HỒ CHÍ MINH NGHIÊN CỨU CÁCH ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN VEN BIỂN VŨNG TÀU ĐỐI VỚI VIỆC XỬ LÝ CHẤT THẢI PHAN THỊ HỒNG TIẾN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
NGHIÊN CỨU CÁCH ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN VEN BIỂN
VŨNG TÀU ĐỐI VỚI VIỆC XỬ LÝ CHẤT THẢI
PHAN THỊ HỒNG TIẾN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2009
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, Trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Nghiên cứu cách ứng
xử của người dân ven biển Vũng Tàu đối với việc xử lý chất thải” do Phan Thị
Hồng Tiến, sinh viên khóa 31, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ
thành công trước hội đồng vào ngày
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên con xin gửi tới Cha Mẹ và những người thân trong gia đình lời cảm
ơn chân thành nhất, những người đã sinh thành, nuôi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho con có được ngày hôm nay
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Kinh Tế những người đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá tình học tập ở trường
Gửi đến thầy TS Nguyễn Văn Ngãi lòng biết ơn chân thành nhất Cảm ơn Thầy
đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Cảm ơn các anh chị, cô chú thuộc Chi Cục Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết trong thời gian tôi tới thực tập ở Chi Cục
Và cuối cùng, tôi xin gửi những tình cảm chân thành nhất đến các bạn lớp Kinh
Tế Tài Nguyên Môi Trường 31, cùng tất cả bạn bè tôi, những người đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn!
TP HCM Ngày 20 tháng 06 năm 2009
Sinh viên Phan Thị Hồng Tiến
Trang 4Trên cơ sở điều tra, khảo sát lấy ý kiến cộng đồng ở khu vực Bến Đình nhằm xác định, nhận dạng các vấn đề môi trường cần quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế - du lịch – dịch vụ ở khu vực Với nguồn số liệu điều tra được trong quá trình phỏng vấn ngẫu nhiên 50 hộ dân sinh sống trong khu vực, đề tài sẽ xác định được các cách thức mà người dân sử dụng để xử lý chất thải Qua đó sẽ đề xuất các chính sách nhằm quản lý tốt hơn về vấn đề xã thải của người dân trong khu vực
Trang 5MỤC LỤC
Trang
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2 1.3.1 Phạm vi thời gian 2
1.3.2 Phạm vi không gian 2
1.3.3 Về nội dung 3
1.4 Cấu trúc của khóa luận 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 4 2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 4 2.2 Tổng quan về thành phố Vũng Tàu 5 2.2.1 Lịch sử hình thành 5
2.2.2 Điều kiện tự nhiên 6
2.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội 9
2.2.4 Hạ tầng kỹ thuật 12
2.2.5 Khái quát tình hình phát triển kinh tế TP VT 16
2.3 Tổng quan chung về khu Sao Mai – Bến Đình 17 CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 3.1 Cơ sở lí luận 18 3.1.1 Một số khái niệm về môi trường, chức năng của môi trường và khái niệm về ô nhiễm nguồn nước 18
Trang 63.1.3 Các nguồn phát sinh chất thải 20 3.1.4 Tác động của chất thải 23 3.1.5 Lý luận về cách ứng xử đối với việc gây ô nhiễm 24 3.1.6.Các nguyên tắc cơ bản trong việc tìm hiểu ý thức của người dân tại khu vực nghiên cứu 26
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 28 3.2.2 Phương pháp mô tả 28
4.2 Tình hình chung về việc xã thải trong khu vực nghiên cứu 32 4.2.1 Đối với rác thải 32 4.2.1 Đối với nước thải 35 4.3 Đánh giá về chất lượng môi trường nước mặt ở khu vực nghiên cứu 36 4.4 Thực trạng môi trường ở ven biển khu vực Bến Đình qua khảo sát của người
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Gia Tăng Tỷ Lệ Dân Số Thành Phố Vũng Tàu và Tình Hình Di Dân (Số Di
Bảng 3.2 Thành Phần Một Số Chất Thải Rắn ở Một Số Đô Thị ở Việt Nam Năm 2008
22 Bảng 3.3 Kỳ Vọng Dấu Cho Hệ Số của Mô Hình Ước Lượng 29
Bảng 4.2 Sự Phân Bố Lao Động Trong Các Ngành Nghề Qua Điều Tra 32 Bảng 4.3 Khảo Sát Mức Độ Ô Nhiễm Của Môi Trường Xung Quanh 38 Bảng 4.4 Khảo Sát Nguyên Nhân Gây Ô Nhiểm Nước Ven Biển 39
Bảng 4.6 Khảo Sát Mức Quan Tâm Của Chính Quyền Địa Phương Tới Vấn Đề Môi
Bảng 4.7 Khảo Sát Mức Độ Quan Tâm Của Người Dân Đối Với Môi Trường 45 Bảng 4.8 Mức Độ Tìm Hiểu Các Thông Tin Liên Quan Đến Môi Trường 46 Bảng 4.9 Khảo Sát Ảnh Hưởng Của Môi Trường Đối Với Du Lịch Của Địa Phương49 Bảng 4.10 Khảo Sát Ý Kiến Của Người Dân Về Việc Ưu Tiên Giữa BVMT và Phát
Bảng 4.12 Kiểm Tra Lại Các Dấu Trong Thông Số Ước Lượng Mô hình 51 Bảng 4.13 R2aux của Các Mô Hình Hồi Quy Bổ Sung 533
Trang 10DANH MỤC PHỤ MỤC
Phụ lục 1: Kết quả ước lượng mô hình ý thức dạng tuyến tính Phụ lục 2: Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân
Trang 11Tuy nhiên trong một vài năm trở lại đây, khi nền kinh tế ở đây đang ngày càng phát triển, số lượng du khách đến tham quan du lịch gia tăng thì lượng chất thải đổ ra ngoài môi trường đặc biệt là ở vùng ven biển và mặt biển ngày càng nhiều hơn đây là một vấn đề đang được xã hội đặc biệt quan tâm
Nắm bắt được lợi thế về tiềm năng thu hút khách du lịch ở Vũng Tàu nhiều cơ
sở kinh doanh, nhà hàng - khách sạn đã được xây dựng nhằm đám ứng tốt hơn nhu cầu của du khách Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên Cứu phát triển và an toàn dầu khí (thuộc petro Việt Nam) ở Bến Đình, mỗi ngày có hàng chục chất thải như: cặn dầu, rác
và nước thải sinh hoạt, xác tôm cá từ súc rửa tàu thuyền đánh bắt hải sản… được
“tống” xuống biển Cùng với sự nhộn nhịp của các tàu thuyền ra vào trên kênh là hoạt động tiếp tế lương thực, thực phẩm, trao đổi mua bán nhớt tàu đã qua sử dụng…của lực lượng đò chèo Mặt khác, do sự phát triển mạnh mẽ của một bộ phận dân cư ven kênh không theo quy hoạch cũng đang làm ô nhiễm môi trường trầm trọng, chất thải từ những làng nổi Lò Than, Co Mát, Vũng Sình,.v.v khu nhà trọ, khu giải trí phục vụ ngư dân và các khu vực kinh doanh, buôn bán,v.v đều được đổ xuống kênh, làm cho con kênh ngày càng ô nhiễm hơn, làm ảnh hưởng tới sức khỏe của khách du lịch và những người dân ở khu vực này Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cho chính quyền và các
cơ quan chức năng cần có các giải pháp tốt hơn trong công cuộc quản lý của mình để
Trang 12các giải pháp nhiều câu hỏi đã được đặt ra: Làm sao để cho người dân thấy được tầm quan trọng của việc giữ gìn nguồn sạch sẽ? Họ sẽ bị thiệt hại như thế nào nếu cứ tiếp tục phác thải trực tiếp lượng chất thải đó ra biển? Hay việc phác thải đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc phát triển du lịch của thành phố biển Vũng Tàu?
Trước tình hình trên, được sự hướng dẫn và chấp nhận của thầy TS Nguyễn
Văn Ngãi, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu cách ứng xử của người dân ven biển Vũng Tàu đối với việc xử lý chất thải”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu cách thức mà người dân sử dụng để xử lý chất thải ở khu vực ven biển Bến Đình – TP Vũng Tàu và tìm ra biện pháp thích hợp giúp người dân và chính quyền xử lý chất thải tốt hơn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích được tình hình ô nhiễm ở khu vực Bến Đình – TP Vũng Tàu
- Tìm hiểu được cách thức mà người dân sử dụng để xử lý chất thải (chất thải ở đây bao gồm: nước thải và rác thải)
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức
- Tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân
và cộng đồng, làm giảm thiểu tối đa lượng chất thải chưa qua xử lý thải trực tiếp ra môi trường biển
Trang 131.3.3 Về nội dung
Có nhiều nguyên nhân làm cho khu vực nước ở Bến Đình có nguy cơ ô nhiễm như: kinh doanh buôn bán hải sản, nước thải từ khu vực vựa cá, mùi hôi thối từ lượng rác thải vứt bừa bãi ở ven biển,… Trong đó lượng chất thải từ khu vực dân cư sống và kinh doanh, buôn bán ở ven kênh có ảnh hưởng không nhỏ, làm ảnh hưởng tới cảnh quan, sức khỏe của người dân, việc khai thác và nuôi trồng thủy sản,…Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chủ yếu tập trung chú trọng cách thức mà người dân sống ven kênh
sử dụng để xử lý lượng rác thải, nước thải ra và ảnh hưởng của cách thức xử lý đó tới môi trường như thế nào
1.4 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận gồm có 5 chương
Chương 1: Là chương mở đầu, gồm có bốn phần chính: đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của khóa luận
Chương 2: Giới thiệu tổng quan về tài liệu nghiên cứu, tổng quan về các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của thành phố Vũng Tàu, cơ sở kỉ thuật và tổng quan chung về khu vực Sao Mai - Bến Đình
Chương 3: Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu: khái niệm, nội dung có liên quan đến chất thải, lý luận về cách ứng xử đối với việc gây ô nhiễm và các phương pháp để tiến hành nghiên cứu
Chương 4: Chương kết quả nghiên cứu và thảo luận, trình bày chi tiết về kết quả đạt được trong bài nghiên cứu và đề xuất chính sách nhằm làm giảm bớt lượng rác thải ra ngoài môi trường
Chương 5: Nêu lại các kết quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu một cách ngắn gọn, ý nghĩa Đồng thời đưa ra các kiến nghị giúp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân và cộng đồng
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu về cách ứng xử của người dân ven biển đối với việc xử lý chất thải hiện nay là một hướng đề tài mới, các nghiên cứu ở nước ta về vấn đề này hiện nay rất
ít Trong khi đó các tài liệu tham khảo ở nước ngoài thu thập được cũng không nhiều, nên các tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu còn nhiều hạn chế Trong quá trình làm đề tài tôi đã tiến hành điều tra thực tế từ khu vực nghiên cứu, xin số liệu từ Chi cục Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, internet, tạp chí Và đề tài cũng đã sử dụng một số nghiên cứu của anh (chị) khóa trước, tuy nhiên mỗi đề tài nghiên cứu có cách tiếp cận không hoàn toàn giống nhau
Tác giả Nguyễn Ánh Hòa, 2002 Hồ Ngọc Dung, 2004 Trần Thị Thanh Trúc,
2008 Cùng nghiên cứu về thực trạng và giải pháp về vấn đề rác thải tại các địa điểm khác nhau sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp cho tình hình trên
Phạm Hoàng Thủy Nguyên, 2006 Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại bán đảo Bình Quới – Thanh Đa Đề tài đã cho thấy được tầm quan trọng của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường ở địa phương
Đỗ Ngọc Khoa, 2008 Đánh giá nhận thức của người dân về thực trạng môi trường khu du lịch Ghềnh Ráng thành phố Quy Nhơn Đề tài này cũng sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kết quả nghiên cứu của đề tài đã giúp cho chính quyền địa phương thấy được rõ hơn vai trò của nhân dân trong công tác bảo vệ môi trường và thể hiện vai trò chủ trì của chính quyền trong công tác bảo vệ môi trường
Tóm lại, các nghiên cứu trên là những tư liệu hữu ích giúp tôi thực hiện đề tài Bên cạnh đó, tôi cũng đã sử dụng một số bài giảng và tư liệu của thầy cô trong khoa Kinh Tế nhằm thực hiện tốt hơn đề tài nghiên cứu Trong phạm vi của đề tài nghiên
Trang 15cứu, những đặc điểm của khu vực nghiên cứu được đi từ khái quát đến cụ thể và được trình bày như sau:
2.2 Tổng quan về thành phố Vũng Tàu
2.2.1 Lịch sử hình thành
Vũng Tàu từng có tên là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam Chữ tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn (tức Tam Thuyền)
Đây là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy bảo vệ bà con đường thủy vào Gia Định chống lại bọn cướp biển Vào năm 1822 vua Minh mạng ban thưởng phẩm hàm và cấp đất cho họ khai khẩn lập làng làm ăn sinh sống Đội thuyền thứ nhất do ông Phạm Đăng Dinh chỉ huy lập nên làng Thắng Nhất, đội thuyền thứ hai do ông Lê Văn Lộc chỉ huy lập nên làng Thắng Nhì, đội thuyền thứ ba do ông Ngô Văn Huyền chỉ huy lập nên làng Thắng Tam Để nhớ ơn ông Phạm Văn Dinh là người đã lập ra khu đất này, người ta đã lấy tên ông đặt cho con sông duy nhất ở Vũng Tàu: sông Dinh
và tên một dãy núi: núi Dinh
Phía Bắc mũi đất ôm giếng Ngọc, phía Nam nối tiếp tới Ghềnh Rái và che chở cho biển Cần Giờ một vịnh lớn được hình thành bởi các dòng sông, chảy ra biển, là chố yên ổn cho tàu thuyền trú ngụ,v.v." Hẳn do địa hình như vậy nên Vũng Tàu còn
có một cái tên khác là Thuyền áo (áo của Thuyền ) Trong bản đồ dinh Trấn Biên của các chúa Nguyễn (Thế kỷ XVII ) của cuốn Biên Hoà Lược sử toàn biên, Vũng Tàu ngày nay được ghi là thuyền áo
Đầu thế kỷ XVI trên bản đồ thế giới, Vũng Tàu có tên là : Cinco Chagas
Veirdareiras (Năm vết thương của chúa cứu thế ), sở dĩ họ gọi như vậy vì nơi đây có
năm ngọn núi, người đi biển dễ nhận thấy từ ngoài xa, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với họ Trong thời Pháp thuộc Vũng Tàu còn có một tên gọi khác là Ô Cấp hoặc Cấp Khi nói đến Vũng Tàu hay Ô Cấp, nếu để ý đến ngữ nghĩa của các từ sẽ thấy Vũng Tàu không giống như Ô Cấp, bởi Vũng Tàu là vùng nước sâu để cho thuyền đậu, còn Ô Cấp là mũi đất chạy ra biển Nhưng chúng đều được dùng chung để chỉ một vùng đất vùng biển Ở đây khác nhau chỉ là cách đặt tên thao mũi đất chỗ lồi hướng ra biển, người phương Đông đặt tên theo vũng chỗ lõm (hướng vào đất liền),
Trang 162.2.2 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Thành phố Vũng Tàu nằm ở phía Nam của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 125km về hướng Đông Nam, từ VT ta có thể đi tới TP HCM dọc theo quốc lộ 51 khoảng 120 phút bằng xe hơi hoặc cũng có thể đi tàu khoảng 90 phút
VT tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, với thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, với
tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn phía Nam giáp Biển Đông
Vũng Tàu là đô thị loại II và là tỉnh lỵ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Địa hình Vũng Tàu bao gồm một bán đảo được chia thành 12 phường và một xã đảo Long Sơn cách trung tâm thành phố Vũng Tàu khoảng 10 km theo đường chim bay Vũng Tàu có
ba mặt giáp biển với chiều dài bán đảo 20km, còn lại phía Bắc giáp thị xã Bà Rịa
Nếu nhìn theo chiều Bắc Nam, Vũng Tàu nằm ở khúc quanh đang đổi hướng từ Nam sang Tây của phần dưới chữ S (bản đồ Việt Nam) và nhô hẳn ra khỏi đất liền như một dải đất có chiều dài khoảng 14km và chiều rộng khoảng 6km Đây là nơi người ta
có thể ngắm nhìn biển Đông cả khi mặt trời mọc lẫn lúc hoàng hôn
Diện tích: 149,29km2
Dân số tính đến cuối năm 2006 đạt khoảng 397.691 người
Mật độ dân số trung bình là 1,884 người/km2 Với mật độ này thì thành phố Vũng Tàu
có dân số tập trung đông nhất toàn Tỉnh
Với vị trí là cửa ngõ của các tỉnh miền Đông Nam Bộ hướng ra biển Đông, Vũng Tàu có tiềm năng lớn trong việc lưu thông hàng hoá bằng các tuyến đường bộ và đường thuỷ, đặc biệt là có tiềm năng để phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh
tế biển như: công nghiệp khai thác dầu khí, cảng biển và vận tải biển, khai thác chế biến hải sản, du lịch,.v.v
Trang 17H.2.1 Bản Đồ Bà Rịa – Vũng Tàu
Nguồn: www.cpv.org.vn
b) Khí hậu và thời tiết
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 270C, tháng thấp nhất khoảng 24,8 độ C, tháng cao nhất khoảng 28,6 độ C Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ Lượng mưa trung bình 1500 ẩm Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu theo hai mùa: mưa và khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có gió mùa Tây Nam, còn mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có gió mùa Đông Bắc
c) Thủy văn
Nước biển: Nhiệt độ trung bình từ 25 – 290C; thường xuyên có độ mặn 32-35% Thuỷ triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thuỷ triều lên xuống Biên độ triều lớn nhất là từ 4-5m
d) Hệ thống sông rạch
Sông lớn nhất của thành phố là sông Dinh, dài 11 cây số, nằm về phía Tây Bắc Phía Đông Bắc có rạch Cây Khế dài sáu cây số Rạch Bà nằm chính giữa thành phố, làm ranh giới của hai khu phố Thắng Nhứt và Phước Thắng, dài gần 8 cây số Tại khu phố Thắng Nhì, phía Nam cù lao Bến Đình có rạch Bến Đình Về phía Đông khu phố Phước Thắng, nơi Cửa Lấp, có ba con rạch dẫn nước vào thành phố là rạch Suối Nước, rạch Sông Cái và rạch Ông Năm
Trang 18Thành phố có nhiều bưng sen khá lớn (bưng là vùng đầm lầy nước đọng, đất ít cát hoặc không có cát), rộng 406 mẫu, chạy dài từ chân núi Tao Phùng thuộc khu phố Thắng Tam đến trung tâm khu phố Thắng Nhứt và kể từ đó, các bưng sen này được nối tiếp bởi rừng Bần chạy đến rạch Cây Khế
e) Bãi biển
Vũng Tàu có bờ biển trải dài 20km, hầu hết là ghềnh đá nhấp nhô từ chân Núi Lớn và Núi Nhỏ chạy ra biển Từ rặng Bồng Đào đến Mũi Nghinh Phong, bờ biển được tạo bởi những vách đá dựng đứng, có một cửa sông và bờ vịnh kín gió thuận lợi cho tàu bè thả neo Thành Phố Vũng Tàu có nhiều bãi biển như Bãi Sau (Thùy Vân), Bãi Trước (Tầm Dương), Bãi Dâu (Phương Thảo), Bãi Dứa (Hương Phong), Bãi Vọng Nguyệt (Bãi Ô Quắn ở mũi Nghinh Phong) và Bãi Lăng Du Từ Bãi Vọng Nguyệt nhìn
ra bờ biển có Hòn Bồng Đảo (Hòn Bà)
f) Núi non
Vũng Tàu có hai ngọn núi nằm ở phía Tây Nam thành phố Núi Lớn (còn gọi là Tương Kỳ) diện tích khoảng 400ha, gồm các đỉnh Núi Lớn (245m), Vũng Mây (220m), Hòn Sụp (215m) Núi Nhỏ (còn gọi là Tao Phùng) cao 1m, diện tích khoảng 180ha
g) Đất và đồi cát
Vũng Tàu có dãy đồi cát nằm song song với bãi biển chạy từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp dài khoảng 10km, cao từ 4m đến 12m dãy đồi cát này ngăn cản các luồng gió mạnh từ biển thổi vào theo hướng Đông Nam giúp bảo vệ hoa màu và cây cối
Đất Vũng Tàu nhiều cát, ít phù sa, nên không thích hợp cho việc trồng lúa Các hoa màu khác gồm có rau, cá, khoai mì,.v.v nhưng cũng chỉ cung ứng cho toàn thành phố Xóm Rẫy ở Thắng Tam chuyên sản xuất rau cải Đất cát Vũng Tàu rất thích hợp cho các loại cây ăn trái như mãng cầu, nhãn, vú sữa, xoài, mận, ổi,.v.v Dân chúng ở Thắng Nhứt và Phước Thắng trồng khá nhiều mãng cầu
h) Các mũi đá
Nơi đây có nhiều mũi đá cheo leo như mũi Đá trước tòa Bạch Dinh, mũi đá Cao Trang ở đầu đường vòng Núi Lớn, mũi Nghinh Phong, đây là một nơi thu hút một lượng lớn khách du lịch với sóng gió dồn dập, ba bề vách đá cheo leo vô cùng hùng
vỹ, quanh mũi có nhiều tảng đá lớn hình thù kì dị vô cùng lạ mắt
Trang 19Trên đường vòng quanh Núi Nhỏ sau khi qua khỏi bãi Vọng Nguyệt, có một hòn đảo nhỏ như một trái núi nhô lên mặt nước Khi thủy triều rút xuống người ta có thể đi bộ qua đây qua một một bãi đá lởm chởm, đó là Hòn Bà
2.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội
a) Tình hình kinh tế
Vũng Tàu có hai thế mạnh về phát triển dầu khí và du lịch
Đối với dầu khí, trữ lượng dầu khí lớn ngoài khơi cùng với những điều kiện sẵn
có về kinh tế - xã hội là cơ sở để Vũng Tàu trở thành trung tâm dầu khí lớn nhất cả nước Hiện nay, phần lớn năng lực sản xuất của ngành dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) nằm ở thành phố Vũng Tàu và tuyệt đại đa số sản phẩm dầu mỏ và khí đốt của Petrovietnam cũng được khai thác tại vùng biển Vũng Tàu
Liên doanh dầu khí Vietsovpetro là biểu tượng cho sự thịnh vượng của ngành dầu khí Việt Nam đồng thời cũng là biểu tượng cho tình hữu nghị Việt – Nga tại Vũng Tàu Với một dàn công nghệ trung tâm và 18 giàn khai thác khác, bộ máy thăm dò, khai thác dầu khí khổng lồ của Vietsovpetro đang được vận hành bởi đội ngũ 6.000 kỹ
sư, công nhân Việt Nam và Nga Trên địa bàn thành phố, các cơ sở hạ tầng phục vụ cho dầu khí như điện – nước, nhà ở,.v.v đã được xây dựng khá hoàn chỉnh Khu nhà ở năm tầng dành cho cán bộ, công nhân Việt Nam và Nga trong liên doanh Vietsovpetro được đặt tên là khu nhà Hữu Nghị mà một phần trong đó được người dân thành phố Vũng Tàu gọi thân mật là “Làng Nga”
Bên cạnh dầu khí, khu công nghiệp tập trung Đông Xuyên, nằm không xa trung tâm thành phố, rộng 160ha đã được đầu tư hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng, phục vụ chủ yếu các dự án dịch vụ dầu khí, dịch vụ hàng hải, sử chữa tàu biển và các ngành công nghiệp không độc hại Ngoài ra ngành đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản cũng là một thế mạnh, với khoảng 1.400 phương tiện, tổng công suất gần 10.000 CV, hằng năm sản lượng đánh bắt đạt khoảng 42 – 45 ngàn tấn/năm Sản lượng chế biến hải sản nhiều nhất là hải sản đông lạnh phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa
Vũng Tàu cũng là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam Doanh thu thương mại và dịch vụ du lịch trên địa bàn đạt khoảng 2.300 tỷ/năm Vũng Tàu hiện có khoảng 4.500 nhà hàng – khách sạn, trong đó có 18 khách sạn đã được xếp hạng từ 1
Trang 20b) Tình hình xã hội
Tình hình dân cư
Dân số khu vực thành phố Vũng Tàu tính đến cuối năm 2006 đạt khoảng 397.691 người, tỷ lệ gia tăng dân số chiếm khoảng 2,69 % trong đó tỷ lệ gia tăng cơ học chiếm 1,34%
Bảng 2.1 Gia Tăng Tỷ Lệ Dân Số Thành Phố Vũng Tàu và Tình Hình Di Dân (Số
Di Dân, Nhập Cư)
Dân số trung bình tăng do di dân
đô thị (chuyển đến trừ chuyển đi)
Người 17.716 19.588 20.609
Nguồn tin: Công ty cổ phần đầu tư SM - BĐ
Đa số đồng bào sinh sống tại Vũng Tàu là người Kinh, chỉ có một số ít là người Việt gốc Chàm Các tôn giáo chính là Đạo Phật, Thiên Chúa, Cao Đài, thờ cúng Tổ Tiên, Ông Bà
Giáo dục
Hệ thống trường học được xây dựng đúng qui cách, phân bố đều ở các phường trong thành phố Tại Vũng Tàu, Trường Cao Đẳng Cộng Đồng do Hà Lan tài trợ đã chính thức hoạt động Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có phân hiệu của một số trường đại học như Đại học Mỏ Địa Chất, Đại Học Thủy Sản Nha Trang, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Đại Học Sư Phạm TP.HCM, Đại Học Hàng Hải, Đại Học Tài Chính - Kế Toán, Đại Học Công nghệ TP.HCM Các phân hiệu này đã đào tạo hàng ngàn sinh viên trong nhiều ngành học khác nhau Trường đại học Kỹ Thuật Swinbume Vabis đang được triển khai tại Vũng Tàu
Y tế
Bệnh viện Lê Lợi trực thuộc TP Vũng Tàu với 250 giường bệnh đă được nâng cấp và đạt tiêu chuẩn ISO 9002 Đến nay, 100% phường, xã đã có trạm y tế
Trang 21Thể thao – Giải trí
Một số giải thi đấu lớn của khu vực và quốc tế đã diễn ra ở Vũng Tàu như giải
Cờ Vua Châu Á, giải cờ tướng các đội mạnh toàn quốc, giải quần vợt, bóng chuyền bãi biển,.v.v Đặc biệt, thành phố có nhà thi đấu đa năng 300 chỗ ngồi vừa khánh thành
Du lịch
Với khí hậu mát mẻ, bãi biển quanh năm có ánh mặt trời, nhiệt độ trung bình khoảng 270C; Vũng Tàu là nơi nghỉ mát lý tưởng Bờ biển (bao gồm nhiều đảo) dài 156km trong đó có 72km là những bãi biển cát trắng dành cho du lịch : Nhiều núi, đồi
và đụn cát, rừng thông và rừng nguyên sinh nằm dọc theo bờ biền duyên hải (khoảng 17000ha)
Những bãi cát dài, phẳng mịn, độ dốc thoai thoải, những con đường viền quanh chân Núi Lớn và Núi Nhỏ, nối liền các di tích và danh thắng nổi tiếng như ngọn Hải Đăng, Tượng Chúa Giang Tay, Niết Bàn Tịnh Xá, Bạch Dinh, Thích Ca Phật Đài,.v.v
là những yếu tố thuận lợi tạo ra lợi thế thu hút khách du lịch Mỗi năm thành phố này đón bình quân ba triệu lượt du khách Sự kết hợp hài hòa giữa quần thể thiên nhiên biển, núi cùng kiến trúc đô thị và các công trình văn hóa như tượng đài, chùa chiền, nhà thờ v.v tạo cho Vũng Tàu có ưu thế của thành phố du lịch biển tuyệt đẹp, đầy quyến rũ Vũng Tàu không có mùa đông, do vậy các khu nghỉ mát có thể hoạt động quanh năm Với đặc điểm khí hậu, thời tiết và thiên nhiên ưu đãi, Vũng Tàu đã và sẽ luôn là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước
Đế giữ chân du khách, thành phố đã có nhiều dự án cải tạo, nâng cấp các bãi biển cho sạch hơn như xây dựng Bãi Sau, cải tạo Bãi Trước, đầu tư xây đựng các khu vui chơi giải trí, các khu mua sắm,.v.v Hiện nay các dự án cáp treo Núi Lớn – Núi Nhỏ, tháp truyền hình kết hợp các nhà hàng ngắm cảnh trên Núi Lớn, đã được hình thành và đang tìm nguồn vốn đầu tư
Trang 22Hình 2.2 Bãi Dứa
Nguồn :www.baria-vungtau.gov.vn
2.2.4 Hạ tầng kỹ thuật
Các điều kiện hạ tầng kỷ thuật TP Vũng Tàu được tổng hợp và trích dẫn từ
“Nghiên cứu bổ sung Điều chỉnh Quy hoạch chung TP VT đến năm 2020”
a) Giao thông
Vũng Tàu có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, có một hệ thống giao thông tốt như đường quốc lộ 51, 55, 56 nằm trên trục đường Xuyên Á Từ Vũng Tàu, bạn có thể tiến đến sân bay quốc tế Long Thành nằm dọc theo tuyến đường Xuyên Á hay lộ cao tốc (đã được khoanh vùng), Tỉnh DN và các tỉnh Cao Nguyên dọc theo quốc lộ 56, nhiều cảng biển nối liền với các điểm đến trong nước và quốc tế
Đặc biệt đường quốc lộ 51 vừa được nâng cấp từ hai làn xe lên bốn làn xe đi lại rất thuận tiện, nhanh chóng Từ Vũng Tàu đi TP.HCM chỉ mất khoảng 2 - 2,5 giờ xe ôtô chạy Đường biển có thể đi đến khắp các nơi trong nước và quốc tế trong đó có hai tuyến chở khách quan trọng là tuyến Vũng Tàu đi TP.HCM bằng tàu Cánh Ngầm và tuyến Vũng Tàu đi Côn Đảo Về đường sông có các tuyến từ Vũng Tàu đi các Tỉnh Miền Tây Nam Bộ và Vũng Tàu đi Long Sơn Có thể nói giao thông đường thủy của Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hết sức thuận lợi, có tiềm năng lớn để phát triển Về đường hàng không, hiện Vũng Tàu có hai sân bay dùng cho máy bay trực thăng lên xuống phục vụ cho việc thăm dò, khai thác dầu khí, vận chuyển hành khách từ Vũng Tàu đi
Trang 23Côn Đảo, TP.HCM hoặc Singapore, sân bay có đường băng dài 1.800m Tóm lại TP Vũng Tàu là nơi có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán các tỉnh lân cận và quốc tế
Ngoài ra còn có: Một số cầu cảng Hải Quân do quân đội quản lý nằm trên sông Dinh Bến tàu khách đi Côn Đảo và các tỉnh miền Tây: Hiện nay chưa có bến cố định, vẫn đi tạm ở các cầu tàu Hải Quân, điều này gây nhiều trở ngại cho việc đi lại của hành khách Bến tàu khách cánh ngầm đi TP.HCM hiện nay đang đón và trả khách tại chân núi Nhỏ, phía trước khách sạn Hải Âu, song hiện nay chưa có cầu cảng và nhà ga hoàn chỉnh để phục vụ khách
Trang 24Đánh giá chung
TP Vũng Tàu có vị trí thuận lợi, có sẳn tiềm năng rất lớn về vận tải biển, gần đường hàng hải quốc tế, là đầu mối giao thông quốc tế bằng đường biển rất thuận lợi của cả nước và khu vực Đông Nam Á Song hiện nay đường biển đảm nhận 30% về hàng hóa và chỉ 3% về hành khách Tương lai cần xây dựng hệ thống cảng biển hiện đại để phát huy thế mạnh này tạo điều kiện cho vận tải đường thủy ở Vũng Tàu thu hút được nhiều hàng hóa và cả hành khách Ngoài ra, cần thiết phải nạo vét khơi thông dòng chảy một số con sông lớn tạo điều kiện cho vận tải đường thủy nội địa phục vụ các khu công nghiệp ở khu vực bờ sông Dinh
d) Thoát nước
Hệ thống thoát nước là hệ thống cống chung thu nước mưa và nước bẩn Hầu hết các hộ dân có thiết bị vệ sinh và có bể tự hoại nhưng do hệ thống cống đô thị không đồng bộ, chắp vá do nhiều cơ quan thiết kế và thi công nên việc thoát nước qua
bể tự hoại chủ yếu là qua giếng thấm Kết cấu gồm hai loại chủ yếu là cống tròn và nương nắp đan
Hướng thoát nước: Nước xã tự nhiên không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường, hiện nay đã xây dựng hệ thống cống bao nước bẩn tại Bãi Trước Tuy vậy vẫn không triệt để, nước bẩn vẫn xã ra rất mất vệ sinh Hồ Bầu Sen hiện nay vẫn làm chức năng điều hòa, nước bị ô nhiễm nặng không đảm bảo yêu cầu vệ sinh của một công viên thành phố Một số tuyến cống xây dựng mới trên đường Lê Hồng Phong, Trương Công Định, Nguyễn Du đã giải quyết thoát nước cho một số khu vực nhưng vẫn còn một vài điểm bị ngập úng khi mưa to do kích thước cống nhỏ, giếng thu nước thiếu không đáp ứng được lưu lượng thoát nước như khu Lam Sơn, khu chợ Cũ, Lê Lợi,.v.v
Hệ thống mương dẫn từ hồ Bầu Sen, Bầu Trũng, cống điều tiết Rạch Bà, cống điều tiết Hải Đăng và qua khu vực phường 10 có tiết diện mương hình thang B = 1m- 1,5m; m = 1-1,5 Cống điều tiết Rạch Bà và cống điều tiết Hải Đăng có bốn cửa có van đóng mở bằng cơ học, hiện nay hai cống này hoạt động tốt phục vụ đắc lực cho nông nghiệp
Trang 25e) Cấp nước
Hiện nay thành phố Vũng Tàu sử dụng nước của nhà máy nước Sông Dinh, có công suất 30.000m3/ngày, dây chuyền xử lý nước như sau: Nhà máy nước Sông Dinh đặt tại thị xã Bà Rịa, dẫn nước từ Vũng Tàu bằng tuyến ống 760mm, chiều dài 23km
về trạm bơm tăng áp tại thành phố Vũng Tàu
Trạm bơm tăng áp đặt 4 bơm Liên Xô có Hb = 45m, CS = 75w Bể chứa nước tại khu tăng áp có W = 6.800m3 Một đài nước đặt trên núi Lớn w = 3.400m3, cốt đáy
H = 42m, có hai đường ống 600mm, một ống cấp nước lên đài và một ống dẫn nước từ đài xuống
Hiện nay tiêu chuẩn cấp nước ở Vũng Tàu đạt 120 l/người/ngày, đạt 70% dân
số được cấp nước Tỷ lệ thất thoát là 22% Mạng lưới đường ống hiện còn tốt, áp lực nước điểm cuối mạng lưới đủ cấp cho nhà hai tầng Tổng chiều dài mạng lưới là 86km gồm: ống gang và nhựa PVC
f) Cấp điện
Thành phố Vũng Tàu được cấp điện từ hệ thống điện miền Nam 110 KV mà trực tiếp là nhà máy điện Bà Rịa Sân phân phối điện của nhà máy điện Bà Rịa có ba cấp điện áp: Điện áp máy phát: 11,5KW, điện áp tăng áp: 110KV và 220KV Ngoài ra, tại cảng dầu khí của liên doanh dầu khí Vietsopetro có một trạm phát điện diezel
Nhận xét hiện trạng: Tốc độ phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Vũng Tàu
cao, nguồn và lưới điện (kể cả cao, trung và hạ thế) đã đáp ứng được yêu cầu gia tăng của phụ tải
g) Hệ thống thoát nước bẩn
Hệ thống thoát nước bẩn của thành phố Vũng Tàu hiện tại là hệ thống chung cho cả nước bẩn và nước mưa Mật độ cống phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thành phố Kết cấu các tuyến cống chủ yếu là cống ngầm bằng bê tông cốt thép, có kích thước D600 – D1500mm Hướng thoát nước là ra các hồ Á Châu, Bàu Sen, Rạch Bà và ra sông Dinh
Tại khu vực Bãi Trước đã xây dựng tuyến cống bao D500mm và trạm bơm nước bẩn công suất 2.250m3/ngđ Trạm bơm này thu nước bẩn dồn về hồ Bàu Sen
Trang 26bằng đường cống áp lực D250mm Sau khi xây dựng tram bơm này môi trường của khu vực Bãi Trước được cải thiện
2.2.5 Khái quát tình hình phát triển kinh tế TP VT
Theo báo cáo của KTS Nguyễn Thị Xuân Hoa và các cộng sự, 7/2005: “Nghiên cứu bổ sung Điều chỉnh Quy hoạch chung Thành phố VT đến năm 2020” có một số nét chính như sau:
Một số chỉ tiêu phát triển: Theo tài liệu của UBND thành phố VT, năm 2003 thành phố đạt một số chit tiêu phát triển kinh tế - xã hội như sau:
Quy mô dân số: 242.262 người
Tỷ lệ tăng tự nhiên: 1,26%
GDP trên địa bàn: 48.113 tỷ đồng
GDP trên địa bàn nếu không kể dầu khí: 6.840 tỷ đồng
Thu nhập bình quân đầu người: 14.592 USD/người
Nếu không kể dầu khí: 1.947 USD/người
Số lượt khách du lịch: 2.550.000 lượt người
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm qua tương đối ổn định, đạt mức 15,3%, nếu không kể dầu khí đạt mức 10,6% Dầu khí là ngành công nghiệp có tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu GDP của thành phố
Đối với ngành thương mại – dịch vụ - du lịch: Là một trong những ngành mũi nhọn của thành phố, trong những năm qua tốc độ tăng trưởng bình quân là 16,6% Năm 2003 đã có 2,55 triệu lượt khách, trong đó có 150.000 lượt khách quốc tế, doanh thu gần 250 tỷ đồng Hiện tại thành phố có 61 khách sạn, trong đó có 5 khách sạn 3 sao, 9 khách sạn 2 sao, 5 khách sạn 1 sao, tổng quy mô là 3100 phòng và thu hút khoảng 4000 – 4500 lao động
Công nghiệp địa phương: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương do thành phố quản lý chủ yếu là các ngành đóng sửa tàu thuyền, sản xuất gạch men, đồ mộc, chế biến hải sản,.v.v đáp ừng chủ yếu cho nhu cầu địa phương
Ngành hải sản: Ngành hải sản Vũng Tàu có sản lượng đánh bắt là 48000 tấn, sản lượng nuôi trồng la 1100 tấn và vẫn là ngành có xu hướng thu hút lao động, cho thấy tuy có tỉ trọng thấp song ngành hải sản và nghề cá tại VT vẫn có một vai trò quan trọng đối với một bộ phận dân cư
Trang 27Các ngành kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn có bước phát triển không ngừng gồm 121 công ty TNHH, 155 doanh nghiệp tư nhân trong tổng số 1686 cơ sở kinh tế trên địa bàn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho gần 6 nghìn lao động
Theo đánh giá của UBND thành phố VT, tình hình kinh tế của thành phố trong những năm vừa qua tuy phát triển nhưng hầu hết các cơ sở có quy mô quá nhỏ, chưa khai thác được các tiềm năng và lợi thế, hiệu quả sản xuất chưa cao, trong đó: Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp công nghệ cũ, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh Ngành hải sản có sản lượng đánh bắt cao nhưng tỷ trọng xuất khẩu còn thấp Thương mại dịch vụ tư nhân, trong đó dịch vụ du lịch phát triển mạnh song chất lượng còn thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch địa phương
2.3 Tổng quan chung về khu Sao Mai – Bến Đình
Khu Sao Mai – Bến Đình nằm trên địa bàn phường 5 và phường 6, kênh Sao Mai – Bến Đình là một tuyến quan trọng trong hoạt động đường thủy ở Bà Rịa – Vũng Tàu Với thuận lợi có núi lớn che chắn nên kênh Bến Đình là nơi neo đậu an toàn cho tàu thuyền đánh cá thuộc ngư trường Đông Nam Bộ Bên cạnh chức năng trú bão, tiếp nhận nhiên liệu cho tàu thuyền hoạt động ở ngư trường Đông Nam Bộ, kênh Bến Đình còn là còn là nơi neo đậu thường xuyên của gần 50% tàu thuyền khai thác hải sản trong tỉnh
Bến Đình có diện tích gần 300ha, phần lớn Bến Đình có độ sâu luồng -13.5m
Độ sâu này đảm bảo cho tàu có trọng tải lớn đến 400.000 DWT (không hàng) ra vào
để sửa chữa, và cho tàu cỡ 30.000 DWT chở đầy hàng vào ra an toàn và không bị hạn chế về kích thước hình học của luồng tàu, cũng như không bị hạn chế bởi những hoạt động của thành phố
Ngoài ra Bến Đình nằm trong khu vực có hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển: Về giao thông đường bộ quốc lộ 51A nối liền Vũng Tàu với thành phố Hồ Chí Minh và các khu chế xuất, khu công nghiệp đang được tiến hành nâng cấp, tuyến đường cao tốc Vũng Tàu đi thành phố Hồ Chí Minh cũng đang được thực hiện Về giao thông đường thủy, nội địa cũng rất thuận tiện nối liền với sông Soài Rạp, Thị Vải và sông Sài Gòn Thuận lợi cho việc cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho căn cứ, cũng như phân phối xăng dầu, từ kho dự trữ đi các nguồn tiên thụ trên địa bàn Đông Nam Bộ
Trang 28CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lí luận
3.1.1 Một số khái niệm về môi trường, chức năng của môi trường và khái niệm
về ô nhiễm nguồn nước
a) Khái niệm về môi trường
Theo S.V Kalesnik (1959) thì “môi trường là chỉ một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp đối với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người”
Theo báo cáo toàn cầu (2000) thì “môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh con người” Mối quan hệ giữ loài người với môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa các cá thể con người với môi trường bị xóa nhòa đi
Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật BVMT đã được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì “môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
b) Chức năng của môi trường
Môi trường là một không gian sống của con người và các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất, là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
Trang 29c) Ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự có mặt của một số chất ngoại lai trong môi trường nước tự nhiên dù chất đó có hại hay không Khi vượt quá một ngưỡng nào đó thì chất đó sẽ trở nên độc hại đối với con người và sinh vật
d) Các nguồn gốc gây ô nhiễm nước
Sự ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo
Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: là do nhiễm mặn, nhiễm phèn, gió,
bão, lũ lụt,v.v Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố, đô thị, khu công nghiệp, kéo theo các chất bẩn xuống song, hồ hoặc các sản phẩm của hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể cả xác chết của chúng Sự ô nhiễm này còn gọi là ô nhiễm không xác định được nguồn
Sự ô nhiễm nhân tạo: chủ yếu là do xã thải từ các khu vùng dân cư, khu công
nghiệp, thuốc trừ sâu, diệt cỏ và phân bón trong nông nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông vận tải đường biển
3.1.2 Khái niệm về chất thải
Chất thải là những loại vật liệu mà người ta đã thải đi như một thứ vô giá trị Quan niệm về chất thải thường được xem xét theo nhận định về giá trị sử dụng đối với người sử dụng nó Chất thải mà ta xem xét ở đây bao gồm:
Thứ nhất, rác là loại chất thải ở dạng rắn, phát sinh từ hoạt động ở các đô thị và khu công nghiệp, bao gồm chất thải khu dân cư, chất thải từ các hoạt động thương mại, dịch vụ đô thị, y tế, công nghiệp và các hoạt động xây dựng
Chất thải rắn còn được định nghĩa: bao gồm tất các chất thải phát sinh do hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn được bỏ khi không còn hữu dụng hay không muốn dùng nữa
Thứ hai, nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó (Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980)
Ngoài ra người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng Đó cũng là cơ sở
Trang 303.1.3 Các nguồn phát sinh chất thải
a) Nguồn phát sinh nước thải
Nước thải sinh hoạt
Là nước sau khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt như: tắm rửa, giặt giũ, vệ sinh,v.v từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác
Lượng nước thải sinh hoạt của cộng đồng dân cư thải ra ngoài môi trường phụ thuộc vào:
Số lượng dân sống ở gần khu vực nghiên cứu
Tiêu chuẩn cấp nước
Khả năng của hầm chứa nước thải
Đặc điểm của hệ thống thoát nước
Đặc tính chung của nước thải sinh hoạt thường bị ô nhiễm bởi các chất cặn bã hữu cơ, các chất hữu cơ hoà tan (thông qua các chỉ tiêu BOD5/COD), các chất dinh dưỡng (Nitơ, Phospho), các vi trùng gây bệnh (E.Coil, Coliform), v.v
Mức độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào:
- Lưu lượng nước thải
- Tải trọng chất bẩn tính theo đầu người
Tải trọng chất bẩn tính theo đầu người phụ thuộc vào:
- Mức sống, điều kiện sống, tập quá sống
- Điều kiện khí hậu
Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất)
Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu Nước thải sản xuất được chia thành 2 loại:
Nước thải qui ước sạch: Giải nhiệt máy móc thiết bị, làm nguội một số sản phẩm không hoà tan (nhựa, cao su, da, v.v)
Nước thải nhiễm bẩn: Nhìn chung rất đa dạng tuỳ theo đặc điểm của từng ngành nghề sản xuất và chế độ vệ sinh công nghiệp, cần có những nghiên cứu khảo sát riêng
Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác
nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí
Trang 31Nước thải tự nhiên
Nước mưa được xem là nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chất lượng nước mưa khi chảy đến hệ thống thoát nước phụ thuộc vào độ trong sạch của khí quyển tại khu vực đang xem xét Nước mưa thường bị nhiễm bẩn nhiều nhất trong những trận mưa đầu mùa và trong thời gian đầu của mỗi cơn mưa
Thông thường nước mưa được “quy ước sạch” cho phép xã trực tiếp vào nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý Tuy nhiên trong một số trường hợp nước mưa vẫn có khả năng bị nhiễm bẩn với hàm lượng nước mưa vượt quá quy định xã thải cho phép Khi đó cần các biện pháp thu gom và xử lý đạt yêu cầu trước khi thải vào nguồn tiếp nhận
Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong
hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã, đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên
b) Nguồn phát sinh chất thải rắn: Được sinh ra do quá trình hoạt động của các hộ dân cư sinh sống và kinh doanh, gồm có:
Chất thải rắn sinh hoạt: được phát sinh trong sinh hoạt gia đình Chúng bao
gồm: rác do chế biến thức ăn, quét dọn nhà cửa, tro bếp và rác dọn vườn, các vật dụng
cũ, giấy vệ sinh, phân người,v.v Tại các nước phát triển thì chủ yếu là giấy, bao bì, túi nilon, kim loại, nhựa, vỏ lon
Thành phần rác thải sinh hoạt:
Bảng 3.1 Thành Phần Rác Thải Sinh Hoạt
Giấy Sách, báo, tạp chí và các vật liệu giấy khác
Kim loại Lon sắt nhôm, hợp kim các loại
Nhựa Chai nhưa, bao nilong và các loại khác
Chất hữu cơ Thức ăn thừa, rau trái, các chất hữu cơ khác
Nguồn tin: Công ty cổ phần đầu tư SM - BĐ
Chất thải thương mại: bao gồm rác của các cửa hàng, trạm xăng dầu, nhà
hàng, khách sạn, kho tàng và chợ Thành phần chủ yếu là các vật đựng, bao bì và các
Trang 32thực phẩm bỏ Tại các nước đang phát triển thì rác chợ chiếm một phần lớn của rác thương mại Rác chợ có một tỷ lệ chất hữu cơ rất cao do hàng ăn và và gánh bán rong vứt ra
Chất thải công sở: rác trường học, cơ quan, chất thải bệnh viện, nhà thờ, doanh trại
bộ đội, công an Chất thải cơ quan, trường học thì chủ yếu là giấy Chất thải ở các doanh trại thì giống như rác sinh hoạt gia đình Chất thải bệnh viện chứa nhiều chất thải nguy hiểm cho sức khỏe nhưng tại các nước nghèo vẫn cho thu gom cùng với rác sinh hoạt
Rác quét đường chứa nhiều đất bẩn, lá cây, vỏ lon, bao bì Tuy vậy ở Việt Nam
trong rác quét đường vẫn có nhiều rác sinh hoạt trong gia đình, phân người, phân súc vật, xác súc vật chết, bùn nạo vét cống
Chất thải xây dựng bao gồm: gạch ngói vỡ, cát, đất, vôi vữa
Chất thải vệ sinh phát sinh do yếu kém của hệ thống cống rảnh và nhà tiêu Phân
người tại các bể phốt của hố xí tự hoại, hố xí thùng, bùn nạo vét cống chưa được thu gom và vận chuyển đúng nơi quy định Việc thu dọn phân người vào ban đêm chưa được kiểm soát chặt chẽ do đó một số công nhân vệ sinh vẫn đổ phân lung tung vào những nơi không được phép
Chất thải công nghiệp gồm nhiều chủng loại được phát sinh trong quá trình hoạt
động sản xuất của nhà máy, xí nghiệp Chúng có thể là bao bì, phế thải chế biến thực phẩm, kim loại, vải sợi, nhựa, tro than, dầu mỡ, hóa chất thải bỏ, Các xí nghiệp lớn thường có hợp đồng thu gom và vận chuyển riêng, còn các xí nghiệp nhỏ nhiều khi đổ chất thải của mình vào rác thải sinh hoạt
Bảng 3.2 Thành Phần Một Số Chất Thải Rắn ở một Số Đô Thị ở Việt Nam Năm
2008
TT Thành phần
Hà Nội
Hải Phòng Hạ Long
Đà Nẵng
TP
HCM
1 Chất hữu cơ 50,1 50,58 40,1-44,7 31,50 41,45
3 Giấy, carton,giẻ nhựa 4,2 7,52 5,5-5,7 6,81 24,83
Trang 333.1.4 Tác động của chất thải
a) Tác động đến con người
Lượng rác và chất thải sau khi sử dụng được thải biển ra là nguyên nhân gây các chứng bệnh nguy hiểm cho con người như bệnh ung thư, các bệnh dịch khác, thông qua các con đường tiêu hoá, hô hấp, v.v Đặc biệt mùi hôi thối của nước thải gây các chứng bệnh như viêm xoang, nhức đầu, khó có khả năng phân biệt mùi cho những người dân sống gần khu vực bị ô nhiễm
Mùi hôi thối của nước thải còn tác động mạnh đến các em nhỏ, gây các chứng bệnh thường xuyên Ảnh hưởng đến sức khoẻ và khả năng tập trung của các em trong quá trình học tập
b) Tác động đến đời sống thuỷ sinh
Môi trường nước bị ô nhiễm dù ở mức độ nhẹ hay rất nặng cũng đều gây ra ảnh hưởng xấu đến khu vực biển, làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái, môi trường thủy sinh như: nấm, tảo, động vật nổi, động vật đáy và các loài thủy sản như: tôm, cá, cua, ghẹ
và các loại khác
c) Tác động đến nguồn nước
Tác động đến chất lượng nước mặt: Lượng rác thải và nước thải sau khi được
sử dụng được thải ra môi trường biển làm cho nguồn nước mặt ở khu vực có nguy cơ
bị ô nhiễm bởi các chất độc và chất hữu cơ có trong chất thải, làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người, đến cảnh quan, đến tài nguyên nước và các hoạt động khác
Xét về thành phần và tính chất, nước thải sinh hoạt gồm: dầu mỡ khoáng, cặn
bã hữu cơ, chất lơ lửng, các chất hữu cơ (thông qua chỉ tiêu BOD5 và COD), các chất dinh dưỡng (thông qua chỉ số N và P) và vi trùng Nếu không được xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, thì nó sẽ gây ảnh hưởng xấu đến khu vực xung quanh
Trị số BOD5 trong nước thải càng cao thì mức độ ô nhiễm hữu cơ càng lớn Khi thải ra nguồn tiếp nhận, nước thải sẽ làm giảm lượng oxy hòa tan (vốn rất quan trọng đối với đời sống của các loài thủy sinh)
Sự có mặt của các chất hữu cơ như : N, P trong nước thải nồng độ cao dễ gây ra hiện tượng phú nhưỡng hóa đất đai và nguồn nước tiếp nhận, tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh chóng các loài tảo Trong những điều kiện thiếu hụt chất dinh dưỡng,
Trang 34Với hàm lượng chất hữu cơ quá cao, hàm lượng cặn tồn đọng quá lớn, nước thải sau một thời gian tích lũy sẽ lên men và phân hủy, tạo ra mùi và khí đặc trưng ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường Hàm lượng oxy hòa tan bằng không do vậy các thủy sinh như tôm, cá,…không thể sinh sản được, chúng sẽ chết dần, còn một số phải di cư đến nơi khác sinh sống
Với các ảnh hưởng của các chất ô nhiễm kể trên khiến nước ở một số kênh, rạch không còn có thể sử dụng được nữa (thậm chí không thể sử dụng cho mục đích nông nghiệp được) Hậu quả làm nước bị bốc mùi thối, nước chuyển sang màu nâu - đen
Tác động đến chất lượng nước ngầm và đất: Lượng nước thải từ các nguồn
khác nhau khi xã thẳng ra môi trường sẽ đẩy nhanh nguy cơ suy thoái tầng nước ngầm trong khu vực và có ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm ở các khu vực lân cận vì
các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do nhiễm bẩn do quá trình ngấm kéo theo các chất ô nhiễm (hữu cơ, dầu mỡ, kim loại nặng,…) từ nước thải của khu vực đô thị
Thứ hai, sụt lún đất do giảm áp lực nước dưới đất, ảnh hưởng đến các công trình xây dựng trên mặt đất
Cuối cùng, còn có thể xảy ra hiện tượng suy thoái các tầng nước ngầm khu vực lân cận do quá trình thấm, v.v
3.1.5 Lý luận về cách ứng xử đối với việc gây ô nhiễm
a) Định nghĩa
Nghiên cứu cách ứng xử là một hình thức tham khảo ý kiến cộng đồng hay là một hình thức quản lý môi trường dựa vào cộng đồng, là phương thức bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề môi trường cụ thể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề đó Phương pháp này được sử dụng các công cụ sẳn có để tập trung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trường như dự án tái tạo năng lượng, phục hồi lưu vực, v.v Và đồng quản lý tài nguyên đó thông qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư
Hình thức nghiên cứu này là một phương tiện cho phép người dân trong cộng đồng có điều kiện tham gia vào quá trình ra quyết định Quá trình này đưa ra một giới hạn đầy đủ các bên tham gia, từ đó phá vỡ rào cản giữa các bên liên quan vào quá trình
Trang 35quản lý và xác lập khả năng tự trị Do đó, đây là một phương thức quan trọng cho sự tham gia thực sự của cộng đồng vào việc giải quyết các vấn đề của khu vực, duy trì tính công khai từ đó tạo ra hiệu quả cao trong việc xây dựng năng lực quản lý của chính quyền địa phương Với những lý do đó, tiếp cận, áp dụng và nhân rộng phương thức này là một trong những bước quan trọng hướng tới một xã hội phát triển bền vững
b) Mục tiêu của việc nghiên cứu cách ứng xử
Ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam với những ưu tiên cho phát triển kinh tế, điều không thể tránh khỏi là những vấn đề môi trường nảy sinh khi các chỉ số kinh tế tăng vọt Cùng với sự phát triển về kinh tế đó là việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên không hợp lý gây ô nhiễm môi trường Hiện nay ở Việt Nam, hầu như tất cả các thành phố có hoạt động công nghiệp phát triển đều đang trong tình trạng ô nhiễm trầm trọng
Do đó mục tiêu cơ bản của hình thức quản lý môi trường dựa vào cộng đồng là làm sao đảm bảo hệ sinh thái địa phương phát triển bền vững đủ cung cấp các giá trị sinh thái, cung cấp các lợi nhuận không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho các thế hệ mai sau bao gồm:
Thứ nhất, điều chỉnh các hoạt động của con người và những sự kiện tự nhiên như hệ sinh thái phát triển bền vững có thể làm cho cộng đồng an toàn hơn, sống lâu hơn,v.v
Thứ hai, nâng cao chất lượng xã hội: Hệ sinh thái phát triển bền vững cung cấp các dịch vụ làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng phát triển, nâng cao hơn mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người
Thứ ba, hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế ở địa phương: Một hệ sinh thái bền vững sẽ đáp ứng được những đòi hỏi của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau Mối quan hệ giữa hệ sinh thái và nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đối với những người đưa các quyết định vì nền kinh tế ở nhiều địa phương phụ thuộc vào sự phát triển du lịch, kinh doanh, buôn bán, giải trí, hải sản,v.v Chất lượng của hệ sinh thái gây ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị và sự phát triển của địa phương
Trang 36c) Ý nghĩa của sự tham khảo ý kiến cộng đồng
Là một quá trình nhằm dung hòa giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm lớn hơn của người dân và tác động tiềm ẩn của sự phát triển đi lên của môi trường
tự nhiên, văn hóa, xã hội Việc tham khảo ý kiến của chính quyền và nhân dân địa phương là cần thiết để đề ra các biện pháp làm giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối
đa hóa sự đóng góp tích cực của quần chúng địa phương
Ngoài ra việc tham khảo ý kiến của quần chúng nhân dân cũng là một phương pháp nhằm để tìm hiểu được rõ hơn cách thức mà người dân sử dụng để xử lý các chất thải rắn, rác thải sinh hoạt và nước thải Nó có ý nghĩa them chốt đề đề ra các biện pháp thích hợp để vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ và giữ gìn cảnh quan môi trường trong sạch, lành mạnh, làm cho chất lượng cuộc sống của cư dân trong khu vực được cải thiện và ngày càng nâng cao tạo nên một nền kinh tế ổn định và tăng trưởng hiệu quả hơn
3.1.6 Các nguyên tắc cơ bản trong việc tìm hiểu ý thức của người dân tại khu vực nghiên cứu
a) Tập trung vào một vùng cụ thể
Ranh giới của một khu vực địa lý có thể dựa trên vùng tự nhiên hay cộng đồng
xã hội bao gồm: khu vực xung quanh đô thị và ven đô thị hoặc các khu vực nhỏ như một thành phố, tỉnh hay một quốc gia,v.v Để quản lý môi trường dựa vào cộng đồng đạt hiệu quả cao, ranh giới địa lý cần được xác định để từ đó cụ thể hóa những vấn đề môi trường cần quan tâm trong khu vực Từ đó xác định nguyên nhân nguồn gốc phát sinh các vấn đề, khu vực địa lý sẽ được kết gắn trong một hệ thống tự nhiên rộng lớn hơn Vì thế, cần nhận thức và có một tầm nhìn sâu rộng để tiến hành các hoạt động phối hợp thích hợp với khu vực có liên quan đến vùng nghiên cứu
b) Cộng tác với các bên liên quan
Cụm từ “các bên liên quan” được khái quát hóa để chỉ tập hợp những người bị tác động từ các hoạt động liên quan đến những nổ lực bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng
Cư dân trong khu vực thuộc “các bên có liên quan”, cũng như là người không phải là cư dân trong khu vực nhưng họ có liên quan đến cơ sở hạ tầng và các nguồn tài
Trang 37nguyên trong khu vực thì cũng thuộc thành phần có liên quan Thành phần các bên có liên quan bao gồm: các thành viên của cộng đồng, công dân, doanh nghiệp, những người chủ đất và các tổ chức pháp luật, các nhóm bảo tồn môi trường, viện nghiên cứu, các tổ chức chính quyền các cấp trong khu vực Khi thực hiện việc quản lý môi trường dựa vào cộng đồng, cần tiến hành thảo luận, tìm ra các quyết định mang tính tổng hợp, trong đó cần nhấn mạnh việc chia sẽ trách nhiệm cộng đồng trong quá trình đưa ra các quyết định Trong phạm vi của đề tài, các bên liên quan ở đây bao gồm:
Cục Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Quản lý các vấn đề
về đất đai, vệ sinh và môi trường
Các hộ dân sống và kinh doanh ở khu vực Sao Mai- Bến Đình: Có trách nhiệm phối hợp cùng với tổ quản lý đô thị trong khu vực nhằm tìm hiểu các cách thức mà người dân sử dụng để xử lý rác thải
Đội quản lý trật tự đô thị: Trực tiếp quản lý các vấn đề môi trường ở khu vực Tiến hành kiểm tra,phát hiện, lập biên bản xử phạt các hành vi gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường Chịu trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện công tác BVMT
c) Bảo vệ và phục hồi chất lượng môi trường không khí, nước, đất và nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng
Bằng cách tiếp cận hệ thống và tổng hợp các vấn đề môi trường hiện tại được nhận diện cụ thể hơn, rõ ràng hơn và chính xác hơn, nhằm đánh giá các tác động môi trường từ các hoạt động đa dạng của con người và tiến đến mục đích là tập trung giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường và bảo tồn các nguồn tài nguyên trong khu vực như: nước, đất và sinh vật
d) Tích cực các mục tiêu về môi trường, kinh tế, xã hội
Cách tiếp cận quản lý môi trường dựa vào cộng đồng nhằm tìm kiếm các giải pháp để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, giữ cho môi trường trong lành hơn, phục hồi các chức năng về môi trường, chất lượng cuộc sống dân cư trong khu vực được cải thiện và ngày càng nâng cao Và một nền kinh tế ổn định và tăng trưởng hiệu quả hơn, để đảm bảo điều kiện nêu trên nhằm hướng đến sự phát triển bền vững, khi
áp dụng quản lý môi trường dựa vào cộng đồng, cần quan tâm, bồi dưỡng, đảm bảo về
Trang 38năng lực và kiến thức chuyên môn cho các nhà quản lý địa phương, trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường
e) Sử dụng việc quản lý có điều chỉnh
Quản lý tài nguyên môi trường dựa vào cộng đồng là một cách tiếp cận kéo dài, lặp đi lặp lại để cộng đồng nhận ra các giá trị của sự cải tiến đổi mới và xác định các mối nguy cơ, sự cố Do đó, các dự án và sự hợp tác cần được quản lý, điều chỉnh để mang lại hiệu lực và các nổ lực quản lý môi trường dựa vào cộng đồng cũng cần được sửa đổi, cải tiến khi cần thiết trong quá trình phối hợp thực hiện và dựa vào kinh nghiệm thực hiện, các thông tin mới và các kỉ thuật công nghệ hiện đại
f) Các yếu tố cơ bản của quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
Xác định các nguy cơ, thách thức về môi trường tại khu vực đang xét
Xác định các mục tiêu trước mắt và lâu dài
Xây dựng chương trình hành động và bảo vệ môi trường
Triển khai chương trình và dự án được sự chấp thuận và quan tâm xuyên suốt của chính quyền địa phương
Có sự cam kết và tham gia tích cực của cộng đồng
Thành công của các chương trình, dự án tùy thuộc vào sự cam kết và hành động của những người đứng đầu các nhóm cộng đồng và chính quyền địa phương trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về môi trường
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: Điều tra thu thập số liệu thứ cấp từ Chi Cục Tài Nguyên Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số liệu sơ cấp: Lập bảng câu hỏi điều tra rồi phỏng vấn ngẫu nhiên đối với các
hộ dân sống và kinh doanh, buôn bán ở ven khu vực ven kênh Bến Đình Tổng số mẫu điều tra là 50 mẫu
3.2.2 Phương pháp mô tả
Trên cơ sở các phương pháp đã nêu ở trên, đề tài tiến hành sử dụng phương pháp mô tả để có cái nhìn trực tiếp về hiện trạng xã thải của người dân trong khu vực nghiên cứu
Trang 39Đây là phương pháp sử dụng các số liệu có sẳn ở quá khứ và thu thập được ở hiện tại từ các hộ dân, vấn đề kinh tế xã hội, nhằm tìm hiểu được thực trạng và tình hình trong khu vực nghiên cứu Mô tả được thực trạng xã thải của người dân trong khu vực nghiên cứu (mức độ xã thải, doanh thu của người dân, chi phí, v.v) Từ đó cho ta được kết quả như đã đưa ra trong mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng hàm các nhân tố ảnh hưởng ý thức của người dân
Trong quá trình sinh hoạt, kinh doanh, buôn bán, đánh bắt hải sản, việc người dân xã thải nhằm mục đích:
- Tiết kiệm chi phí
- Tăng thu nhập
- Nhận được sự hổ trợ của nhà nước
Đây là phương pháp định tính, trả lời câu hỏi có hay không ảnh hưởng của nhận thức con người với các yếu tố trên
Trong quá trình điều tra, phỏng vấn thu thập số liệu do sự hạn chế về nguồn số liệu thu thập được nên ta thiết lập hàm ý thức bao gồm các biến sau: Trình độ học vấn, thu nhập, tuyên truyền xã hội Đây là các biến chính có ảnh hưởng đến ý thức của người dân nhiều nhất, từ đó ta xây dựng hàm hồi quy tuyến tính của hàm ý thức có dạng:
Y = β0 + β1 TN+ β2 TD+ β3 TT
Trong đó:
Y : Là ý thức của người dân
TN: Thu nhập của người dân trong khu vực
TD: Trình độ học vấn
TT: Biến giả ( 1= có tuyên truyền; 0 = không tuyên truyền )
i: cá nhân i ( với i nhận các giá trị i= 1, 2, 3 )
Bảng 3.3 Kỳ Vọng Dấu Cho Hệ Số của Mô Hình Ước Lượng
1 Thu nhập bình quân đầu người TN + ( Dương)
Trang 40Theo hàm số trên ta thấy, ý thức của người dân phụ thuộc vào các yếu tố : Thu nhập bình quân đầu người, trình độ học vấn và tuyên truyền xã hội Sự thay đổi của các nhân tố này đều có ảnh hưởng đến ý thức của người dân Cụ thể :
Thứ nhất là thu nhập: Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ quan tâm đến môi trường, thông thường thu nhập được kỳ vọng đồng biến vì khi thu nhập càng cao người dân có khả năng tiếp cận được nhiều loại thông tin như : sách vở, báo chí,.v.v, các hoạt động giải trí mang tính học hỏi như: du lịch, vì vậy những hiểu biết về môi trường sẽ mở mang hơn Vì vậy chúng ta kì vọng β1 của thu nhập mang dấu dương (+), tuy nhiên điều này chưa thể kết luận được vì có khi thu nhập cao nhưng do công việc quá bận rộn khiến cho họ không có thời gian quan tâm tới môi trường xung quanh
Thứ hai là trình độ học vấn: Trình độ học vấn càng cao thì khả năng nhận thức
về môi trường của con người càng gia tăng vì họ có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với nền văn minh tiến bộ, sự hiểu biết sâu sắc hơn, do đó khả năng đánh giá giá trị một tài nguyên môi trường là khá chính xác Vì vậy, ta kỳ vọng hệ số β2 trong mô hình mang dấu dương
Cuối cùng là biến tuyên truyền : Đây là biến giả trong mô hình, ta kỳ vọng khi người dân được tuyên truyền càng nhiều thì ý thức bảo vệ môi trường càng gia tăng và ngược lại Với cách mã hóa biến giả thể hiện yếu tố tuyên truyền xã hội như trên, hệ số
β3 được kỳ vọng mang dấu dương