1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP MARKETING HƯỚNG TỚI MỐI QUAN HỆ TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI VÀ DỊCH VỤ PHÚC TÂM

106 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH GIẢI PHÁP MARKETING HƯỚNG TỚI MỐI QUAN HỆ TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

GIẢI PHÁP MARKETING HƯỚNG TỚI MỐI QUAN HỆ TRONG

KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA

XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

VẬN TẢI VÀ DỊCH VỤ PHÚC TÂM

MAI THỊ KIM PHƯỢNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2009

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại

Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Giải pháp marketing hướng tới mối quan hệ trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại Công Ty Cổ Phần Vận Tải Và Dịch Vụ Phúc Tâm” do Mai Thị Kim

Phượng, sinh viên khóa 31, ngành Quản Trị Kinh Doanh thương mại, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày………

Mai Hoàng Giang Người hướng dẫn,

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để trưởng thành và học thành tài như ngày hôm nay, trước hết con xin cảm ơn đến sự nuôi dưỡng của Ba Mẹ và sự đùm bọc của anh chị em trong gia đình

Và tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

Quí thầy cô khoa Kinh tế trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh, đặc biệt

là Quí Thầy Cô trong bộ môn Quản trị kinh doanh đã tận tình truyền đạt những kiến thức tạo nền tảng cho chúng em bước vào nghề, vào đời đầy tự tin

Xin chân thành cám ơn đến Ban Giám Đốc công ty Ty Cổ Phần Vận Tải Và Dịch Vụ Phúc Tâm, đặc biệt là anh Tấn Anh, anh Minh Anh, anh Đề, anh Long và chị Oanh… ở phòng Sales Marketing, phòng nhân sự, phòng Operation đã nhiệt tình giúp

đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hơn thế nữa, cho tôi kính gửi lời cám ơn đến thầy Mai Hoàng Giang đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận văn

Sau cùng cám ơn tất cả bạn bè đã chia sẻ trao đổi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập trên giảng đường Đại học và gửi đến tất cả mọi người lời chúc sức khỏe Tp.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2009

Sinh viên thực hiện

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

MAI THỊ KIM PHƯỢNG Tháng 7 năm 2009 “Giải Pháp Marketing Hướng Tới Mối Quan Hệ Trong Kinh Doanh Dịch Vụ Hàng Hóa Xuất Nhập Khẩu Tại Công Ty Cổ Phần Vận tải Và Dịch Vụ Phúc Tâm”

MAI THI KIM PHUONG July 2009 “Marketing solutions to move towards the relationship in forwarding service business at PT TRANS SERVICES JSC”

Khóa luận tìm hiểu về tầm quan trọng và vai trò của vấn đề Marketing hướng tới mối quan hệ trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại công ty

Cổ Phần Giao Nhận Và Dịch Vụ Phúc Tâm, dựa trên cơ sở mô tả, phân tích và đánh giá marketing quan hệ của công ty về những mặt đã được và những mặt chưa được để từ đó đưa ra những giải pháp chung cùng với những giải pháp công cụ marketing – mix hướng tới mục tiêu xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa công ty với các đối tác

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích số liệu thu thập từ các phòng ban của công ty Phúc Tâm và từ kết quả điều tra nghiên cứu thực tế tại công ty Nội dung cụ thể bao gồm các vấn đề sau:

+ Thực trạng hoạt động marketing theo mục tiêu xây dựng, duy trì và củng cố các mối quan hệ của công ty

+ Các giải pháp marketing quan hệ trong kinh doanh dịch vụ giao nhận của công

ty

Trang 5

MỤC LỤC

Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viiDANH MỤC CÁC BẢNG viiiDANH MỤC CÁC HÌNH ix

Trang 6

2.7.2.Khó khăn: 14CHƯƠNG 3 16

3.1 Nội dung nghiên cứu: 163.1.1 Khái niệm chung về dịch vụ: 163.1.2 Cơ sở lý luận về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu 183.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu: 243.1.4 Marketing quan hệ, một phần tất yếu trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu 303.2 Phương pháp nghiên cứu: 423.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 423.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 42CHƯƠNG 4 43KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 434.1 Thực trạng hoạt động marketing theo mục tiêu xây dựng, duy trì và củng cố các mối quan hệ của công ty 434.1.1 Các hoạt động nền tảng 434.1.2 Các biến số Marketing: 534.2 Các giải pháp Marketing quan hệ trong kinh doanh dịch vụ của công ty 754.2.1 Giải pháp chung 754.2.2 Giải pháp Marketing : 83CHƯƠNG 5 89KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 895.1 Kết luận 895.2 Kiến nghị 905.2.1 Kiến nghị với bộ phận Marketing của công ty 905.2.2 Kiến nghị với nhà nước 90TÀI LIỆU THAM KHẢO 93PHỤ LỤC 94

vi

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 2.1 Tỷ Trọng Lao Động Của Công Ty Phúc Tâm Năm 2008 10ĐVT: Nhân viên 10Bảng 2.2 Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Công Ty Qua Các Năm 11Bảng 2.3 Cơ Cấu Kinh Doanh Các Ngành Dịch Vụ Của Công Ty Qua Các Năm 12Bảng 2.4 Khối Lượng Hàng Hóa Vận Chuyển Qua Các Năm ( Hàng Xuất) 13Bảng 2.5: Khối Lượng Hàng Nhập Vận Chuyển Qua Các Năm 2005 – 2008 13Bảng 4.1.Đánh Giá Hoạt Động Nghiên Cứu marketing Của Công Ty 44Bảng 4.2 Kênh Thông Tin Khách Hàng 44Bảng 4.3 Ma Trận Đánh Giá Các Yếu Tố Bên Ngoài (EFE) 46Bảng 4.4 Thăm Dò Hoạt Động Phân Tích Hành Vi Khách Hàng Của Công Ty 47Bảng 4.5 Thị Phần Của Một Số Công Ty Dịch Vụ Giao Nhận Trên Thị Trường 49Bảng 4.6 Bảng Đánh Giá Mối Quan Hệ Nội Bộ Công Ty 50Bảng 4.7 Hệ Thống Mạng Lưới Khách Hàng Năm 2008 51Bảng 4.8.Thăm Dò Thái Độ Trung Thành Của KH Đối Với CT Khi Giá Cả Biến Động

51Bảng 4.9 Cơ Cấu Thị Trường Dịch Vụ Nhập/Xuất Tại Công Ty 52Bảng 4.10 Bảng Đánh Giá Về Việc Đáp ứng Nhu Cầu Của Khách Hàng 56Bảng 4.11 Bảng Ví dụ Về Cách Thức Tính Định Giá Của Công Ty 59Bảng 4.12 Vấn Đề Khách Hàng Quan Tâm Khi Đến Giao Dịch Với Công Ty 60Bảng 4.13 Đánh Giá Của Khách Hàng Về Giá Cả Dịch Vụ Của Công Ty 61Bảng 4.14.Đánh Giá Mức Năng Lực Phục Vụ Của Nhân Viên Công Ty 69Bảng 4.15 Đánh Giá Khả Năng Giao Tiếp Của Nhân Viên Công Ty 70Bảng 4.16 Đánh Giá Ý Kiến Của KH Về Điều Kiện Cung Cấp Dịch Vụ Của CT 73Bảng 4.17 Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng Của KH Đối Với Dịch Vụ Của CT 75

viii

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1 Biểu Đồ Phân Phối Mạng Lưới Khách Hàng Năm 2008 51Hình 4.2 Biểu Đồ Thể Hiện Yếu tố Khách Hàng Quan Tâm Khi Đến Giao Dịch Với Công Ty 61Hình 4.3 Biểu Đồ Đánh Giá Của Khách Hàng Về Giá Cả Dịch Vụ 62Hình 4.4 : Sơ Đồ Quá Trình Cung ứng Dịch Vụ Giao Nhận Hàng Hóa Xuất Nhập Khẩu 72

Trang 10

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Phiếu Thăm Khách Hàng và Nhân Viên 94

x

Trang 11

7000 doanh nghiệp được xuất nhập khẩu trực tiếp Một trong những khâu quan trọng của hoạt động xuất nhập khẩu là vận tải và giao nhận

