1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ QUẢNG CANH CẢI TIẾN TẠI XÃ BÌNH KHÁNH HUYỆN CẦN GIỜ TP. HỒ CHÍ MINH

80 310 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ sự thử nghiệm thành công mô hình nuôi tôm sú của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện nay là Phòng kinh tế và Trạm khuyến nông, trong năm 1999 có 12 hộ thả nuôi với diện tí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ

QUẢNG CANH CẢI TIẾN TẠI XÃ BÌNH KHÁNH

HUYỆN CẦN GIỜ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2009

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đánh giá hiệu quả kinh tế

mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến tại xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh” do Nguyễn Thị Hoàng Yến, sinh viên khóa 31 ngành Kinh Tế Nông Lâm thực hiện, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _

Thái Anh Hòa Người hướng dẫn

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Đầu tiên con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, người đã bỏ công sinh thành, yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ và chỉ bảo, cho con những lời khuyên bổ ích để con đạt được kết quả ngày hôm nay

Trải qua 4 năm phấn đấu học tập, hôm nay em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Thầy Cô trường Đại Học Nông Lâm TP HCM đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu của mình

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy giáo hướng dẫn Thái Anh Hòa đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Và cuối cùng xin được gởi lời cảm ơn đến UBND xã Bình Khánh cùng toàn thể

Cô Chú, Anh Chị các phòng ban đã nhiệt tình chỉ dẫn trong thời gian thực tập cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt luận văn

TP Hồ Chí Minh, Ngày 04/06/2009

Nguyễn Thị HoàngYến

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN Tháng 6 năm 2009 “Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Mô Hình Nuôi Tôm Sú Quảng Canh Cải Tiến tại Xã Bình Khánh, Huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh”

NGUYEN THI HOANG YEN JUNE 2009 “Eraluation of Economic Efficiency of Black Tiger Prawn Cultivation in Binh Khanh Commume, Can Gio District, Ho Chi Minh City”

Đề tài đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến tại xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm sú trên cơ sở sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích kinh tế lượng với sự hỗ trợ của EXCEL và EVIEW Số liệu sử dụng là số liệu sơ cấp thu thập được thông qua quá trình phỏng vấn 85 hộ dân nuôi tôm sú theo mô hình quảng canh cải tiến tại địa phương, bên cạnh đó cũng sử dụng số liệu thứ cấp từ các báo cáo ở các phòng ban của xã Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất tôm sú theo mô hình này tại địa phương đó là lượng thức ăn, lượng phân bón, số năm kinh nghiệm Cũng từ kết quả nghiên cứu ta thấy một đồng chi phí bỏ ra cuối vụ các hộ nuôi tôm thu được 0,16 đồng lợi nhuận và 0,46 đồng thu nhập Đề tài cũng tiến hành phân tích hiệu quả theo quy mô, kết quả là những hộ nuôi tôm với quy mô lớn hơn 0,7 ha đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn các quy mô khác

Trang 5

2.1 Giới thiệu tổng quan về xã Bình Khánh 4

2.2 Nguồn gốc con tôm sú, sự phát triển nghề nuôi tôm và các hình thức nuôi

2.2.3 Các hình thức nuôi tôm sú ở nước ta hiện nay 13 2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thủy sản 13 CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1.1 Một số đặc điểm cơ bản trong kỹ thuật nuôi tôm sú 16

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 21

3.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 22

4.2.5 Nguồn vốn tham gia sản xuất của các hộ nuôi tôm 33 4.3 Tình hình nuôi tôm tại các hộ điều tra 34

4.6.2 Ước lượng các tham số của mô hình 44

Trang 7

4.7 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình nuôi tôm tại địa phương 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Tình Hình Sử Dụng Đất Tại Xã Bình Khánh 8 Bảng 3.1 Yêu Cầu Kỹ Thuật Đối Với Ao Nuôi Tôm Sú 17 Bảng 4.1 Tình Hình Thả Nuôi Tôm Tại Xã Năm 2008 28 Bảng 4.2 Tình Hình Thu Hoạch của Các Hộ Nuôi Năm 2008 29 Bảng 4.3 Hiệu Quả Kinh Tế của Các Hộ Nuôi Năm 2008 30 Bảng 4.4 Tình Hình Sử Dụng Lao Động tại Các Hộ Nuôi Tôm 31

Bảng 4.7 Tình Hình Vay Vốn của Các Hộ Điều Tra 33

Bảng 4.9 Quy Mô Diện Tích Canh Tác của Các Hộ Điều Tra 34 Bảng 4.10 Nguồn Gốc Tôm Giống của Các Hộ Điều Tra 34

Bảng 4.12 Tình Hình Thu Nhập của Các Hộ Nuôi Tôm 35

Bảng 4.14 Chi Phí Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản cho 1 Ha Nuôi Tôm 37 Bảng 4.15 Chi Phí Sản Xuất cho 1 Ha Nuôi Tôm 38 Bảng 4.16 Kết Quả - Hiệu Quả của 1 Ha Nuôi Tôm 39 Bảng 4.17 Chi Phí Đầu Tư Ban Đầu Theo Quy Mô 40 Bảng 4.18 So Sánh Chi Phí Sản Xuất của Các Quy Mô 41 Bảng 4.19 Kết Quả - Hiệu Quả Nuôi Tôm Theo Quy Mô 42 Bảng 4.20 Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Hồi Quy 44

Bảng 4.23 Hồi Quy Bổ Sung Cho Các Biến Độc Lập, Kiểm Tra Đa Cộng Tuyến 47

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Bản đồ địa lý Huyện Cần Giờ 5

Hình 4.1 Lịch Thời Vụ Nuôi Tôm tại Xã Bình Khánh 28

Trang 11

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Mô hình hồi quy gốc

Phụ lục 2 Kiểm định hiện tượng phương sai không đồng đều Phụ lục 3 Ước lượng các mô hình hồi quy bổ sung

Phụ lục 4 Bảng câu hỏi điều tra

Trang 12

là ngành sản xuất thủy sản Hiện nay, thuỷ sản nước ta đã trở thành ngành mũi nhọn, giữ vai trò quan trọng duy trì tốc độ tăng khá của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản và có đóng góp đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong đó có sự đóng góp đáng kể của con tôm sú

Bình Khánh là một xã lớn nằm ở phía Bắc huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh có đặc điểm của vùng cửa sông thuộc rừng ngập mặn phù hợp cho việc phát triển các mô hình nuôi tôm Trước năm 1998 do điều kiện khí hậu và thời tiết không thuận lợi nên sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn, liên tiếp bị mất mùa do mưa bão, hạn hán, nước mặn xâm nhập nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Từ sự thử nghiệm thành công

mô hình nuôi tôm sú của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện (nay là Phòng kinh tế) và Trạm khuyến nông, trong năm 1999 có 12 hộ thả nuôi với diện tích 6,6 ha, tôm sú thích nghi tốt và cho năng suất khá cao so với cây lúa Nhận thấy con tôm sú phù hợp với địa phương, Đảng ủy – Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân xã thống nhất xác định chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên cơ sở chuyển đổi nhanh, bền vững nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập, giúp ổn định cuộc sống cho người dân Chính nhờ chủ trương đúng đắn đó mà phong trào nuôi tôm sú trên địa

Trang 13

bàn phát triển nhanh cả về quy mô và số lượng, góp phần thực hiện thắng lợi trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại địa phương

