1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI HỒ ĐA NHIM HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG

93 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do loại hình du lịch sinh thái chưa được phát triển ở Đa Nhim nên việc xác định giá trị tiềm năng du lịch sinh thái Đa Nhim chủ yếu dựa vào hoạt động du lịch ở Đà Lạt.. DANH MỤC CÁC PHỤ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI

HỒ ĐA NHIM HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

PHẠM THỊ ÁNH NGUYỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2009

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại

Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Xác Định Giá Trị Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Hồ Đa Nhim tại Huyện Đơn Dương - Tỉnh Lâm Đồng” do Phạm Thị Ánh Nguyệt, sinh viên khóa 2005 – 2009, ngành Kinh Tế Tài

Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _.

Đặng Minh Phương Người hướng dẫn,

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Bốn năm học là khoảng thời gian không dài trong cả cuộc đời tôi, nhưng đó là khoảng thời gian quý giá mà có lẽ không bao giờ tôi quên được Trong khoảng thời gian làm luận văn tốt nghiệp này, có những lúc tự thân vận động tôi cảm thấy mình cô đơn, nhiều lúc tôi nghĩ mình sẽ không làm được gì cả nhưng chính sự động viên của ba

mẹ, thầy cô, bạn bè đã giúp tôi vượt qua tất cả Cuối cùng khóa luận đã được hoàn thành với tất cả sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi Bên cạnh đó, nó cũng là kết quả của sự động viên, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần và kiến thức của nhiều cá nhân, tổ chức Để có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin:

Cảm ơn ba mẹ đã sinh thành, không ngại vất vả, hy sinh, đã luôn dõi theo từng bước đi của con từ khi con mới biết đến trường để con được bước tiếp con đường mà mình đã chọn Xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ cho tôi

Gửi đến thầy TS Đặng Minh Phương lòng biết ơn chân thành nhất Cảm ơn Thầy đã rất nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích, và

sự hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này

Cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, Ban Chủ Nhiệm và các Thầy Cô giảng dạy trong Khoa Kinh Tế, cùng tất cả các bạn lớp Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường khóa 31 đã gắn bó với tôi trong suốt 4 năm học vừa qua

Cảm ơn các Anh Chị, các Cô Chú làm việc ở các Phòng Ban thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng, Ban quản lý hồ Đa Nhim, Ủy ban nhân dân huyện Đơn Dương đã tận tình tạo điều kiện giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 06 năm 2009 Sinh viên

Phạm Thị Ánh Nguyệt

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

PHẠM THỊ ÁNH NGUYỆT Khoa Kinh Tế, Đại Học Nông Lâm Thành phố

Hồ Chí Minh Tháng 06 năm 2009 “Xác Định Giá Trị Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Hồ Đa Nhim tại Huyện Đơn Dương - Tỉnh Lâm Đồng”

PHAM THI ANH NGUYET Faculty of Economics, Nong Lam University –

Ho Chi Minh City June 2008 “Evaluation of The Ecotourism Potential of Da Nhim Lake at Don Duong District - Lam Dong Province”

Khoá luận hướng đến mục tiêu là xác định được giá trị tiềm năng du lịch sinh thái hồ Đa Nhim Do loại hình du lịch sinh thái chưa được phát triển ở Đa Nhim nên việc xác định giá trị tiềm năng du lịch sinh thái Đa Nhim chủ yếu dựa vào hoạt động

du lịch ở Đà Lạt

Với nguồn số liệu từ cuộc điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 100 khách du lịch tại thành phố Đà Lạt đề tài đã tìm ra giá trị tiềm năng khi Đa Nhim được Nhà Nước cho phép mở ra hoạt động du lịch sinh thái trong một năm là: 586,246 tỷ đồng

Tổng giá trị của du lịch sinh thái hồ Đa Nhim ứng với các suất chiết khấu khác nhau từ 8 đến 12% là: 7.328,075 tỷ đồng với suất chiết khấu 8 %, 5.826,46 tỷ đồng với suất chiết khấu 10% và 4.885,38 tỷ đồng với suất chiết khấu 12% Từ những con số trên cho thấy giá trị tiềm năng của hồ Đa Nhim là rất lớn

Ngoài ra đề tài cũng xác định được tổng giá trị kinh tế do du lịch mang lại cho thành phố Đà Lạt trong một năm là: 2.038,3 tỷ đồng

Tổng giá trị du lịch của thành phố Đà Lạt ứng với các suất chiết khấu: 25.478,75 tỷ đồng với suất chiết khấu 8%, 20.383 tỷ đồng với suất chiết khấu 10%, 16.985,83 tỷ đồng với suất chiết khấu 12%

Thông qua kết quả nghiên cứu và phân tích khóa luận cũng hướng đến đề xuất những định hướng phù hợp để đủ điều kiện đưa loại hình du lịch sinh thái vào Đa Nhim

Trang 5

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3 1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận 3

2.1 Tổng quan về hoạt động du lịch Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng 5

2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 6

2.2.1 Tổng quan về huyện Đơn Dương 6

2.3 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 12

2.3.2 Tài liệu nghiên cứu trong nước 12 CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Cơ sở lý luận 14

3.1.1 Du lịch sinh thái và phát triển bền vững du lịch sinh thái 14 3.1.2 Khái niệm khách du lịch 17 3.1.3 Khái niệm, phân loại và những yếu tố ảnh hưởng đến cầu du lịch 18

v

Trang 6

3.1.4 Cơ sở xác định giá trị của một tài nguyên du lịch 23 3.2 Phương pháp nghiên cứu 23

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 23 3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 24

3.2.4 Phương pháp TCM (Travel cost method) – phương phápchi phí du hành 25 3.2.5 Phương pháp xây dựng hàm cầu du lịch 31

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Hoạt động du lịch tại thành phố Đà Lạt – Lâm Đồng 34

4.1.1 Số lượt du khách đến Đà Lạt từ năm 2002 – 2008 34 4.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch từ năm 2004 – 2008 35 4.2 Những đặc điểm kinh tế - xã hội, hành vi của khách du lịch trong nước 36

4.2.1 Những đặc điểm xã hội của khách du lịch 36 4.2.2 Đặc điểm kinh tế (thu nhập) của khách du lịch 39 4.2.3 Những đặc điểm về nhu cầu, hành vi của khách du lịch 40

4.2.4 Đánh giá của khách khi đến Đà Lạt và những dự định mới 46 4.3 Xây dựng và phân tích hàm cầu du lịch Đà Lạt khi có du lịch sinh thái hồ

4.6 Những định hướng phát triển du lịch sinh thái ở hồ Đa Nhim 55

4.6.1 Định hướng phát triển loại hình du lịch và sản phẩm du lịch 55 4.6.2 Định hướng đầu tư về cơ sở vật chất 56 4.6.3 Định hướng bảo tồn các hệ sinh thái 57

4.6.4 Định hướng về phát triển các tuyến du lịch sinh thái 58

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPDH Chi Phí Du Hành

DLST Du lịch Sinh thái

IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới

(International Union for conversation of Nature)

ITCM Phương Pháp Chi Phí Du Hành Theo Cá Nhân

(Individual Travel Cost Method)

NPV Hiện Giá Ròng (Net Present Value)

OLS Phương pháp bình phương tối thiểu thông thường

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1 Kỳ Vọng Dấu Cho Các Hệ Số của Mô Hình 32

Bảng 4.1 Số Lượt Khách đến Đà Lạt qua Các Năm 34

Bảng 4.2 Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Du Lịch qua Các Năm 35

Bảng 4.3 Tỷ Lệ Khách Du Lịch Phân theo Nghề Nghiệp 37

Bảng 4.4 Tỷ Lệ Khách Du Lịch Phân theo Thu Nhập Trung Bình 39

Bảng 4.5 Tỷ Lệ Khách Du Lịch Phân theo Địa Chỉ Nhà 40

Bảng 4.6 Phân Nhóm Khách Du Lịch theo Số Người trong Nhóm 44

Bảng 4.7 Các Địa Điểm Du Lịch Thay Thế 45

Bảng 4.8 Kết Quả Ước Lượng của Mô Hình Hàm Cầu Du Lịch 48

Bảng 4.9 Kiểm Tra Lại Dấu Các Thông Số Ước Lượng của Mô Hình Đường Cầu 48

Bảng 4.10 R2aux của Các Mô Hình Hồi Quy Bổ Sung 50

Bảng 4.11 Giá Trị Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái của Hồ Đa Nhim Thể Hiện ở Các

Mức Suất Chiết Khấu 54

Bảng 4.12 Tổng Giá Trị Du Lịch của Thành Phố Đà Lạt Thể Hiện ở Các Mức Suất

Chiết Khấu 55

ix

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.2 Đường Cầu Số Lần Đi Du Lịch từ Vùng Z 29