Ngành giao nhận Việt Nam mới ra đời và vẫn còn non trẻ nhưng hứa hẹn một tương lai phát triển mạnh mẽ Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, việc xây dựng và củng cố các mối quan hệ vừa là mục tiêu vừa là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trong cơ chế thị trường khắc nghiệt này không còn cách nào khác là phải thiết lập được một hệ thống các mối quan hệ với tất cả các lực lượng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty

Với hệ thống các mối quan hệ đó, công ty mới có được một nền tảng, một chỗ dựa vững chắc để chống trải được với cạnh tranh, để thỏa mãn tốt nhu cầu và ước muốn của khách hàng Hơn bao giờ hết, giờ đây quan hệ đã trở thành mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu

Từ những lý do trên, với những kiến thức được học tại trường ĐH Nông Lâm TPHCM

và thời gian tôi thực tế tại Công Ty Cổ Phần Vận Tải Và Dịch Vụ Phúc Tâm, tôi đã

Trang 12

trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại Công Ty Cổ Phần Vận Tải Và Dịch Vụ Phúc Tâm”

1.2.Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu:

- Mục tiêu nghiên cứu:

+ Nghiên cứu vai trò quan trọng của vấn đề quan hệ trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại Công Ty Cổ Phần vận Tải Và Dịch Vụ Phúc Tâm nhằm đánh giá đúng vai trò của nó, nhận thức và đưa ra những giải pháp Marketing quan hệ góp phần thúc đẩy sự phát triển của công ty trong giai đoạn mà ngành giao nhận Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay

- Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả mối quan hệ vốn có trong hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng

hóa xuất nhập khẩu mà Công Ty Cổ Phần Giao Nhận Và Dịch Vụ Phúc Tâm thiết lập với các lực lượng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty từ khách hàng, nhà cung ứng, nhà phân phối, tới quan hệ nội bộ bên trong công ty Tuy nhiên, những quan hệ này sẽ được xem dưới góc độ marketing và bằng những biện pháp marketing

để thiết lập, duy trì và củng cố những mối quan hệ đó

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:

1.3.1 Phạm vi về nội dung:

Đề tài giới hạn từ tình hình kinh doanh, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, và

cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của công ty qua các năm 2006 – 2008 để từ đó có thể đánh giá được tình hình khách hàng và mối quan hệ giữa công ty với khách hàng như thế nào? Nhằm đưa ra những giải pháp hướng tới mối quan hệ tốt hơn trong kinh doanh dịch vụ của công ty Phúc Tâm

Trang 13

1.4.Cấu trúc của khóa luận:

Luận văn gồm năm chương với mục đích và nội dung của từng chương như sau: Chương I: Đặt vấn đề

Nêu lên lý do, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Chương II: Tổng quan về công ty

Chương này giới thiệu khái quát về công ty, sơ lược về quá trình hình thành và phát triển, và quá trình hoạt động kinh doanh của công ty

Chương III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Đề cập đến những khái niệm, những cơ sở mang tính lý thuyết và những phương pháp nghiên cứu được áp dụng vào trong quá trình nghiên cứu đề tài

Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Giải quyết những yêu cầu, nội dung đã được đề ra ở những chương trước đồng thời đề ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động marketing nhằm duy trì và phát triển những mối quan hệ trong kinh doanh của công ty

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm lược lại toàn bộ nội dung của đề tài nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị

cụ thể cho hoạt động của công ty trong thời gian tới

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Sơ lược về công ty:

- Tên doanh nghiệp trong nước : Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Phúc Tâm

- Tên doanh nghiệp quốc tế: PT Trans Services JSC - international Freight Forwarder Shipping Agency Logistics

- Tên giao dịch : PT Trans Services JSC

- Trụ sở : 53 Hồ Văn Huê – Quận Phú Nhuận – TP HCM

- ℡ Điện thoại :(08) 9974003- (08)9974004 – (08)9974005

- Fax: (08)8423511

- Email: pttrans@hcm.fpt.vn

- Vốn điều lệ:1 tỷ đồng

- Có tài khoản tại ngân hàng: VietCombank- TP HCM

2.2 Sự hình thành và phát triển của công ty:

Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Phúc Tâm thành lập vào ngày 14/10/2002, giấy phép kinh doanh số :4103001867 do sở kế hoạch đầu tư TP HCM cấp, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của pháp luật nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và chuyên hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu

Ra đời trong bối cảnh có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty làm dịch vụ giao nhận và vận chuyển trong nền kinh tế thị trường, công ty cổ phần vận tải và dịch

vụ Phúc Tâm gặp nhiều khó khăn bởi sức ép khá lớn của các doanh nghiệp trong nước

và nước ngoài có tiềm lực kinh tế lớn mạnh Nhưng với sự cố gắng, đoàn kết của đội gũ nhân viên cìng với sự quan tâm chỉ đạo của ban lãnh đạo, công ty đã từng bước vượt qua khó khăn để đứng vững và đã tạo được niềm tin với khách hàng, không ngừng phát triển và khẳng định vị thế của mình trên thị trường

Trang 15

Để vượt qua thời gian đó, đòi hỏi công ty phải có sự am hiểu về thị trường, có chiến lược kinh doanh đúng đắn, điều phối giải quyết các khó khăn và ách tắc trong kinh doanh, tạo niềm tin với khách hàng Và đến hôm nay công ty cũng đã hoạt động ổn định và hòa mình vào thị trường giao nhận vận tải quốc tế, từng bước khẳng định tên tuổi và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh

2.3.Chức năng và nhiệm vụ của công ty:

2.3.1.Chức năng:

Công ty Phúc Tâm là công ty giao nhận và vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu

có chức năng khai thác hàng hoá, khai thác phương tiện trong và ngoài nước để thực hiện các dịch vụ vận tải hàng hoá nội địa xuất nhập khẩu có hiệu quả như:

- Tổ chức và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu;

- Cung cấp các dịch vụ gom hàng lẻ từ TP HCM đi hơn 2000 địa điểm trên thế giới và ngược lại;

- Nhận vận chuyển hàng container từ Việt Nam đi các nước trên thế giới và ngược lại, nhưng đối với dịch vụ này công ty thường đặt chỗ với hãng tàu rồi bán lại chứ không làm trực tiếp;

- Giao hàng đến tận nơi theo yêu cầu của khách hàng;

- Giao nhận vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển, đường hàng không;

- Dịch vụ chuyển phát nhanh

2.3.2.Nhiệm vụ:

Công ty sẽ cung cấp các dịch vụ thuộc lĩnh vực giao nhận và vận chuyển theo yêu cầu của người gửi hàng và người nhận hàng như:

Đối với người gửi hàng: Công ty sẽ thay mặt người gửi hàng nhận hàng hoá, lưu

kho hàng hóa, gom hàng, cân đo, đóng gói hàng hoá và vận chuyển hàng từ nơi khách yêu cầu(kho, nhà riêng, cửa hàng) đến cảng để kiểm hàng hoá, khai báo thủ tục hải quan đồng thời làm và cung cấp những chứng từ thích hợp liên quan đến lô hàng để thực hiện việc xuất nhập khẩu hàng hoá như:

+ Xin giấy chứng nhận xuất xứ C/O (Certificate of Origin)

+ Xin giấy chứng nhận hun trùng (Certificate of Fumigation)

+ Xin giấy chứng nhận kiểm dịch (Certificate of Phytosanitary)

Trang 16

Bên cạnh đó, công ty còn nhận mua bảo hiểm để đảm bảo an toàn cho hàng hoá, lưu khoang với hãng tàu, thanh toán cứơc lệ phí và những chi phí phát sinh khác

Ngoài những nhiệm vụ chính trên, công ty còn có nhiệm vụ thường xuyên giám sát theo dõi việc vận chuyển hàng hoá và giúp người gửi hàng tiến hành khiếu nại với người vận chuyển nếu tổn thất xảy ra

