và

Khuyến Nông, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _.

Nguyễn Ngọc Thùy Người hướng dẫn,

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Khóa luận được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự động viên, giúp

đỡ cả về vật chất, tinh thần và kiến thức của nhiều cá nhân, tổ chức Để có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin:

Gửi đến thầy TS Nguyễn Ngọc Thùy lòng biết ơn chân thành nhất Cảm ơn Thầy

đã rất nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm bổ ích, tạo điều kiện cho tôi vận dụng những kiến thức học được từ sách vở vào thực tế và sự hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, Ban Chủ Nhiệm Khoa Kinh Tế các Thầy Cô giảng dạy, cùng các bạn lớp Phát triển nông thôn và Khuyến nông Khóa 31 đã gắn bó với tôi trong suốt 4 năm học vừa qua

Cảm ơn cô Ninh, anh Tài thuộc UBND huyện Xuân Lộc; chú Hùng, anh Tuấn và các anh, chị thuộc UBND xã Xuân Hòa đã nhiệt tình cung cấp số liệu và hướng dẫn tôi hoàn thành nghiên cứu này

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các hộ gia đình trên địa bàn xã Xuân Hòa, đặc biệt là gia đình bác Liềng Cắm Giểng, gia đình chú Nguyễn Hoàng Sương và bà con thuộc tổ 18,

ấp 2, xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, gia đình chú Nguyễn Đức Mầu (xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) đã giúp đỡ tôi rất nhiều cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi có thể hoàn thành khóa luận này

Và trên tất cả đó là sự tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba Mẹ đã sinh thành, dưỡng dục tôi nên người và luôn bên cạnh mỗi khi tôi gặp khó khăn Cảm ơn gia đình đã luôn là nguồn động viên, ủng hộ, giúp đỡ và hỗ trợ tôi về mọi mặt

Xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 06 năm 2009 Sinh viên

Nguyễn Nữ Quỳnh Đoan

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

NGUYỄN NỮ QUỲNH ĐOAN Tháng 6 năm 2009 “Tìm Hiểu Hoạt Động của

Tổ Hợp Tác tại Huyện Xuân Lộc và Đề Xuất Xây Dựng Mô Hình Tổ Hợp Tác Khoai Lang Nhật tại Xã Xuân Hòa, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai”

NGUYEN NU QUYNH DOAN June 2009 “Searching for Activity of Cooperation Group in Xuan Loc District and Promote to Build Japan Batata Cooperation Group at Xuan Hoa Commune, Xuan Loc District, Dong Nai Province”

Khóa luận tìm hiểu về tình hình hoạt động của KTTT nói chung và của THT nói riêng trên cơ sở phân tích số liệu thứ cấp và số liệu điều tra 30 hộ tham gia THT trên địa bàn huyện cho thấy các THT đang hoạt động tương đối hiệu quả, là nơi sinh hoạt, chuyển giao KH-KT, giúp nông dân sản xuất đồng bộ nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho tổ viên trong THT

Mô hình THT theo nông hộ là cần thiết trong tổ chức sản xuất cho nông hộ, cải thiện được những khó khăn mà tự nông hộ không thể giải quyết được Tuy nhiên thì các hoạt động trong THT hiện tại vẫn chưa gắn kết được với nhau và còn mang tính tự phát

Thông qua tình hình hoạt động của các THT trên địa bàn huyện và kinh nghiệm tổ chức hoạt động, quản lý của các THT khác, thực trạng sản xuất khoai lang Nhật trên địa bàn xã Xuân Hòa và dựa trên kết quả điều tra 50 hộ trồng khoai lang Nhật, khóa luận đã

đề xuất xây dựng THT khoai lang Nhật trên địa bàn xã

Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ trồng khoai lang Nhật trên địa bàn xã đều muốn tham gia vào THT với mục đích trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất lẫn nhau Đồng thời, thông qua THT các chương trình hỗ trợ sản xuất có thể đến với nông hộ dễ dàng hơn Và từ mô hình này, có thể nhân rộng sang các địa phương khác có trồng khoai lang Nhật

Trang 5

MỤC LỤC

Trang DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

2.2 Tổng quan về xã Xuân Hòa 6

2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 9

2.3 Tổng quan về tình hình phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 15

2.3.1 Tình hình phát triển THT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 15

2.3.2 Tình hình hoạt động của các HTX trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 16

2.3.3 Các văn bản về phát triển KTTT tỉnh Đồng Nai 18

CHƯƠNG 3 20

3.1 Cơ sở luận 20

3.1.1 Tổ chức dựa vào cộng đồng (Community based organization, CBO) 20

3.1.2 Sự cần thiết khách quan về phát triển kinh tế hợp tác của nông dân 21

Trang 6

3.1.3 Một số khái niệm 23

3.2 Phương pháp nghiên cứu 25

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 25

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 25

CHƯƠNG 4 26 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Quá trình phát triển HTX huyện Xuân Lộc từ năm 2001 đến nay 26

4.2 Tình hình hoạt động của các THT trên địa bàn huyện Xuân Lộc 29

4.2.2 Công tác tổ chức và chỉ đạo hoạt động các mô hình THT 31

4.2.3 Về công tác hỗ trợ tác động cho các THT hoạt 32

4.2.4 Ma trận SWOT của THT 37

4.3 Kết quả nghiên cứu thông qua cuộc điều tra chọn mẫu 37

4.3.1 Thực trạng sản xuất khoai lang Nhật trên địa bàn xã 38

4.3.2 Nhận thức của nông hộ về mô hình THT 45

4.4 Xây dựng THT khoai lang Nhật trên địa bàn xã Xuân Hòa 47

5.1 Kết luận 53 5.2 Kiến nghị 54 5.2.1 Đối với các cơ quan chức năng 54

5.2.2 Đối với THT 55

Trang 7

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Diện Tích Các Loại Đất ở Xã Xuân Hòa 8

Bảng 2.2 Diện Tích Phân theo Độ Dốc Tầng Dày 9 Bảng 2.3 Giá Trị Sản Xuất Và Cơ Cấu Các Ngành Kinh Tế Xã Xuân Hòa 9

Bảng 2.4 Thực Trạng Phát Triển Ngành Chăn Nuôi Xã Xuân Hòa 12

Bảng 2.5 Diễn Biến Dân Số qua Các Năm 2001-2005 của Xã Xuân Hòa 13

Bảng 2.6 Hiện Trạng Giáo Dục 2004-2005 Của Xã Xuân Hòa 14

Bảng 4.1 Thống Kê Số Lượng THT Trên Địa Bàn Huyện Xuân Lộc 30

Bảng 4.2 So Sánh Năng Suất Bình Quân trong THT với Toàn Huyện 36

Bảng 4.3 Đời Sống Nông Hộ Sau Khi Tham Gia THT 45

Bảng 4.4 Đánh Giá Của Nông Hộ về Sự Cần Thiết của THT Trong Sản Xuất NN 45

Bảng 4.6 Số Vụ Trồng Khoai Lang Nhật Trong 1 Năm 48

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

TrangHình 2.1 Bản đồ huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai 6

Hình 4.1 Biểu Đồ Số Lượng HTX từ Năm 2001 đến 6 Tháng Đầu Năm 2009 26

Hình 4.2 Biểu Đồ Phân Loại Chất Lượng THT Trên Địa Bàn Huyện Xuân Lộc 35

Hình 4.3 Biểu Đồ Cơ Cấu Nhóm Tuổi Của Chủ Hộ qua Điều Tra 39

Hình 4.4 Biểu Đồ Cơ Cấu TĐVH Của Chủ Hộ qua Điều Tra 40

Hình 4.5 Biểu Đồ Cơ Cấu Số Năm Trồng Khoai Lang Của Nông Hộ qua Điều Tra 40

Hình 4.6 Cơ Cấu Đánh Giá Triển Vọng Phát Triển Khoai Lang Nhật trên Địa Bàn Xã 41