Hoạt động nuôi tôm sú đem lại lợi nhận lớn nhưng cũng phải đương đầu với không ít rủi ro vì vậy vấn đề đặt ra là phải làm sao khắc phục được rủi ro đồng thời phát huy lợi nhuận Muốn được như vậy cần phải có những giải pháp thiết thực cho các hộ nuôi tôm sú để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Đáp ứng yêu cầu trên, cùng với sự hỗ trợ của các cán bộ xã Bình Khánh và sự chỉ dẫn tận tâm của Thầy Thái Anh Hòa tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến tại xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích hiệu quả kinh tế theo quy mô

Tìm hiểu các nhân tố tác động đến năng suất tôm sú nuôi theo mô hình QCCT Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến tại Bình Khánh từ đó kiến nghị những giải pháp để quá trình nuôi tôm sú đạt hiệu quả kinh tế cao hơn

1.3 Phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Phạm vi không gian

Đề tài thực hiện trên phạm vi xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh thông qua thu thập các tài liệu, các báo cáo của xã và tiến hành phỏng vấn trực tiếp các nông hộ nuôi tôm sú theo mô hình quảng canh cải tiến tại xã

1.3.2 Phạm vi thời gian

Thời gian thực hiện từ ngày 2/2/2009 đến ngày 20/6/2009

Trang 14

1.4 Cấu trúc khóa luận

Luận văn gồm có 5 chương:

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này nêu lên môt số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và trình bày phương pháp phân tích để có được kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày và phân tích kết quả của quá trình nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt lại các kết quả đã đạt được của đề tài trong quá trình nghiên cứu và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến tại địa phương

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Giới thiệu tổng quan về xã Bình Khánh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Bình Khánh là một xã lớn nằm ở cửa ngõ phía Bắc của huyện Cần Giờ, TP.HCM Bình Khánh có diện tích 4344,58 ha, được chia thành 8 ấp: Bình Mỹ, Bình Trung, Bình An, Bình Lợi, Bình Phước, Bình Thạnh, Bình Thuận, Bình Trường

Phía Bắc giáp sông Nhà Bè (xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè)

Phía Đông giáp sông Lòng Tàu (xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch, Tỉnh Đồng Nai)

Phía Tây giáp sông Soài Rạp (xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè)

Phía Nam giáp xã An Thới Đông và xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ

Trang 16

Hình 2.1 Bản đồ địa lý Huyện Cần Giờ

Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân xã Bình Khánh

Trang 17

b) Khí hậu- thủy văn

Xã Bình Khánh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có khí hậu điều hòa quanh năm Nhiệt độ không khí tương đối cao, tổng nhiệt độ lớn, không có sự phân hóa theo không gian và thời gian Nhiệt độ trung bình năm là 270C, tháng nóng nhất là tháng 4 và tháng 5 (280C – 300C), trong năm không có nhiệt độ ban ngày nhỏ hơn

200C, nhiệt độ nóng nhất vào lúc quá trưa, giá trị tuyệt đối đạt 360C Biên độ nhiệt trung bình là 300C, cao nhất là 500C, giao động nhiệt độ ngày và đêm khá cao, bình quân đạt tới 140C vào mùa khô và 110C và mùa mưa.Tiềm năng dồi dào và ổn định của nhiệt lượng rất thuận lợi cho việc bố trí mùa vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước lợ

Chế độ gió của vùng thuộc chế độ gió mùa, trong một năm được phân biệt thành hai mùa gió trùng với mùa mưa và mùa khô với hướng gió chính: mùa hạ gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam có hướng gió từ Tây Nam đến Tây Tây Nam, thổi vào

từ biển mang nhiều hơi ẩm với vận tốc trung bình cấp 3 – 4 (10,9 m/s); mùa Đông có gió Đông Bắc và Đông Nam, hướng thổi từ Đông Bắc đến Đông Nam, tốc độ bình quân cấp 3 – 4, thời tiết khô hanh, gió này thường gọi là “gió chướng”, gió chướng thường ảnh hưởng mạnh đến triều dâng Tốc độ gió trong năm không quá cấp 7, thời gian có gió lớn không nhiều hầu như không có bão xảy ra, tuy nhiên vẫn bị ảnh hưởng của bão biển Đông vào các tháng 10 dến tháng 1 năm sau

Bình Khánh có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 đến tháng tháng 4 với gió mùa Đông, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 trùng với gió mùa Hạ Lượng mưa phân bổ không điều theo không gian và thời gian, mùa mưa chiếm trên 90% lượng mưa cả năm còn mùa khô thì lượng mưa rất thấp và hầu như không mưa Đây là vùng có lượng mưa trung bình thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1.450 mm Lượng mưa năm cao nhất là 2.275 mm, năm thấp nhất là 955mm, số ngày mưa trung bình trong năm là 96 ngày Có 2 tháng chuyển tiếp mùa là tháng 4 (từ mùa khô sang mùa mưa) và tháng 1 (từ mùa mua sang mùa khô), có 2 đỉnh mưa thường vào tháng 6 và tháng 10 Trong mùa mưa thường có đợt hạn ngắn từ 5 – 15 ngày, nhân dân hay gọi là “hạn bà chằn” Mùa mưa ở đây thường bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn các nơi khác ở thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

Chế độ thủy triều: Bình Khánh chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Lòng Tàu, mật độ dòng chảy cao nhất so với các nơi khác (7 – 11 km/km2) Toàn bộ sông, rạch chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày xuất hiện 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống, số ngày nhật triều trong tháng hầu như không đáng kể Trong ngày, hai đỉnh triều xấp xỉ nhau nhưng hai chân triều lại lệch nhau rất xa Biên độ triều nói chung khá lớn và có xu thế giảm dần từ phía cửa sông lên phía thượng lưu Độ lớn dao động mực nước triều trong khoảng 2,24 – 3,06 m, trị số cực đại là 3,34m Phần lớn diện tích đất đai ở đây ngập nước theo chu kỳ tháng, thời gian ngập trong ngày vào

kỳ nước cường là không dưới 1 giờ 30 phút

Về tài nguyên nước ngầm: theo kết quả điều tra và kết quả khảo sát thăm dò của địa phương cho thấy: nguồn nước mặn ngầm khá dồi dào nhưng nguồn nước ngọt hầu như không có Ở độ sâu từ 58 - 74 m, nước có độ mặn 7,4 g/l; độ sâu 347 m, nước có

độ mặn 33 g/l

c) Địa hình và thổ nhưỡng

Về địa hình:Bình Khánh là vùng đất bồi trẻ, địa hình tương đối bằng phẳng và thuộc địa hình trũng của huyện Cần Giờ Theo nghiên cứu, các mức cao trình được thống kê như sau:

- Cao trình nhỏ dưới 0,7 m (ngập theo chu kỳ ngày) chiếm 39 %

- Cao trình khoảng 0,7 – 1,0 m (ngập theo chu kỳ tháng) chiếm 54 %

- Cao trình 1,0 – 1,5 m (ngập theo chu kỳ năm) chiếm khoảng 3%

- Cao trình trên 1,5 m (không ngập nước) chiếm 4 %

Về thổ nhưỡng: đất ở xã Bình Khánh thuộc nhóm phù sa trên nền phèn tiềm tàng, nhiễm mặn Trong đất thường có chứa các loại độc tố dễ gây hại cho cây trồng như: SO42- Cl-, Al3+, Fe3+ Ở độ sâu 0,0 – 0,2 m phần lớn đất thuộc loại chua ít Đặc biệt các loại đất mặn (nhiều Mn), phèn tiềm tàng, đất phèn hoạt động nhiễm mặn nặng thường ở các vùng thấp và không thích nghi với công tác nông nghiệp Trong phạm vi