Đối với người nhận hàng: Nhiệm vụ chủ yếu của công ty là nhận và kiểm tra

mọi chứng từ liên quan đến việc nhận hàng hoá, nhận hàng và kiểm tra hàng từ người vận tải, đồng thời sẽ làm thủ tục hải quan và trả lệ phí, thuế, những chi phí phát sinh khác.Sau đó công ty sẽ giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho người nhận và có thể vận chuyển, lưu kho hàng hoá tuỳ theo yêu cầu của khách hàng

2.3.3.Quyền hạn:

Công ty được quyền kí kết các hợp đồng kinh tế và giải quyết các thương vụ trong phạm vi dược phép, có quyền giao dịch với các cơ quan trong nước ngoài nước các ngành hữu quan ở địa phương để khai thác hàng hoá, phương tiện và các công việc

có liên quan đến sản xuất- kinh doanh, chủ động trong công tác kinh doanh dịch vụ, dược quyền tạo nguồn vốn tự có để phát triển hoạt động kinh doanh trên cơ sở pháp luật cho phép và đựơc mở tài khoản tại ngân hàng địa phương, được khen thưởng bằng vật chất những tập thể, cá nhân đã hoàn thành tốt công tác và tạo hiệu quả cao cho công ty theo quy chế của nhà nước Đồng thời công ty phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hiện hành về toàn bộ tài sản, nguồn vốn, cơ sở vật chất kĩ thuật đang quản lý những hoạt động có liên quan đến sản xuất – kinh doanh và quản lý nội bộ, số liệu sổ sách kế toán, báo cáo thống kê và tính pháp lý của chứng từ

Dưới đây là một số hệ thống đại lý của công ty:

- Đại lý ở Singapore:

ALTRON SHIPPING PTE LTD

15 MCCALLUM STREET #04-02 NAVEST CENTRE SINGAPORE

069045

- Đại lý ở Malaysia:

OCEN LINK FREIGHT SERVICES SDN BHD

6

Trang 17

BUSINESS SUITE 13-06 13TH FLOOR, CYSTAL CROWN HOTEL HARBOUR VIEW, NO 217, PERSIARAN RAJA MUDA MUSA, 42000 PORT KLANG, MALAYSIA

- Đại lý ở Indiana:

BARWIL

P.O BOX 8612, DUBAI-U.A.E

- Đại lý ở Taiwan:

LEGEND CLOBAL LOGISTICS CORPORATION

14FL, NO 10 KEELUNG ROAD, SEÙE, TAIPEI R.O.C,

TAIPEI TAIWAN

- Đại lý ở Indonesia

PT JH LOGISTICS INDONESIA

PULOMAS SATU BUIDING GD 1,LT 3/2 JL JEND AHMAD YANI NO

2 JAKIATA TIMUR, INDONESIA

- Đại lý ở HongKong

N-TAC AIR FREIGHT LOGISTICS LTD

9/F, UNIT ONE, BLOCK A, HOPLITE IND CENTRE, NO 3-5 WANGTAI ROAD KEWLONG BAG KOWLOON, HONG KONG

- Đại lý ở Thailand

P.T AIR CARGO CO., LTD

201/685 MOO 3, VIPAVADEE – RANGSIT ROAD, TALAD BANG KHEN, LAKSI, BANG KOK 10210 THAILAND

Và còn một số hệ thống đại lý trên khắp thế giới Với hệ thống đại lý trên sẽ phục

vụ nhu cầu vận chuyển hàng hóa cho khách hàng của công ty trên khắp thế giới

2.4.Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban trong công ty

Trang 18

Hình 2.1 Sơ Đồ Tổ Chức Của Công Ty Phúc Tâm

TỪ

BỘ PHẬN

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

Việt Nam

Giám đốc có toàn quyền quyết định mọi phương án kinh doanh, đứng ra kí kết hợp đồng vớí đối tác, lập phương án kinh doanh sao cho công ty hoạt động có hiệu quả nhất

8

Trang 19

+ Phòng Salses – Marketing:

Nhiệm vụ chủ yếu của phòng kinh doanh là tìm kiếm khách hàng và giới thiệu về lĩnh vực hoạt động cũng như quyền lợi mà khách hàng sẽ nhận được khi sử dụng những dịch vụ của công ty

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như điện thoại, Internet, báo chí,…và thông qua các mối quan hệ, phòng Sales- marketing sẽ chủ động tìm kiếm thông tin về các doanh nghiệp trong và ngoài nước đang có nhu cầu sử dụng các dịch

vụ giao nhận hàng hoá và bằng mọi cách thuyết phục họ mua dịch vụ của công ty (có thể thuyết phục bằng cách đưa ra giá cước tốt, cho phép trả cước sau, thời hạn thanh toán phí dịch vụ lâu…)

Bên cạnh việc quảng bá hình ảnh của công ty, một nhiệm vụ quan trọng của phòng Sales-Marketing là phải thường xuyên quan tâm chăm sóc những khách hàng đã

có để họ sẽ luôn là khách hàng trung thành của công ty

+ Phòng kế toán:

Phòng có trách nhiệm giúp giám đốc về mặt quản lý hạch toán, sử dụng đồng vốn

có hiệu quả nhất, thực hiện chế độ kế toán, thống kê báo cáo định kì, thực hiện các công tác quản lý, lưu trữ dữ liệu chứng từ, công tác thanh toán thu chi theo đúng chế độ kế toán, theo dõi công nợ và có biện pháp để thu hồi công nợ…tham gia với giám đốc về

kế hoạch cân đối thanh toán, phân tích hiệu quả vòng quay vốn, giúp kiểm tra hạch toán trong thu chi Đồng thời phòng kế toán còn có nhiệm vụ thực hiện các chế độ chính sách cho người lao động

+ Phòng chứng từ :

Phòng chứng từ có nhiệm vụ lập các chứng từ cần thiết liên quan đến từng lô hàng và các chứng từ khác theo yêu cầu của khách hàng để xuất nhập khẩu hàng hoá, lập hồ sơ lưu trữ chứng từ và liên lac thường xuyên với hãng tàu qua Email để nắm được tình hình vận chuyển các lô hàng và thông báo cho người gửi hàng

+ Phòng Operation:

Phòng Operation sẽ chịu trách nhiệm giao hàng từ kho chủ hàng ra cảng đối với hàng xuất và nhận hàng từ cảng về kho chủ hàng, đối với hàng nhập Phòng đảm nhận việc làm thủ tục hải quan cho mỗi lô hàng xuất nhập khẩu và quản lý việc đóng hàng vào Container tại CY (Container yard) hay CFS (Container freight Station), sau đó vận

Trang 20

chuyển container ra cảng hoặc ICD rồi giao container cho hãng tàu và lấy những chứng

từ cần thiết

+ Bộ phận kho :

Bộ phận kho sẽ quản lý số lượng, chất lượng hàng hoá của từng chủ hàng và bảo quản, sắp xếp, đóng gói hàng sao cho phù hợp kịp thời để đáp ứng cho việc vận chuyển hàng hoá ra cảng cũng như giao cho người nhận

2.5 Tình hình hình lao động:

Bảng 2.1 Tỷ Trọng Lao Động Của Công Ty Phúc Tâm Năm 2008

ĐVT: Nhân viên

Trình độ Nhân sự các phòng và

bộ phận

Số lượng

Tỷ trọng (%) Đại học Cao đẳng Trung

Nguồn: Bảng cơ cấu nguồn nhân sự của công ty Phúc Tâm

Tính đến cuối năm 2008, tổng số nhân viên trong công ty là 34 người trong đó có

18 nữ và 16 nam Tuy không nhiều nhưng nhìn chung đội ngũ nhân viên công ty Phúc Tâm khá trẻ, năng động, nhạy bén và có vốn kiến thức khá đồng đều Hiện tại, bên cạnh hội đồng quản trị thì số nhân viên có hợp đồng lao động thường xuyên là 15 người, nhân viên có hợp đồng lao động từ 1 đến 3 năm là 8 người và hợp đồng trong ngắn hạn

là 3 người do đó, trong quá trình hoạt động công ty luôn đảm bảo số lượng nhân viên thực hiện mọi công việc trách nhiệm tại các phòng ban Từ đó tạo nên thế và lực giúp công ty năng khả năng cạnh tranh

10

Trang 21

2.6 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty những năm gần đây:

2.6.1 Phân tích tình hình thực hiện doanh thu:

- Phân tích chung:

Bảng 2.2 Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Công Ty Qua Các Năm

ĐVT: triệu đồng

Năm 2007 so 2006 Năm 2008 so 2007 Chỉ tiêu Năm

LN sau thuế 708,48 814,32 1.102,5 105,84 14,94 288,18 35,38

Nguồn: Bảng báo cáo tài chính, phòng kế toán, công ty Phúc Tâm

Qua bảng 2.2 ta thấy tuy chi phí vẫn tăng đều nhưng không tăng nhanh bằng tốc

độ doanh thu nên mỗi năm công ty vẫn thu về một nguồn lợi nhuận đáng kể, cụ thể:

+ Năm 2007: So với năm 2006, mặc dù chi phí bỏ ra khá cao (14.183 triệu) tăng

5.534 triệu tương ứng tăng 63,98 % nhưng doanh thu vẫn tăng lên 58,97 % đạt 5.681 triệu, vì thế lợi nhuận sau khi nộp thuế cũng tăng 105,84 triệu (14,94 %) Ở đây mặc dù lợi nhuận có tăng nhưng tỷ lệ tăng chi phí lại lớn hơn tỷ lệ tăng doanh thu, điều đó sẽ là nguy cơ bất lợi cho công ty nếu không tìm ra cách điều chỉnh chi phí cho phù hợp

+ Năm 2008: So với 2007, tốc độ tăng doanh thu giảm xuống chỉ còn 29,99 %

tương ứng 4.594 triệu nhưng năm nay công ty đã kiểm soát được mức chi phí trong toàn doanh nghiệp nên ty lệ tăng chi phí cũng chỉ còn 29,7 % tương ứng 4.255 triệu, và năm nay mức thuế suất giảm xuống chỉ còn 25 % do đó lợi nhuận sau thuế vẫn tăng 35,38 %

Trang 22

- Doanh thu các loại hàng kinh doanh:

Bảng 2.3 Cơ Cấu Kinh Doanh Các Ngành Dịch Vụ Của Công Ty Qua Các Năm

Loại hàng Giá trị (triệu

đồng)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (triệu đồng)

Tuyệt đối (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (triệu đồng)

Tuyệt đối (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Hàng Consol 3.352,19 34,8 5.382,79 2.030,60 35,15 6.450,16 1.067,37 32,4 Hàng nhập

FCL,LCL,AIR 3.096,92 32,15 4.999,95 1.903,03 32,65 7.923,35 2.923,40 39,8 Hàng

FCL(xuất) 1.295,60 13,45 2.029,07 733,47 13,25 2.279,45 250,38 11,45 Dịch vụ giao

nhận 1.113,54 11,56 1.630,92 517,38 10,65 2.160,00 529,08 10,85 Hàng xuất bằng

hàng không 659,84 6,85 1.090,34 430,5 7,12 647,00 -443,34 3,25 Chuyển phát

và dịch vụ chuyển phát nhanh, trong đó hàng chuyển phát nhanh là chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (2,25 %) Nhưng sang nưm 2008, cơ cấu này đã có sự thay đổi khá rõ rệt giữa hàng consol và hàng nhập khẩu Hàng nhập khẩu đã chiếm 39,8 % trong tổng doanh thu vượt qua tỷ trọng của hàng consol (32,4%) Phân tích tình hình biến động doanh thu qua các năm theo ngành dịch vụ:

Năm 2007 so với 2006: công ty giữ được mức doanh thu tăng nhanh hơn 2006,

tăng đến 58,97 % tương ứng 5.681 triệu Sự tăng này là do sự phát triển đồng bộ của tất

cả các ngành dịch vụ, điển hình là hàng nhập khẩu tăng 61,44 % (1.903 triệu), còn hàng consol tăng ít hơn với 60,59 % nhưng đã đóng góp vào doanh thu với mức tăng 2.031 triệu, hàng FCL tăng 56,56 % ứng với 733 triệu Đặc biệt, đối với hàng Air, năm 2007

là năm phát triển nhất của công ty trong ngành dịch vụ này, so với 2006 nó tăng một

12

Trang 23

cách đáng kể tới 65,24 % tuy nó chỉ đóng góp vào mức doanh thu chỉ 430 triệu Dịch

vụ giao nhận vẫn tăng bình thường 46,46 % ( tăng 517 triệu)

Năm 2008 so với 2007: Do ảnh hưởng không tốt từ môi trường bên ngoài nên

mức tăng năm 2008 so với năm 2007 thấp hơn mức tăng năm 2007 so với năm 2006 nhưng vẫn ở mức tương đối cao, tăng 29,99 % tương ứng 4.592 triệu Trong đó chủ yếu

là do sự đóng góp của hàng nhập khẩu, tăng 58,46 % đạt 2.923 triệu, hàng consol tăng 1.067 triệu tương ứng 19,82%, dịch vụ giao nhận 529 triệu ứng với 32,43 % Còn các dịch vụ khác ta thấy có sự biến động lớn Hàng FCL năm 2007 tăng lên 56,56 %, giờ chỉ còn 12,32% (250 triệu) Đặc biệt hàng Air có dấu hiệu giảm rõ rệt, tới 40,64 % tương ứng giảm 443 triệu và hàng chuyển phát nhanh tăng đáng kể, tới 147,88 % ( 267 triệu) Tuy biến động nhiều nhưng chúng chiếm tỷ trọng không cao nên không tác động nhiều đến việc tăng giảm doanh thu

2.6.2 Phân tích khối lượng hàng hóa vận chuyển:

- Khối lượng hàng hóa vận chuyển qua các năm:

+ Khối lượng hàng xuất vận chuyển:

Bảng 2.4 Khối Lượng Hàng Hóa Vận Chuyển Qua Các Năm ( Hàng Xuất)

Nguồn: Bảng khối lượng hàng hóa vận chuyển qua các năm của công ty

+ Khối lượng hàng nhập vận chuyển:

Bảng 2.5: Khối Lượng Hàng Nhập Vận Chuyển Qua Các Năm 2005 – 2008

Nguồn: Bảng khối lượng hàng hóa vận chuyển qua các năm của công ty

Nhận xét: Hai bảng 2.4 và bảng 2.5 cho ta thấy hàng vận chuyển chủ yếu ở công

ty là hàng xuất giữa tổng khối lượng hàng xuất và hàng nhập vận chuyển đã có sự chênh lệch đáng kể ở tất cả các mặt hàng Hàng LCL xuất qua 4 năm lên tới 61.647 Cbm trong khi đó nhập chỉ có 48.345 Cbm; hàng FCL xuất 2.444 Teu, nhập về 1.202

Trang 24

Teu Còn hàng courrier (chuyển phát nhanh) chỉ có xuất 1.228 lot chứ không có nhập Chỉ hàng Ải là có sự khác biệt, xuất đi 112.151 kgs nhưng nhập lên tới 170.399 kgs Tuy có sự chênh lệch giữa nhập và xuất nhưng nhìn chung, khối lượng hàng xuất nhập vận chuyển ở tất cả các mặt hàng đều tăng dần qua các năm Điều đó cho ta thấy công

ty có sự phát triển qua các năm

2.7.Những thuận lợi và khó khăn của công ty:

2.7.1.Thuận lợi:

Tại Việt Nam, có nhiều doanh nghiệp thường xuyên tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá Trong khi đó, vốn lưu động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không cao Do đó, các doanh nghiệp có xu hướng tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá thông qua các công ty giao nhận để có thể được nợ tiền cước, trả dần các chi phí liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá trong một thời gian nhất định

Việt Nam đang tiến hành gia nhập WTO, mức thuế xuất nhập khẩu các nước dành cho Việt Nam sẽ rất ưu đãi, điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong nước gia tăng lượng hàng xuất nhập khẩu

Việt Nam đang tiến hành gia nhập WTO, mức thuế xuất nhập khẩu các nước dành cho Việt Nam sẽ rất ưu đãi, điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong nước gia tăng lượng hàng xuất nhập khẩu

Với mối quan hệ rộng rãi trong những năm hoạt động, công ty luôn biết tìm cách

nắm bắt và hướng dẫn một cách nhanh nhất về những thông tin thay đổi có liên quan đến quá trình xuất nhập khẩu cho khách hàng