Hình 4.7 Biểu Đồ Cơ Cấu Số Hộ Tham Gia Trồng Khoai Lang Nếu Có ChươngTrình Hỗ

Trợ Trồng Khoai Lang Nhật 42

Hình 4.8 Biểu Đồ Thể Hiện Những Hạn Chế trong Quá Trình Trồng và Tiêu Thụ Khoai

Lang Nhật 43 Hình 4.9 Kênh Tiêu Thụ Của Khoai Lang Nhật Trên Địa Bàn Xã Xuân Hòa 43

Hình 4.10 Biểu Đồ Cơ Cấu Nhu Cầu của Nông Hộ Khi Tham Gia THT 46

Hình 4.11 Biểu Đồ Nhu Cầu Của Những Nông Hộ Trồng Khoai Lang Nhật 51

Trang 10

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Số THT ở Mỗi Xã trên Địa Bàn Huyện Xuân Lộc

Phụ lục 2: Quy Trình Thành Lập THT

Phụ lục 3: Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn Nông Hộ Tham Gia THT Sản Xuất

Phụ lục 4: Bảng Phỏng Vấn Nông Hộ Trồng Khoai Lang Nhật

Phụ lục 5: Danh Sách Các Hộ Phỏng Vấn

Trang 11

Hiện nay nông nghiệp nông thôn Việt Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn của

sự phát triển kinh tế như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ đồng đều, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng hợp tác của nông dân Việt Nam nói chung còn rất yếu Dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho việc phát triển nông nghiệp nông thôn không theo kịp với đà tăng trưởng kinh tế của toàn xã hội

Với thực trạng nền nông nghiệp nói trên và trước những cơ hội, thách thức to lớn trong thời kỳ hội nhập thì có thể nói kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn có vị trí rất quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, trong đó có thể kể đến hình thức THT

Việc hình thành và phát triển THT không chỉ có ý nghĩa to lớn về kinh tế, ở góc độ

xã hội cũng có những tác động tích cực và sâu sắc Các THT hình thành và hoạt động dựa trên cơ sở tận dụng nguồn lực về tài nguyên, nguồn nguyên liệu tại chỗ và lực lượng lao động địa phương dồi dào (lao động thường xuyên cũng như lao động mùa vụ)… thông qua đó, người lao động có điều kiện tham gia vào quá trình phân công lao động xã hội và hưởng lợi từ các thành quả phát triển kinh tế Về mặt xã hội, các THT là mô hình tự trợ giúp và tương trợ lẫn nhau, đề cao tinh thần tương thân, tương ái, vì cộng đồng

Trang 12

Huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là một địa phương điển hình trong việc hình thành các THT giúp đỡ nhau trong sản xuất, góp phần xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho các hộ thành viên, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo tiền đề cho cung cách làm ăn mới, hướng sản xuất tới thị trường

Trong thời gian gần đây, huyện đã thực hiện chủ trương của Huyện Ủy, UBND huyện Xuân Lộc về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên vùng đất bạc màu, giống khoai lang Nhật đã được đưa về trồng thí điểm tại huyện và bước đầu cho những kết quả khả quan Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất nông hộ trồng khoai lang Nhật vẫn gặp phải nhiều khó khăn mà một cá nhân không thể tự giải quyết được mà cần phải có một tổ chức Trong thời gian tới, để có thể mở rộng diện tích sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông hộ thì vấn đề đặt ra là phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định, đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều, tạo thương hiệu cho cây khoai lang Nhật

Xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc là xã có diện tích, số hộ trồng khoai lang Nhật nhiều nhất huyện và bước đầu cũng đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân

Từ những vấn đề trên tôi muốn thực hiện “Tìm Hiểu Hoạt Động của Tổ Hợp Tác tại Huyện Xuân Lộc và Định Hướng Xây Dựng Mô Hình Tổ Hợp Tác Khoai Lang Nhật tại Xã Xuân Hòa, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai”

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

- Tìm hiểu tình hình hoạt động của các THT trên địa bàn huyện Xuân Lộc và thực trạng sản xuất khoai lang trên địa bàn xã Xuân Hòa và từ đó đề xuất xây dựng mô hình THT khoai lang Nhật

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu tình hình hoạt động của các THT tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Thực trạng sản xuất khoai lang trên địa bàn xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đánh giá nhận thức của người dân về mô hình THT tại xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển THT khoai lang Nhật

Trang 13

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: các hộ nông dân sản xuất khoai lang Nhật và các hộ tham gia THT trên địa bàn xã Xuân Hòa – huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai

Phạm vi thời gian: từ ngày 2/3/2009 – 26/5/2009

1.4 Cấu trúc của khóa luận

Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:

Chương1 Mở đầu

Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của khóa luận

Chương 2 Tổng quan

Giới thiệu tổng quan về tài liệu tham khảo, trình bày về điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội của xã Xuân Hòa, tổng quan về tình hình hoạt động của THT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu và phương pháp để tiến hành nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trong chương này sẽ trình bày những kết quả nghiên cứu chính bao gồm: tình hình hoạt động của các THT trên địa bàn huyện Xuân Lộc, thực trạng sản xuất khoai lang Nhật, đánh giá triển vọng phát triển khoai lang Nhật trên địa bàn xã Xuân Hòa, nhận thức của hộ nông dân tham gia THT về mô hình này và định hướng xây dựng THT khoai lang Nhật

Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Tóm lược các kết quả nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của THT

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Hợp tác trong sản xuất nói chung và hợp tác trong nông nghiệp nói riêng không còn là một mô hình mới mẻ Do đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu nói về vấn đề này

Nhóm công tác của các TCPCP (CARE, Oxfam GB, IFAD, SRD), 2007 đã phối hợp thực hiện: 01 nghiên cứu tổng thể về khung pháp lý, 04 nghiên cứu tại cơ sở

về hiện trạng THT tại: An Giang (do CARE tiến hành); Ninh Thuận (do Oxfam Anh tiến hành); Hà Tĩnh (do IFAD tiến hành); Phú Thọ (do SRD tiến hành) với mục tiêu thu thập thông tin tổng thể, các chính sách hiện hành liên quan đến THT; nghiên cứu hiện trạng các loại hình THT, nhu cầu, cơ hội, thách thức, quản lý nhà nước và vai trò của THT trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo; đề xuất một số vấn đề, nội dung cần được nghiên cứu sâu thêm tại cấp cơ sở để từ đó đưa ra khuyến nghị đối với quá trình xây dựng nghị định cho THT