độ sâu 2 m chỉ số pH/H2O của đất thay đổi không nhiều từ 6,5 – 7,5 Nhìn chung vùng này có các nhóm đất sau:

- Nhóm đất phù sa trên nền phèn tiềm tàng: nhiễm mặn vào mùa khô, phân bố thành hành lang theo đê tự nhiên ven sông – nơi có địa hình cao trên dưới 2 m, phân bố với diện tích 95 ha Đặc tính của loại đất này là hàm lượng mùn ở tầng mặt tương đối

Trang 19

phong phú nhưng giảm nhanh theo chiều sâu, lượng lân và kali tổng số ở mức trung

bình

- Nhóm đất phèn: loại đất này bị nhiễm mặn theo mức độ khác nhau về mùa

khô, phân bố ở phía Nam Đây là loại đất nặng, tầng sinh phèn nông, có thể trồng lúa

Tính chất của loại đất này từ nông đến sâu có hàm lượng mùn khá cao, giàu lượng

Mn2+, có sự mất cân đối giữa Ca2+ và Mg2+, do đó có thể kìm hãm sự phát triền của cây

trồng Trị số pH của đất tương đối cao (pH = 5,8 ở tầng 0m, pH = 5,5 ở tầng 0,7m)

2.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội

a) Tình hình phân bố đất đai

Tổng diện tích đất của Bình Khánh là 4.345,27 hecta được phân thành nhiều

loại đất chuyên dùng như: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng, …

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

Đất sông suối và mặt nước

Đất chưa sủ dụng

Tổng

87,08 899,26 418,36 1.453,12 147,73

52,62 0,03 6,93 1.279,58 0,56

4.345,27

2,004 20,695 9,628 33,441 3,400 1,211 0,001 0,159 29,448 0,013

100,000

Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân Xã Bình Khánh, 2007 Qua bảng trên cho thấy đất ở Bình Khánh được sử dụng cho mục đích nuôi

trồng thủy sản mà chủ yếu dùng nuôi tôm là nhiều nhất chiếm 33,44 % Tuy nhiên diện

tích trồng lúa cũng khá cao chiếm 20,69 %.Với 29,45% diện tích sông suối và mặt

nước cho thấy hệ thống sông ngòi chằn chịt, thuận lợi cho việc thay đổi nước trong

công tác nuôi tôm của địa phương

Trang 20

b) Dân số và lao động

Bình Khánh là xã có dân số cao nhất huyện Cần Giờ với tổng số hộ là 3.939 hộ,

số nhân khẩu là 17.852 (số liệu năm 2007) được chia làm 8 ấp và 157 tổ nhân dân, xã

có địa bàn rộng, đông dân và sống rải rác ngoài đồng ruộng Nghề nghiệp của các hộ gia đình được phân thành các diện như thuần nông nghiệp, thuần lâm nghiệp, chuyên đánh bắt – khai thác thủy sản và chuyên về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Tổng

số lao động trong toàn xã là 9.745 người phân ra thành các dạng lao động khác nhau như: nghề nông, nuôi trồng và khai thác thủy sản nghề xây dựng, thương nghiệp, giao thông - vận tải, …Theo thống kê của xã đến cuối năm 2008 chỉ còn 0,68 % hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo Nhìn chung thì mức sống của người dân nơi đây thuộc loại trung bình khá

d) Văn hóa thông tin, thể dục thể thao

Xã có một trung tâm văn hóa – thể thao, một khu văn hóa ở ấp Bình Trung, bốn đài truyền thanh phục vụ công tác tuyên truyền những chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân gồm: đài truyền thanh xã phục vụ cho

ấp Bình Phước, Bình Thuận, Bình Trung, Bình Trường, Bình Mỹ và Bình An; đài truyền thanh tại khu dân cư Cọ Dầu; đài truyền thanh tại ấp Bình Thạnh và đài truyền thanh tại ấp Bình Lợi Hầu hết các hộ dân ở xã đều có phương tiện nghe nhìn và điện thoại Hoặt động thể dục thể thao ở xã phát triển khá mạnh, xã thường xuyên tổ chức các hội thi thể dục thể thao vào những dịp lễ được đông đảo quần chúng tham gia, ủng

hộ Toàn địa bàn xã có một sân bóng đá mini do tư nhân đầu tư và quản lý, 4 sân bóng chuyền chủ yếu nằm trong khu vực các trường học và nhiều sân cát nằm rải rác trong các ấp Phong trào văn hóa - văn nghệ của xã cũng phát triển mạnh mẽ

e) Tín dụng

Trang 21

Ngoài nguồn vốn từ ngân hàng nông nghiệp, ngân hành chính sách, quỹ xóa đói

giảm nghèo, vốn liên minh hợp tác xã thành phố, vốn tự có thì trên địa bàn của xã còn

có các quỹ tín dụng khác như: nguồn vốn từ chương trình 105 (chương trình khuyến

khích chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và hổ trợ lãi suất vay vốn sản xuất của

Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh), Quỹ tín dụng của hội phụ nữ, Quỹ tín dụng

của hội cựu chiến binh xã

f) Tình hình khuyến nông tại xã

Công tác khuyến nông tại xã phát triển khá mạnh mẽ, trong năm 2008 xã phối

hợp với Trạm khuyến nông, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức 8 buổi

tập huấn, hội thảo, tham quan với 93 lượt người tham dự Trong đó, có 3 lớp tập huấn

về kỷ thuật nuôi tôm sú, 1 lớp tập huấn bảo vệ thực vật về xử lý rầy nâu, bệnh vàng

lùn, lùn xoắn lá, 2 buổi hội thảo về các mô hình chăn nuôi có hiệu quả, 1 buổi tham

gia mô hình nuôi trùng quế, 1 buổi tham quan mô hình nuôi tôm càng xanh tại địa

phương Đồng thời, đài truyền thanh xã, các ấp cũng thường xuyên phát thanh, tuyên

truyền, khuyến cáo kỷ thuật trong nuôi trồng thủy sản và sản xuất vụ mùa, dự báo khí

tượng thủy văn để kịp thời khuyến cáo nhân dân có biện pháp chủ động trong sản xuất

2.1.3 Cơ sở hạ tầng

a) Giao thông

Xã có một trục đường chính - đường Rừng Sác - đường được trán nhựa với

chiều dài 9km Bên cạnh đó cũng có một số tuyến đường nằm rải rác trong xã như:

đường Trần Quang Đạo, đường Trần Quan Quờn, đường Hà Quang Vóc, đường đê EC

và đường Bà Xán, … rất thuận tiện cho việc đi lại

b) Hệ thống điện – nước

Hệ thống điện: xã sử dụng hệ thống lưới điện quốc gia kéo từ năm 1990, với

100 % hộ có điện chiếu sáng, phục vụ tốt cho sinh hoạt và sản xuất Đây là yếu tố giúp

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong xã

Hệ thống nước sinh hoạt: toàn xã có 8 hệ thống cấp nước do dân tự làm (có thu

phí dân) Nguồn nước lấy từ nguồn nước máy thành phố Hồ Chí Minh về với giá 2740

đ/m3 (trong định mức 4m3/tháng /người)

Hệ thống cống thoát nước: toàn xã có 3 đường cống thoát nước sinh hoạt tập

trung tại ấp Bình Phước (trên tuyến đường chính)