Hình 4.1 Biểu Đồ Khách Du Lịch Phân theo Trình Độ 36

Hình 4.2 Đồ Thị Khách Du Lịch Phân theo Độ Tuổi 38

Hình 4.3 Biểu Đồ Khách Du Lịch Phân theo Giới Tính 39

Hình 4.4 Đồ Thị Khách Du Lịch Phân theo Độ Dài Đường Đi 41

Hình 4.5 Biểu Đồ Khách Du Lịch Phân theo Phương Tiện 41

Hình 4.6 Biểu Đồ Khách Du Lịch Phân theo Hình Thức Đi Du Lịch 42

Hình 4.7 Biểu Đồ Khách Du Lịch Phân theo Lý Do Đi Du Lịch 43

Hình 4.8 Đồ Thị Khách Du Lịch Phân theo Thời Gian Lưu Trú 43

Hình 4.9 Biểu Đồ Khách Du Lịch Phân theo Các Hoạt Động Thay Thế 45

Hình 4.10 Biểu Đồ Khách Du Lịch Phân theo Mức Độ Hài Lòng 46

Hình 4.11 Biểu Đồ Dự Định Đi Thăm những Khu Du Lịch Mới ở Đà Lạt 46

Hình 4.12 Dự Định Đi Thăm Hồ Đa Nhim ở Đơn Dương 47

Hình 4.13 Đường Cầu Du Lịch Đà Lạt 51 Hình 4.14 Đường Cầu Du Lịch Đà Lạt có Du Lịch Sinh Thái Đa Nhim 51

Hình 4.15 Hai Đường Cầu Du Lịch Thể Hiện Trên cùng Một Đồ Thị 52

Trang 11

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết xuất Eviews mô hình đường cầu du lịch chạy bằng phương pháp OLS Phụ lục 2: Kết xuất kiểm định White mô hình đường cầu du lịch chạy bằng phương pháp OLS

Phụ lục 3: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình đường cầu

Phụ lục 4: Kết xuất các mô hình hồi quy phụ

Phụ lục 5: Bảng giá trị thống kê mô tả các biến trong mô hình đường cầu du lịch

Phụ lục 6: Kiểm định giả thiết cho mô hình

Phụ lục 7: Kiểm Tra Các Vi Phạm Giả Thiết trong Mô Hình

Phụ lục 8: Một số hình ảnh về hồ Đa Nhim

Phụ lục 9: Critical Values for the Durbin-Watson Test: 5% Significance Level

Phụ lục 10: Bảng câu hỏi phỏng vấn

xi

Trang 12

Nghị quyết Đại hội VII Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, UBND tỉnh đã đề ra chương trình phát triển du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng - hội nghị, hội thảo với mục tiêu: đẩy mạnh tốc độ phát triển du lịch đạt mức tăng trưởng hàng năm từ 21-22%; tập trung đầu

tư phát triển Đà Lạt – Lâm Đồng trở thành một trung tâm du lịch tầm quốc gia và quốc

tế và sớm đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế động lực của tỉnh

Đà Lạt với nhiều cảnh đẹp mà khi đến khách du lịch không muốn rời bước, ở đây thời tiết mát mẻ, không khí trong lành, không gian yên tĩnh rất thích hợp để nghỉ ngơi thư giãn và tham quan Bên cạnh nhiều địa điểm tham quan du lịch như: Hồ Tuyền Lâm, Hồ Xuân Hương, Thung lũng tình yêu, núi LangBiang, thác Cam Ly, thung lũng Vàng v.v thì còn có những địa điểm khá hấp dẫn xong chưa được khai thác tiềm năng chẳng hạn hồ Đa Nhim cũng là một thắng cảnh hết sức hùng vĩ nhưng cũng không kém phần thơ mộng

Trang 13

Đập và hồ Đa Nhim là một công trình giữ nước và chứa nước dùng để vận hành nhà máy thủy điện Đa Nhim cung cấp nguồn điện năng lớn cho các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, khu công nghiệp Thủ Đức v.v, là tài sản vô cùng quý giá của toàn dân, trực tiếp phục vụ cho sản xuất, đời sống và đặc biệt là phục

vụ công cuộc bảo vệ, phòng thủ đất nước, v.v Ngoài ra, mỗi năm cung cấp hơn 550 triệu m3 nước cho 20.000 ha đất nông nghiệp cho tỉnh Ninh Thuận

Hồ Đa Nhim cách Đà Lạt 36 km về phía Đông Bắc có cảnh quan thơ mộng, tuyệt vời của nước, rừng, núi, thung lũng Nó từng là nơi nghỉ mát, săn bắn của vua Bảo Đại và các cận thần thời phong kiến cuối nhà Nguyễn

Vì sao Đa nhim chỉ được biết đó là đập nước phục vụ cho thủy điện, nông nghiệp mà chưa phải là một khu du lịch giải trí, phát triển nuôi trồng thủy sản trong khi Đa Nhim có lượng nước khá dồi dào và thực sự rất ấn tượng đối với ai đã từng một lần được đến đó?

Ngoài những giá trị có thể thấy trực tiếp như giá trị về thủy điện, phục vụ nông nghiệp giá trị hồ Đa Nhim có thể tăng thêm so với hiện tại khi thực hiện chiến lược phát triển du lịch sinh thái có kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học, loại hình câu cá giải trí, cần phải có những công trình nghiên cứu về định giá để từ đó khuyến khích phát triển thêm nhiều nguồn lợi kinh tế mới Khả năng phát triển du lịch sinh thái ở hồ Đa Nhim có triển vọng như thế nào? Giá trị kinh tế của du lịch sinh thái và giải pháp như thế nào để phát triển du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho Tỉnh cũng như người dân? Trả lời những câu hỏi này chính là hướng mà đề tài này muốn thực hiện Xuất phát từ thực tế trên cũng như muốn tìm hiểu thêm về đập Đa nhim cùng với sự đồng ý của ban quản lý hồ Đa Nhim và sự hướng dẫn của thầy TS Đặng Minh Phương đề tài nghiên

cứu “Xác Định Giá Trị Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Hồ Đa Nhim tại Huyện Đơn Dương – Tỉnh Lâm Đồng” được tiến hành thực hiện Đề tài dựa trên kết quả

khảo sát từ khách du lịch Đà Lạt, đề tài cũng gắn với mục tiêu phát triển du lịch sinh thái đến năm 2010 của tỉnh Lâm Đồng tập trung đầu tư phát triển các dự án du lịch trọng điểm Đan Kia - Suối Vàng, khu hồ Tuyền Lâm, núi Voi, khu du lịch sinh thái Cam Ly – Mănglin, rừng Đạ Chay, Đạ Sar, hồ Đa Nhim, khu du lịch sinh thái văn hoá Cát Tiên, v.v

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

2

Trang 14

1.2.1 Mục tiêu chung

Xác định giá trị tiềm năng và khả năng phát triển du lịch sinh thái của hồ Đa

Nhim

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Phân tích thực trạng hồ Đa Nhim

- Xác định giá trị tiềm năng du lịch sinh thái của hồ Đa Nhim

- Đề xuất những định hướng phát triển tiềm năng du lịch sinh thái hồ Đa Nhim

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận

1.3.1 Phạm vi thời gian

Đề tài thực hiện trong khoảng thời gian từ 02/03/2009 đến16/06/2009 Trong đó khoảng thời gian từ ngày 7/3 đến ngày 06/4 tiến hành thu thập số liệu thứ cấp, điều tra thử và điều tra chính thức thông tin về số liệu sơ cấp và nhập số liệu Thời gian còn lại tập trung vào xử lý số liệu, chạy mô hình, viết báo cáo

- Những định hướng để Đa Nhim trở thành khu du lịch sinh thái

1.3.4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là khách tham quan du lịch tại TP Đà Lạt

1.4 Cấu trúc của khóa luận

Đề tài bao gồm năm phần chính và được chia thành năm chương như sau:

Chương 1 Mở đầu

Trang 15

Trình bày sự cần thiết, lý do vì sao lại chọn đề tài này Từ đó đề ra những mục tiêu chính và cụ thể để thực hiện trong suốt thời gian thực hiện khóa luận Và giới thiệu về nội dung của khóa luận, khóa luận được thực hiện ở đâu, trong khoảng thời gian nào và cấu trúc khóa luận được trình bày ra sao

Chương 2 Tổng quan

Chương này nhằm giới thiệu tình hình hoạt động du lịch tại thành phố Đà Lạt

và đặc điểm tự nhiên của hồ Đa Nhim, tổng quan về những tài liệu nghiên cứu trước đây về định giá giá trị du lịch sử dụng TCM ở các nước và Việt Nam

Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu, cơ sở cho việc sử dụng phương pháp TCM và mô hình OLS được sử dụng để phân tích dữ liệu điều tra, về phương pháp nghiên cứu thì ngoài những phương pháp cơ bản như: phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, tính toán, tổng hợp thì chương này cũng trình bày rõ phương pháp TCM được sử dụng để thực hiện điều tra thu thập số liệu sơ cấp

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Tóm lược kết quả nghiên cứu, nhận xét những hạn chế của đề tài, và đề xuất những giải pháp phát triển loại hình du lịch sinh thái ở hồ Đa Nhim

4

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan về hoạt động du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng

Đà Lạt, một thành phố nằm ở Nam Tây Nguyên được bác sĩ A.E.Yersin phát hiện và đã được người Pháp xây dựng thành phố nghỉ dưỡng Trải qua hơn 110 năm hình thành và phát triển Đà Lạt vẫn giữ vững chức năng nghỉ dưỡng được đặt ra từ đầu

Đà Lạt nằm ở độ cao 1.500 m so với mặt nước biển, địa hình phân thành nhiều bậc cao thấp, nền nhiệt độ của Đà Lạt khá thấp so với các nơi khác trong miền cùng vĩ

độ, nhiệt độ trung bình dao động từ 17 – 180C, chế độ mưa ở Đà Lạt cũng ôn hoà thường bắt đầu giữa tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 Tổng lượng mưa trong năm dao động từ 1900 đến 2100 mm/năm Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1800 đến