Phan Trọng An, trường ĐH Kinh tế Đà Nẵng, nghiên cứu kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp ở Nhật Bản và bài học rút ra cho Việt Nam Bài báo đã đưa ra kết luận: HTX nông nghiệp chỉ phát triển và phát huy tác dụng tốt cho hộ nông dân khi: HTX thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực, tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ, hiệu quả hoạt động cao; việc lựa chọn khâu dịch vụ nào để HTX làm là hết sức quan trọng Bốn khâu: cung ứng vật tư, hàng hoá tiêu dùng, tín dụng tương hỗ, tiêu thụ sản phẩm và khuyến nông là rất phù hợp với HTX Nhưng để chiến thắng tư nhân thì HTX nên tổ chức theo kiểu đa năng và tuyển chọn người giỏi làm giám đốc để quản

lý, điều hành Ngoài ra để HTX nông nghiệp phát triển cũng cần sự hỗ trợ của Nhà nước Đây là nguồn tư liệu cần thiết cho tôi để có thể xác định được những vấn đề cần chú ý giải quyết trong việc xây dựng THT khoai lang Nhật

Ths.Bảo Trung, trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II, 2006, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng Báo cáo cho rằng mô hình HTX, THT làm cầu nối tiêu thụ hàng nông sản bằng hợp đồng ký kết giữa nông dân và doanh

Trang 15

nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam HTX và THT đã khắc phục hạn chế của việc sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán Tuy nhiên, để HTX, THT phát triển bền vững thì chúng ta cần chú ý đến các yếu tố văn hóa để xây dựng phương thức vận động phù hợp và HTX và THT tác thực sự là tổ chức tự nguyện của nông dân Qua bài báo cáo cho thấy vai trò quan trọng của HTX và THT trong việc tiêu thụ nông sản cho nông dân, và từ đó có thể áp dụng trong mô hình THT khoai lang Nhật mà tôi đang nghiên cứu xây dựng

PGS.TS Lê Trọng, 2001, nghiên cứu về kinh tế hợp tác của nông dân trong nền kinh tế thị trường Qua nghiên cứu về tình hình kinh tế hợp tác của nông dân qua từng thời kỳ, tác giả đã rút ra những ưu điểm và nhược điểm của từng thời kỳ đó Qua đó chỉ ra sự cần thiết phải đổi mới tổ chức quản lý kinh tế hợp tác và những kiến nghị để xây dựng kinh tế hợp tác có hiệu quả hơn

Tóm lại, những nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quý giá cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài Cùng nghiên cứu về vấn đề kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nhưng khác với các nghiên cứu trước, chỉ nghiên cứu chung về các THT và đưa ra các

đề xuất chung cho quá trình xây dựng và phát triển THT; nghiên cứu này sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp sẵn có và số liệu sơ cấp qua điều tra phỏng vấn hộ về hoạt động của các THT và thực trạng sản xuất của một lĩnh vực sản xuất cụ thể để đề xuất xây dựng một THT cụ thể

Trang 16

2.2 Tổng quan về xã Xuân Hòa

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Hình 2.1 Bản đồ huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai

Nguồn: Sở Tài nguyên& Môi trường tỉnh Đồng Nai

Xã Xuân Hòa nằm ở phía Đông huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai

- Phía Bắc giáp xã Xuân Thành

- Phía Nam, Đông giáp tỉnh Bình Thuận

- Phía Tây giáp xã Xuân Hưng

Trang 17

Xuân Hòa nằm giáp ranh với tỉnh Bình Thuận và có quốc lộ 1A chạy qua nên thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội

b Địa hình

Địa hình của xã tương đối bắng phẳng, 93% diện tích có độ dốc nhỏ hơn 8, hiện đang trồng cây ăn quả, lúa, mía,cây màu và rừng Địa hình thấp dần từ hướng Tây Bắc đến Đông Nam

c Khí hậu

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nên nhiệt cao đều trong

năm, lượng mưa lớn và phân bố theo mùa sâu sắc với những đặc tính sau:

- Nắng nhiều( trung bình 5,7 – 6 giờ/ngày), nhiệt độ cao đều trong năm(trung bình 25,4C), năng lượng bức xạ mặt trời dồi dào( trung bình 154 – 158Kcal/cm2/năm)

- Lượng mưa khá (trung bình 1,956-2,139 mm/năm), nhưng phân hóa sâu sắc theo mùa, trong đó: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đên tháng 10, chiếm trên 90% lượng mưa cả năm

- Lượng bốc hơi hàng năm trung bình 1100-1300 mm/năm, trong đó mưa thường cao gắp 2-3 lần mùa mưa, tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng về độ ẩm, nhất

là trong các tháng cuối mùa khô nên hầu hết cây trồng cần phải được tưới bổ sung mới cho năng suất và chất lượng cao

- Gió: trong năm có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc hình thành trong mùa khô và gió mùa Tay Nam hình thành trong mùa mưa Tốc độ gió trung bình hàng năm từ 2,0-2,2m/s, lớn nhất 2,5-3,0m/s( 9-10km/h) và ít chịu ảh hưởng của bão

d Nguồn nước và thủy văn

- Nguồn nước mặt: Trên địa bàn xã Xuân Hòa có các nhánh suối nhỏ thuộc hệ

thống Sông Dinh, các nhánh suối này bắt nguồn từ khu vực phía Đông Nam núi Chứa Chan, diện tích lưu vực: 227 km2, bao gồm các suối chính như: Suối Gia Ui, suối Da Công Hoi, suối Da Kriê, mô-dun dòng chảy tương đối khá (khoảng 32,6l/s/km2) nhưng

do lưu vực hẹp, thảm phủ kém, mùa khô kéo dài nên các suối này đều bị kiệt vào cuối mùa khô Hiện nay đã xây dựng hồ Núi Le và Gia Ui, các hồ này đã có tác dụng tốt trong việc cung cấp nước vào mùa khô nhưng trong phạm vi xã không có nguồn nước

này

- Nguồn nước ngầm: Xuân Hòa nằm trong khu vực nghèo nước ngầm Trên

đất đỏ vàng được phong hóa từ đá Bazan, nước ngầm thường thường xuất hiện từ độ

Trang 18

sâu 60-80m, lưu lượng trung bình 0,7-121l/s Hiện nay nước ngầm đang được khai

thác phục vụ cho đời sống và sản xuất

e Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên đất

Toàn xã có 4 nhóm đất chính, được chia thành 9 loại đất khác nhau

Bảng 1.1 Diện Tích Các Loại Đất ở Xã Xuân Hòa

hiệu

Diện tích(ha)

Cơ cấu(%) Đất xám vàng AC 167 1,9

Nguồn tin: UBND xã Xuân Hòa

- Nhóm đất xám vàng(AC): phân bố chủ yếu ở phía Tây và Bắc xã

- Nhóm đất đỏ (FR): phân bố trên địa hình tương đối dốc (8-15o) Đất đỏ vàng rất thích hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm, tiêu và cây ăn quả

- Nhóm đất xám (LX): phân bố đều trên địa bàn xã

- Độ dốc, tầng dày:

+ Độ dốc: Đất đai ở xã khá bằng phẳng, 93,7% diện tích co độ dốc nhỏ hơn 80, khá thuận lợi cho sử dụng vào mục đích nông nghiệp và phát triển cơ sở

hạ tầng, đất có độ đốc từ 8-150 chiếm 4,9%, đất có độ dốc >250 chiếm 0,4%

Trang 19

+ Tầng dày: Diện tích có tầng dày trên 100cm chiếm 66,3%, 70-100cm chiếm 15,5%, 50-70cm chiếm 3,7%, đất tầng mỏng chiếm 0,4%

Bảng 2.2 Diện Tích Phân theo Độ Dốc Tầng Dày

50- 50cm

Nguồn tin: UBND xã Xuân Hòa

- Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê năm 2005 trên địa bàn xã có 2024ha

đất rừng trồng sản xuất Định hướng trong thời gian tới sẽ tiếp tục ổn định đất rừng

hiện có

f Thực trạng môi trường

Nhìn chung môi trường sống của xã còn trong lành, chưa bị ô nhiễm Tuy nhiên

do hiện nay tình trạng lạm dụng quá nhiều chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp, tình trạng kém vệ sinh ở các khu nông thôn có chiều hướng gia tăng, có thể sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống trong tương lai

2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội

a Tăng trưởng kinh tế

Tổng giá trị sản phẩm toàn xã năm 2008 đạt 104,08 tỷ đồng (giá thực tế)

Trang 20

Bảng 2.3 Giá Trị Sản Xuất Và Cơ Cấu Các Ngành Kinh Tế Xã Xuân Hòa

Nông-lâm-thủy sản 69,39 65,27 61,50 58,02 60,46 CN-XD 10,61 11,82 5,27 5,84 5,65

DV 20,01 22,90 33,22 36,13 33,88

Nguồn tin: UBND xã Xuân Hòa

b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của xã đang có tốc độ chuyển dịch theo hướng tích cực Cụ thể:

tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp giảm từ 69,39% năm 2004 xuống còn 60,46% năm

2008, tuy nhiên tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng giảm từ 10,61% năm 2004 xuống còn 5,65% năm 2008, nhưng tỷ trọng ngành thương mại-dịch vụ tăng từ 20,01% năm 2004 lên 33,88% năm 2008

Trang 21

+ Cây lúa: diện tích gieo trồng năm 2008 đạt 573 ha (tăng 5 ha so với

năm 2007), nguyên nhân diện tích lúa tăng là do trong những năm gần đây hiệu quả kinh tế cây lúa tăng nên người dân có xu hướng chuyển sang trồng lúa Năng xuất lúa đạt 4,50 tấn/ha (năm 2008)

+ Cây bắp: diện tích năm 2008 là 143 ha, năng suất cây 5,31 tấn/ha Trong những năm gần đây năng suất trên cây bắp liên tục tăng do nông dân thay đổi giống mới năng suất cao hơn

+ Cây mỳ: được trồng trên những vùng đất xấu, không tưới nhưng năng suất đạt khá cao 21,00 tấn/ha (năm 2008), diện tích đạt 2845 ha tăng 475 ha so với năm 2007

+ Mía: diện tích trồng liên tục giảm, năm 2008 chỉ đạt 40 ha Nguyên nhân là do người dân chuyển sang trồng mỳ vì hiệu quả kinh tế của cây mỳ trong những năm gần đây cao hơn cây mía Năng suất vẫn chưa được cải thiện, chỉ 50 tấn/ha

+ Đậu các loại: là cây màu chủ lực của xã nhưng năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao, diện tích năm 2008 đạt 873 ha, năng suất chỉ đạt 0,8 tấn/ha (bằng 1/3 năng suất vùng ĐBSCL)

+ Điều: Diện tích, năng suất giảm mạnh trong thời gian qua, nguyên nhân là do năng suất điều liên tục giảm trong những năm gần đây, làm cho hiệu quả kinh tế của cây điều giảm

+ Cây ăn quả: diện tích năm 2008 đạt 348 ha, diện tích cho thu hoạch

318 ha, trong đó chủ yếu là các loại cây: xoài (240ha), nhãn (80ha), chuối (15ha)…

Lâm nghiệp:

Diện tích rừng năm 2008 là 2.471 ha và toàn bộ là rừng sản xuất, giai đoạn 2006 -2008, xã đã phát động nhân dân hàng năm trồng 447 ha, riêng năm 2008 trồng được 157 Công tác chăm sóc bảo vệ rừng đã trồng co chuyển biến tốt, công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp được chú trọng, các trường hợp nào vi phạm đều được

xử lý theo luật

Ngành công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp:

Tiểu thủ công nghiệp của xã phát triển theo hướng gắn liền với sản xuất nông nghiệp, tích cực khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài xã đầu tư sản

Trang 22

xuất Các ngành nghề được phát triển trên địa bàn: vật liệu xây dựng, chế biến lương thực -thực phẩm, cửa sắt, may mặc,…

Nhìn chung, tiểu thủ công nhiệp có mức tăng trưởng khá, chất lượng sản phẩm

cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, giá trị sản xuất năm 2005 dạt 12,65 tỷ đồng Tổng số hộ tham gia sản xuất TTCN là 32 hộ, 1 doanh nghiệp, thu hút

Ngoài ra, các hoạt động giao thông vận tải, bưu điện, điện lực…ngày càng phát triển đáp ứng được nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa, sản xuất, đời sống,…của nhân dân trong vùng

Trang 23

d Dân số, lao động,việc làm và thu nhập

- Dân số

Dân số của xã năm 2008 là 11.634 người, tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,24%

Bảng 2.5 Diễn Biến Dân Số qua Các Năm 2001-2005 của Xã Xuân Hòa

Dân số trung bình 11380 11571 11486 12019 11634

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,35 1,30 1.25 1.24 1.24

Số người trong độ tuổi lao động 5912 6155 6070 6612 6155

Số lao động đang làm việc 4279 5652 6105 6281 6330

Nguồn tin: UBND xã Xuân Hòa

- Lao động: Tổng lao động của xã năm 2008 là 6155 người, trong đó lao động

đang làm việc trong các ngành kinh tế là 6330 người, tuy nhiên do lao động chủ yếu trong ngành nông nghiệp (chiếm 66,1%) việc thất nghiệp thời vụ vẫn thường xuyên xảy ra Nên việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động là một việc làm cần thiết và cấp bách

- Thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 ước đạt 9 triệu đồng gấp

Hiện toàn xã số hộ nhà kiên cố, bán kiên cố: 75,5%, hộ có tivi 90%, hộ có xe máy 66% Hiện toàn xã vẫn còn 3,5% hộ đói nghèo

e Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng, hạ tầng xã hội

- Thủy lợi: Hiện trên địa bàn xã có đập dâng Sóc Ba Buôn phục vụ tưới cho

40ha cây lâu năm, ngoài ra còn cấp nước cho trên 25 hộ dân tộc Châu Ro tại Soc Ba Buôn Tuy nhiên hiện nay vẫn còn 1700ha cây lâu năm, 350ha cây ngắn ngày và 97 hộ

dân tộc thiếu nước sinh hoạt

- Giao thông: Trên địa bàn xã hiện có tuyến quốc lộ 1A, đường huyện Sóc Ba

Buôn, 6 tuyến đường xã và 8 tuyến nội ấp, tổng chiều dài 90km, trong đó 5,8km đường quốc lộ 1A và 0,6km đường bưu điện ấp 3 là đường nhựa, còn lại hầu hết là đường cấp phối và đường đất, đi lại thường gặp khó khăn trong mùa mưa Mật độ đạt 1,67km/km2, phân bố tương đối đều, diện tích chiếm đất 198,2ha