Trang 22

Hệ thống thủy lợi: quanh xã có các con sông lớn thuận lợi cho việc cung cấp nước phục vụ sản xuất như sông Soài Rạp, sông Nhà Bè, sông Chà, sông Lòng Tàu,…Hệ thống kênh rạch hầu hết là kênh rạch tự nhiên chảy tự do theo thủy triều, chưa có một công trình điều tiết nào Hệ thống kênh nội đồng cũng vậy, đa phần bị bồi lắng, một số tuyến rạch cũ đã bị san lắp, cải tạo thành ruộng hoặc ao nuôi trong những năm gần đây Bình Khánh có một đê thủy lợi EC xây dựng năm 1994 với chiều dài

8500 m Hệ thống thủy lợi chủ yếu làm nhiệm vụ ngăn mặn giữ ngọt đã góp phần tích cực trong việc tăng năng suất, sản lượng nhưng còn bộc lộ nhiều khuyết điểm như: chưa hoàn chỉnh, không đồng bộ, kênh mương bị bồi lắp, phân bố không đều, thiếu công trình đầu mối điều tiết, ngăn mặn, gạn triều cho vùng trồng lúa, …do vậy chưa

chủ động trong việc tưới tiêu, làm ảnh hưởng tới sản xuất

2.2 Nguồn gốc con tôm sú, sự phát triển nghề nuôi tôm và các hình thức nuôi tôm

sú ở nước ta hiện nay

- Loài: Monodon - Tên khoa học: Penaeus monodon Fabricius

Tôm sú có nguồn gốc tự nhiên kéo dài từ Đông Nam Á đến tận bờ Đông của châu Phi (đến Somalie) Tuy nhiên tôm tự nhiên tập trung nhiều quanh Ấn Độ và Indonesia.Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ Ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây châu Phi (Racek -

1955, Holthuis và Rosa - 1965, Motoh - 1981, 1985) Nhìn chung, tôm sú phân bố từ kinh độ 30E đến 155E từ vĩ độ 35N tới 35S xung quanh các nước vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines và Việt Nam Tôm bột (PL.), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần bờ biển và rừng ngập mặn ven

bờ Khi tôm trưởng thành di chuyển xa bờ vì chúng thích sống vùng nước sâu hơn

Trang 23

2.2.2 Sự phát triển nghề nuôi tôm

Nghề nuôi tôm biển bắt đầu phát triển nhanh từ những năm đầu thập kỷ 80s đến đầu thập kỷ 90s Tổng thể, trong những năm hiện nay thì sự phát triển đã chậm lại mà chủ yếu là do sự bộc phát và lây lan của bệnh, nhất là bệnh vi-rút và vấn đề môi trường

ở một số quốc gia

− Ở một số quốc gia thì nuôi tôm biển phát triển khá nhanh trong các năm qua

(vd: Việt Nam), trong khi đó một số khác thì không phát triển, thậm chí còn giảm (Đài Loan, Trung Quốc, …)

− Dù luôn phải đối phó với nhiều vấn đề, nhưng nghề nuôi tôm biển là một

ngành kinh tế quan trọng ở vùng ven biển của nhiều quốc gia Châu Á và Mỹ

Nghề nuôi tôm biển trên thế giới có thể chia thành 3 giai đoạn chính như sau

− Giai đoạn 1: Giai đoạn nghiên cứu và phát triển sau đó là sự phát triển nhảy vọt (những năm 60s-80s) Trong giai đoạn này tôm chủ yếu được nuôi quảng ao quảng canh ven biển, có thể là sản phẩm phụ của các ao nuôi cá măng, cá đối như ở Đài Loan, Philippines, Indonesia, … và trở thành đối tượng có giá trị thương phẩm cao nên giá tôm tăng Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để phát triển kỹ thuật làm cơ sở cho phát triển sau này

− Giai đoạn 2: Nghề nuôi tôm gặp nhiều khó khăn (những năm 80s-90s) Giai đoạn này có nhiều trở ngại xảy ra liên quan đến bệnh tật, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mâu thuẫn về kinh tế xã hội

− Giai đoạn 3: Nghề nuôi tôm hiện nay và tương lai Do những trở ngại trên, xu hướng hiện nay và trong thời gian tới là nuôi tôm theo hướng bền vững với sự đa dạng hóa đối tượng nuôi, cải thiện qui hoạch và quản lý trong phát triển

Đối tượng nuôi (nhóm loài):

− Theo thống kê của FAO thì chỉ có khoảng 10 loài tôm nuôi đạt sản lượng cao (hơn 1.000 tấn/năm)

− Tôm sú (P monodon) chiếm hơn 50 % tổng sản lượng Ở một số quốc gia

như Thái Lan chẳng hạn thì sản lượng tôm sú không tăng nhưng tôm thẻ chân trắng (P vannamei) đang được đưa vào nuôi và sẽ đạt sản lượng lớn trong những năm tới đây

− Những đối tượng tôm khác cũng có sản lượng đáng kể là tôm thẻ Trung Quốc

(P chinensis), tôm thẻ Nhật Bản (P japonicus)

Trang 24

Khi ngành nuôi tôm công nghiệp phát triển mạnh, con giống không còn lệ thuộc vào tự nhiên nữa mà hoàn toàn do con người chủ động sinh sản Kỹ thuật nuôi thâm canh cũng phát triển lên đến mức cao, giúp người ta có thể nuôi với mật độ dầy trên một diện tích ao nuôi Thái Lan là nước dẫn đầu trong ngành nuôi tôm công nghiệp, và

là nước có sản lượng tôm sú nuôi cao nhất thế giới Sản lượng này chủ yếu dùng để xuất khẩu, đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho Thái Lan Ngành nuôi tôm cũng nhanh chóng phát triển sang nhiều nước, chủ yếu là các nước ở Đông Nam Á, Nam Á

2.2.3 Các hình thức nuôi tôm sú ở nước ta hiện nay

Quảng canh (QC): hình thức này sử dụng diện tích lớn tận dụng con giống và nguồn thức ăn hoàn toàn tự nhiên Tuy nhiên hiện nay người nuôi hầu hết chuyển sang hình thức thả bổ sung con giống ở mật độ thấp và sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên (phổ biến nhiều nhất là ở tỉnh Cà Mau)

Quảng canh cải tiến (QCCT): phổ biến nhiều nhất ở các tỉnh ĐBSCL và các tỉnh phía Bắc với một số hình thức sau:

- Nuôi chuyên tôm

- Nuôi tôm luân canh với trồng lúa: ở Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre, Long An, Duyên Hải - TP.Hồ Chí Minh, …

- Nuôi tôm sú trong ruộng muối vào mùa mưa: ở Vĩnh Châu - Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh,

Nuôi tôm Bán công nghiệp (BCN) và Công nghiệp (CN): phổ biến nhiều nhất ở duyên hải miền trung, bắt đầu phát triển mạnh ở ĐBSCL và ở các tỉnh phía Bắc

Mật độ thả tôm thích hợp cho hình thức nuôi công nghiệp (25 - 30 con/m2), bán công nghiệp (15 - 20 con/m2) và quảng canh cải tiến (5 - 10 con/m2) Có thể thả với mật độ nhiều hơn hay ít hơn là tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường tự nhiên tại chỗ (đất đai, nguồn nước, ), mức độ đầu tư, kinh nghiệm của người nuôi, Thực tế tại Bình Khánh các hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến nuôi với mật độ 5 – 15 con/m2 cao hơn mật độ nêu trên