2000 giờ

Đà Lạt nổi tiếng là thành phố của hồ và thác, đến Đà Lạt du khách không thể quên được vẻ hùng vĩ của cảnh quan ghềnh thác, những dòng chảy trên cao nguyên Lang Biang trước khi đổ xuống cao nguyên bên dưới đã chảy trên vô số ghềnh thác lớn nhỏ Ngoài các thác đã nổi tiếng từ lâu: thác Datanla, thác Prenn, thác Cam Ly, v.v du khách thích mạo hiểm có thể khám phá ra nhiều thác khác cũng không kém xinh đẹp và hùng vĩ quanh Đà Lạt như thác Sơrailen, thác Huỳnh Chước, thác Hang Cọp, thác Bảy Tầng, thác Uyên Ương, v.v về phía Nam Ban còn có thác Voi Một số

hồ lớn nhỏ như: hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Tuyền Lâm, hồ Suối Vàng, v.v

- Về hệ thống động thực vật: bao gồm rừng lá kim, rừng hỗn giao, trảng cỏ và bụi rậm

+ Rừng lá kim với cây thông ba lá chiếm diện tích khá lớn có mặt khắp nơi trong thành phố, thông hai lá như kiểu rừng thưa ở khu vực Manline Đặc biệt, thông

Trang 17

năm lá một loài cây đặc biệt quý hiếm của Đà Lạt đã được tìm thấy ở một số nơi như Trại Mát, Biđoup

+ Rừng hỗn giao cũng phân bổ khắp nơi quanh thành phố với nhiều loài cây cùng sinh sống như: dẻ, kim giao, huỳnh đàn, chò ngọc lan, v.v chính nhờ vào nguồn tài nguyên rừng phong phú, lại ở một độ cao hợp lý nên Đà Lạt mới có được một khí hậu ôn hòa và nguồn không khí tốt lành Chính cây thông đã làm tăng lượng oxy cho

Đà Lạt

- Về tài nguyên du lịch nhân văn: Đà Lạt còn là nơi sinh sống của các tộc người Lạch, Chil, Srê Mặc dù cuộc sống của các đồng bào dân tộc ít người này ngày nay đã

và đang bị Việt hóa, nhưng trong cộng đồng vẫn còn tồn tại một số phong tục, lễ hội

có thể xem là nguồn tài nguyên nhân văn quan trọng để thu hút du khách đến với Đà Lạt

- Về con người Đà Lạt, nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học đã nhận xét rằng: thật

ra không có người Đà lạt đơn thuần mà đó là sự hội tụ tinh hoa của con người từ mọi miền đất nước, không chỉ các dân tộc bản xứ và ba miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam

mà còn có cả Trung Hoa và Tây Âu Trong bản thân người Đà Lạt luôn có sự trộn lẫn

vẻ tế nhị, thanh lịch của người miền Bắc; nét trầm mặc, suy tư, cần cù lao động của người miền Trung; vẻ thật thà, đôn hậu trọng lễ nghĩa của người miền Nam; cũng như cách giao tiếp khéo léo của người Hoa và trang phục lịch sự của người Âu Tây Đà Lạt còn chịu ảnh hưởng sâu đậm những tinh hoa của nền văn hoá Pháp và chính điều này

đã góp phần hình thành nên phong cách riêng của con người Đà Lạt khó lẫn lộn với các nơi khác, đó là: hiền hoà, trầm mặc, thanh lịch, mến khách

Với ưu thế về khí hậu cảnh quan Đà Lạt góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch của cả nước nói chung, của vùng du lịch Nam Trung bộ nói riêng, xứng đáng với vai trò là một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam hiện nay

2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.2.1 Tổng quan về huyện Đơn Dương

a Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

6

Trang 18

Đơn Dương là huyện nằm ở phía Đông Nam Đà Lạt, phía Nam cao nguyên Lâm viên, phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây và phía Nam giáp huyện Đức Trọng, Phía Bắc giáp thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương

- Tổ chức hành chính

Đơn Dương có tổng diện tích đất tự nhiên: 61.032 ha được tổ chức thành 10 xã, thị trấn bao gồm: thị trấn Thạnh Mỹ, thị trấn Dran, xã Quảng Lập, xã Tutra, xã Ka Đơn, xã Pró, xã Ka Đô, xã Đà Ròn, xã Lạc Lâm, xã Lạc Xuân

- Địa hình - Địa chất - Khí hậu - Thủy văn

+ Địa hình: được chia làm 3 dạng chính địa hình núi cao, địa hình đồi thoải

lượn sóng, địa hình thung lũng sông suối với 6 nhóm đất chính như: đất phù sa dốc tụ, đất phù sa sông suối, đất phù sa không được bồi hàng năm, đất nâu đỏ trên Ban Zan, đất đỏ vàng trên đá phiến, đất mùn vàng đỏ Gzanit và Daxit

+ Khí hậu: chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa miền tây nguyên Chia làm hai

mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4-10, mùa khô từ tháng 11-3 năm sau Các hiện tượng thời tiết bất thường ít xảy ra

Nhiệt độ ôn hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 21-220C

Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình 80%, thấp nhất 71%, cao nhất 90%

Lượng mưa: Lượng mưa trung bình trong năm là 1.327 mm

Chế độ gió: Hướng gió chính là Đông – Tây và Tây – Đông, tốc độ gió trung bình 6,4 m/s

+ Thủy văn: Sông chính Đa Nhim chạy dọc theo huyện, các nhánh phụ là

nguồn nước cung cấp cho toàn huyện Các suối chính như suối M’Răng, suối Đa Klere, suối Đa Nse, suối Đa Hiong Kađe, suối Đa Krong –Diom B, suối KallKill- Hòa Bình

Nước ngầm :Vùng có nước ngầm thuận lợi: Tutra, Kađơn, Pró,Lạc Xuân, Dran

có dạng nước ngầm tầng trên.Vùng không được thuận lợi: Kađô, Quảng Lập, Thạnh

Mỹ, Lạc Lâm có dạng nước ngầm tầng sâu – khai thác tầng đá dày 4 – 10 m

b Điều kiện kinh tế - Xã hội

- Kinh tế

Trang 19

+ Sản xuất nông nghiệp: Ngành nông nghiệp vẫn còn chiếm diện tích rất lớn

51382 ha, chiếm 84% diện tích đất tự nhiên của huyện trong đó trồng các loại cây trồng chủ yếu như: Cây hàng năm, cây lương thực có hạt, cây thực phẩm, rau các loại, cây ăn quả

Về chăn nuôi: chủ yếu chăn nuôi trong khu dân cư, qui mô hộ gia đình với các loại gia súc như: bò sữa, trâu, ngựa, lợn, dê, v.v; gia cầm như: vịt, ngan, ngỗng, v.v Trong đó có một số hộ gia đình nuôi với số lượng khá lớn Ví dụ Nguyễn Thanh Diên (xã Kađô) nuôi heo tổng đàn 1.203 con, Nguyễn Văn Hiến (xã Lạc Lâm) 6.000 con gà

+ Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp: Tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp –

tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Đơn Dương là 21 cơ sở (sản phẩm chăn nuôi, chế biến gỗ, nông sản, cây ăn quả, v.v) Hiện tại trên địa bàn huyện có trên 100 cơ sở, đơn vị cung cấp thuốc, phân bón với chủng loại thuốc đa dạng: trên 200 mặt hàng của nhiều công ty sản xuất

+ Lâm nghiệp: tổng diện tích đất lâm nghiệp: 38.442,73 ha trong đó rừng

phòng hộ 18.436,4 ha Sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản 1 cơ sở, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 14 cơ sở

+ Dịch vụ du lịch: Trên địa bàn huyện có nhiều địa điểm có khả năng trở thành

điểm du lịch nếu được đầu tư phát triển, có thể là điểm dừng chân cho du khách trước

và sau khi đến Đà Lạt để thưởng thức không khí, thắng cảnh rừng núi như đèo Ngoạn Mục, hồ Đa nhim, v.v Hồ Đa nhim được xây dựng từ những năm 60, xung quanh hồ

là rừng nguyên sinh thuộc rừng phòng hộ Thích hợp cho du lịch sinh thái và du lịch trong lòng hồ Rừng cảnh quan đèo Ngoạn mục, nằm dọc QL 27 đầu chân đèo Ngoạn mục giáp ranh địa giới hành chính với huyện Ninh Sơn-Ninh thuận, là điểm dừng của

xe khi lên hết đèo hoặc trước khi xuống đèo, có Thác Thiên thai nằm giữa hai đồi núi trong cánh rừng tự nhiên thuộc rừng phòng hộ, chùa Giác Nguyên, v.v

- Tình hình dân số

Cơ cấu dân số: Tổng số dân của huyện Đơn Dương năm 2005 là 93.160 người Mật độ dân cư bình quân là 1.527 người/km2 Sự phân bố dân cư chưa đồng đều: xã có mật độ dân cư đông nhất là TT Thạnh Mỹ 464 người/km2, thấp nhất là xã Pró 58 người/km2 Huyện có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm

8

Trang 20

phần lớn 82%, còn lại là đồng bào các dân tộc thiểu số C’ho, Chill, ChRu, Eâđê, Nùng, Hoa, Chăm, Tày, v.v

c Cơ sơ hạ tầng kỹ thuật – xã hội

- Giao thông – vận tải: Hệ thống giao thông tương đối thuận lợi có Quốc lộ 27

(đường cấp IV) đi qua, tiếp giáp với trung tâm kinh tế Đức trọng, có 5 tuyến đường cấp VI lưu thông trong nội bộ các xã trong huyện và ngoài huyện