Trang 24

f Giáo dục-Đào tạo

Ngành GD-ĐT của xã đã không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, toàn xã

hiện có 4 trường, 1 trường mầm non (mầm non xã Xuân Hòa và 1 phân hiệu), 2 trường

tiểu học (Xuân Hòa và Hòa Hiệp), 1 trường THCS Xuân Hòa và 1 trường THPT Đã

thu hút tỷ lệ học sinh ra lớp đạt: hệ mầm non 47%, tiểu học 100%, THCS 98% trong

độ tuổi, chất lượng giáo dục trong những năm qua không ngừng được nâng cao, nề

nếp, kỉ cương trong nhà trường có nhiều tiến bộ, tỷ lệ học sinh lên lớp ngày càng tăng,

năm 2003 xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia phổ cập THCS

Bảng 2.7 Hiện Trạng Giáo Dục 2007-2008 Của Xã Xuân Hòa

Mạng lưới y tế được xây dựng cũng cố về tổ chức và nâng cao chất lượng

chuyên môn, trạm y tế xã có 1 bác sĩ, 1 trung cấp, 5 cán bộ y tế và các cộng tác viên

thôn ấp Công tác khám và điều trị được bảo đảm, thực hiện tốt chương trình y tế quốc

gia, đẩy lùi và ngăn chặn các loại dịch có hiệu quả Hoạt động y tế tư nhân từng bước

được chấn chỉnh, chất lượng hoạt động y học cổ truyền được phát huy, công tác vệ

sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm được phát huy Năm 2004, trạm y tế xã Xuân Hòa

được công nhận đạt chuẩn quốc gia

h Văn hóa-thể thao

Hiện xã đã có trung tâm văn hóa-thể thao phục vụ tốt các hoạt động văn hóa thể

thao của địa phương, hiện có 4/4 ấp, 2535 hộ gia đình đạt ấp văn hóa, gia đình văn

hóa

i Điện

Mạng lưới điện quốc gia đã được kéo đến tất cả các ấp trên địa bàn xã, hiện

toàn xã có 2141 hộ sử dụng điện lưới quốc gia (đạt tỷ lệ 84,5% số hộ)

Trang 25

j Bưu chính viễn thông

Xã có một bưu điện văn hóa phục vụ nhu cầu báo chí, giải trí,…của nhân dân Ngoài ra, mạng lưới thông tin liên lạc của xã tương đối tốt, số máy điện thoại đạt 5,6 máy/100 dân (cao hơn so với bình quân toàn huyện 5,4 máy/100 dân)

2.2.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội

b Hạn chế

Địa bàn xã khá rộng (chiều dài xã khoảng 25km), đã hình thành nhiều khu vực tách biệt, đường giao thông giữa các ấp chất lượng kém, gây khó khăn cho quản lý và chất lượng xã hội

Xã có đất đai khá tốt, địa hình bằng phẳng nhưng thiếu nước tưới cho cây trồng vào mùa khô, đã gây khó khăn cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sử dụng đất đem lại hiệu quả kinh tế cao

Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, thu nhập của nông hộ chưa cao, nếu không

có giải pháp đúng đắn kinh tế xã có nguy cơ tụt hậu so với xã khác

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã có quy mô nhỏ, công nghiệp chế biến nông sản đã hình thành nhưng chưa được đầu tư đúng mức

2.3 Tổng quan về tình hình phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

2.3.1 Tình hình phát triển THT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Từ nhu cầu và điều kiện kinh tế - xã hội từng địa phương nên các THT được thành lập với quy mô và nội dung hoạt động ngày càng đa dạng và phong phú hơn Theo báo cáo tổng hợp của Hội nông dân các huyện, thị xã Long Khánh, TP Biên Hòa đến nay trên địa bàn tỉnh có 5.364 THT nghề nghiệp và THT dân cư, trong đó có 2.713

tổ, nhóm hợp tác hoạt động trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (464 Chi hội nghề nghiệp, 307 CLB năng suất cao, 649 tổ vay vốn, 857 tổ vay vốn ngân hàng chính sách

Trang 26

xã hội, 189 THT trồng trọt, 147 THT chăn nuôi, 87 tổ dịch vụ, 13 tổ quản lý khai thác nước sạch nông thôn) Hoạt động của THT chủ yếu là tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất trên các mặt như: vay vốn, cung ứng vật tư, làm đất quản lý đường, nước

về qui mô tổ có từ 10-50 hộ

Trong quá trình hoạt động, một số THT đã góp vốn, góp sức để sản xuất kinh doanh như: THT nuôi tôm càng xanh ở Xã Đại Phước, THT chăn nuôi heo Hiệp Phước huyện Nhơn Trạch, Câu lạc bộ năng suất cao huyện Xuân Lộc, Tổ Nấm mèo ở thị xã Long Khánh, Tổ Dâu tằm tơ ở Xã lộ 25, Xã Bàu Hàm huyện Thống Nhất Một số Chi hội đã liên doanh liên kết với Doanh nghiệp Nhà nước như các Chi hội Bông vải huyện Xuân Lộc đã liên doanh sản xuất cây bông vải với Công ty Bông Đồng Nai

Các THT được thành lập để đáp ứng nhu cầu thực tế của việc phát triển kinh tế

hộ Nội dung hoạt động và hình thức quản lý rất đơn giản phù hợp với trình độ của nông dân trên các vùng nông nghiệp sinh thái

Các THT mang lại lợi ích thiết thực giúp cho các hộ thành viên sử dụng hiệu quả về đất đai, lao động, vật tư và tiền vốn Hoạt động của THT chủ yếu là giúp đỡ, tương trợ nhau trong sản xuất và đời sống

THT đã bám sát chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nâng cao giá trị thu được trên 1 đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho hộ xã viên góp phần xóa đói giảm nghèo, đồng thời còn là cầu nối giữa cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương với nông dân trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước Tổ chức và quản lý của THT từng bước đã hoàn thiện và chặt chẽ hơn, một số THT có tài sản chung, góp vốn, góp sức thực hiện phân phối lãi theo vốn góp như THT quản lý nước sinh hoạt Trong quá trình hoạt động đã có 12 THT thành lập HTX nông nghiệp, khả năng giai đoạn từ 2008 - 2010 có khoảng 40 THT phát triển thành HTX