Thủ tục có nhiều thay đổi đáng kể:

+ Hàng loạt các chính sách giảm thuế ra đời, một số mặt hàng có thuế suất 0%, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tăng khả năng quay vòng vốn nhanh

+ Các chi phí cho doanh nghiệp khi đăng ký tờ khai được giảm bớt

Trang 25

thích sự sáng tạo trong công tác.Vì vậy tình trạng “chảy máu chất xám” trong công ty còn khá phổ biến

+ Do công ty thành lập chưa lâu nên số lượng khách hàng chỉ tương đối vừa, không được nhiều

+ Quy mô nhỏ, vấn đề tài chính còn hạn chế khó khăn có thể thực hiện được các đơn hàng có giá trị lớn

+ Thị trường dịch vụ giao nhận vận tải trong nước ngày càng được mở rộng, chính vì vậy những khó khăn từ phái đối thủ cạnh tranh mang lại là không nhỏ

+ Cơ sở hạ tầng vẫn còn thiếu xót, làm trở ngại cho doanh nghiệp trong khâu vận tải nội địa

Khó khăn khách quan:

+ Nhìn chung, cơ chế quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu của nhà nước trong

những năm qua đã có nhiều cải tiến, thúc đẩy cho hoạt động Ngoại thương phát triển Tuy nhiên, rào cản lớn nhất mà doanh nghiệp mắc phải là thủ tục hành chính còn quá rườm rà, Các thủ tục giấy tờ khai báo hải quan còn nhiều phức tạp nên gây khó khăn, phiền hà, mất nhiều thời gian để hoàn tất thủ tục cho mỗi lô hàng xuất nhập khẩu;

+ Đội ngũ cán bộ công chức có năng lực và đạo đức để hoàn thành nhiệm vụ hầu như không nhiều Điều đó hình thành nên tâm lý: “người cần ta chứ ta không cần người” tồn tại trong nhiều cán bộ công chức Do đó, dịch vụ giao nhận vận tải của công

ty cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, dẫn đến chất lượng dịch vụ không cao;

+ Thói quen đòi tiền bồi dưỡng đã đi sâu vào tư tưởng cán bộ công chức Hải quan Dẫn đến một điều khó tránh khỏi là hàng năm, công ty bắt buộc phải mất đi một khoản chi tiêu khá lớn;

+ Việc vận chuyển hàng hoá trong thành phố còn gặp nhiều khó khăn vì tình hình giao thông còn trở ngại trong giờ cao điểm

+ Công ty chưa trở thành thành viên của VIFFAS (Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam)

Trang 26

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu:

3.1.1 Khái niệm chung về dịch vụ:

a.Định nghĩa dịch vụ:

Từ trước đến nay có rất nhiều khái niệm về dịch vụ, đây là vấn đề được quan tâm

từ rất sớm, tuy nganh kinh doanh này ra đời muộn hơn những ngành kinh doanh khác nhưng hoạt động dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng thu nhập quốc dân

Các Mác cho rằng: “ Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đòi hỏi một sự lưu thông hàng hóa trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển”

Theo kinh tế học: “ Dịch vụ là một khu vực kinh tế, bao gồm một tổ hợp rộng rãi các ngành nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, của đời sống vật chất và tinh thần của dân cư, đảm bảo sự hoạt động bình thường, liên tục, đều đặn và có hiệu quả của nền kinh tế”

Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay công việc cộng đồng, là một việc mà hướng của nó đáp ứng nhu cầu nào đó của con người như vận chuyển, cung cấp nước, đón tiếp sửa chữa và bảo dưỡng…Vì vậy dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội tạo ra những sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữa nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu về sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người

Trang 27

b.Vai trò của dịch vụ:

Vai trò chung:

- Vai trò phục vụ xã hội của dịch vụ: Phục vụ con người, vì sự tố đẹp của xã hội Dịch vụ mà con người tạo ra không vì mục đích gì khác là để thỏa mãn, để đáp ứng, phục vụ nhu cầu chính của con người Xã hội càng phát triển, nhu cầu con người càng phức tạp và tinh vi dẫn đến sự đa dạng của các ngành dịch vụ Dịch vụ như vậy đã đóng góp một vai trò hết sức to lớn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân loại Dịch vụ cùng với tất cả những sản phẩm khác mà con người sáng tạo ra đã đưa con người vượt lên ngày càng

xa hơn với muôn loài

- Vai trò kinh tế của dịch vụ: Bên cạnh vai trò phục vụ xã hội, dịch vụ còn có một vai trò quan trọng khác là vai trò kinh tế Ngành dịch vụ ra đời đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển và trở nên đa dạng đã làm tăng thu nhập dân cư, tạo nhiều việc làm cho người lao động Thêm vào nữa, sự phát triển của các ngành vật chất đã trở thành động lực cho

sự phát triển của ngành dịch vụ và ngược lại ngành dịch vụ càng phát triển càng thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất khác phát triển theo Ngày nay ở một số quốc gia phát triển, tỷ trọng ngành dịch vụ đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân là hết sức lớn 80% - 90% và người ta gọi các quốc gia này là những quốc gia ở trong thời đại hậu công nghiệp, điều này một phần đã khẳng định vai trò kinh tế lớn lao của ngành dịch vụ

- Phát triển dịch vụ tạo ra nhiều ngành kinh doanh mới, tạo nhiều việc làm

- Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu, đảm bảo sự tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước

Trang 28

3.1.2 Cơ sở lý luận về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu

a Khái niệm chung về dịch vụ vận tải quốc tế:

Khái niệm về vận tải:

Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển Đối tượng vận chuyển gồm con người và vật phẩm (hàng hóa) Sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong không gian rất đa dạng phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng về

sự di chuyển đó mà thôi (theo sách Vận tải – giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của PGS, TS Hoàng Văn Châu)

Vai trò tác dụng của vận tải trong nền kinh tế quốc dân

Vận tải giữ vai trò rất quan trọng và có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi nước Hệ thống vận tải được ví như mạch máu của cơ thể con người, nó phản ánh trình độ phát triển của mỗi nước Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, quốc phòng Trong sản xuất ngành vận tải vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, lao động để phục vụ quá trình sản xuất Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông C.Mác nói: “Lưu thông có nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải Vận tải

là sự tiếp tục của quá trình sản xuất ở bên trong quá trình lưu thông và vì qúa trình lưu thông đó” Ngành vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa tới nơi tiêu dùng Vận tải tạo ra khả năng thực hiện giá trị sử dụng của hàng hóa C.Mác nói “ Sản phẩm chỉ sẵn sàng để tiêu dùng khi nó kết thúc quá trình di chuyển đó”

Tác dung của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau: Vận tải làm tăng đáng kể tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân;

Đáp ứng nhu cầu di chuyển ngày càng tăng của hàng hóa và con người trong xã hội;

Vận tải góp phần khắc phục sự phát triển không đều giữa các địa phương, mở rộng giao lưu trao đổi hàng hóa trong nước và quốc tế;

Rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, góp phần cải thiện đời sống nhân dân;

Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài;

18

Trang 29

Tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ đất nước

Mối quan hệ giữa vận tải và ngoại thương:

Vận tải, đặc biệt là vận tải quốc tế và ngoại thương có mối quan hệ chặt chẽ và khăng khít với nhau, có tác dụng thúc đẩy nhau cùng phát triển Vận tải quốc tế là tiền

đề, là điều kiện tiên quyết để buôn bán quốc tế ra đời và phát triển Lênin nói: “Vận tải

là phương tiện vật chất của mối liên hệ kinh tế với nước ngoài” Khi buôn bán quốc tế phát triển lại tạo ra yêu cầu để thúc đẩy vận tải phát triển Vận tải phát triển làm cho giá thành vận chuyển hạ, tạo điều kiện để nhiều mặt hàng có giá trị thấp có thể tham gia buôn bán quốc tế Đối với thương mại quốc tế, vận tải có những tác dụng sau đây:

- Đảm bảo chuyên chở khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng trong thương mại quốc tế;

- Làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế;

- Vận tải quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh toán của một nước Vận tải quốc tế được coi là lĩnh vực xuất nhập khẩu vô hình, nó có thể góp phần cải thiện hoặc làm trầm trọng thêm cán cân thanh toán quốc tế của một nước

b Quá trình hình thành dịch vụ giao nhận:

Thế giới đang chuyển qua xu thế tự do hóa mậu dịch, trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng gia tăng không ngừng Tuy vậy, bên cạnh xu hướng tự do đó các nước cũng áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch để bảo vệ và phát triển hàng hóa trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài thông qua một loạt các biện pháp như thủ tục hành chính, hạn ngạch nhập khẩu, trợ cấp xuất nhập khẩu, tiêu chuẩn hàng hóa xuất nhập khẩu… Vì vậy thủ tục để cho hàng hóa xuất nhập khẩu rất phức tạp, liên quan đến nhiều tổ chức kinh tế xã hội, đòi hỏi phải tốn nhiều chi phi và thời gian

Trong giá thành hàng xuất khẩu, những khoản chi phí vận chuyển, bảo hiểm, phí lưu kho, lệ phí cảng, chi phí thủ tục hải quan, thuế quan và các chứng từ chiếm một tỷ

lệ không nhỏ Vì vậy để giảm chi phí nay đến mức tối thiểu, việc giao hàng phải cố gắng thật nhanh, tiết kiệm chi phí và không gây tổn thất hàng hóa Bên cạnh đó cạnh ngày càng trở nên gay gắt nên việc giao hàng hóa có hiệu quả đang trở thành yếu tố quan trọng Nhiều nhà XNK thấy khó đáp ứng yêu cầu này do họ không đủ tiềm lực tài chính hoặc thiếu khả năng chuyên môn để tổ chức việc giao hàng hay họ cũng có thể

Trang 30

cho rằng những vấn đề nảy sinh trong XNK là rất phức tạp Họ có thể không biết được những cách mà người gửi hàng có thể giúp họ khắc phục được những vấn đề nay Các công ty giao nhận ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà sản xuất, NK cũng như các hãng tàu, và trở thành một tổ chức ngày càng quan trọng trong việc hỗ trợ thông thường hàng hóa, hoạt động của người giao nhận gắn liền với vận tải đưa hàng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Người giao nhận không chỉ thực hiện các nghiệp vụ bốc dỡ, lưu kho bãi, chuyển tải hàng hóa… mà ngày nay do quan hệ buôn bán quốc tế mở rộng, các phương thức vận tải phát triển, người giao nhận còn bao trọn gói các dịch vụ của quá trình vận tải và phân phối hàng hóa

c Định nghĩa giao nhận và người giao nhận

Định nghĩa về giao nhận:

Theo điều 163 của luật Thương mại Việt Nam, ban hành ngày 23/5/1997:

“Giao nhận là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận từ người gửi tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác nếu có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhận khác.”

Theo quy tắc của mẫu liên đoàn các hiệp hội giao nhận – FIATA về dịch vụ giao nhận thì:

“Giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào mà liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ có liên quan đến hàng hóa.”

Như vậy, có thể nói dịch vụ giao nhận hàng hóa được quan niệm rất rộng và xu hướng sự phát triển của dịch vụ này cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế

Định nghĩa về người giao nhận:

Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận (Forwarder, freight forwarder, forwarding agent) Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp

dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa Theo luật thương mại Việt Nam thì người làm

20

Trang 31

dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch cụ giao nhận hàng hóa

Trước đây người giao nhận thường chỉ làm đại lý thực hiện một số công việc do các nhà xuất nhập khẩu ủy thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hóa, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng

Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và tiến bộ kỹ thuật trong ngành vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn Ngày nay người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mai và vận tải quốc tế Người giao nhận không chỉ làm thủ tục hải quan hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa

d Đối tượng và phạm vi của dịch vụ giao nhận:

Đối tượng của dịch vụ giao nhận:

Hàng hóa là đối tượng của hoạt động giao nhận Có nhiều loại hàng hóa khác nhau, mỗi hàng hóa lại có đặc điểm riêng và được giao nhận theo những phương thức

cụ thể Tuy vậy tất cả đều có yêu cầu chung khi giao nhận đó là giao nhận hàng hóa phải nhanh gọn, giao nhận phải đảm bảo tính chính xác và an toàn, phải đảm bảo chi phí giao nhận thấp

Phạm vi của dịch vụ giao nhận:

Phạm vi của dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận Trừ khi bản thân người gửi hàng muốn trực tiếp tự mình thực hiện dịch vụ giao nhận, thông thường người giao nhận thay mặt người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) lo liệu quá trình vận chuyển hàng hóa qua các công đoạn cho đến tay người nhận cuối cùng Người giao nhận có thể làm dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của ngươi thứ ba khác

Phạm vi của dịch vụ giao nhận được thể hiện ở các công việc sau: tính cước, gom hàng, bảo hiểm vận tải, giám định chất lượng, lên kế hoạch xếp hàng theo lịch tàu, lưu kho, cấp chứng từ xuất, đóng gói (đối với lô hàng xuất); thuê tàu lưu khoang, thông báo cho người nhận, dỡ hàng và xử lý hàng nhập, khai báo hải quan hay chuyển tiếp hàng qua cảnh, lưu kho và phân phối hàng, giao hàng tại địa phương, gián nhãn hiệu, khảo sát đơn hàng (đối với lô hàng nhập)

Trang 32

Tiếp sau đây sẽ trình bày về những dịch vụ mà người giao nhận tiến hành:

- Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở

- Làm thủ tục hải quan kiểm nghiệm, kiêm dịch

- Mua bảo hiểm hàng hóa

- Lập chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng, thanh toán

- Thanh toán, thu hồi ngoại tệ

- Nhận hàng từ chủ hàng giao cho người chuyên chở và giao cho người nhận

- Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp

- Đóng gói bao bì, phân loại hàng hóa

- Lưu kho, bảo quản hàng hóa

- Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của hàng hóa

- Thanh toán cước phí, thanh toán lưu kho bãi

- Thông báo tình hình đi, đến của các phương tiện vận tải

- Thông báo tổn thất tới người chuyên chở

- Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường

e Đặc điểm và vai trò quyền hạn- nghĩa vụ - trách nhiệm của dịch vụ giao nhận:

Đặc điểm:

- Dịch vụ giao nhận mang những đặc điểm chính của dịch vụ vận tải quốc tế bởi

vì thực chất của dịch vụ giao nhận nó đã bao gồm cả dịch vụ vận tải

- Dịch vụ giao nhận gắn liền với đặc điểm của hàng hóa vận chuyển trao đổi vượt quá phạm vi biên giới một quốc gia

22

Trang 33

- Do dịch vụ phụ thuộc rất nhiều các yếu tố bên ngoài như người gửi hàng, người vận chuyển, người nhận hàng, nên trong quá trình thực hện không hoàn toàn chủ động được

- Ngoài những công việc như làm thủ tục hải quan, môi giới, còn tiến hành các dịch vụ khác như gom hàng, chia hàng, vận chuyển, bốc xếp… nên để hoàn thành tốt chông việc phải phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở vạt chất kĩ thuật và kinh nghiệm của người giao nhận

- Hoạt động giao nhận là hoạt động nhằm thực hiện các hợp đồng XNK nên phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động XNK, mà thường hoạt động XNK mang tính thời vụ nên hoạt động giao nhận cũng chịu ảnh hưởng của tính thời vụ

Vai trò quyền hạn- nghĩa vụ - trách nhiệm:

- Khi đóng vai trò là người đại lý:

Người giao nhận phải chịu trách nhiệm do lỗi lầm hoặc sơ xuất của mình hoặc người làm công cho mình trong các trường hợp:

+ Giao nhận trái với chỉ dẫn hoặc giao hàng không đúng hạn

+ Không mua bảo hiểm theo chỉ thị

+ Phạm sai sót trong quá trình thực hiện hải quan

+ Gửi hàng sai địa chỉ

+ Không làm thủ tục hoàn lại thuế khi tái xuất…

Người giao nhận cũng bị bên thứ ba khiếu nại về bất cứ tổn thất nào đối với hàng hóa hoặc đối với cá nhân nào mà anh ta gây ra cho họ trong quá trình thực hiện dịch vụ

Người giao nhận được miễn trách nhiệm về những hành vi sơ xuất của người thứ

ba (người chuyên chở, người ký hợp đồng phụ ) nếu anh ta chứng tỏ được sự quan tâm chu đáo trong việc lựa chọn bên thứ ba đó

- Khi đóng vai trò là người ủy thác:

Lúc này người giao nhận là một bên ký hợp đồng độc lập, thực hiện những dịch

vụ do khách hàng yêu cầu với danh nghĩa của chính mình Do vậy người giao nhận phải chịu trách nhiệm về những hành vi sơ xuất của người chuyên chở và người nhận lại dịch vụ giao nhận mà anh ta đã sử dụng thực hiện hợp đồng Trong trường hợp này, người giao nhận thương lượng giá dịch vụ với nhà kinh doanh XNK chứ không phải chỉ nhận hoa hồng như khi đóng vai trò đại lý

Trang 34

- Khi đóng vai trò là người gom hàng:

Người giao nhận phải chịu trách nhiệm về mất mát hư hỏng đối với hàng hóa khi hàng đang nắm dưới sự trông giữ của người chuyên chở thật sự Trách nhiệm của người giao nhận sẽ được quyết định theo công ước quốc tế hoặc luật quốc gia nếu đã biết rõ chặng đường nơi tổn thất xảy ra Người giao hàng chậm với mức bồi thường giới hạn gấp đôi tiền cước hoặc giá trị hàng, tùy theo cách tính nào thấp hơn

Người giao nhận thường đóng vai trò người ủy thác khi thu gom hàng lẻ gửi đi, khi kinh doanh vận tải đa phương thức đảm nhận vận chuyển hàng hóa hay bảo quản hàng ngay trong kho của mình

Dù người giao nhận đóng vai trò là người ủy thác hay đại lý cũng phải chăm sóc chu đáo hàng hóa được ủy quyền vận chuyển, thực hiện đúng những chỉ dẫn của các khách hàng về các vấn đề chuyển hàng hóa

3.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu:

Cũng như các ngành kinh doanh khác, ngành dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô và vi mô

a Những nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

Những nhân tố thuộc môi trường vĩ mô là những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty mà công ty không thể kiểm soát, điều khiển được Nó bao gồm:

Môi trường nhân khẩu học:

Những yếu tố thuộc nhân khẩu học ảnh hưởng tớ tổng cầu và cơ cấu của cầu thị trường vì vậy nó ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp

Cầu của thị trường giao nhận là nó xuất phát từ cầu của thị trường hàng tiêu dùng, sinh hoạt đặc biệt là những hàng hóa có nhu cầu xuất nhập khẩu Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, có hai yếu tố môi trường nhân khẩu học ảnh hưởng tới đó là môi trường nhân khẩu học trong nước và môi trường nhân khẩu học ngoài nước (Những mối quan hệ ngoại thương với Việt Nam)

Môi trường nhân khẩu học trong nước như: Tổng dân số, cơ cấu dân số theo: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, có ảnh hưởng tới tổng kim ngạch nhập khẩu và cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu do đó ảnh hưởng tới cầu và cơ cấu cầu của thị trường giao nhận

24

Trang 35

Tổng dân số và cơ cấu dân cư của các nước có mối quan hệ ngoại thương với Việt Nam ảnh hưởng tới kim ngạch XK và cơ cấu các mặt hàng XK do nó ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa XNK

Khi xem xét các yếu tố thuộc môi trường nhân khẩu với vai trò là người kinh doanh trên thị trường công nghiệp không thể bỏ qua những yếu tố nhân khẩu của tổ chức khách hàng

Những thông tin về tổng số lượng cán bộ công nhân viên, cơ cấu tuổi, giới tính của tổ chức khách hàng có ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ tới quyết định mua của tổ chức đó Chính vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về tổ chức khách hàng theo các chỉ tiêu của nhân khẩu học là hết sức cần thiết

Môi trường tự nhiên:

Những yếu tố thuộc môi trường tự nhiên như: Địa hình, khí hậu, thời tiết, tình trạng ô nhiễm môi truòng, khan hiếm nhiên liệu năng lượng … có ảnh hưởng mạnh mẽ tới ngành kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu

Sự ảnh hưởng đầu tiên thể hiện ở chỗ: Yếu tố tự nhiên ảnh hưởng tới lợi thế so sánh về các sản phẩm xuất nhập khẩu do đó nó ảnh hưởng đến ngành dịch vụ giao nhận

Điều kiện tự nhiên cớ ảnh hưởng quyết định tới hình thức vận tải có thể được sử dụng Việt Nam có bờ biển dài thuận lợi phát triển phương thức vận tải hàng hóa XNK bằng đường biển, có mật độ sông ngòi lớn thuận lợi phát triển vận tải thủy nội địa, có đường biên giới kế cận nhiều nước và với địa hình sài, hẹp thuận lợi phát triển vận tải đướng sắt Bắc Nam, đường sắt xuyên Việt

Kinh doanh dịch vụ giao nhận chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển ngành vận tải, ngành vận tải lại chịu sự tác động mạnh mẽ bởi giá xăng dầu, nhiên liệu, năng lượng

Ngày nay, sự thiếu hụt tài nguyên, nhiên liệu năng lượng đang là một vấn đề bức xúc trên toàn thế giới, giá nhiên liệu năng lượng liên tục tăng ảnh hưởng mạnh mẽ tới ngành vận tải và do đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới ngành dịch vụ giao nhận

Yếu tố khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng tới hoạt động giao nhận thông qua sự tác động của nó tới ngành vận tải Khí hậu, thời tiết ảnh hưởng tới tuyến đường vận tải, phương thức vận tải thích hợp, thời gian vận chuyển

Trang 36

Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doang nghiệp Sự biến động hay thay đổi trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp, song mức độ ảnh hưởng đối với mỗi doanh nghiệp là không giống nhau Khi nền kinh tế đang trên đà phát triển, mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, nhưng các nhà Marketing vẫn tìm được nhiều cơ hội phát triển Ngược lại khi nền kinh tế suy yếu, thất nghiệp gia tăng, lãi suất tăng, doanh số bán hàng giảm kèm theo số lượng và chất lượng dịch vụ giảm Trong điều kiện đó thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp rất hạn chế

Dịch vụ vận tải quốc tế hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển nói chung và giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng là một ngành chịu ảnh hưởng rất lớn bởi

sự phát triển chung của nèn kinh tế Việt Nam, đặc biệt là chính sách kinh tế, mức độ tăng trưởng GDP, hoạt động và hiệu quả xuất nhập khẩu hàng hóa trên thị trường Việt Nam Ngoại thương có phát triển thì các nhu cầu vận chuyển hàng hóa XNK hàng hóa quốc tế mới gia tăng và do đó hoạt động giao nhận hàng hóa XNK mới có cơ hội phát triển

Môi trường chính trị, luật pháp

Pháp luật do nhà nước ban hành, luật pháp điều tiết hoạt động kinh doanh Luật pháp là cơ sở cho tất cả mọi thành viên trong xã hội thực hiện, điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp

Tóm lại, một quốc gia có nền chính trị và pháp luật ổn định, trật tự xã hội được duy trì thì đây chính là một môi trường thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước yên tâm mạnh dạn đầu tư, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh mà không lo gặp những rủi ro bất khả kháng từ sự mất ổn định về chính trị và pháp luật

26

Trang 37

Môi trường công nghệ:

Môi trường công nghệ tác động tới vận tải biển, vận tải đường không, vận tải ô

tô, vận tải đường sắt, tới việc xếp dỡ hàng hóa, tới bảo quản hàng hóa, do đó ảnh hưởng nhiều đến hoạt động giao nhận

Sự ra đời của những tàu biển công suất lớn, những máy bay chuyên dụng chở những hàng hóa đặc biệt, hệ thống giao thông phát triển thúc đẩy vận tải ô tô, sự ra đời của đường sắt cao tốc rát ngắn thời gian vận chuyển bằng đường sắt Tất cả những tiến

bộ công nghệ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành dịch vụ giao nhận

Môi trường văn hóa

Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, các đối tác có liên quan đến hoạt động của công ty có thể ở những quốc gia khác nhau Chính vì lẽ đó, để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, công ty trong từng mối quan hệ phải tìm hiểu văn hóa của đối tác có như vậy mới biết được đâu là giá trị văn hóa cơ bản, những niềm tin bất biến, những điều cấm kỵ và những điều nên tránh, bên cạnh đó cần tìm ra những nét tương đồng và những điều khác biệt của các nước khác nhau từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của từng đối tác trong từng mối quan hệ của công ty

Ngoài ra, trong cùng một nền văn hóa còn có những văn hóa khác nhau, do vậy trong kinh doanh công ty không những chỉ tìm hiểu về nền văn hóa mà còn có những hiểu biết về từng nhánh văn hóa khác nhau có như vậy mới không phạm vào điều cấm

kỵ của từng nhánh văn hóa, mới có những chính sách phù hợp với từng nhánh văn hóa khác nhau

Tóm lại, muốn có được mối quan hệ bền chặt với đối tác, không còn cách nào khác công ty phải hiểu và học theo văn hóa của nước đó

b Những yếu tố thuộc về môi trường vi mô

Bản thân doanh nghiệp

Doanh nghiệp bản thân là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, tự đưa ra quyết định kinh doanh và quyết định marketing Doanh nghiệp bao gồm một hệ thống khác nhau những hoạt động, những mối quan hệ giữa các bộ phận tạo ra môi trường marketing trong nội bộ doanh nghiệp

Trang 38

Tiềm lực bên trong của doanh nghiệp có ảnh hưởng quyết định tới khả năng khai thác thị trường tới năng lực cạnh tranh của mình Công ty tiềm lực có mạnh thì mới thắng trong cạnh tranh, tiềm lực mạnh là tiền đề cho sự phát triển trong tương lai của doanh nghiệp

Trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng bán hàng của đội ngũ nhân viên cung ứng của công ty có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thỏa mãn khách hàng, thỏa mãn các đối tác trong kinh doanh và ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty

Mối quan hệ giữa các bộ phận trong công ty cần được xây dựng và củng cố thường xuyên tạo ra một mục tiêu chung thống nhất, các bộ phận mặc dù đều có những mục tiêu riêng nhưng luôn luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu chung của toàn công ty có như vậy công ty mới trở thành một thể thống nhất, một khối đoàn kết phấn đấu đưa công ty phát triển ngày càng cao xa hơn

Nhà cung ứng

Bản thân công ty scung ứng dịch vụ cho khách hàng thông qua việc thuê các nhà cung ứng khác như: Các hãng tàu, hãng hàng không cung cấp dịch vụ vận tải từ cảng tới cảng, hãng vận tải ô tô, hãng đường sắt, vận tải thủy nội địa để vận chuyển hàng hóa

từ kho tới cảng và ngược lại từ cảng về kho Ngoài ra, trong quá trình đó tùy theo yêu cầu của khách hàng, công ty có thể sẽ sử dụng thêm các dịch vụ kho bãi kiểm dịch, đóng gói hàng hóa … của các hãng cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Như vậy là hoạt động kinh doanh của công ty gần như phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà cung ứng, công ty có rất ít quyền chủ động do đó chịu sự chi phối mạnh mẽ của các nhà cung ứng, ảnh hưởng của nhà cung ứng, có thể nói là vừa mang tính trực tiếp, liên tục vừa mang tính quyết định tới hoạt động kinh doanh của công ty giao nhận

Đối thủ cạnh tranh

Trong kinh doanh, không có một ngành nào là không phải đối mặt với cạnh tranh, chính cạnh tranh sẽ thúc đẩy ngành ngày càng phát triển và cạnh tranh giống như một chiếc mày lọc tự nhiên, ai thắng trong cạnh tranh thì tồn tại, bại thì sẽ bị đào thải và kết quả là những doanh nghiệp còn tồn tại trên thị trường là những doanh nghiệp có đầy

đủ năng lực, có khả năng thỏa mãn tốt nhu cầu và mong muốn của khách hàng

Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, bên cạnh việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp giao nhận với nhau còn có sự cạnh tranh giữa ngành giao nhận và ngành vận tải

28

Trang 39

Các hãng cung cấp dịch vụ vận tải như các hãng tàu, hãng hàng không cũng đảm luôn

cả việc kinh doanh dịch vụ giao nhận Do vậy số lượng các đối thủ cạnh tranh trong thị trường giao nhận là rất lớn, tiềm lực thường mạnh với những biện pháp, chiến lược khinh doanh tinh vi và biến đổi khôn lường luôn là thử thách đầy cam go cho mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong ngành

Những nhà phân phối

Phạm vi kinh doanh trong dịch vụ giao nhận không chỉ giới hạn trong một quốc gia mà nó vượt ra ngoài biên giới của quốc gia đó Lý do là người mua và người bán trong quan hệ ngoại thương ở những quốc gia khác nhau Chính vì vậy, muốn kinh doanh trong ngành dịch vụ giao nhận bắt buộc công ty phải có một mạng lưới các đại lý

rộng khắp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Các đại lý này vừa là nguồn hàng của công ty vừa là những nhà phân phối giúp hoàn tất các khâu dịch vụ mà công ty đã đảm nhận với khách hàng

Mạng đại lý vừa là điều kiện tồn tại của công ty vừa là động lực giúp công ty phát triển Với vai trò quan trọng đó, công ty cần phải tìm hiểu nhu cầu, ước muốn của các đại lý, có chính sách khuyến khích hỗ trợ, tìm hiểu mục tiêu và giải quyết các mâu thuẫn giữa các thành viên nhằm tăng cường sự hợp tác giữa công ty với mạng đại lý tạo điều kiện cho công ty tồn tại

Khách hàng

Khách hàng lực lượng quan trọng nhất mà công ty cần hướng tới, muốn tồn tại và phát triển công ty phải thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng và tất nhiên sự thỏa mãn

đó phải tốt hơn đối thủ cạnh tranh

Trong ngành giao nhận, khách hàng là những tổ chức có tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

Muốn tồn tại và phát triển, công ty nhất thiết phải hiểu rõ nhu cầu ước muốn của từng khách hàng, biết được quá trình quyết định mua của họ, phát hiện những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua, nhận dạng các trung tâm mua và nhu cầu của họ Có như vậy khách hàng mới tin tưởng, mới tiếp tục sử dụng dịch vụ của công ty, công ty

từ đó mới có được uy tín và sẽ thu huts được nhiều khách hàng mới

Trang 40

Tóm lại, khách hàng có ảnh hưởng quyết định tới hoạt động kinh doanh của công

ty, công ty cần phải hướng tới mọi hoạt động của mình tới khách hàng, vì khách hàng

Vậy quan hệ là gì?

Ta có thể hiểu: Quan hệ là khái niệm chỉ sự liên quan, sự ràng buộc, phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau, có ảnh hưởng tới sụ tồn tại và phát triển của nhau giữa hai

hoặc nhiều chủ thể quan hệ

Vai trò của mối quan hệ trong kinh doanh

Hơn bất kỳ một lĩnh vực nào, trong kinh doanh, quan hệ có vai trò vô cùng quan trọng Một chủ thể sản xuất kinh doanh, muốn tồn tại và phát triển, không thể không thiết lập cho mình một hệ thống các mối quan hệ Với thống mối quan hệ đó, doanh nghiệp tác động qua lại với các đối tác kinh doanh phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp mình và cả những đối tác đó Quan hệ là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kỷ một chủ thể nào

Khi mà các chủ thể nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết phải lập mối quan

hệ với nhau họ sẽ cố gắng cùng nhau xây dựng, duy trì và củng cố mối quan hệ đó

Mối quan hệ như một chất kết dính, một thứ keo không màu liên kết các chủ thể lại với nhau thành một hệ thống Khi môi trường kinh doanh biến động, hệ thồng nào

đó có sự liên quan bền chặt sẽ tồn tại và vượt qua được những biến động đó, ngược lại

30

Ngày đăng: 12/09/2018, 18:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w