Đơn vị cung cấp dịch vụ vận chuyển : Bến xe Thạnh Mỹ

- Hệ thống điện: Mạng lưới điện khá hoàn chỉnh đã phủ kín toàn huyện, nguồn

cung cấp ổn định và có khả năng khai thác các lợi thế về thủy điện sẽ tạo điều kiện thuận lợi phát triển lưới điện và đáp ứng nhu cầu điện sản xuất trong những năm trước mắt cũng như lâu dài, là động lực để phát triển sản xuất, đặc biệt là công nghiệp chế biến

- Hệ thống giáo dục: Trường mầm non có 11 trường (6 quốc lập, 5 bán công ),

trường tiểu học 22 trường, trung học cơ sở 8 trường, trung học phổ thông 5 trường, trường dạy nghề 1 trường

- Hệ thống y tế: Trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện Đa khoa, 2 phòng khám đa

khoa khu vực và 10 trạm y tế Xã-TT Tổng số giường bệnh 120 giường, trong đó bệnh viện đa khoa trung tâm 70 giường, 2 phòng khám đa khoa khu vực 20 giường và 10 trạm y tế Xã-TT 30 giường ( trung bình mỗi trạm 3- 4 giường ) Hầu hết các cơ sở y tế

đã được xây dựng kiên cố, riêng bệnh viện Đa khoa trung tâm được đầu tư xây dựng mới năm 1997 đã đưa vào sử dụng

- Bưu chính viễn thông: Mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển mạnh với

hệ thống các bưu cục, tổng đài đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của địa phương Một số thôn vùng sâu vùng xa như Kamputte ( Tutra ) cũng đã lắp đặt điện thoại để liên lạc

2.2.2 Tổng quan về hồ Đa Nhim

a Lịch sử hình thành

Đập Đa Nhim là một công trình thủy điện quy mô do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa xây trước năm 1975 Công trình Đa Nhim được lên kế hoạch năm 1959, khởi công vào năm 1960 và hoàn thành vào năm 1963 Đây là công trình độc đáo của Đông Nam Á do người Nhật thiết kế, được xây dựng như khoản đền bù những thiệt hại

Trang 21

đập Đa Nhim do tỉnh Lâm Đồng quản lý Đến thăm nơi đây, du khách cần chú ý xin phép trước hoặc phải có giấy giới thiệu của cơ quan

Đập Đa Nhim được xây rất kiên cố và vững chắc, cao 38 m, dài gần 1,5 km, gồm 4 cửa xả nước mỗi khi có mưa lũ, mỗi cửa nặng 52 tấn Khi đập Đa Nhim được xây dựng lên đã ngăn nước tạo thành hồ Đa Nhim với phong cảnh rất đẹp Con đập thẳng tắp nối hai sườn núi dài 1.460 m, cao sừng sững 38 m, đáy rộng 180 m, tích nước từ hai sông Đa Nhim và Kronglet hòa vào

Hồ Đa Nhim có diện tích 9,7 km2, ở độ cao xấp xỉ 1.042 m, nước từ hồ theo hai đường hầm bê tông xuyên núi dài 5 km tới chóp núi thì ùa vào hai ống thép có đường kính 2 m (càng xuống càng nhỏ dần còn 1 m) Người đi Đà Lạt, từ Phan Rang lên đèo Ngoạn Mục bao giờ cũng cố chiêm ngưỡng sự kỳ vĩ của đôi ống thủy áp trắng bạc từ đỉnh núi xuống

b Vị trí địa lý

Hồ và đập Đa Nhim: thuộc địa phận thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, nằm phía Đông thành phố Đà Lạt, cách Đà Lạt 36 cây số, cách thành phố Hồ Chí Minh 300

m, giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận

Nằm trong vùng cấm, trong phạm vi bảo vệ an toàn đập và hồ Đa Nhim

d Khí tượng – Thủy văn

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình là 230C, nhiệt độ cao nhất là 360C (rất ít) và thấp nhất là 120 cao hơn nhiệt độ Đà Lạt là 18.30C

- Độ ẩm không khí: Ở đây có độ ẩm cao (>80%)

- Lượng mưa hàng năm: Lượng mưa trung bình tương đối cao 2000 mm/năm,

mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 3 năm sau Lượng mưa cao nhất vào tháng 9 – 10 và thấp nhất vào tháng 4 – 5

- Thủy văn:

Hồ Đa Nhim bắt nguồn từ 2 nhành sông : Đa Nhim và Krong Let

10

Trang 22

Diện tích hồ: 9,7 km2, độ sâu tự nhiên tầm 45 m Nơi sâu nhất có thể đạt tới 150

m

Lưu vưc hồ: 775 km2, độ cao của mặt hồ so với nhà máy thủy điện là 799 m Trữ lượng nước: 165 triệu m3

Tính chất và chất lượng của nước thay đổi theo mùa:

+ Vào mùa khô: trữ lượng nước giảm nên gây khó khăn cho việc sản xuất điện + Vào mùa mưa: nước từ thượng nguồn chảy về nhiều nên lượng nước trong hồ dâng cao lên Do vậy, những người quản lý đập phải có biện pháp xả nước hợp lý

+ Vào mỗi lần xả, nước trong hồ trở nên đục Vào mùa mưa nước từ 2 nhánh sông chảy về làm thay đổi màu nước

+ Hiện nay, nguồn nước trong hồ vẫn có tình trạng ô nhiễm nhưng mức độ ô nhiễm chưa đáng kể

e Hệ động – thực vật

Với độ cao hơn 1000 m cùng với sự chi phối của khí hậu đan xen giữa ôn đới

và nhiệt đới, vì vậy hồ Đa Nhim có hệ động – thực vật phong phú, đa dạng như:

Về thực vật: thông 3 lá, dã quỳ, ngũ sắc, ngũ gia bì, ngãi, cà độc dược, cây chổi đót, mây, mâm xôi, dương xĩ, me đất, nấm mối và nấm độc, cây cỏ lau, tảo bèo, v.v

Về động vật có các loài như: Côn trùng chủ yếu là bươm bướm, cào cào, ong kiến Các loài bọ kiến cương (không sừng, 3 sừng, 5 sừng) bọ rầy, v.v

Các loài bò sát rắn rết ( rắn lục, hổ mang, v.v.), kỳ nhông kỳ đà, v.v

Các loài động vật bậc cao như khỉ vượn hươu nai, con đỏ, v.v

f Khai thác kinh tế

- Thủy điện: Nhà máy thuỷ điện Đa Nhim được đặt tại tỉnh Ninh Thuận Với qui trình hoạt động như trên, nhà máy có công suất 160 kwh/năm, cung cấp điện cho toàn bộ các tỉnh miền Nam, với giá 100-200 đ/kwh tại nhà máy

- Thủy lợi: Hồ Đa Nhim tuy được đặt tại tỉnh Lâm Đồng nhưng nhà máy thuỷ điện lại được đặt tại tỉnh Ninh Thuận Vì thế, lượng nước của hồ chỉ chủ yếu phục vụ cho việc tưới tiêu của tỉnh Ninh Thuận

g Tiềm năng khai thác

Trang 23

- Nuôi cá kết hợp câu cá giải trí: Với điều kiện môi trường sinh thái nước ngọt, diện tích hồ lớn, cùng các điều kiện thuận lợi khác của hồ thuận lợi cho nhiều loài cá như cá chép, cá rô phi, cá trắm v.v sinh sống, phát triển

- Du lịch sinh thái: Toàn cảnh hồ Đa Nhim là một sự kết hợp hài hoà giữa trời, mây, non, nước tạo nên một thắng cảnh khó có thể so sánh với một nơi nào khác Bên cạnh đó, nơi đây cũng tạo nên một dấu mốc lịch sử bởi Ngô Đình Diệm và Bảo Đại đã từng đến đây để câu cá và săn bắt thú rừng

2.3 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Cho đến nay đã có một vài nghiên cứu về những nơi giải trí từ nhiều nước khác nhau trên thế giới Để xác định được giá trị giải trí của các địa điểm du lịch các nhà nghiên cứu thường sử dụng các phương pháp thông thường như TCM và CVM Bên cạnh đó nhều tác giả cũng sẽ có những phương pháp chính riêng biệt nhưng quy cho cùng họ vẫn sử dụng giá trị sử dụng từ TCM và giá trị không sử dụng từ CVM Tuy nhiên, những nghiên cứu này cũng tồn tại những giới hạn Những nghiên cứu về giá trị của những khu vực giải trí thì luôn luôn có giá trị trong việc bảo vệ môi trường

2.3.1 Tài liệu nghiên cứu nước ngoài

Ở Trung Quốc, Du Yaping đã nghiên cứu giá trị của việc cải tiến chất lượng nước cho du lịch ở phía Đông hồ Vũ Hán của Trung Quốc bằng việc áp dụng phương pháp TCM và CVM Ông ta cho rằng chất lượng nước ở đây mà càng cao thì dẫn đến nhu cầu du lịch của con người đến hồ càng cao Do đó, WTP cho việc cải tiến chất lượng nước thì cũng giống như việc sử dụng các hình thức bù vào của phí vào cổng, phí câu cá, hay du thuyền trên hồ

Ở Thái Lan, Adis Isangkura đã đánh giá giá trị của môi trường để xác định giá vào cổng cho hệ thống Công viên Quốc Gia Giá này được tăng lên là điều hiển nhiên

2.3.2 Tài liệu nghiên cứu trong nước

Một trong những nghiên cứu có ích được nhắc đến đó là hai tác giả: Nguyễn Thị Hải và Trần Đức Thanh trong việc xác định lợi nhuận du lịch của rừng Quốc gia Cúc Phương bằng việc sử dụng phương pháp Travel Cost Method trong giai đoạn từ năm 1996 – 1997 Kết quả thu được dựa trên hai phương pháp TCM và CVM, họ đã xác định tổng lợi nhuận từ vườn Quốc gia này là 1.502 triệu đồng/năm, thặng dư của

12

Trang 24

người tiêu dùng là 105 triệu đồng/năm, và mức sẵn lòng trả của người sử dụng với số tiền xấp xỉ là 504 triệu đồng để cải tiến hệ thống đường vào khu công viên này

Một nghiên cứu khác của Trần Khánh Nam được tiến hành ở đảo Hòn Mun – tỉnh Khánh Hòa, đã trực tiếp đánh giá giá trị của du lịch sinh thái bằng phương pháp TCM ( trong đó ZTCM xác định được giá trị là 17,9 triệu USD, ITCM xác định được giá trị là 8,7 triệu USD), những thu nhập cuối cùng thu được từ WTP của những người đến tham quan đảo được sử dụng để cải thiện môi trường ở đây

Ngoài ra, trước khi nghiên cứu được thực hiện ở hồ Đa Nhim đã có một nghiên cứu khác tương tự về việc phát triển một tiềm năng kinh tế đó là đề tài luận văn tốt nghiệp của Đào Khả Khoa, 2006, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà – TP Đà Nẵng Khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà thuộc huyện Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng có rất nhiều cảnh quan đẹp một địa điểm lý tưởng để ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Đà Nẵng , Biển Đông, vịnh Đà Nẵng, đèo Hải Vân, v.v Việc đưa loại hình du lịch sinh thái vào bán đảo Sơn Trà đã tạo ra doanh thu đáng kể để khôi phục, bảo vệ khu bảo tồn tránh khỏi sự tàn phá của dân cư quanh vùng và nâng cấp chất lượng khu bảo tồn

Qua những nghiên cứu của nước ngoài và trong nước đã cho thấy rằng việc phát hiện ra một tiềm năng kinh tế rất đáng được khích lệ và phát triển được tiềm năng đó

là một điều nên làm Trong đề tài nghiên cứu này sẽ tiếp tục nhận dạng tiềm năng của

hồ Đa Nhim đó là ngoài chức năng làm hồ chứa nước phục vụ cho nông nghiệp, thủy điện hồ Đa Nhim còn có thể là khu du lịch sinh thái lý tưởng và câu cá giải trí Đặc điểm tương đồng của tất cả khu vực nghiên cứu này đều là khu vực đang được bảo tồn

và có nhiều tiềm năng kinh tế nhưng Đa Nhim có một đặc điểm khác biệt đó là về hệ thực vật (thông 3 lá) đây cũng là một lợi thế cho định hướng phát triển du lịch sinh thái

Trang 25

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này của khóa luận sẽ trình bày chi tiết các vấn đề lý luận liên quan đến

du lịch sinh thái và giới thiệu một cách có hệ thống các phương pháp nghiên cứu mà khóa luận sử dụng để đạt được các mục tiêu đã đặt ra Nội dung trình bày đi theo trình tự: mở đầu là những khái niệm và cơ sở lý luận liên quan, cuối chương là các phương pháp nghiên cứu cụ thể được ứng dụng để tìm ra kết quả nghiên cứu

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Du lịch sinh thái và phát triển bền vững du lịch sinh thái

a Khái niệm du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (DLST, Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đang được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau Du lịch sinh thái còn được biết đến dưới những tên gọi khác nhau: du lịch thiên nhiên (Natural tourism); du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural – based tourism); du lịch môi trường (Environmental tourism); du lịch đặc thù ( Particular tourism); du lịch xanh (Green tourism); du lịch bản xứ (Indigenous tourism); du lịch thám hiểm (Adventure tourism); du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism); du lịch nhà tranh (Cottage tourism); du lịch bền vững (Sustainable tourism);

du lịch môi trường (Environmental tourism); v.v

Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Australia: “Du lịch sinh thái là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, định hướng về môi trường tự nhiên và nhân

văn, được quản lý một cách bền vững và có lợi cho sinh thái” (Grant.J, 1999)

Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế: “Du lịch sinh thái là du lịch

có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện được

phúc lợi cho người điạ phương” (Lindberb và Hawkins, 1991)

Định nghĩa của IUCN: “Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên

Trang 26

nhiên (và các đặc điểm văn hóa tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành), qua đó khuyến khích hoạt động hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra,

và tạo lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực” (Lindberb và

Hawkins, 1991)

Ở Việt Nam để có cơ sở nghiên cứu và phát triển DLST, từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 9 năm 1999 Tổng cục Du Lịch Việt nam đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các chuyên gia trong và ngoài nước về DLST và các lĩnh vực liên quan trong Hội thảo Quốc Gia về “ Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam” Kết quả đã đưa ra được định nghĩa DLST, theo đó “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn

và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Lê Huy

Bá, 2006)

Hình 3.1 Sơ Đồ Cấu Trúc Du Lịch Sinh Thái

DU LỊCH SINH THÁI

Nguồn tin: Phạm Trung Lương và ctv, 2002

b Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái là một bộ phận đặc biệt của du lịch bền vững nên trước hết phải tuân thủ các nguyên tắc của du lịch bền vững về tác dụng kinh tế, xã hội và môi trường của du lịch Đó là 10 nguyên tắc cơ bản của du lịch bền vững mà IUCN (1998)

đã đưa ra:

- Sử dụng tài nguyên một cách bền vững bao gồm cả tài nguyên tự nhiên, xã hội

và văn hóa

Trang 27

- Giảm tiêu thụ quá mức và xả thải, nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thoái môi trường, đồng thời cũng nâng cao chất lượng du lịch

- Duy trì và phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và văn hóa để tạo ra sức bật cho ngành du lịch

- Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia

- Hỗ trợ nền kinh tế địa phương

- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương

- Có sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và công chúng

- Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch

có thì cũng chỉ ở mức độ cho phép và không làm ảnh hưởng đến sự thưởng ngoạn của

du khách

- Nhỏ là đẹp: Du lịch sinh thái không đòi hỏi quá đông du khách và phương tiện

do vậy cần xác định đúng khả năng tái sinh thái và có biện pháp điều tiết khách phù hợp như chia khách thành nhóm nhỏ, xen kẻ các kỳ đón khách với các kỳ đóng cửa hoàn toàn để tái thiết trật tự của đời sống hoang dã Các trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, nhà nghỉ trong điểm du lịch phải đơn giản, ít tốn kém nhưng cũng phải tiện nghi

- Trách nhiệm của du lịch sinh thái là phải bảo tồn hệ tự nhiên: Bảo tồn quan trọng hơn doanh thu du lịch nên một phần thu nhập từ du lịch phải được sử dụng trực tiếp cho hoạt động bảo tồn tự nhiên Do vậy, du khách thường phải trả phí cao và có

xu hướng đóng góp thêm cho bảo tồn Giáo dục và nâng cao hiểu biết của du khách về môi trường tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào các nỗ lực bảo tồn

16

Trang 28

- Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái tự nhiên:

Sự xuống cấp của môi trường và suy thoái hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của

du lịch sinh thái

- Góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa bản địa: Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương sẽ trực tiếp làm mất đi sự cân bằng hoặc thay đổi sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực, sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái

- Trách nhiệm của du lịch sinh thái là đóng góp vào phúc lợi của cộng đồng địa phương như là một sự đầu tư gián tiếp cho bảo tồn: Phúc lợi được sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ giáo dục, y tế, v.v Phúc lợi này phải xứng đáng để thuyết phục cộng đồng địa phương rằng bảo vệ thiên nhiên cho du lịch sinh thái có lợi hơn là khai thác, phá huỷ nó Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST

sẽ làm giảm sức ép cộng đồng lên môi trường

c Cơ sở của phát triển bền vững du lịch sinh thái

Giảm đến mức thấp nhất việc cạn kiệt tài nguyên môi trường đất, nước ngọt, các thủy vực, khoáng sản, v.v đảm bảo sử dụng lâu dài các dạng tài nguyên không tái tạo được bằng cách tái chế, tránh lãng phí, sử dụng ít hơn hoặc thay thế chúng Như vậy, cần phải sử dụng tài nguyên theo nguyên tắc: “nhu cầu sử dụng chúng không vượt quá khả năng bù đắp (tái tạo) tài nguyên đó”

Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn tính di truyền của các loại động vật và thực vật nuôi trồng cũng như hoang dã Đảm bảo việc sử dụng lâu bền bằng cách quản lý phương thức và mức độ sử dụng làm cho các nguồn tài nguyên đó vẫn còn có khả năng hồi phục

Duy trì các hệ sinh thái thiết yếu, đảm bảo cho cuộc sống cộng đồng và nên nhớ rằng sức chịu đựng của các hệ sinh thái trên trái đất là có giới hạn