2.3.2 Tình hình hoạt động của các HTX trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

a Kết quả chuyển đổi, giải thể HTX cũ theo quy định của Luật HTX

Trước khi có Luật HTX năm 1997 toàn tỉnh chỉ còn 1 HTX nông nghiệp hoạt động, đến năm 1998 đã chuyển đổi từ HTX kiểu cũ sang HTX kiểu mới hoạt động theo luật HTX là HTX nông nghiệp Gò Me – P.Thống Nhất – TP.Biên Hòa Đây là một HTX nông nghiệp thuộc thành phố, diện tích đất canh tác bị thu hẹp do quy hoạch

Trang 27

đô thị, nhưng HTX đã mạnh dạn mở rộng các loại hình kinh doanh dịch vụ như câu cá giải trí, dịch vụ ăn uống, liên doanh liên kết sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp…, hoạt động có hiệu quả, là HTX đạt loại khá trong nhiều năm liền

b Kết quả phát triển HTX mới

Tính đến tháng 6/2008, toàn tỉnh đã thành lập mới và chuyển đổi 68 HTX NN, trong đó có 7 HTX hoạt động không hiệu quả đã giải thể theo đúng luật gồm HTX dịch vụ nông nghiệp Bảo Quang - thị xã Long Khánh (2006); HTX chăn nuôi 45 – thành phố Biên Hòa, HTX dịch vụ nông nghiệp An Viễn – huyện Trảng Bom (2007); HTX dịch vụ nông nghiệp Lang Minh, HTX thủy sản Bưng Cần – huyện Xuân Lộc; HTX dịch vụ nông nghiệp Bình Lợi, HTX dịch vụ nông nghiệp Hiếu Liêm- huyện Vĩnh Cửu (2008) Như vậy, đến nay (30/6/2008) số lượng HTX NN trên địa bàn tỉnh

là 61 HTX NN, được chia ra làm 3 loại hình:

- HTX dịch vụ nông nghiệp: 40 HTX chiếm tỉ lệ 65,6 % tổng số HTX NN

- Loại hình HTX sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng hợp: 1 HTX chiếm tỉ lệ 1.6

% tổng số HTX NN

- Loại hình HTX chuyên ngành: 20 HTX chiếm tỉ lệ 22,8 % tổng số HTX NN Trong đó có 10 HTX nuôi trồng thủy sản, 5 HTX rau an toàn, 4 HTX chăn nuôi, 1 HTX dâu tằm tơ

So với năm 2001, từ năm 2002 đến tháng 06/2008 tăng 32 HTX, trong đó loại hình HTX dịch vụ nông nghiệp tăng 20 HTX, HTX chuyên ngành tăng 5 HTX trong đó HTX chăn nuôi tăng 2 HTX, HTX rau sạch tăng 2 HTX, HTX thuỷ sản tăng 1 HTX

c Số liên hiệp HTX phát triển mới

Tính đến tháng 06/2008 tỉnh Đồng Nai thành lập được 1 liên hiệp HTX , đó là liên hiệp HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai (Dona coop) được thành lập, đây là liên hiệp HTX đầu tiên của tỉnh Đồng Nai có số vốn điều lệ ban đầu 20 tỉ đồng, đến nay là 100 tỉ đồng Đây là Liên hiệp HTX hoạt động liên tỉnh với 14 ngành nghề sản xuất kinh doanh gồm 6 HTX thành viên tham gia: HTX dịch vụ nông nghiệp xây dựng Long Hưng (H Long Thành); HTX đóng tàu xà lan Nhơn Trạch; HTX thương mại dịch vụ Nhơn Long (H.Nhơn Trạch); HTX Thủ công mỹ nghệ Hố Nai (H.Trảng Bom); HTX thương mại Long Biên (Tp.Biên Hoà); HTX vận tải du lịch Trường Sơn (Tp Hồ Chí Minh) Đây là những HTX làm ăn có hiệu quả, có bề dày kinh nghiệm, có

Trang 28

phương án kinh doanh khả thi nên có thể nói đây là một mô hình tốt cần nhân rộng trong những năm tới

2.3.3 Các văn bản về phát triển KTTT tỉnh Đồng Nai

a Một số văn bản

Chương trình hành động số 24 – CTr/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa VII) thực hiện Nghị quyết hội nghị lần 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về: “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” Chương trình đề ra phương hướng là cần phải tập trung củng cố THT và HTX hiện có, tiếp tục phát triển rộng rãi KTTT với nhiều hình thức, quy mô, trình độ từ thấp đến cao ở tất cả các ngành, các lĩnh vực , địa bàn

Nghị quyết số 43/2003/NQ – HĐND về “Đề án phát triển HTX trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ nay đến năm 2010” Nghị quyết đã đưa ra mục tiêu phát triển HTX đến năm 2010, trong lĩnh vực nông nghiệp có 80% số hộ nông dân là thành viên của HTX, tỷ trọng GDP của khu vực KTTT trong tổng GDP của khu vực kinh tế đạt 20 – 25% Đồng thời đề ra những giải pháp đối với từng lĩnh vực và chính sách hỗ trợ để

phát triển HTX

b Triển khai thực hiện các văn bản về phát triển KTTT của tỉnh

Sau khi được triển khai Nghị quyết số 13 của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX

do Tỉnh ủy tổ chức, Sở Nông nghiệp & PTNT đã mở Hội nghị quán triệt Nghị quyết

và chương trình hành động số 24 của Tỉnh ủy cho cán bộ, đảng viên Ngành Nông nghiệp & PTNT Đồng thời phối hợp với các ban ngành, UBND các Huyện tổ chức

300 lớp tập huấn Luật HTX và Nghị quyết số 13, chương trình hành động số 24 của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 48/HĐND tỉnh cho gần 15 ngàn lượt cán bộ chủ chốt cấp huyện, xã, phường, thị trấn và nông dân trên địa bàn toàn tỉnh In ấn tài liệu với nội dung tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh

tế tập thể, hơn 15 ngàn cuốn tài liệu đã phát cho cán bộ và nhân dân trong tỉnh

Nhìn chung bước triển khai Nghị quyết số 13 và các chương trình hành động số

24 của tỉnh ủy được các cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến cơ sở quan tâm chỉ đạo chặt chẽ Các cấp ủy Đảng đã kịp thời ban hành các thông tri, kế hoạch hướng dẫn và lựa chọn những hình thức triển khai linh hoạt

Qua học tập quán triệt, phần lớn Đảng viên, cán bộ và quần chúng cốt cán trong ngành đều có sự phấn khởi nhất trí cao đối với việc ban hành chương trình hành động

Trang 29

số 24, chương trình đã giải quyết được sự lúng túng của các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp về định hướng và giải pháp cho kinh tế tập thể trong giai đoạn đổi mới

Trang 30

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở luận

3.1.1 Tổ chức dựa vào cộng đồng (Community based organization, CBO)

Tổ chức là một thực thể thống nhất gồm những người có chung mục đích và hoạt động theo nội quy, quy định đã được xây dựng Có nhiều loại hình tổ chức khác nhau, từ các tổ chức chính thức (như chính phủ, ngân hàng) đến những tổ chức không chính thức (mạng lưới) Một số tổ chức phân cấp bậc (như quân đội) và có những tổ chức gần như không phân cấp bậc (mạng lưới) Có những tổ chức có văn bản nội quy, quy định, cũng

có những tổ chức không có (hầu hết các gia đình không có vì mọi người đều biết vị trí của mình và những quy tắc chung) Một số tổ chức có kế hoạch hoạt động lâu dài, một số khác chỉ tập trung vào các hoạt động hàng ngày