2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thủy sản

Trong hai thập kỷ qua, sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu thuỷ sản trên toàn cầu không ngừng tăng cao với tốc độ tăng hằng năm 4,3% Thị trường tiêu thụ ngày nay quan tâm nhiều hơn

Trang 25

đến thuỷ sản như nguồn thực phẩm dinh dưỡng quan trọng không chỉ cung cấp 16% nhu cầu prôtêin của con người mà còn đáp ứng các chất khoáng và axit Omega 3 cần thiết cho cơ thể để phát triển trí não và ngăn ngừa một số bệnh Cùng với sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội, mức tiêu thụ thuỷ sản trên thị trường thế giới ngày càng tăng cao

Lượng cung cấp thực phẩm thủy sản cho tiêu thụ của con người trên toàn cầu tăng từ 53,4 triệu tấn năm 1981 đến hơn 104 triệu tấn năm 2003 Mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người trên thế giới tăng từ 11,8 kg đến 16,5 kg trong giai đoạn này Theo FAO dự báo, nhu cầu thủy sản còn có thể tăng mạnh nữa trong tương lai và mức tiêu thụ sẽ có thể lên đến 18,4 kg/người/năm vào năm 2010 và 19,1 kg/người/năm vào năm 2015 Châu Á và Thái Bình Dương là khu vực khai thác và nuôi trồng thủy sản quan trọng nhất Một số nước trong khu vực này có mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người cao nhất thế giới Thủy sản là thực phẩm cho bữa ăn hằng ngày của người dân ở khu vực này nên mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người cao, đạt 39,6kg/người năm 2003

Không chỉ tại Việt Nam mà ngay cả tại nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippine, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia hoạt động nuôi thủy sản, nhất là nuôi tôm đã tạo ra một sự chuyển đổi hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nông dân Hiện nay, trên 80% sản lượng tôm trên thế giới là từ nguồn tôm nuôi công nghiệp với các giống tôm chính như tôm sú, tôm thẻ, tôm thẻ đỏ đuôi Số liệu thống kê cho biết tổng số lượng trại nuôi tôm trên thế giới là khoảng 380.000 trại nuôi, chiếm khoảng 1,25 triệu ha, với sản lượng hàng năm từ 50 tới 10.000 kg/ha Hoạt động nuôi tôm bao gồm nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh

Hiện nay, thuỷ sản trong thực đơn hằng ngày của người dân vùng nông thôn đang dần thay đổi, do việc giảm nguồn lợi khai thác, chuyển đổi nghề nghiệp và sự thay đổi cơ chế quản lý nguồn nước Thực phẩm từ nguồn nuôi trồng đang dần thay thế thủy sản từ nguồn khai thác tự nhiên Từ năm 1950 - 1970 lượng tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người tăng gấp đôi và từ đó ổn định ở mức 9 - 10 kg/đầu người Tuy nhiên, tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người dự kiến sẽ tiếp tục tăng cao cùng với sự tăng trưởng dân số thế giới Lượng cung cấp thủy sản có thể sẽ bị hạn chế

do các yếu tố môi trường và phạm vi nhu cầu có thể là 150 đến 160 triệu tấn, hoặc

Trang 26

19-20kg/đầu người và năm 2030 Tăng tiêu thụ thực phẩm thủy sản toàn cầu chủ yếu diễn

ra ở các nước đang phát triển nơi dân số đang ngày càng tăng và thu nhập cao tạo điều kiện cho người dân tăng sức mua các mặt hàng thủy sản giá trị cao Theo dự báo của FAO, tổng nhu cầu thủy sản ở các nước đang phát triển sẽ tăng từ 30,5 triệu tấn năm 1979/81 tới gần 140 triệu tấn năm 2015 Châu Á chiếm khoảng 68% tổng nhu cầu thủy sản năm 1979/81 và sẽ tăng tới 86% vào năm 2010 và năm 2015 Mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người ở Ðông Nam á sẽ đạt tới 25,8 kg vào năm 2020 và cũng

sẽ tăng tới 39,5 kg ở Trung Quốc Còn ở các nước đang phát triển sẽ tăng từ 10,7 kg/người/năm trong giai đoạn 1999-2001 lên 13,5 kg/người/năm vào năm 2015, trong khi các nước phát triển cũng sẽ tăng từ 16,3 kg lên 17,3 kg Châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, là khu vực được coi là nhà sản xuất, xuất khẩu cũng như nhập khẩu các sản phẩm thủy sản lớn nhất, đặc biệt là các sản phẩm nuôi trồng Nhu cầu đối với sản phẩm thủy sản ở khu vực này cao và ngày càng tăng (trừ Nhật Bản) vì người tiêu dùng rất thích ăn thủy sản Tiêu thụ ở hộ gia đình và nhà hàng ngày càng tăng Tuy nhiên, do sở thích về các loài và các dạng sản phẩm khác nhau cũng là lý do dẫn đến nguồn cung cấp phong phú Bên cạnh đó, ngành du lịch phát triển bùng nổ thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ đối với các loài có giá trị cao Hệ thống bán lẻ hiện đại và tăng trưởng kinh tế nhanh nhất là các nước đang phát triển (Trung Quốc, Việt Nam và Xingapo) cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu thụ tăng cao ở khu vực này Hiện nay Mỹ

là nhà NK thủy sản lớn thứ ba trên thế giới, chỉ đứng sau EU và Nhật Bản NK thủy sản của Mỹ đã tăng liên tục trong hơn thập kỷ qua, từ 5 tỉ USD năm 1990 lên 11,3 tỉ USD năm 2004, trong khi đó XK thủy sản của Mỹ hầu như không tăng trong cùng kỳ Nước ta hiện nay ngành thủy sản phát triển khá mạnh, nuôi trồng thủy sản tăng mạnh

cả về diện tích và đa dạng về hình thức, phương thức nuôi Sự chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành theo hướng giá trị các ngành đều tăng nhưng tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp giảm đi và vai trò của ngành thủy sản ngày càng thể hiện rõ nét Năm 2001, giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp chiếm 78,5%, giá trị tăng thêm ngành thủy sản chiếm 16% so với tổng giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, đến năm 2006, các tỷ trọng đó là 75,3% và 19,3%

Trang 27

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Một số đặc điểm cơ bản trong kỹ thuật nuôi tôm sú

a) Dinh dưỡng

Tôm là loài ăn tạp, có chế độ dinh dưỡng khác nhau ở các giai đoạn

- Giai đoạn ấu trùng, tôm ăn chủ yếu khuê tảo, vật chất hữu cơ phân hủy có nguồn gốc động vật

- Giai đoạn tôm bột, các bộ phận của tôm đã phát triển, thức ăn giai đoạn này là phiêu sinh vật nhỏ

- Giai đoạn trưởng thành: tôm sống ở đáy ăn giáp sát, giun đỏ và ấu trùng

Từ nhu cầu dinh dưỡng đó, các hộ nuôi đã cung cấp một lượng thức ăn phù hợp với nhu cầu cần thiết cho sự phát triển của tôm ở từng giai đoạn Thức ăn có lượng đạm từ 30 – 35%

b)Yếu tố môi trường

Độ pH: Khoảng thích hợp của pH là từ 7,5 – 8,5, pH dao động trong ngày không quá 0,5 đơn vị, pH cao hơn khoản từ 9 – 10 hoặc thấp hơn khoản từ 4 – 6 thì tôm sẽ phát triển chậm

Oxy: thích hợp của oxy là lớn hoặc bằng 4 mg/lít

Độ mặn: Khoảng thích hợp của độ mặn từ: 10 - 20%0 trong suốt quá trình khoảng 4 tháng nuôi

Độ kềm: Thích hợp từ 80 - 160 mg/lít

Độ trong: thích hợp từ 25 - 30 cm

Nhiệt độ: thích hợp từ 28 - 310C Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn sẽ làm tôm chậm lớn Ngoài ra việc quản lý tốt nhiệt độ cũng là biện pháp hữu hiệu ức chế mầm bệnh

Trang 28

Nguồn: Kỹ thuật nuôi tôm sú, NXB Nông Nghiệp TP.HCM, 2000 Thực tế tại Bình Khánh các hộ đào ao theo hình chữ nhật hoặc hình vuông, trước kia khi chưa có phong trào nuôi tôm thì người dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, khi phong trào nuôi tôm phát triển người dân biến những ruộng trồng lúa thành ao nuôi tôm, ruộng được đào trũng xung quanh để đắp bờ bao còn lại ở giữa không đào, một số hộ tận dụng trồng lúa ở vùng đất cao này trong thời gian không nuôi tôm Sau khi đào ao xong thì tiến hành xây cống cấp thoát nước, tùy vào điều kiện tùng ao mà mỗi ao có một hoặc hai cống, nếu có một thì cống này dùng chung cho việc cấp và thoát nước còn nếu có 2 cống thì một cống dùng để cấp nước và một cống dùng để thoát nước Ao nuôi tôm được xây dựng như hình sau:

Trang 29

Hình 3.1 Hình dạng của ao nuôi tôm

Nguồn: Điều tra thực tế

d) Quy trình nuôi tôm

- Tu sửa lại bờ ao, miệng cống, chấm rò rỉ gây thất thoát tôm trong vụ nuôi

- Tiến hành sát trùng đáy ao, khử phèn và tạo môi trường kiềm thích hợp cho tôm lột xác tốt bằng cách rải vôi Qua tìm hiểu thực tế tại Bình Khánh việc rải vôi trong vùng có sự dao động lớn về liều lượng Trung bình mỗi hecta ao nuôi người dân bón khoảng 1.180kg Lượng vôi dùng cao nhất lên đến 4.210kg/hecta, cá biệt có hộ cũng không rãi vôi ở khâu này

- Tùy thuộc vào thời tiết và điều kiện ao, thời gian trung bình khoảng 6 – 7 ngày, để đất nứt chân chim là vừa, riêng những ao còn mới thời gian phơi ao rất ngắn tránh hiện tượng xì phèn Ngược lại, với những ao dùng lâu, sâu trũng có thời gian phơi một tháng trước khi lấy nước vào

Trang 30

- Sau phơi ao, khâu lấy nước được tiến hành, thông thường nước được lấy vào những khi nước lớn, miệng cống lấy nước có lưới lọc che chắn, tránh rác và cá tạp vào

Con giống phải có kích cỡ đều nhau, có màu sắc tự nhiên, thịt tôm lấp đầy vỏ, khi bơi đuôi tôm xòe rộng và không có dấu hiệu của bệnh đốm trăng, đóng rong, …

Tôm được thử độ phù hợp với môi trường bằng cách cho bọc nilon tôm từ trại giống về đưa vào môi trường ao nuôi từ 15 -30 phút nhầm cân bằng nhiệt độ trước khi cho tôm hòa vào môi trường ao nuôi Cách khác, thông dụng hơn, người nuôi nhận ít lượng tôm của nơi cung cấp giống tôm cho vào môi trường nước của ao nuôi kiểm tra trong 24h, nếu không có hiện tượng tôm phản ứng với môi trường nuôi, thì tôm của nơi cung cấp đó được đem về ao nuôi để bắt đầu vào vụ nuôi mới

Thời gian thả tôm từ sáng sớm 5 -7 giờ hoặc chiều tối 17 -19 giờ để đảm bảo nhiệt độ không quá oi bức có thể gây sốc tôm nuôi

Tôm thả vào ao được quản lý và chăm sóc hàng ngày để kịp thời xử lý phản ứng của tôm với môi trường nước, oxy, nhiệt độ, pH, …

Trang 31

Quản lý nước

Theo dõi điều kiện thủy hóa của ao hằng ngày: oxy hòa tan, pH, nhiệt độ, độ trong của nước, … để kịp thời có biện pháp xử lý Thường xuyên thay nước ao tránh

để ao dơ làm xuất hiện dịch bệnh ảnh hưởng sức sống của tôm Đảm bảo hệ thống bờ

ao an toàn tránh thất tôm ra môi trường bên ngoài ao nuôi Đối với hộ nuôi, chu kỳ thay nước được xác định tùy thuộc vào màu nước trong ao Thường khoảng 2 – 3 tuần thay 1 lần

Bệnh lý và phòng chống

Không thể chữa bệnh khi bệnh đã xảy ra trong các ao nuôi tôm, cách tốt nhất phòng chống bệnh là thực hiện việc quản lý tốt Các loại bệnh tôm: bệnh đen mang, bệnh đốm trắng, bệnh tôm đóng rong, bệnh đỏ thân, bệnh đầu vàng, bệnh phát sáng, … đều chưa có thuốc trị hữu hiệu Vậy muốn dịch bệnh không xảy ra thì chúng ta phải tiêu diệt hết mầm bệnh từ các nguồn lây lan: môi trường, bố mẹ, thức ăn, …

Thu hoạch

Tính từ lúc cho tôm vào ao nuôi đến lúc thu hoạch thường 3,5 – 4 tháng Tuy nhiên thời điểm thu hoạch còn phụ thuộc nhiều vào tình trạng sức khỏe của tôm và giá

cả thị trường Công tác thu hoạch thường được tiến hành vào sáng sớm bằng cách đặt

lú vào sau cống và thả nước Tôm còn xót lại đươc tiến hành thu hoạch bằng tay, cào, lưới

3.1.2 Hiệu quả kinh tế

a) Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù đặc biệt quan trọng, nó thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí của các ngành sản xuất Về mặt hình thức, hiệu quả kinh

tế là một đại lượng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra

Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp là tổng hợp các hao phí về lao động và lao động vật hóa để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp Nó thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động và chi phí vật chất bỏ ra Khi xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp phải tính đến việc sử dụng đất đai, các nguồn dự trữ vật chất lao động trong nông nghiệp, tức là phải sử dụng đến các nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp Các tiềm năng này bao gồm: Vốn sản xuất, vốn lao động và đất đai

Trang 32

b) Các chỉ tiêu kết quả, hiệu quả

Các chỉ tiêu kết quả

- Doanh thu: là chỉ tiêu tổng hợp được tính bằng tiền phản ánh kết quả thu được

từ quá trình sản xuất

Doanh thu = tổng sản lượng x đơn giá sản phẩm

- Tổng chi phí sản xuất: là tất cả những khoảng chi phí bỏ ra để có được kết quả sản xuất

Tổng chi phí sản xuất = chi phí vật chất + chi phí lao động + thuế + chi phí bán hàng + khấu hao

- Lợi nhuận = Doanh thu - tổng chi phí sản xuất

- Thu nhập = doanh thu – (chi phí vật chất + chi phí lao động thuê)

= lợi nhuận + giá trị lao động nhà

Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

- Tỷ suất thu nhập / tổng chi phí sản xuất = a (lần)

Công thức này chỉ ra rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất thì thu được a đồng thu nhập mới tạo ra

- Tỷ suất lợi nhuận / chi phí sản xuất = b (lần)

Công thức này chỉ ra rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất thì thu được b đồng lợi nhuận mới tạo ra

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu thứ cấp

- Số liệu thứ cấp được thu thập từ những tài liệu, báo cáo hàng tháng, báo cáo tổng kết hàng năm, số liệu được công bố ở Phòng Thống Kê Ủy Ban Nhân Dân xã Bình Khánh

- Số liệu trên sách, báo và các trang web và các báo cáo khoa học có liên quan Thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra phỏng vấn 85 hộ dân nuôi tôm sú (chỉ phỏng vấn những hộ nuôi bằng hình thức nuôi mà địa phương gọi là nuôi ruộng lúa) tại xã Bình Khánh bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tình cờ Phiếu điều tra được soạn trước, điều tra thử sau đó sửa chữa thành phiếu điều tra hoàn chỉnh trước khi bước vào phỏng vấn thực sự

Trang 33

3.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm excel và eview Kết quả của quá trình nghiên cứu được phân tích dựa trên các phương pháp sau:

a) Phương pháp thống kê mô tả

Là phương pháp thu thập thông tin để kiểm chứng những giả thuyết hay để giải quyết một câu hỏi liên quan đến tình trạng hiện tại của đối tượng nghiên cứu Trong phạm vi khóa luận này, phương pháp được sử dụng để trình bày về thực trạng sản xuất của bà con nông dân

b) Phương pháp phân tích lợi ích chi phí

Phương pháp này dùng để phân tích và tìm ra chi phí vật chất, chi phí lao động, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập bình quân trên một ha nuôi tôm, các tỷ suất lợi nhuận/chi phí, thu nhập/chi phí để thấy rõ hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm tại

c) Phương pháp hồi qui

Là phương pháp lập một hàm quan hệ giữa các biến khi biết được giá trị tương ứng của chúng

Xây dựng hàm năng suất

Khái niệm hàm sản xuất

Hàm số sản xuất là hàm số thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào Nó

mô tả hệ số tương quan của các yếu tố sản xuất chuyển vào sản phẩm Hàm số sản xuất được viết tổng quát như sau:

Y = f (X1, X2, X3,…, Xn-1, Xn)

Trong đó:

Y: Đầu ra

X1,…,Xn: Các đầu vào khả biến

Xây dựng hàm năng suất

Năng suất của tôm sú phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố đầu vào như giống, lao động, lượng thức ăn, phân bón, lượng vôi, kinh nghiệm, trình độ văn hóa, diện tích đất canh tác, khuyến nông, Các yếu tố đầu vào này tăng làm cho năng suất cũng tăng theo và ở một mức độ nào đó nó không tăng nữa và có xu hướng giảm xuống Chính vì

Trang 34

vậy hàm sản xuất Cobb-douglas được sử dụng để mô tả hiện tượng này trong nghiên cứu

Hàm Cobb-douglas:

NS = f (Xi) = β0*DTβ1*LTAβ2*LGβ3* LPβ4* SNKNβ5 *eε

Hay: LnNS= β0+β1*lnDT+β2*lnLTA+β3*lnLG+ β4*lnLP+ β5*lnSNKN +εt Trong đó:

NS: năng suất tôm sú (tấn/ha)

DT: diện tích nuôi(ha)

LTA: lượng thúc ăn (kg/ha)

LG: lượng giống (con/ha)

LP: lượng phân (kg/ha)

SNKN: số năm nuôi tôm (năm)

εt: Sai số giữa giá trị thực Y và giá trị ước lượng của nó

β0: Tung độ gốc

β1…β5: Là các hệ số co giãn ứng với các biến tương ứng

Có nhiều biến ảnh hưởng tới năng suất tôm nhưng ở đây chỉ đề cập những biến tác động đến năng suất nhiều nhất như trên

Phương pháp này được thực hiện bằng phần mềm Eview 3.0

Cơ sở chọn biến và kì vọng dấu

Biến thể hiện diện tích

Diện tích nuôi có thể có ảnh hưởng đến năng suất tôm Tuy nhiên không phải diện tích nuôi càng lớn sẽ cho năng suất cao mà nó còn phụ thuôc vào mức độ đầu tư của mỗi hộ

Biến thể hiện lượng giống

Lượng giống hay mật độ nuôi sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất Tuy nhiên không thể kết luận mật độ cao hay thấp sẽ cho năng suất cao hơn Với hình thức nuôi tôm trên ruộng thì người nuôi thường nuôi với mật độ thấp chỉ khoản 5 – 15 con/ m2

có thể nói là chưa tận dụng hết diện tích Do đó kỳ vọng mật độ nuôi càng cao sẽ cho năng suất cao hơn

Biến thể hiện lượng thức ăn

Trang 35

Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất tôm, đồng thời nó cũng giúp cho quá trình nuôi tôm đạt hiệu quả cao như rút ngắn thời gian nuôi, giúp tôm tăng trưởng phát triển nhanh, … Hầu hết các hộ nuôi tôm sú ở địa phương đều sử dụng thức

ăn công nghiệp, tuy nhiên mỗi hộ đầu tư lượng thức ăn khác nhau, nó phụ thuộc vào nguồn vốn của mỗi hộ Thông thường nếu lượng thúc ăn được cung cấp đầy đủ tôm sú

sẽ mau lớn và cho năng suất cao Do đó kỳ vọng dấu của biến lượng thức ăn là dương (+)

Biến thể hiện lượng phân

Bón phân cho ao nuôi sẽ giúp cho ao nuôi có độ màu mỡ cao, làm gia tăng nguồn thúc ăn tự nhiên cho tôm, giúp tôm phát triển tốt hơn Do đó lượng phân bón cũng có ảnh hưởng đến năng suất tôm Ta cũng kỳ vọng biến này dương (+)

Biến thể hiện kinh nghiệm

Kinh nghiệm cũng tác động rất nhiều đến năng suất Nông hộ nào nuôi tôm càng lâu năm sẽ tích lũy được những kinh nghiệm trong việc nuôi và đạt hiệu quả cao hơn, vì vậy ta kì vọng dấu cho biến này (+) Biến này được chạy mô hình ở dạng log

Các cơ sơ kiểm định mô hình hồi quy

Kiểm định các giả thiết của mô hình

Kiểm định t: Mục đích là tìm hiểu biến độc lập và biến phụ thuộc có quan hệ

với nhau không

Đặt giả thiết:

H0: βi = 0 (i = 1,2,3…k) (Tất cả các biến X đều không ảnh hưởng đến Y)

H1: : βi ≠ 0 (i = 1,2,3…k) (Tất cả các biến X đều có ảnh hưởng đến Y)

Tìm trị số thống kê Tstat (từ mô hình hồi quy) và Tα, n-k-1 (tra bảng phân phối t – student)

Trong đó:

n: Số mẫu quan sát

α: Mức ý nghĩa

K: Số biến của phương trình

Nếu |Tstat| < Tα, n-k-1: Không đủ chứng cớ để bác bỏ H0

Nếu |Tstat| > Tα, n-k-1: Bác bỏ H0

Kiểm định F: Mục tiêu là để kiểm định mức ý nghĩa tổng quát của hồi quy

Trang 36

Kiểm tra sự vi phạm các giả thiết của mô hình

Hiện tượng đa cộng tuyến

- Bản chất: Là sự tồn tại mối quan hệ tuyến tính hoàn hảo hay sấp xỉ hoàn hảo giữa một số hay tất cả các biến giải thích trong mô hình hồi quy

- Ảnh hưởng đến mô hình: Phương sai và sai số tiêu chuẩn của các ước lượng lớn làm cho khoảng tin cậy lớn, tỉ số t nhỏ làm cho khả năng chấp nhận giả thiết cho rằng không có ảnh hưởng của biến độc lập đối với biến phụ thuộc Trường hợp nghiêm trọng dấu của hệ số ước lượng bị sai

- Cách phát hiện: Sử dụng mô hình hồi quy nhân tạo tức là hồi quy các biến giải thích theo các biến còn lại tính R2 cho mỗi mô hình

Nếu R2 > R2 gốc thì ta kết luận có hiện tượng đa cộng tuyến

Nếu R2 < R2 gốc thì ta kết luận không có hiện tượng đa cộng tuyến

- Biện pháp khắc phục

Cho đến nay vẫn chưa có biện pháp khả thi khắc phục mô hình

Một số biện pháp được nêu ra như sau:

+ Thu thập thêm số liệu

+ Loại bỏ biến không cần thiết

+ Chuyển đổi số liệu

+ Kiểm tra lại mô hình

Hiện tượng phương sai không đồng đều

Trang 37

- Bản chất: Tức là phương sai của các sai số không là hằng số hay nói cách khác phương sai của sai số có quan hệ với các biến độc lập, do đó khi có biến độc lập thay đổi làm cho phương sai của các sai số thay đổi theo

- Ảnh hưởng: Ước lượng không còn là ước lượng hiệu quả, ước lượng phương sai của các sai số bị lệch, do đó kiểm định mức ý nghĩa và khoảng tin cậy do kiểm định

t và F không đáng tin cậy nữa

- Phát hiện hiện tượng phương sai không đồng nhất: Hiện nay có 3 biện pháp phổ biến

Trang 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình nuôi tôm ở xã Bình Khánh

4.1.1 Lịch thời vụ

Do đặc điểm tự nhiên của Bình Khánh là 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt nên nông dân ở đây có 2 vụ sản xuất: một vụ chính và một vụ phụ Do đặc điểm của từng vụ nuôi nên kết quả mang lại ở mỗi vụ khác nhau, tất cả các hộ điều nuôi ở vụ chính, còn vụ phụ rất ít hộ thả giống, bởi vì người dân nhận thức được rằng sau vụ chính ao nuôi còn nhiễm khuẩn do thức ăn thừa và phân tôm của vụ trước Vì vậy mức

độ tham gia sản xuất của vụ phụ là rất hạn chế, nhất là trong những năm gần đây môi trường bị suy thoái, việc nuôi tôm gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh thường xuyên xảy

ra Hơn nữa xã cũng đang khuyến cáo nông dân chỉ nên nuôi tôm một vụ trong năm, thời gian còn lại có thể sử dụng ao để nuôi các loài thủy sản khác, trồng lúa, hoặc khai

thác tôm cá tự nhiên, … Theo lời cán bộ ở xã, trong năm 2008 có khoản 60% hộ sau

khi nuôi vụ chính thì để ao trống chờ đến vụ sau nuôi tiếp, 40% hộ còn lại trồng lúa, hoặc nuôi thêm vụ 2 hoặc nuôi các loài thủy sản khác Nhìn chung, người dân ở đây chỉ chú trọng vào vụ nuôi chính, vụ tôm chính được thực hiện như sau: Tháng 12, tháng 1 âm lịch người nuôi thực hiện công tác chuẩn bị ao nuôi, tùy vào mỗi hộ mà cuối tháng 1, đầu tháng 2 âm lịch vụ nuôi được bắt đầu Sau 3.5 – 4 tháng tôm được thu hoạch và cung cấp trên thị trường Còn đối với các hộ trồng lúa thì sau khi kết thúc

vụ nuôi chính các hộ thực hiện chuẩn bị ruộng để trồng lúa (các hộ chỉ trồng lúa trên phần đất cao ở giữa ao nuôi tôm), tùy vào giống lúa là lúa 3 tháng hay lúa mùa mà khoản tháng 6, tháng 7 âm lịch các hộ bắt đầu trồng lúa, đến tháng 10, tháng 11 các hộ tiến hành thu hoạch lúa Đối với các hộ nuôi tôm thêm vụ 2 thì cũng bắt đầu nuôi và tháng 6, tháng 7 và cũng sau 3.5 dến 4 tháng thì tiến hành thu hoạch

Trang 39

Hình 4.1 Lịch Thời Vụ Nuôi Tôm tại Xã Bình Khánh

Nguồn: Điều tra và tổng hợp

4.1.2 Tình hình nuôi tôm

Nghề nuôi tôm sú ở Bình Khánh được bắt đầu từ năm 1999 với mô hình trồng lúa kết hợp nuôi tôm, về sau nuôi tôm ngày càng phát triển với hình thức nuôi phong phú đa dạng: quảng canh cải tiến, nuôi bán công nghiệp, nuôi công nghiệp, … Năm

2008 các hộ nuôi tôm không còn sử dụng mô hình trồng lúa kết hợp nuôi tôm nữa mà các hộ nuôi theo mô hình quảng canh cải tiến, đa số các hộ chỉ nuôi tôm một vụ trong năm Tuy nhiên vẫn còn một vài hộ nuôi tôm một vụ còn một vụ thì trồng lúa, một số

hộ nuôi hai vụ và một số hộ nuôi một vụ còn một vụ khai thác tôm cá tự nhiên hoăc nuôi các loài thủy sản khác

Bảng 4.1 Tình Hình Thả Nuôi Tôm Tại Xã Năm 2008

Số hộ nuôi Diện tích (ha) Lượng giống

(triệu con) Tôm sú

-Nuôi công nghiệp

-Nuôi bán công nghiệp

-Nuôi QCCT

Tôm thẻ chân trắng

-Nuôi công nghiệp

-Nuôi bán công nghiệp

61,10 14,90 3,70 42,41 14,58 13,64 0,56 0,28 Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân xã Bình Khánh

Trang 40

Bảng 4.1 cho thấy năm 2008 các hộ nuôi tôm tại xã chủ yếu thả nuôi tôm sú với

mô hình nuôi quảng canh cải tiến, chỉ có một số ít hộ nuôi công nghiệp và bán công nghiệp Theo lời của người nuôi tôm ở đây thì mấy năm trước mô hình nuôi công nghiệp, bán công nghiệp rất phát triển nhưng nhiều hộ thua lỗ do dó năm 2008 người dân chủ yếu nuôi quảng canh cải tiến

Bảng 4.2 Tình Hình Thu Hoạch của Các Hộ Nuôi Năm 2008

Số hộ thu hoạch (hộ)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất bình quân (tấn/ha) Tôm sú

-Nuôi công nghiệp

-Nuôi bán công nghiệp

-Nuôi QCCT

Tôm thẻ chân trắng

-Nuôi công nghiệp

-Nuôi bán công nghiệp

304,09 97,45 26,45 180,19 80,80 80,20 0,60 0,00

0,89 4,40 1,70 0,59 4,90 5,60 0,30 0,00 Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân xã Bình Khánh Năng suất trung bình nuôi tôm sú là 0,89 tấn/ha còn nuôi tôm thẻ chân trắng là 5,6 tấn/ha Trong nuôi tôm sú hình thức nuôi công nghiệp năng suất cao nhất 4,4 tấn/ha còn nuôi quảng canh cải tiến năng suất chỉ có 0,6 tấn/ha Ta thấy có sự chênh lệch rất lớn chính vì vậy mà đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu hình thức nuôi quảng canh cải tiến để có cái nhìn chính xác hơn

Ngày đăng: 12/09/2018, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w