Nếu có điều kiện thì duy trì các hệ sinh thái tự nhiên Hoạt động trong khả năng chịu đựng của trái đất Phục hồi lại môi trường đã bị suy thoái, giữ gìn sự cân bằng các

hệ sinh thái

3.1.2 Khái niệm khách du lịch

Trang 29

Theo tổ chức Du lịch Thế giới, khách du lịch là một người đi từ quốc gia này tới

quốc gia khác với một lý do nào đó, có thể là kinh doanh, thăm viếng hoặc là một việc

gì khác Khái niệm này còn áp dụng cho khách du lịch trong nước

Theo khái niệm này khách du lịch được chia thành du khách và khách tham

quan

- Du khách là khách du lịch lưu trú tại quốc gia trên 24 giờ và ngủ qua đêm ở

đó với lý do kinh doanh, thăm viếng hay làm một việc gì khác

- Khách tham quan là khách du lịch đến viếng thăm một nơi nào đó dưới 24 giờ

và không ở lại qua đêm 3.1.3 Khái niệm, phân loại và những yếu tố ảnh hưởng đến cầu du lịch

a Khái niệm cầu du lịch

Cầu du lịch là một bộ phận nhu cầu xã hội có khả năng thanh toán về vật chất

và dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại lưu trú tạm thời của những người ngoài nơi ở

thường xuyên của họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu văn hoá, chữa bệnh,

tham gia các chương trình đặc biệt và các mục đích khác

b Phân loại cầu du lịch

Cầu về du lịch bao gồm cầu về dịch vụ du lịch và cầu về hàng hóa vật chất

- Cầu về dịch vụ du lịch

+ Cầu về dịch vụ chủ yếu

Cầu về dịch vụ chủ yếu bao gồm cầu về vận chuyển và cầu về lưu trú, ăn uống

Cầu về vận chuyển là đảm bảo sự di chuyển tất yếu từ nơi ở thường xuyên đến

điểm du lịch và ngược lại Do đó cầu về dịch vụ vận chuyển luôn được đặt ra đầu tiên

Có đáp ứng cầu về dịch vụ vận chuyển thì mới có cơ sở để thực hiện các cầu khác phát

sinh trong chuyến đi

Việc ăn uống, lưu trú khi đi du lịch không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà

còn là một sự khám phá, thưởng thức Do đó một khi cầu về lưu trú và ăn uống được

thỏa mãn tốt mới đảm bảo chất lượng của chuyến đi

+ Cầu về dịch vụ đặc trưng

Là những cầu về dịch vụ và nhu cầu cảm thụ, thưởng thức mà khách mong đợi

khi đi du lịch Cầu về dịch vụ đặc trưng này thường là nguyên nhân và mục đích

chuyến đi

18

Trang 30

+ Cầu về dịch vụ đi kèm

Là cầu về những dịch vụ rất đa dạng phát sinh trong chuyến đi của du khách, bao gồm dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ đặt chỗ, mua vé, giặt ủi, v.v Phần lớn những nhu cầu này phát sinh ngay tại nơi đi du lịch và cần được thỏa mãn trong thời gian ngắn

- Cầu về hàng hóa

+ Cầu về hàng hóa lưu niệm

Du khách có nhu cầu tìm mua những vật phẩm đặc trưng của điểm du lịch để làm quà tặng hoặc kỷ niệm về điểm du lịch Việc đáp ứng tốt cầu về hàng lưu niệm sẽ mang lại một hiệu ứng tốt về quảng cáo cho địa điểm du lịch đó

+ Cầu về hàng hóa có giá trị kinh tế cao

Trong quá trình đi du lịch, du khách có thể kết hợp mua một số hàng hóa có giá trị kinh tế cao được bán tại nơi du lịch có giá rẻ hơn nơi họ sinh sống

c Những yếu tố tác động đến cầu du lịch

- Yếu tố tự nhiên

+ Đặc điểm các yếu tố tự nhiên ở nơi ở thường xuyên của du khách

Những nơi có điều kiện bất lợi như khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh, ẩm, ít nắng, địa hình đơn điệu, động thực vật không phong phú sẽ làm nảy sinh nhu cầu đi du lịch của người dân sống ở nơi đó Các yếu tố này tác động lên điều kiện sống của dân

cư một cách liên tục, làm cho nhu cầu du lịch đến nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn trở nên cần thiết và ngày càng phát triển

+ Đặc điểm các yếu tố tự nhiên của điểm du lịch

Bao gồm khí hậu ôn hòa, dịu mát, địa hình đa dạng, phong cảnh thiên nhiên kỳ

thú, động thực vật quý hiếm là nơi du khách thường hướng tới

- Yếu tố văn hóa, xã hội

+ Tình trạng tâm, sinh lý con người

Tâm lý thư giãn, sảng khoái, sức khỏe tốt thường nảy sinh nhu cầu du lịch Tuy nhiên có những trường hợp do buồn chán, do tình hình sức khỏe mà khi có lời khuyên của bạn bè, người thân, đặc biệt là của bác sĩ thì người ta cũng dễ chấp nhận một chuyến đi để thư giãn hoặc để chữa bệnh Do đó cả hai trạng thái tâm, sinh lý trên đều tác động đến nhu cầu du lịch

Trang 31

+ Độ tuổi và giới tính khách du lịch

Tuổi trẻ thường thích đi du lịch và thích mạo hiểm, có điều kiện sức khỏe tốt nhưng thường bị giới hạn về khả năng tài chính Người già có điều kiện về tài chính và thời gian nhưng sức khỏe không cho phép Tuy nhiên mỗi đối tượng đều có mặt mạnh riêng Trẻ em tác động đến việc đi du lịch của bố mẹ và sẽ là khách trong tương lai Phụ nữ thường là người nắm tài chính do đó thường đưa ra đề nghị và quyết định việc

đi du lịch, v.v

Hơn thế nữa ngày nay số thanh niên tự đi du lịch ngày càng đông và giới hạn các học sinh đi nghỉ cùng cha mẹ ngày một giảm, tuổi thọ trung bình của con người ngày càng cao vì vậy mà số gia đình có con trong độ tuổi đi học ngày càng giảm Ngoài ra, số lượng người ở độ tuổi hưu trí ngày càng tăng, họ là những người được sử dụng tuỳ ý thời gian đi nghỉ Hai xu hướng này tác động đến việc hình thành cầu, khối cầu và cơ cấu cầu du lịch

+ Thời gian nhàn rỗi

Các chuyến đi du lịch đều được thực hiện trong thời gian nhàn rỗi của con người Thời gian nhàn rỗi là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch Số lượng thời gian nhàn rỗi do nhiều yếu tố quyết định nhưng 3 yếu tố quan trọng

là năng suất lao động, các thể chế và luật lệ quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong việc rút ngắn thời gian cho công việc nội trợ Yếu tố này tác động trực tiếp đến khả năng kéo dài thời gian đi du lịch, nhất là loại hình du lịch cuối tuần

+ Dân cư

Các yếu tố dân cư như dân số, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cơ cấu

sự phân bố và mật độ dân cư tác động trực tiếp đến việc hình thành cầu du lịch Yếu tố dân cư tác động đến cầu du lịch cần được xem xét dưới 2 góc độ:

Một là bản thân dân cư ở một địa phương nào đó có nhu cầu du lịch phụ thuộc vào đặc điểm xã hội, nhân khẩu của dân cư

Hai là đặc điểm của dân cư tùy theo mức độ của mỗi thành tố của nó tạo nên một sự hấp dẫn du lịch, tác động vào việc hình thành cầu, cơ cấu và khối lượng cầu du lịch của dân cư ở các nơi khác

+ Bản sắc văn hóa và tài nguyên nhân văn khác

20

Trang 32

Sự khác biệt về nền văn hóa của các địa phương, các vùng của một quốc gia, giữa các quốc gia do tập tục mỗi vùng, bản sắc văn hóa dân tộc quyết định Chính bản sắc văn hóa dân tộc tạo ra sự kích thích hình thành cầu du lịch Tài nguyên nhân văn như di tích văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa, v.v tác động đến cầu du lịch qua 4 giai đoạn từ thông tin, tiếp xúc, nhận thức đến đánh giá nhận xét có tác dụng thúc đẩy việc hình thành cầu du lịch

+ Trình độ văn hóa

Trình độ văn hóa tác động đến việc hình thành cầu cả về phía người tiêu dùng

và người sản xuất du lịch Trình độ văn hóa được nâng cao thì động cơ du lịch tăng lên, thói quen du lịch hình thành ngày một rõ Tại các điểm du lịch trình độ văn hóa và dân trí cao hay thấp quyết định đến cách đối xử với khách trong quá trình giao tiếp, đến chất lượng phục vụ khách tạo nên sự hấp dẫn, thu hút khách Trình độ văn hóa của người du lịch tác động đến sản phẩm du lịch và thông qua đó tác động đến việc hình thanh cầu, đến khối lượng và cầu du lịch

+ Nghề nghiệp

Tuỳ thuộc vào đặc thù mỗi nghề nghiệp mà con người phải di chuyển, phải đi

du lịch nhiều hay ít

+ Thị hiếu và kỳ vọng

Thị hiếu ảnh hưởng đến cầu, hướng sự ưu tiên tiêu dùng vào hàng hóa, dịch vụ

du lịch nào đó Các kỳ vọng hay sự thay đổi của con người về thu nhập, giá cả v.v làm cho cầu du lịch thay đổi

- Yếu tố kinh tế

+ Thu nhập

Để có cầu trong du lịch thì thu nhập của dân cư phải đạt đến mức độ nhất định vượt qua mức cân đối đáp ứng các nhu cầu thiết yếu hoặc phải có nguồn thu nhập bổ sung đủ để bù đắp chi phí của chuyến đi du lịch Khi thu nhập dân cư phát triển dẫn đến cầu du lịch tăng và ngược lại

+ Giá cả hàng hóa

Xét ở phạm vi rộng giá cả của hàng hoá nhất là giá cả hàng hoá phục vụ sinh hoạt, tạo ra sự biến động của cầu du lịch Sự giảm giá hàng hoá sẽ tạo ra một khoản thu nhập dư ra có thể tích luỹ hoặc đi du lịch

Trang 33

Ở phạm vi hẹp nếu giá hàng hoá du lịch tăng lên dẫn đến khối lượng cầu trong

du lịch giảm xuống và ngược lại Tuy nhiên sự tác động này không phải lúc nào cũng vậy Một số trường hợp đặc biệt mặc dù giá cả hàng hoá du lịch tăng cao nhưng cầu du lịch vẫn tăng, ví dụ như du lịch chữa bệnh

+ Tỷ giá hối đoái (tỷ giá trao đổi ngoại tệ)

Yếu tố này tác động đến sự hình thành cầu, khối lượng và cơ cấu cầu du lịch quốc tế Trong điều kiện giữ nguyên giá cả hàng hoá du lịch, khách du lịch sẽ quyết định đi đến những nơi mà tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền nước họ với nơi đến du lịch là cao nhất

+ Cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình đô thị hoá

Cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình đô thị hóa tác động sâu sắc đến toàn bộ hoạt động kinh tế- xã hội trong đó có du lịch Tiến bộ khoa học- kỹ thuật, công nghệ thông tin làm thu nhập tăng lên, thời gian nhàn rỗi nhiều hơn, thông tin về các sản phẩm du lịch nhanh hơn và phong phú hơn Mặt khác khi phát triển, các yếu tố này phá vỡ sự cân bằng nhịp sống buộc con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại sức khoẻ và tinh thần Từ đó làm nảy sinh nhu cầu du lịch dưới nhiều dạng khác nhau với tốc độ tăng không ngừng

- Yếu tố chính trị

Yếu tố này tác động mạnh đến cầu du lịch Điều kiện chính trị nước ta tương đối ổn định, tình hình trật tự an toàn xã hội tốt đảm bảo tạo lực hút rất lớn lượng du khách đến tham quan du lịch Ngược lại ở những nước, những vùng có sự bất ổn chính trị, xung đột, chiến tranh sẽ gây ảnh hưởng rất xấu hoặc dẫn đến sự ngừng trệ các hoạt động du lịch Ngoài ra,các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt, động đất, hoặc các loại bệnh dịch như AIDS, tả, lỵ, sốt rét cũng gây ảnh hưởng xấu đến phát triển du lịch

Các chính sách phát triển kinh tế xã hội cũng tác động trực tiếp đến việc hình thành cầu, cơ cấu và khối lượng cầu du lịch

- Giao thông vận tải

Giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch, giao thông tác động đến cầu du lịch từ 2 khía cạnh:

22

Trang 34

Sự phát triển mạng lưới giao thông thúc đẩy việc hình thành và phát triển du lịch

Phương tiện giao thông đa dạng sẽ làm đa dạng chủng loại cầu du lịch, rút ngắn thời gian đi lại và tăng thời gian nghỉ ngơi du lịch giải trí

3.1.4 Cơ sở xác định giá trị của một tài nguyên du lịch

Giá trị tài nguyên du lịch không thể xác định thông qua việc trao đổi, mua bán trên thị trường và cũng không có quan hệ mật thiết nào đối với các loại hàng hóa khác

Vì vậy không thể dựa vào thị trường để xác định giá trị của một tài nguyên du lịch

Đánh giá giá trị kinh tế tài nguyên môi trường dùng trong lĩnh vực du lịch tức là thừa nhận giá trị kinh tế của môi trường mang lại, đồng thời cũng nỗ lực đưa ra những giá trị bằng tiền của các tài nguyên tự nhiên và dịch vụ môi trường vốn không có giá trên thị trường

Giá trị tài nguyên môi trường khi đã được xác định được sẽ dùng cho phân tích lợi ích và chi phí để làm các quyết định dự án chính sách liên quan đến môi trường Trong phạm vi khóa luận thì việc xác định được giá trị bằng tiền nếu Đa Nhim được cho phép phát triển thành khu du lịch sinh thái sẽ giúp cho các cơ quan du lịch có những chính sách, chiến lược phát triển các tài nguyên một cách hợp lý vừa thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch vừa mang lại doanh thu cho ngành

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Hầu hết tài nguyên môi trường là tài sản công cộng không có sự mua bán trên thị trường nên không có giá cả Do đó không thể sử dụng phương pháp giá thị trường

để xác định giá trị cho một tài nguyên môi trường mặc dù ai cũng biết nó có giá trị rất lớn Khóa luận có sử dụng phương pháp định giá với những cách tiếp cận trực tiếp hay gián tiếp nhằm xác định giá trị tiềm năng cho các tài nguyên môi trường Trong phạm

vi khóa luận này, phương pháp thích hợp nhất để sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp chi phí du hành (TCM) để xác định giá trị tiềm năng du lịch sinh thái hồ

Đa Nhim từ đó đưa ra những chính sách đầu tư, định hướng phát triển một cách có hiệu quả

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

a Đối với số liệu thứ cấp:

Số liệu thứ cấp được thu thập từ:

Trang 35

- Ban quản lý hồ ĐaNhim

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh Lâm Đồng

- Ủy ban nhân dân huyện Đơn Dương

- Các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu trên internet, v.v

b Đối với số liệu sơ cấp:

ư

Số liệu sơ cấp đ ợc thu thập thông qua việc làm bảng câu hỏi điều tra về nhu cầu tham quan hồ Đa Nhim với một mức chi phí trả thêm của khách du lịch ở Đà Lạt nếu Đa Nhim được Nhà nước cho phép đưa vào chương trình phát triển du lịch sinh thái bao gồm các thông tin về giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, số lần tham quan, nơi xuất xứ của khách tham quan, chi phí đi lại trực tiếp, v.v Phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp được sử dụng để thu thập thông tin Đối tượng điều tra là khách du lịch tại Đà Lạt, việc điều tra được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với tổng số mẫu điều tra là 100 mẫu

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được để trong các tập tin Excel, và cho xử lý bằng phần mềm Eview 3.0 cùng các thao tác xử lý trong Excel, sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất OLS (Ordinary Least Square) tuân theo phân phối chuẩn

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp ngoại suy

+ Phương pháp thống kê mô tả: dùng các số thống kê tổng hợp để mô tả các tính chất đặc trưng của tập hợp dữ liệu, phương pháp này cho ta hiểu về dữ liệu chính xác hơn là bảng và đồ thị phân phối tần số

+ Phương pháp tổng hợp: từ những số liệu thực tế thu thập được tổng hợp, phân tích để đạt được những kết quả đáng mong muốn

+ Phương pháp ngoại suy: sử dụng những kết quả từ các phương pháp trên để

đề xuất các giải pháp phát triển tiềm năng kinh tế của hồ Đa Nhim

3.2.3 Phương pháp phân tích hồi quy

a Khái niệm hồi quy

Hồi quy là công cụ cơ bản để đo lường kinh tế Phân tích hồi quy đo lường mối quan hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hay nhiều biến khác (được gọi là biến độc lập hay biến giải thích)

24

Trang 36

b Phân tích hồi quy được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Xác định và nêu ra các giả thiết về mối quan hệ giữa các biến kinh tế

Kỹ thuật ước lượng hồi quy được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp bình phương bé nhất (OLS-Ordinary Least Squares) dựa trên ba giả thiết của mô hình như sau:

- Mối quan hệ giữa Y và Xi là tuyến tính (theo tham số)

- Xi là các biến số ngẫu nhiên và các giá trị của nó là không đổi Ngoài ra không

có sự tương quan hoàn hảo giữa hai hay nhiều hơn các biến độc lập

- Số hạng sai số có giá trị kỳ vọng bằng không và phương sai không đổi (là hằng số) cho tất cả các quan sát tức là E(εi) = 0 và E(εi2) = 0 Các biến số ngẫu nhiên

εi là độc lập về mặt thống kê Như vậy, E(εiεj) = 0 với i≠j Số hạng sai số tuân theo phân phối chuẩn

Bước 2: Thiết lập mô hình toán học để mô tả quan hệ giữa các biến số

Phương trình hồi qui dạng Cobb - Douglas được sử dụng:

Xi: Biến số độc lập (i= 1,2,…,k, ,n)

α i: Hệ số ước lượng (i= 0,1,2,…,k,…,n)

ε : Sai số của mô hình

Bước 3: Ước lượng các tham số của mô hình (α i)

Các ước lượng này là các giá trị thực nghiệm của tham số trong mô hình Ngoài

ra, theo lý thuyết kinh tế lượng, nếu các giả thiết của mô hình đều thỏa, các hàm ước lượng α i là tuyến tính, không thiên lệch, tốt nhất (BLUE – Best Linear Unbiased Estimation)

Bước 4: Kiểm định các giả thiết đặt ra

Bước 5: Phân tích mô hình

3.2.4 Phương pháp TCM (Travel Cost Method) – phương pháp chi phí du hành

a Giới thiệu chung về phương pháp chi phí du hành

Phương pháp chi phí du hành là một phương pháp về sự lựa chọn ngầm của các

cá nhân, có thể dùng để ước lượng đường cầu đối với các điểm vui chơi giải trí, du lịch, cảnh quan (ví dụ rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, đập nước, hồ chứa, rừng

Trang 37

có các dịch vụ giải trí, bãi biển, điểm du lịch sinh thái, v.v.) và từ đó đánh giá giá trị của các điểm vui chơi giải trí, du lịch hay cảnh quan này

Giả thiết của cơ bản của phương pháp TCM rất đơn giản, đó là chi phí phải tốn

để tham quan một nơi nào đó (ví dụ như chi phí nhiên liệu) phần nào phản ánh được giá trị giải trí của nơi đó Chúng ta sẽ phỏng vấn khách tham quan xem họ từ đâu đến

Từ những câu trả lời của khách tham quan, chúng ta có thể tính toán chi phí du hành của họ và liên hệ đến số lần tham quan trong một năm

Chi phí du hành càng cao thì nhu cầu (số lần đi du lịch) càng giảm phản ánh cho quy luật của đường cầu là một đường dốc xuống

Ngoài ra, các yếu tố khác như thu nhập, trình độ văn hóa, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, sở thích, v.v cũng có thể ảnh hưởng đến mức độ thường xuyên mà người

ta đi tham quan một địa điểm

Chi phí du hành = Chi phí đi lại + Chi phí lưu trú tại chỗ du lịch (ăn uống, ở, tuỳ mục đích tới) + Chi phí cơ hội của việc đi chơi (chi phí thời gian)

Khi cố định các biến khác chỉ có chi phí du hành biến đổi ta sẽ vẽ được đường cầu du lịch theo chi phí du hành, diện tích dưới đường cầu này chính là giá trị trung bình của điểm du lịch đối với mỗi cá nhân, nhân giá trị này với tổng số lượng khách tới một điểm du lịch, ta sẽ được tổng giá trị giải trí của điểm du lịch đó

b Ưu và Nhược điểm của TCM

TCM được hiểu là một phương pháp tương đối đơn giản, dựa trên cơ sở một giả thiết hợp lý là giá trị giải trí phải liên quan đến chi phí du hành Tuy nhiên, có một số vấn đề nảy sinh đối với phương pháp này

- Chi phí thời gian

Giả thiết cơ bản của TCM là chi phí du hành phản ánh giá trị giải trí của một khu vực sinh thái hoặc danh lam thắng cảnh Để đơn giản hóa việc áp dụng TCM, có thể giả thiết rằng chi phí du hành chỉ liên quan đến phí tổn nhiên liệu hoặc nơi lưu trú

và ăn uống Tuy nhiên yếu tố thời gian cũng có giá trị đối với địa điểm du lịch đang khảo sát, bởi vì khoảng thời gian ngồi trên xe đi du lịch không thể làm một công việc khác Đây là một dạng chi phí ẩn (chi phí cơ hội) Do đó chúng ta phải tính thêm giá trị thời gian vào chi phí du hành để phản ánh giá trị thực tế mà một khách du lịch có được khi đi thưởng ngoạn phong cảnh Đã có nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm ước

26

Trang 38

lượng giá trị của thời gian Ví dụ như, người ta so sánh thời gian du hành của các phương tiện đi làm khác nhau với chi phí của những cách đo lường sự khác nhau này nhưng người ta vẫn chưa đạt được sự nhất trí trong vấn đề này Mặc khác nhiều người thích đi du lịch, đối với họ cuộc hành trình tới nơi du lịch không phải là chi phí mà là lợi ích Khi đó chi phí du hành phải trừ bớt đi lợi ích thời gian, có nghĩa là phương pháp TCM đơn giản bây giờ lại đánh giá quá cao giá trị cảnh quan trong các trường hợp như thế

- Một hành trình nhiều nơi tham quan

Nếu một cá nhân tham quan một vài cảnh quan trong cùng một hành trình trong ngày nhưng lại được phỏng vấn theo phương pháp TCM tại một trong những cảnh quan ấy thôi, vậy thì các nhà phân tích sẽ phân bổ chi phí du hành của cá nhân đó như thể nào? Trong suốt một ngày, người khách có thể có chi phí du hành cao, nhưng chỉ một phần trong chi phí đó phản ánh cho cảnh quan được phỏng vấn mà thôi Theo quy ước, các nhà phân tích đã cố gắng dùng tỷ lệ phần trăm (%) so với tổng chi phí du hành trong ngày, đôi khi họ hỏi khách du lịch để biết tỷ lệ này Sai số ước lượng trong trường hợp này là chắc chắn

- Các cảnh quan thay thế

Một khách du lịch có thể vượt qua hàng trăm km đường để đến thăm một cảnh quan mà họ đặc biệt ưa thích, trong khi cũng có một người khác không ưa thích phong cảnh này lắm nhưng có thể đi qua cùng một quãng đường từ một hướng khác để tham quan vì chẳng còn một cảnh quan nào khác ở gần nhà họ Việc dùng phương pháp TCM đơn giản có thể mang lại kết quả là cả hai du khách đều có cùng giá trị giải trí như nhau về cảnh quan này, điều này rõ ràng là không đúng Một vài nhà phân tích cố gắng cho phép tính cả điều này bằng cách hỏi khách du lịch cho biết cảnh quan thay thế Tuy nhiên, việc này vừa phức tạp về mặt thống kê vừa dẫn đến sai sót

Trang 39

được biết từ rất nhiều năm nay, rất gần đây nó mới được các nhà phân tích cố gắng đem yếu tố này vào bảng câu hỏi của họ

- Các du khách không tốn chi phí

Các nghiên cứu TCM thường bỏ đi những du khách không tốn chi phí du hành, nghĩa là những người đi bộ đến từ các nhà gần đó Tuy nhiên, nhóm này đánh giá rất cao về điểm du lịch, cảnh quan

Tóm lại TCM được xây dựng trên giả thiết rất đơn giản và khá có căn cứ rằng chi phí du hành phản ánh giá trị giải trí Nó cho phép chúng ta ước lượng đường cầu và

từ đó tính giá trị giải trí Tuy nhiên trong thực tế có nhiều vấn đề áp dụng cần phải được giải quyết trước khi chúng ta có thể chấp nhận cách đánh giá bằng tiền của phương pháp này

Có hai phương pháp tính chi phí du hành đó là phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) và phương pháp chi phí du hành theo cá nhân (ITCM)

- Phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM)

Các bước thực hiện:

Bước 1: Phương pháp này đòi hỏi phải chia những khu vực xung quanh điểm

du lịch thành những vùng khác nhau tùy thuộc vào khoảng cách đến điểm du lịch cần nghiên cứu Khi đó những vùng này sẽ là những vòng tròn đồng tâm lấy điểm du lịch cần nghiên cứu là tâm điểm với chi phí đi lại trong một vòng là như nhau, tuy nhiên để

dễ dàng cho việc nghiên cứu, các nhà nghiên cứu thường phân vùng theo khu vực hành chính Thiết kế bảng câu hỏi, chọn mẫu, tiến hành điều tra

Bước 2: Thu thập thông tin về số lượng du khách từ mỗi vùng và số lượng

khách đến năm trước đó Tính tỷ lệ du khách trên một nghìn người dân trong mỗi vùng (tổng số lượt khách tham quan trong vùng/1000 dân)

Bước 3: Tính số lần đi du lịch hàng năm theo vùng, thu thập thông tin về dân số

của vùng

Bước 4: Tính khoảng cách khứ hồi trung bình của một chuyến tham quan, thời

gian du hành đến địa điểm cho mỗi vùng giả định vùng 0 sẽ có khoảng cách là 0 và vùng khác sẽ có khoảng cách du hành tăng lên

Sử dụng chi phí trung bình trên mỗi km và mỗi giờ của thời gian du hành để tính chi phí du hành trên mỗi chuyến tham quan

28

Trang 40

Bước 5: Ước lượng hàm cầu du khách trung bình bằng phương pháp ZTCM có

Sz: các biến về kinh tế xã hội của vùng z

Khi hàm số (1) được ước lượng bằng việc sử dụng hàm hồi quy bội, hàm cầu sẽ được xác định bằng cách xem số lần đi du lịch của mỗi vùng thay đổi như thế nào khi cho chi phí biến đổi, từ đó xác định được đường cầu du lịch cho mỗi vùng

Bước 6: Xây dựng đường cầu cho số lượt tham quan địa điểm sử dụng kết quả

phân tích hồi quy Điểm đầu tiên trên đường cầu là tổng du khách đến địa điểm với chi phí hiện tại (giả định rằng không có lệ phí vào cổng) Điểm còn lại được tìm bằng cách ước lượng số lượng du khách với những mức lệ phí vào cổng giả định khác nhau

Hình 3.2 Đường Cầu Số Lần Đi Du Lịch từ Vùng Z

Bước 7: Ước lượng tổng lợi ích kinh tế của địa điểm giải trí bằng cách tính

thằng dư của người tiêu dùng

- Phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM)

Phương pháp này sử dụng số lần du lịch hàng năm của khách du lịch đến điểm

du lịch đang nghiên cứu

Ngày đăng: 12/09/2018, 18:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w