Để thích ứng với các điều kiện khác nhau về đặc điểm địa phương và trình độ phát triển các tổ chức nông dân phát triển rất đa dạng Trong nông nghiệp truyền thống các tổ chức nông dân cần cho sự hoạt động của nông nghiệp gia đình thường là các tổ chức nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa các thành viên trong việc tiếp xúc với các phương tiện sản xuất như đất, nước Trong bước đầu của sự phát triển muốn chuyển từ tình trạng

tự cấp sang sản xuất hàng hóa cần có các tổ chức cung cấp các loại dịch vụ đầu vào cũng như đầu ra cho sản xuất dịch vụ nông dân Hiện nay chúng ta muốn phát triển HTX nhưng

để tiến lên HTX là hình thức cao nhất của sự hợp tác cần có các tổ chức nông dân đơn giản mang tính chất tương trợ để nông dân có thể học tập trong thực tế, phát triển lên các hình thức tổ chức cao hơn Việc xây dựng tổ chức nông dân là một quá trình lâu dài và phức tạp, không thể từ chỗ chưa có gì bước ngay lên các hình thức tổ chức cao như HTX Các tổ chức nông dân kiểu mới là các tổ chức không phải nhằm giải quyết các quan hệ bên trong nữa mà là tổ chức thêm các mối quan hệ với bên ngoài như việc giúp cho sự

Trang 31

tiếp xúc với thị trường và xã hội Các tổ chức nông dân là các cơ cấu trung gian giữa người sản xuất và các tác nhân khác trong môi trường kinh tế, thể chế và chính trị

Một tổ chức dựa vào cộng đồng là một tổ chức được hình thành và hoạt động có vai trò rất lớn của cộng đồng và người dân Theo Lê Quốc Dân (2004), CBO là tổ chức mang tính cộng đồng Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thức nào về CBO dưới góc

độ nghiên cứu và góc độ quản lý nhà nước nhưng nó được sử dụng rất phổ biến Nói chung CBO lấy cộng đồng làm nền tàng và là đối tượng mục tiêu cho hoạt động Tuy nhiên, hình thức dựa vào cộng đồng và cấu trúc tổ chức của nó cũng rất khác nhau Các CBO được thành lập nhằm giải quyết các quan hệ bên trong cộng đồng và giữa cộng đồng với nhà nước và các bên liên quan khác trong các vấn đề cụ thể như bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, truyền thông, PTNT, nông thôn, xóa đói giảm nghèo…

CBO có các thành viên là người dân có cùng một lợi ích chung nào đó, ví dụ như các tổ chức người sản xuất, các nhóm cùng nguồn lợi, các ban phát triển của làng Sự phát triển dựa trên khái niệm về vốn, nhấn mạnh các nguồn vốn sinh kế khác nhau của cộng đồng: vốn tự nhiên, vốn cơ sở hạ tầng, vốn tài chính, vốn con người (giáo dục), vốn xã hội CBO giải quyết những can thiệp ở cấp cộng đồng và thường hoạt động trong các lĩnh vực sinh kế và xã hội Vì những mục đích này, CBO hầu hết là các tổ chức phi lợi nhuận,

tổ chức dựa vào niềm tin, các bộ tộc và cộng đồng truyền thống CBO còn là tổ chức của người dân nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của địa phương Như vậy, CBO có thể được thành lập theo sáng kiến của cá nhân hoặc của chính quyền địa phương, các tổ chức quốc tế hoặc các nhân tố bên ngoài CBO có tư cách pháp nhân và

đại diện cho một nhóm sáng kiến

3.1.2 Sự cần thiết khách quan về phát triển kinh tế hợp tác của nông dân

Lịch sử phát triển KT-XH trong nông nghiệp đã chỉ cho nông dân hiểu rằng:

Có nhiều việc đơn giản nhưng nếu không có sự hợp tác thì từng cá nhân nông hộ đơn độc không thể thực hiện được hoặc thực hiện không có hiệu quả như: khiêng tảng đá lớn, khúc gỗ to, vây bắt thú rừng, làm đường, làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, thu hoạch nhanh để tránh bão lũ, sản xuất trong đêm để tránh bom đạn của giặc…

Trang 32

Có nhiều việc phức tạp đòi hỏi phải làm cùng một lúc, người này làm việc này, người kia làm việc kia Tất cả những kết quả đó đều góp phần vào kết quả chung mà một người không thể làm được Chẳng hạn như việc đánh cá tập thể: người này chèo, người kia cầm lái, người thứ ba quăng lưới hay lặn xuống đâm cá thành công

Việc trang bị, sử dụng một số tư liệu sản xuất có hiệu quả đòi hỏi phải có sự hợp tác góp vốn đầu tư mua sắm nông cụ Chẳng hạn, từ trước Cách mạng Tháng Tám (1945) nhiều nông hộ nghèo ở vùng đồng bằng sông Hồng đã chung nhau vốn mua trâu: có hộ một chân trâu, hai chân trâu, thậm chí một nửa chân trâu rồi phân nhau chăn dắt để cùng cày kéo

Việc đưa tiến bộ KH-KT vào sản xuất càng đòi hỏi có sự hợp tác mạnh mẽ Ví dụ: dùng máy tuốt lúa thay cho phương pháp đập néo cùng một lúc phải có người chuyển lúa đến, có người đưa lúa vào máy, người chuyển thóc, người cào rơm ra nơi quy định Nếu không có sự hợp tác dựa trên cơ sở phân công đó thì không thể áp dụng tiến bộ KH-KT, dùng máy tuốt lúa có năng suất được

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả người nông dân càng cần có sự hợp tác để:

- Có thêm vốn, có thêm nhân lực, thêm kinh nghiệm sản xuất và tiến hành sản xuất

có năng suất lao động hơn

- Tự vệ chống lại sự chèn ép mua rẻ bán đắt của tư thương

- Chống tình cảnh cho vay nặng lãi của những người kinh doanh tiền tệ

- Chống tình trạng mua bán lúa non và các hình thức bóc lột khác

- Để có thể giữ vững nhịp độ phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh doanh của kinh tế nông hộ trong cạnh tranh, tránh sự phá sản và sự chèn ép thái quá của các doanh nghiệp có ưu thế, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi

Tóm lại, sự phát triển kinh tế hợp tác của nông dân là một tất yếu với các tác dụng sau:

-Làm được những việc mà từng người, từng nông hộ không làm được hoặc làm không hiệu quả

- Nâng cao được năng suất lao động

Trang 33

- Tiết kiệm được nhiều khoản chi phí trong đầu tư cho kinh doanh

- Huy động được nhiều vốn, nhiều nhân lực, chế ngự được thiên tai, địch họa,đáp ứng được kịp thời yêu cầu sản xuất kinh doanh

- Đưa nhanh được những tiến bộ K-KT, công nghệ mới vào kinh doanh

- Tiến hành chuyên môn hóa, tập trung hóa, phát triển hợp lý cá ngành sản xuất, dịch vụ và thâm canh khoa học

- Phát triển marketing, nhờ đó có khả năng phát triển thị trường trong và ngoài nước, bảo đảm sự cân bằng và có thể chiến thắng trong cạnh tranh

- Có khả năng đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường

Song cần lưu ý là sự phát triển kinh tế hợp tác của nông dân còn có những đặc điểm riêng do đặc điểm sản xuất kinh doanh nông nghiệp chi phối

3.1.3 Một số khái niệm

a Tổ hợp tác

- Khái niệm: Nghị định 151 quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác được

hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm

- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

+ Tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi;

+ Biểu quyết theo đa số;

+ Tự chủ tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ và các tổ viên

Đây là loại hình kinh tế hợp tác giản đơn Quan hệ hợp tác mang tính ổn định, thường xuyên, có cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lỹ lãnh đạo Tổ chức hoạt động theo quy chế được các thành viên thảo luận dân chủ và xây dựng thành văn bản So với HTX thì loại hình này có nội dung, nguyên tắc hoạt động gần giống HTX nhưng khác nhau ở chỗ THT hoạt động không có điều lệ và tư cách pháp nhân THT là một hình thức tổ chức hoạt động thấp hơn HTX

Trang 34

THT hoạt động đa dạng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mai, dịch vụ), với nhiều tên gọi: tổ kinh tế hợp tác có gắn với địa danh nơi tổ chức hoạt động, hoạt tính chất nghề nghiệp như: tổ tín dụng, tổ đường nước,

tổ đường điện, tổ nuôi cá, tổ trồng rừng và bảo vệ rừng, tổ làm vườn)

b Hợp tác xã

- Khái niệm: HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp

nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật

- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX

+ Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định của Luật này, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX; xã viên có quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ HTX ;

+ Dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết; thực hiện công khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quy định trong Điều lệ HTX ;

+ Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối thu nhập

+ Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần chia theo vốn góp

và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX;

+ Hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần

Trang 35

xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; hợp tác giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

a) Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng câu hỏi được soạn sẵn Đối tượng được điều tra là các nông hộ trồng khoai lang và các nông hộ tham gia THT trên địa bàn xã Xuân Hòa

Việc điều tra được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, tiến hành ở

xã Xuân Hòa của huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tổng số mẫu điều tra là 80 mẫu, bao gồm: 50 mẫu điều tra nông hộ trồng khoai lang và 30 mẫu điều tra nông hộ tham gia THT

Phỏng vấn nhóm KIP là những tổ trưởng THT để tìm hiểu những vấn đề có liên quan

b) Số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu có liên quan trước đó, các bài báo, phòng Nông nghiệp huyện Xuân Lộc, các cơ quan có liên quan như: phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Tài nguyên và Môi trường

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được sẽ được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel

Ngoài ra còn dùng một số phương pháp khác: Phương pháp thống kê mô tả,

phương pháp suy luận, phân tích tổng hợp

Trang 36

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Quá trình phát triển HTX huyện Xuân Lộc từ năm 2001 đến nay

Tính đến năm 2001, toàn huyện có 9 HTX trong đó có 3 HTX được thành lập mới trong năm 2001 và 3 HTX được thành lập trước năm 1997 đã được chuyển đổi thành HTX kiểu mới sau khi Luật HTX có hiệu lực vào ngày 1/1/1997 Và từ đó, HTX của huyện theo sự phát triển chung của tỉnh đã được những kết quả nhất định

Hình 4.1 Biểu Đồ Số Lượng HTX từ Năm 2001 đến 6 Tháng Đầu Năm 2009

9 9

11 11

13 13 14

17 20

0 5 10 15 20 25

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

Năm HTX

Nguồn tin: Phòng NN huyện Xuân Lộc - 2009

Qua hình 4.1 ta thấy số HTX có xu hướng tăng lên qua mỗi năm Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 có tốc độ tăng chậm hơn so với giai đoạn từ năm

2006 đến nay Nguyên nhân của vấn đề này là do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp, Luật HTX ban hành chậm so với Luật doanh nghiệp và Luật công ty, tâm

lý hoài nghi, mặc cảm với mô hình HTX kiểu cũ trong nhân dân còn khá phổ biến Nguyên nhân chủ quan là các ngành, các cấp chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò, tính tất

Trang 37

yếu khách quan của việc phát triển KTTT, việc tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTT Trong giai đoạn 2006 – 2007, nhờ quán triệt tư tưởng và nhận thức đúng về vị trí, vai trò và tính tất yếu khách quan của KTTT, huyện đã ra sức củng cố HTX, đề ra các chương trình hành động và giải pháp phát triển HTX Đồng thời quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ quản lý, cán bộ nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho HTX Nhờ vậy mà số HTX trong giai đoạn này tăng nhanh hơn trong giai đoạn trước

Năm 2001

Năm 2001 tiếp tục vận động thành lập mới các HTX Trong năm đã thành lập mới

3 HTX trong đó có 2 HTX NN và 1 HTX nuôi trồng thủy sản Nâng tổng số các HTX trên địa bàn huyện là 9 HTX Mức độ hoạt động của các HTX NN còn rất thấp nguyên nhân là vốn góp của xã viên còn thấp, trình độ cán bộ quản lý HTX chưa qua chuyên môn, kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh còn hạn chế, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu của xã viên Ngoài ra, các dịch vụ phát triển ngành, nghề của HTX chưa được mở rộng do thiếu vốn đầu tư Một số cấp ủy ban chưa thật sự quan tâm chỉ đạo hỗ trợ cho HTX hoạt động như dịch vụ thủy lợi, vấn đề cung ứng vật tư

Trong năm 2001 UBND huyện đã hỗ trợ kinh phí cho cán bộ và các chủ nhiệm HTX NN và thủy sản đi tập huấn nâng cao nghiệp vụ quản lý kinh tế HTX

Trang 38

Vai trò cấp ủy, UBND các xã trong việc tổ chức thực hiện phát triển nâng cao hiệu quả KTTT chưa được được quan tâm sâu sát còn buông lỏng trong khâu kiểm tra, hướng dẫn các HTX hoạt động theo đúng luật và điều lệ quy định

Năm 2004

Toàn huyện hiện có 11 HTX dịch vụ NN Một số cấp ủy và UBND xã vẫn chưa thật sự quan tâm chỉ đạo hỗ trợ cho HTX hoạt động Ban quản trị các HTX thiếu năng động, sáng tạo, nên trong thời gian qua kinh tế HTX chưa mang lại hiệu quả cao, chưa thật sự tạo niềm tin vững chắc trong lòng người dân

Ngoài ra Phòng đã tiến hành báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết TW5 về kinh tế tập thể trên địa bàn huyện (giai đoạn 1999 -2005), tìm ra những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của kinh tế tập thể trong thời gian qua, qua đó đề xuất những giải pháp thúc đẩy

sự phát triển của kinh tế tập thể trong thời gian tới

Ngoài ra trong năm 2006, Phòng Kinh Tế đã tham mưu UBND huyện tiến hành

xem xét giải thể HTX dâu tằm tơ Đại Lộc - Xuân Bắc, do HTX không hoạt động

Ngày đăng: 12/09/2018, 18:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm