1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ứng dụng các phần mềm cờ vua và hệ thống Internet trong giảng dạy cờ vua cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

317 247 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 317
Dung lượng 17,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH TRẦN VĂN TRƯỜNG ỨNG DỤNG CÁC PHẦN MỀM CỜ VUA VÀ HỆ THỐNG INTERNET TRONG GIẢNG DẠY CỜ VUA

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

TRẦN VĂN TRƯỜNG

ỨNG DỤNG CÁC PHẦN MỀM CỜ VUA VÀ HỆ THỐNG INTERNET TRONG GIẢNG DẠY CỜ VUA CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH CỜ VUA NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

BẮC NINH – NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

TRẦN VĂN TRƯỜNG

ỨNG DỤNG CÁC PHẦN MỀM CỜ VUA VÀ HỆ THỐNG INTERNET TRONG GIẢNG DẠY CỜ VUA CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH CỜ VUA NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào

Tác giả luận án:

Trần Văn Trường

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN

BGD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo

CNTT Công nghệ thông tin

Trang 5

MỤC LỤC

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới, nâng cao chất lượng

đào tạo Đại học ở Việt Nam

1.2 Các quan điểm về đổi mới phương pháp dạy học đại học 13

1.2.1 Những yêu cầu của thời đại đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học

13

1.3 Các nguyên tắc, phương pháp, phương tiện sử dụng trong giảng

dạy cờ vua

19

1.4 Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng

dạy, huấn luyện Cờ vua

27

1.4.4 Giảng dạy và huấn luyện từ xa với việc sử dụng những

nguồn dữ liệu Cờ vua trên mạng “Internet”

32

Trang 6

1.5 Những công trình nghiên cứu có liên quan 38

3.1 Thực trạng công tác giảng dạy cờ vua cho sinh viên chuyên ngành

cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

60

3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giảng dạy -

học môn cờ vua

61

3.1.3 Thực trạng chương trình môn học sinh viên chuyên ngành

cờ vua ngành Giáo dục thể chất trường Đại học TDTT Bắc Ninh

62

3.1.4 Thực trạng công tác thi kiểm tra đánh giá môn học chuyên

ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất

64

3.1.5 Thực trạng hình thức dạy học cờ vua và kết quả đánh giái

của sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại

học TDTT Bắc Ninh

67

Trang 7

3.1.6 Thực trạng hoạt động ngoại khóa môn chuyên ngành cờ vua

của sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

71

3.1.7 Thực trạng các phương pháp giảng dạy môn chuyên ngành

cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

72

3.1.8 Thực trạng các phương tiện giảng dạy môn chuyên ngành

cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

74

3.1.9 Đánh giá thực trạng kết quả công tác giảng dạy sinh viên

chuyên ngành cờ vua

82

3.1.10 Thực trạng mức độ hài lòng của cơ sở sử dụng về chất

lượng cán bộ chuyên ngành được đào tạo tại Bộ môn Cờ

83

3.1.11 Bàn luận về thực trạng công tác giảng dạy sinh viên

chuyên ngành cờ vua ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

86

3.2 Lựa chọn và khai thác phần mềm cờ vua và hệ thống dữ liệu trên

mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành

Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

94

3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn các phần mềm cờ vua và hệ thống dữ

liệu trên mạng Internet sử dụng trong giảng dạy sinh viên chuyên ngành

cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

94

3.2.2 Nghiên cứu khai thác cơ sở dữ liệu các phần mềm cờ vua và

hệ thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên cờ

vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

102

3.2.3 Xây dựng giáo án ứng dụng các phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Interent trong giảng dạy

104

3.2.4 Các điều kiện đảm bảo để thực hiện việc ứng dụng các phần

mềm cờ vua và hệ thống Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên

ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất

110

3.2.5 Bàn luận về kết quả theo 3.2.1 lựa chọn các phần mềm cờ

vua và hệ thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy sinh viên

chuyên ngành Giáo dục thể chất

112

Trang 8

3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên

ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất trường Đại học TDTT Bắc Ninh

115

3.3.1 Lựa chọn hình thức và test đánh giá hiệu quả ứng dụng các

phần mềm cờ vua và hệ thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng

dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua

115

3.3.2 Tổ chức ứng dụng các phần mềm cờ vua và hệ thống dữ liệu

trên mạng Internet trong thực tiễn giảng dạy

117

3.3.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng các phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên

ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

118

3.3.4 Bàn luận về hiệu quả ứng dụng các phần mềm và hệ thống

dữ liệu trên Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua

ngành Giáo dục thể chất trường đại học TDTT Bắc Ninh

125

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

3.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động

giảng dạy - học tập môn cờ vua tại bộ môn Cờ trường Đại học TDTT Bắc Ninh

62

3.3 Phân phối chương trình môn học cờ vua cho sinh

viên chuyên ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất

64

3.4 Mức độ hài lòng của sinh viên về công tác kiểm tra

đánh giá của Bộ môn Cờ Trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=60)

66

3.5 Thống kê thực trạng các hình thức giảng dạy cờ vua

cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất trường Đại học TDTT Bắc Ninh

68

3.6 Kết quả phỏng vấn việc xác định thực trạng việc tổ

chức giờ học của giảng viên Bộ môn Cờ Trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=14)

69

3.7 Kết quả xác định mức độ hài lòng của sinh viên tốt

nghiệp chuyên ngành cờ vua về công tác tổ chức giảng dạy của Bộ môn Cờ (n=60)

Sau

69

3.8 Thực trạng hoạt động ngoại khóa môn chuyên ngành

của sinh viên cờ vua trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=90)

71

3.9 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp giảng dạy

cờ vua cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=12)

Sau

73

3.10 Thực trạng việc sử dụng bài tập trong giảng dạy môn

chuyên ngành Cờ Vua ngành Giáo dục thể chất

các phần mềm cờ vua trong giảng dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=14)

Sau

80

3.13 Thực trạng nội dung khai thác các phần mềm cờ vua

trong giảng dạy theo học phần

82

3.14 Thực trạng kết quả học tập môn chuyên ngành của

sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh năm học 2012

- 2013

83

Trang 10

3.15 Kết quả xác định mức độ hài lòng của cơ sở sử dụng

về chất lượng cán bộ chuyên ngành thông qua các

nhóm yếu tố (n=50)

85

3.16 Kết quả xác định mức độ hài lòng của cơ sở sử dụng

về chất lượng các cán chuyên ngành thông qua các

yếu tố (n=50)

Sau

85

3.17 Kết quả phỏng vấn xác định các yêu cầu sư phạm

trong lựa chọn phần mềm cờ vua và hệ thống dữ liệu

trên mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên

ngành cờ vua Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

(n=48)

96

3.18 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các phần mềm cờ vua

trong giảng dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua

Trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=48)

Sau

100

3.19 Kết quả phỏng vấn lựa chọn hệ thống dữ liệu trên

mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên

ngành cờ vua Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

3.21 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 2 (n=14)

Sau

101

3.22 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy

học phần 3 (n=14)

Sau

101

3.23 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 4 (n=14)

Sau

101

3.24 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 5 (n=14)

Sau

101

3.25 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 6 (n=14)

Sau

101

3.26 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 7 (n=14)

Sau

101

3.27 Nội dung cần khai thác phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 1

Sau

103 3.28 Nội dung cần khai thác phần mềm cờ vua và hệ Sau

Trang 11

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 2

103

3.29 Nội dung cần khai thác phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 3

Sau

103

3.30 Nội dung cần khai thác phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy

học phần 4

Sau

103

3.31 Nội dung cần khai thác phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy

học phần 5

Sau

103

3.32 Nội dung cần khai thác phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 6

Sau

103

3.33 Nội dung cần khai thác phần mềm cờ vua và hệ

thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy học

phần 7

Sau

103

3.34 Kết quả phỏng vấn xác định cách thức đánh giá hiệu

quả ứng dụng của các phần mềm và hệ thống dữ liệu

trên mạng Internet (n=48)

116

3.35 Các test đánh giá năng lực chuyên môn cơ bản cho

sinh viên chuyên sâu cờ vua ngành Giáo dục thể chất

117

3.36 Bảng 3.36 So sánh kết quả kiểm tra trước thực

nghiệm giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm

của năm thứ nhất (khóa 49)

Sau

118

3.37 So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm giữa

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ

hai (khóa 48)

Sau

118

3.38 So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm giữa

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ

ba (khóa 47)

Sau

118

3.39 So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm giữa

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ

tư (khóa 46)

Sau

118

3.40 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm giai đoạn

1 giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của

sinh viên năm thứ nhất (khóa 49)

Sau

119

3.41 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm giai đoạn

1 giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của

sinh viên năm thứ hai - kết thúc học phần 3 (khóa

48)

Sau

119

3.42 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm giai đoạn

1 giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của

Sau

119

Trang 12

sinh viên năm thứ ba - kết thúc học phần 5 (khóa 47) 3.43 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm giai đoạn

1 giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của sinh viên năm thứ tư - kết thúc học phần 7 (khóa 46)

Sau

119

3.44 So sánh kết quả học tập môn chuyên ngành của

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm (kết thúc học kỳ 1)

120

3.45 So sánh chỉ số Elo thông qua ứng dụng Facebook ở

thời điểm kết thúc thực nghiệm

121

3.46 So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (giai

đoạn 2) giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ nhất (khóa 49)

122

3.47 So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (giai

đoạn 2) giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ hai (khóa 48)

Sau

122

3.48 So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (giai

đoạn 2) giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ ba (khóa 47)

Sau

122

3.49 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm (giai đoạn

2) giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ nhất - kết thúc học phần 2 (khóa 49)

123

3.50 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm (giai đoạn

2) giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ hai - kết thúc học phần 4 (khóa 48)

Sau

123

3.51 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm (giai đoạn

2) giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của năm thứ ba - kết thúc học phần 6 (khóa 47)

Sau

123

3.52 So sánh kết quả học tập môn chuyên ngành của

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm ở thời điểm sau thực nghiệm (học kỳ 2 năm học 2013-2014)

124

3.53 So sánh chỉ số Elo thông qua ứng dụng Facebook ở

thời điểm kết thúc thực nghiệm (học kỳ 2 năm học 2013-2014)

124

Sơ đồ 3.1 Quy trình xây dựng giáo án ứng dụng các phần mềm

cờ vua và hệ thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên sâu cờ vua ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

110

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã mang lại cho con người ngày càng nhiều công cụ, phương tiện mới trong mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có cả quá trình dạy học Việc sử dụng những công cụ, phương tiện khoa học kỹ thuật mới không những giúp cho con người có thêm nhiều khả năng trong việc cải tạo và chinh phục thế giới mà còn giúp cho con người hiểu sâu sắc hơn về bản chất của sự vật, hiện tượng

Trong quá trình dạy học, các phương tiện kỹ thuật vừa giảm nhẹ công việc của giáo viên vừa giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh có được nhiều cách tiếp cận và lĩnh hội kiến thức mới hơn, nhờ đó

mà quá trình tư duy lôgic của học được rút ngắn Vì vậy, các phương tiện kỹ thuật như máy vi tính, phần mềm hỗ trợ học tập, cũng như mạng Internet đã trở thành con đường để học sinh khám phá khoa học kỹ thuật và kho tàng tri thức nhân loại

Sự phát triển nhanh chóng và chứng minh khả năng kỳ diệu của con người trong chinh phục tự nhiên của khoa học và công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), nhân loại đang bắt đầu thời kỳ quá

độ sang nền kinh tế tri thức Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế

giới trong tất cả các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Trong bối cảnh đó, ngày 04/11/2013 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã

ra nghị quyết số 29/2013/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nghị quyết chỉ ra những công việc cụ thể mà ngành Giáo dục và các trường đại học trực thuộc cần phải thực hiện Đó là Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo

Trang 14

số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.…”

Trong Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trường, quan

điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là

“mệnh lệnh” của cuộc sống

Trường Đại học TDTT Bắc Ninh là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học của ngành TDTT cũng như của đất nước Với truyền thống hơn 50 năm xây dựng và phát triển, nhà trường đã đào tạo những lớp cán bộ TDTT có trình độ lý luận, năng lực chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của ngành và xã hội Tuy nhiên, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới - nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường và các bộ môn, trong đó có

Bộ môn Cờ Việc cải tiến chương trình môn học, sử dụng các phương pháp cũng như các phương tiện giảng dạy mới luôn là những vấn đề quan tâm hàng đầu hiện nay của bộ môn

Trong quá trình dạy học, các phương tiện kỹ thuật vừa giảm nhẹ công việc của giáo viên vừa giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, giáo viên sẽ có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh có nhiều cách tiếp cận và lĩnh hội kiến thức mới hơn, nhờ đó mà quá trình tư duy lôgic của người học được rút ngắn Vì vậy, các phương tiện kỹ thuật như máy vi tính, phần mềm hỗ trợ học tập, cũng như mạng Internet đã trở thành con đường để học sinh khám phá khoa học kỹ thuật và kho tàng tri thức nhân loại

Ngày nay, với tốc độ khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão thì việc ứng dụng những thành tựu khoa học vào công tác giảng dạy và đào tạo được xác định là hết sức cấp thiết Một trong những thành tựu quan trọng đã đạt

Trang 15

được trong lĩnh vực công nghệ thông tin là hệ thống dữ liệu trên mạng Internet

và những phần mềm chuyên dụng dùng cho máy tính

Thực tiễn công tác giảng dạy cờ vua hiện nay đã cho thấy không thể tách rời các phầm mềm chuyên dụng cờ vua, và đặc biệt là những cơ sở dữ liệu điện

tử trên hệ thống dữ liệu trên mạng Internet

Trên thế giới, vấn đề nghiên cứu ứng dụng và khai thác hệ thống thông tin trên mạng Internet và các phần mềm cờ vua chuyên dụng đã có khá nhiều tác giả quan tâm như: Botvinnhic M.M (1979), Dvoretski M.I (1997), Vonkov V.Iu (2001), Мikhailova I.V (2005) Tuy nhiên, trong điều kiện thực tiễn của hầu hết các nước có phong trào cờ vua phát triển đều có khoảng cách về điều kiện kinh tế cũng như khả năng ứng dụng công nghệ cao trong huấn luyện Bởi lẽ, hiện nay mức giá của các phầm mềm cờ vua chuyên dụng tiên tiến tương đối đắt, cộng với yêu cầu về ngoại ngữ khi khai thác ứng dụng các chương trình này trong thực tiễn giảng dạy, huấn luyện

Ở Việt Nam hiện nay, việc ứng dụng các phần mềm chuyên dụng cờ vua phục vụ cho công tác giảng dạy và huấn luyện đã được một số trung tâm cờ vua mạnh quan tâm sử dụng như: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đồng Tháp, Cần Thơ Tuy nhiên, những hạn chế về điều kiện kinh tế cũng như trang thiết

bị chưa đảm bảo yêu cầu, bên cạnh đó vấn đề khai thác các phần mềm của người dạy và người học còn gặp nhiều khó khăn, được xác định là những nguyên nhân

cơ bản cản trở việc ứng dụng các phần mềm cờ vua và hệ thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy, huấn luyện cờ vua hiện nay ở nước ta

Các phần mềm cờ vua và hệ thống dữ liệu trên mạng Internet có thể được xem như “trợ lý giảng dạy nhân tạo” của các giáo viên trong quá trình đào tạo sinh viên chuyên ngành cờ vua hiện nay Với những phương tiện hỗ trợ này, có thể giúp nâng cao được mật độ động của các giờ giảng dạy trên lớp cũng như các giờ học tự nghiên cứu Ngoài ra, mối liên hệ giữa giáo viên và sinh viên cũng được gắn kết chặt chẽ và linh hoạt hơn Tuy nhiên, cho dù áp dụng công

Trang 16

nghệ hiện đại nào, vẫn không thể phủ nhận được vai trò chủ đạo của giáo viên trong tổ chức và quản lý, chuyển tải lượng kiến thức trong mỗi giời học

Việc nghiên cứu ứng dụng các phần mềm: Chessmater, Fritz, Chess Assistant 3.0, Chessbase 9.0, trong giảng dạy môn cờ vua cho đối tượng chuyên ngành đã được Bộ môn Cờ trường Đại học TDTT Bắc Ninh triển khai trong những năm qua với các tác gia như Trần Văn Trường (2006), Bùi Ngọc (2008), Nguyễn Hải Bằng (2012), Nguyễn Hồng Dương (2012), Đàm Công Tùng (2015) Tuy nhiên, việc triển khai vào thực tiễn giảng dạy không thường xuyên và có hệ thống vì điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn hạn chế, đã dẫn tới hiệu quả khai thác các phần mềm cờ vua chưa cao và thiếu tính hệ thống Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm của công nghệ thông tin vào giảng dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, góp phần đáp ứng tốt yêu cầu đào tạo trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Ứng dụng các phần mềm cờ vua và hệ thống Internet trong giảng dạy cờ vua cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh”

Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác giảng dạy cờ vua cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, đề tài tiến hành ứng dụng và đánh giá hiệu quả các phần mềm cờ vua và hệ thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC, góp phần giải quyết nội dung chương trình đào tạo đặt ra, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng công tác giảng dạy cờ vua cho sinh

viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Trang 17

Mục tiêu 2: Lựa chọn và khai thác các phần mềm cờ vua và hệ thống dữ

liệu trên mạng Internet trong giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các phần mềm cờ vua và

hệ thống dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành

cờ vua ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Giả thuyết nghiên cứu: Đề tài đặt giả thuyết rằng, trước thực trạng ứng

dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại trong giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh còn hạn chế, nếu ứng dụng các phương tiện giảng dạy mới – các phần mềm cờ vua và hệ thống Internet một cách khoa học, sẽ cho phép nâng cao được trình độ chuyên môn của sinh viên Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giảng dạy

Ý nghĩa khoa học: Quá trình nghiên cứu luận án đã khái quát được hệ

thống lý luận và phương pháp ứng dụng, đánh giá hiệu quả các phần mềm cờ vua và hệ thống cơ sở dữ liệu trên mạng Internet trong giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học cho việc tổ chức triển khai ứng dụng chúng trong thực tiễn

Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác giảng dạy cờ

vua cho sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, luận án đã lựa chọn, tổ chức ứng dụng và đánh giá được hiệu quả các phần mềm cờ vua và hệ thống cơ sở dữ liệu trên mạng Internet trong thực tiễn giảng dạy

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo Đại học ở Việt Nam

1.1.1 Thực trạng giáo dục Đại học ở Việt Nam trong những năm gần đây

Sự nghiệp giáo dục từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải qua gần 70 năm và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, nền giáo dục của nước ta ngày càng bộc lộ những bất cập và hạn chế

Về mục tiêu, thời gian gần đây, mục tiêu Giáo dục Đại học (GDĐH) ở

nước ta có sự thay đổi, như việc xác định quan niệm, mục đích của GDĐH là đào tạo nhân tài (Luật Giáo dục Việt Nam năm 2012) Tuy nhiên, hiểu thế nào là nhân tài thì cho đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất Nếu coi nhân tài là người có sáng kiến, có khả năng, năng động, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển dù trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận hay hoạt động thực tiễn, nghĩa là nhân tài phải là những người nổi trội và hiếm trong xã hội thì mục tiêu này khó đạt được đối với chất lượng thực tế của GDĐH ở Việt Nam hiện nay Trong thực tế, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, nhiều lắm cũng mới chỉ đủ khả năng trang bị cho người học (sinh viên, học viên hay nghiên cứu sinh…) kiến thức cơ bản, trang bị khả năng phân tích độc lập, dám suy nghĩ và biết suy nghĩ (suy nghĩ có phương pháp - tư duy khoa học) [47]

Trong khi đó, rất nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả các quốc gia có nền GDĐH tiên tiến khi đặt ra mục tiêu giáo dục, họ đều nêu lên những mục tiêu rất thực tế Một trường đại học danh tiếng ở Mỹ đã xác định mục tiêu của mình như sau: “Mục đích của môi trường giáo dục và sinh hoạt sinh viên là đào tạo những cá nhân thành đạt và công dân có trách nhiệm Người tốt nghiệp cảm thấy

tự tin trong việc tìm hiểu rộng rãi nhiều vấn đề và kinh nghiệm ở môi trường đại

Trang 19

học hay ngoài đời, dù là học bất cứ ngành chuyên môn nào” Chữ “thành đạt” có thể hiểu là có sự hiểu biết về tri thức cơ bản, được sửa soạn kỹ càng để có thể tự tin vào đời và vào thị trường lao động (kiếm sống cũng như phát triển tri thức) Nhưng mục đích đào tạo thành những “công dân có trách nhiệm” thì được thể hiện rất rõ ràng [75]

Với những mục tiêu như vậy, hầu hết các trường đại học ở Việt Nam hiện nay ít đặt ra hoặc chưa thực sự coi trọng, nên cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm giảm chất lượng sản phẩm (người học) sau đào tạo

Về nội dung, trong một thời gian dài, những nội dung và chương trình

giáo dục khá phù hợp với nền giáo dục của nước ta và đã mang lại những thành tựu hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, nội dung chương trình GDĐH nước ta đang bộc lộ rất nhiều bất cập và hạn chế:

Một là, nội dung kiến thức đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực

hành, chưa tạo được sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu tìm kiếm việc làm đối với người học

Hai là, chưa tạo được sự liên thông giữa các chuẩn mực GDĐH trong

nước và quốc tế Mặc dù được đặt dưới sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng trên thực tế, khả năng liên thông kiến thức giữa các

cơ sở GDĐH ở nước ta hiện nay còn rất hạn chế, ít thừa nhận và tiếp nhận các kết quả đào tạo của nhau, nên người học rất khó khăn khi chuyển trường, ngành học

Ba là, chương trình học còn nặng với thời lượng lớn Một thống kê và so

sánh cho thấy, thời gian học 4 năm ở một lớp đại học tại Việt Nam là 2.138 giờ

so với Mỹ là 1.380 giờ Như vậy chương trình học ở Việt Nam dài hơn 60% so với Mỹ Thời gian học nhiều như vậy nên người học khó tránh khỏi việc rơi vào trạng thái luôn bị áp lực hoàn thành các chương trình môn học, ít có thời gian để

tự học, tự nghiên cứu, hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác [75]

Trang 20

Nhìn chung, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nội dung chương trình GDĐH tại Việt Nam hiện nay tỏ ra bất cập và kém hiệu quả Đây cũng được coi

là nguyên nhân cơ bản khiến nền GDĐH ở Việt Nam đang có xu hướng tụt hậu

Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học, các trường đại học

ở nước ta hiện nay nhìn chung chưa tiếp cận với các phương pháp và hình thức

tổ chức dạy học đại học phổ biến của thế giới Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay,

do quan niệm giáo dục cần trang bị cho người học một lượng kiến thức càng nhiều càng tốt để họ có thể có một nền tảng vững chãi khi ra trường nên vai trò,

vị trí của người học chưa thực sự được quan tâm Các phương pháp và hình thức

tổ chức dạy học còn khá lạc hậu Kết quả khảo sát thực địa của Viện Hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ năm 2006 có phần nhận xét về phương pháp dạy và học đại

học của Việt Nam như sau: “Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực, kết quả là

có ít sự tương tác giữa sinh viên và giáo viên trong và ngoài lớp học; quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn mạnh vào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn đến hậu quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu; sinh viên học một cách thụ động”

[dòng 7 tr 2 33] Mặc dù những năm gần đây, theo chủ trương của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã bắt đầu áp dụng phương pháp giảng dạy sinh viên theo phương thức tín chỉ, nhưng theo đánh giá

của nhiều chuyên gia, “Đào tạo tín chỉ ở Việt Nam hiện chưa thực sự đúng với tinh thần của tín chỉ Cách dạy, học vẫn còn chưa thoát khỏi tinh thần niên chế Tính chủ động của sinh viên còn yếu kém [dòng 14 tr 3 48] Sự đổi mới về

phương pháp giảng dạy trong các trường đại học ở nước ta hiện nay nhiều khi chỉ mang tính hình thức Các thiết bị giảng dạy, như máy chiếu, video chỉ là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy, điều quan trọng hơn cả là

sự nhận thức rằng giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm thể hiện qua việc cải tiến về phương pháp và chương trình học vẫn chưa được chú trọng [33];[48];[60]

Trang 21

Các phân tích trên chưa phản ánh đầy đủ và thực chất nền giáo dục Việt Nam hiện nay, nhưng là hồi chuông nhắc nhở để có ngay các giải pháp để đổi mới có hiệu quả giáo dục nước nhà, trong đó có GDĐH nếu không muốn ngày càng tụt hậu xa hơn so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

1.1.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng Giáo dục Đại học ở Việt Nam

Cùng với quá trình đổi mới đất nước nói chung, đổi mới nền giáo dục nước nhà, trong đó có GDĐH, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” Ngày 04-11-2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [71]

Trong Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là

“mệnh lệnh” của cuộc sống [73]

Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”

Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn

nhân lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết Thứ nhất, do chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo ở nước ta còn thấp so với yêu

cầu của công cuộc đổi mới, nhất là GDĐH và giáo dục nghề nghiệp Hiện nay,

Trang 22

toàn quốc có hơn 70.000 cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ tốt nghiệp ra trường, nhưng không tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không đúng nghề đào tạo;

nhiều người được tuyển chọn phải đào tạo lại mới sử dụng được Thứ hai, hệ

thống giáo dục-đào tạo ở nước ta còn bị khép kín, thiếu liên thông giữa các trình

độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo, còn nặng lý thuyết, nhẹ thực

hành Thứ ba, chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, với

sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường, dẫn đến tình trạng thừa thầy,

thiếu thợ Thứ tư, chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và kỹ năng, phương pháp làm việc Thứ năm, phương pháp giáo dục còn

lạc hậu, chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều; tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá

kết quả còn thiếu thực chất, mắc bệnh thành tích Thứ sáu, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu Thứ bảy, cơ

chế, chính sách, đầu tư cho giáo dục, đào tạo chưa phù hợp; cơ sở vật chất-kỹ thuật thiếu đồng bộ, còn lạc hậu…[2]

Từ khi có Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, trong xã hội ta, về nhận thức đã có sự thay đổi nhất định, dần đi đến thống nhất về sự cần thiết phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học Để “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực” đạt hiệu quả cao, chúng

ta phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp

Một giải pháp quan trọng được nêu, đó là: “Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ

mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo theo

hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học” Trên cơ sở

xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới GDĐH, công khai mục tiêu, chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo, thì việc tiếp theo là đổi mới chương trình khung các môn học và nội dung của nó theo hướng phát triển mạnh năng lực và phẩm chất người học, bảo đảm hài hòa đức, trí, thể, mỹ; thực hiện tốt phương châm mới: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy người, dạy nghề)

Trang 23

Tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng Tăng cường GDTC, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài Nói một cách khác, yếu tố đầu tiên của triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay là tăng cường yếu tố dạy người-chủ nhân của chế độ mới, của xã hội xã hội chủ nghĩa

Cùng với đổi mới chương trình, nội dung giáo dục, đào tạo cần đổi mới công tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học theo hướng đa dạng hóa, cập nhật tri thức mới, đáp ứng yêu cầu của từng bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của từng đối tượng Cần khắc phục lối học tập trung vào một số môn học, một “khuôn” trong một sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu Ở giai đoạn đầu của đổi mới, nên vừa nghiên cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy và học chung cho mọi người, vừa nghiên cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu riêng cho phù hợp với từng loại đối tượng, đáp ứng nhu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, năng khiếu cá nhân Vì vậy, trong xây dựng cấu trúc chương trình môn học cần chú trọng nghiên cứu, biên soạn bổ sung các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo, bổ trợ phù hợp với phát triển phẩm chất, năng lực riêng của một lớp đối tượng Theo đó, cần vận dụng phương pháp, cách thức xây dựng chương trình sau đại học để thiết kế, xây dựng các chương trình khung cho các bậc học theo hướng chuyên đề hóa dành cho người học có năng khiếu

về những lĩnh vực nhất định

Trang 24

Đây là hướng mở để phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân người học, góp phần đào tạo chuyên sâu, chuyên gia Theo đó, nên chia tổng thời gian học thành hai phần, trong đó, một nửa dành cho học các môn chung, số thời gian còn lại dành cho việc học các môn riêng theo năng khiếu để phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân Điều này đòi hỏi người dạy phải tự đổi mới, nâng tầm cao tri thức và đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy cho phù hợp Hơn thế, nó cũng đặt ra cho người quản lý các khoa, trường sư phạm phải đổi mới cách tuyển chọn nhân sự giáo viên, giảng viên theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người giáo viên, giảng viên tương lai Rõ ràng, khi mục tiêu giáo dục, đào tạo được thay đổi căn bản, thì bắt buộc chương trình khung, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo cũng phải thay đổi cho phù hợp

Phương pháp dạy và học mới không chỉ làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành Cùng với đó, cần đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng Cần gắn chặt giáo dục và đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, với sản xuất, kinh doanh; gắn nhà trường, viện nghiên cứu với các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp; gắn lý luận với thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là những phương cách tốt nhất, hiệu quả nhất để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nước nhà, như văn kiện trình Đại hội XII của Đảng đã đề ra

Nhận xét: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển

nguồn nhân lực ở nước ta được nêu trong văn kiện Đại hội XII, về thực chất, là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực này, hiệu ứng của nó sẽ làm biến đổi tích cực nhiều mặt của đời sống xã hội Việt Nam, là sự vun trồng “nguyên khí quốc gia”, làm cho nền học vấn nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững

Trang 25

1.2 Các quan điểm về đổi mới phương pháp dạy học Đại học

1.2.1 Những yêu cầu của thời đại đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học

Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật (KHKT) trong những thập kỷ vừa qua đã và đang tác động mạnh mẽ đến toàn bộ cuộc sống con người, đưa đến nhiều biến đổi lớn lao trên khắp các lĩnh vực đời sống xã hội Thời kỳ tới chắc chắn KHKT còn phát triển mạnh mẽ hơn, đòi hỏi giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo ra những con người vừa có trình độ cao về tri thức, vừa phát triển cao về trí tuệ, sẵn sàng thích ứng với sự phát triển mới của

xã hội

Các cuộc cách mạng lớn của thời đại như: Cách mạng truyền thông, cách mạng tin học, cách mạng công nghệ…Đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang ngày càng khẳng định được tầm quan trọng vừa là nền tảng vừa là động lực để bắt kịp đà phát triển công nghiệp trên thế giới, trong

đó việc sử dụng các phần mềm chuyên dụng vào công tác giảng dạy, huấn luyện cũng đang đặt ra những yêu cầu mới cho con người có đủ khả năng sống và làm việc theo kịp thời đại mới [4]

Vai trò của giáo dục là “không phải chỉ tích tụ tri thức, mà còn thức tỉnh tiềm năng sáng tạo to lơn trong mỗi con người”, làm cho mỗi con người được hưởng quyền cơ bản nhất của mình là giáo dục mà tổ chức giáo dục thế giới – UNESCO đã khẳng định: Đổi mới phương pháp dạy học thực sự là đổi mới vai trò giáo dục, làm cho giáo dục phát huy được vai trò to lớn đối với xã hội hiện tại và tương lai [28]

Nhiều nước trên thế giới đã xem xét lại nền giáo dục của mình và tiến hành đổi mới toàn diện giáo dục Một trong những nội dung quan trọng nhiều nước chú ý là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa, cá thể hóa người học Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học

là biện pháp quan trọng để hòa nhập và góp phần tích cực vào chiến lược phát triển giáo dục mới của thế giới [17]

Trang 26

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hóa người học là thực hiện nghiêm túc và sáng tạo Nghị quyết IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII: “Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” Trong Văn kiện nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,

kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển

từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học [2]

Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học

Đổi mới mạnh mẽ nội dung GDĐH và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống GDĐH Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới

Chính mục tiêu giáo dục và đào tạo của chúng ta hiện nay là đào tạo những con người lao động tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tế của cuộc sống mới đặt ra, tự tạo việc làm, góp phần tích cực xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh Thực hiện mục tiêu đó, nhất thiết phương pháp dạy học phải hướng vào việc khơi dạy, rèn luyện, phát triển khả năng suy nghĩ, thói quen suy nghĩ và làm việc tự chủ, năng động, sáng tạo khi còn học ở nhà trường

Những yêu cầu trên, đòi hỏi ngành Giáo dục phải nghiên cứu đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hóa người học hiện nay

Trang 27

1.2.2 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

1.2.2.1 Phương pháp dạy học phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học

Theo phương hướng này, quá trình dạy học phải huy động toàn bộ các chức năng tâm lý, đặc biệt khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của người học nhằm thực hiện tốt mục tiêu đào tạo do thầy giáo và nhà trường đặt ra Thực hiện được phương hướng này sẽ thực sự biến quá trình đào tạo thành quá trình

tự đào tạo Muốn vậy, cần phải chú ý một số biện pháp cơ bản sau [4];[17];[28]:

Phối hợp hợp lý các kiểu phương pháp dạy học với nhau, các nhóm phương pháp dạy học với nhau, các phương pháp dạy học cụ thể với nhau

Đặc biệt, sử dụng hợp lý các kiểu phương pháp giải thích - tìm kiếm bộ phận và nêu vấn đề - nghiên cứu

Bồi dưỡng cho người học phương pháp dạy học

Thu hút người học vào quá trình luyện tập vận dụng những điều đã học vào những tình huống đa dạng…

1.2.2.2 Phương pháp dạy học ở đại học phải góp phần rèn luyện tay nghề cho người học

Nội dung cơ bản của phương hướng này là phải làm cho người học thực

sự nắm vững nghề nghiệp chuyên môn của mình Trong quá trình học tập, họ chẳng những nắm vững hệ thống những tri thức cơ bản, hiện đại có liên quan tới nghề nghiệp tương lai mà còn rèn luyện được những kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp, có tư duy về nghề nghiệp và sự say mê tìm tòi sáng tạo trong lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn của mình, để sau khi tốt nghiệp họ mới thực sự có khả năng hoạt động, cống hiến nhiều cho ngành nghề mình đã lựa chọn [17]

Muốn vậy, cần chú ý một số biện pháp sau:

Cần xác định mục tiêu đào tạo của trường, của khoa, của môn học thật cụ

thể về tri thức, kỹ năng, về năng lực, phẩm chất lý tưởng nghề nghiệp… đặc biệt năng lực thực hành nghề nghiệp của người học

Trang 28

Phương pháp dạy học phải trang bị cho người học hệ thống những tri thức khoa học cơ bản, tri thức cơ sở và tri thức chuyên ngành, phải hướng các tri thức đó vào mục tiêu đào tạo của trường

Phải chú ý rèn luyện hệ thống kỹ thuật, kỹ xảo có liên quan tới nghề nghiệp tương lai của người học ở mức độ từ thấp đến cao theo những quy trình nhất định

Việc đánh giá người học phải dựa trên cơ sở nắm vững tri thức cơ bản và

kỹ năng vận dụng thành thạo trong nghề nghiệp tương lai của họ [4]

1.2.2.3 Từng bước làm cho phương pháp học tập của người học ngày càng thống nhất với phương pháp nghiên cứu khoa học

Nội dung cơ bản của phương pháp này là tổ chức, hướng dẫn người học chuyển dần từ phương pháp học tập theo con đường algôrit, con đường làm theo từng bước chặt chẽ, con đường tiếp thu, tái nhận và tái hiện tri thức, kỹ năng… sang con đường ơristic, con đường tự mò mẫn tìm tòi, con đường sáng tạo, con đường nghiên cứu khoa học (NCKH) Mặt khác, hoạt động NCKH của người học tuy nhỏ bé, chỉ là bước đầu tập dượt nhưng cũng phải mang lại hiệu quả kinh tế, phải có tác dụng giáo dục và nhất là bồi dưỡng cho người học phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo Thực hiện các phương hướng này sẽ có hai tác dụng quan trọng là giúp cho người học có tiềm lực hoạt động khoa học, có năng lực không ngừng nâng cao trình độ nhận thức khoa học của bản thân để góp phần giải quyết những vấn đề khoa học mới mẻ do thực tiễn cuộc sống và yêu cầu cách mạng khoa học công nghệ nảy sinh, đồng thời nó còn làm cho nhà trường và người học có điều kiện thâm nhập thực tiễn xã hội, hoà được vào nhịp sống xã hội và tích cực đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của xã hội [17];[28]

Để thực hiện tốt phương hướng trên, cần phải chú ý tới một số biện pháp

cơ bản sau:

Gắn liền hoạt động của nhà trường với các viện nghiên cứu, các trung tâm khoa học, các cơ sở sản xuất, các tổ chức xã hội… đặc biệt, các trường phải

Trang 29

tổ chức vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học của thầy và trò vào các cơ sở sản xuất, góp phần tạo ra của cải vật chất

Tổ chức thông báo, trình bày những công trình khoa học, những tri thức hiện đại, những quan điểm, những lý thuyết mới cho người học trong quá trình dạy học ở đại học, cần chú ý tránh trình bày những học thuyết đó một chiều, cần

có nhận xét, phê phán, đánh giá

Ngay từ những năm đầu, nên tổ chức cho người học tham gia làm bài tập nghiên cứu, sau đó tiến tới làm khoá luận, luận văn, đề án tốt nghiệp để người học có điều kiện làm quen dần với hoạt động NCKH

Tăng cường hoạt động NCKH của các trường, thông qua việc tổ chức cho giáo viên và người học tham gia các chương trình nghiên cứu, các đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp trường… dưới sự chủ trì, hướng dẫn của các nhà khoa học, các cán bộ cốt cán của các trường nhằm làm cho hoạt động nghiên cứu của người học bước đầu có hiệu quả về kinh tế [28]

1.2.2.4 Cải tiến hệ thống kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học ở các trường

Vấn đề kiểm tra và thi ở có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt Vì vậy phải đảm bảo sự công bằng, khách quan và thực sự có tác dụng về mặt dạy học, giáo dục và phát triển đối với mọi người học [17];[28]

Muốn vậy, trước hết cần công khai hoá nội dung những vấn đề kiểm tra

và thi đối với các môn học

Thông báo kịp thời và công khai kết quả kiểm tra, thi, bảo vệ khoá luận, luận văn, kết quả thi tốt nghiệp để người học tự nhận thức và tự đánh giá đúng khả năng của mình, tự điều chỉnh và có hướng phấn đấu tiếp theo

Nội dung các bài kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cần phản ánh được nội dung cơ bản về tri thức lý thuyết, tri thức thực tiễn và kỹ năng thực hành Về tiêu chuẩn đánh giả phải đảm bảo tính toàn diện, đảm bảo tính khách quan, đảm bảo có tác dụng nâng cao năng lực trí tuệ, năng lực tư duy độc lập sáng tạo của người học Cần kết hợp nhiều hình thức kiểm tra và thi (vấn đáp, viết, kỹ năng

Trang 30

thực hành, kiểm tra bằng test, kiểm tra bằng máy…) với các hình thức làm bài tập nghiên cứu luận, khoá luận, luận văn, đồ án thực tập nghề nghiệp…

Cần kết hợp đánh giá điểm quá trình và điểm thi, điểm cố định và điểm

cơ động

1.2.2.5 Xây dựng và sử dụng một cách tối ưu các điều kiện và phương tiện dạy học hiện đại

Điều kiện cơ sở vật chất và các phương tiện dạy học hiện đại là một nhân

tố quan trọng đặc biệt góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học Thực tế

hiện nay của các trường Đại học ở nước ta, thì phần lớn cơ sở vật chất và phương tiện dạy học còn nghèo nàn, thấp kém so với các nước trên thế giới Hơn nữa việc sử dụng và bảo quản cũng chưa được tốt, chưa mang lại hiệu quả giáo dục đào tạo và hiệu quả kinh tế mong muốn Vì thế, một mặt chúng ta phải ra sức xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật tối thiểu cần thiết cho quá trình dạy học, mặt khác chúng ta phải tìm mọi cách sử dụng một cách tối ưu các phương tiện dạy học nhằm đạt kết quả mong muốn, trên cơ sở kết hợp, sử dụng hợp lý các phương pháp dạy học

Để thực hiện các phương hướng này, có thể sử dụng một số biện pháp sau: Các cấp quản lý cần quan tâm, đầu tư kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất, các phương tiện phục vụ hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các trường Đặc biệt cần trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại cho các phòng thí nghiệm, phòng bộ môn…

Mở rộng việc liên kết giữa nhà trường với Viện nghiên cứu, các cơ sở sản xuất, các trung tâm nghiên cứu và sản xuất… để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và tăng cường sự hợp tác nghiên cứu, áp dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn Mặt khác, cần tăng cường sự hợp tác quốc tế, xây dựng và mở rộng mối quan hệ mật thiết với các trường nước ngoài, thực hiện sự giao lưu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Tổ chức hệ thống đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về kỹ thuật sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, khuyến khích, động viên giáo viên và người học

Trang 31

tự chế tạo các phương tiện dạy học từ đơn giản đến phức tạp, kể cả các phương tiện kỹ thuật hiện đại [4];[10]

1.3 Các nguyên tắc, phương pháp, phương tiện sử dụng trong giảng dạy cờ vua

1.3.1 Các nguyên tắc trong giảng dạy cờ vua

Các nguyên tắc trong giảng dạy cờ vua là hạt nhân cơ bản trong việc chọn lựa những phương pháp để ứng dụng vào quá trình giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho đối tượng giáo dục Nó được xây dựng trên cơ sở của các quy luật về tâm lý giáo dục nói chung Qua nghiên cứu và kiểm nghiệm, thấy rằng cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc mang tính lý luận - phương pháp sau: Nguyên tắc thống nhất giữa giảng dạy cờ vua và giáo dục toàn diện; Nguyên tắc hệ thống; Nguyên tắc vừa sức; Nguyên tắc trực quan; Nguyên tắc bền vững kiến thức, và ứng dụng thực tiễn

1.3.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa giảng dạy cờ vua và giáo dục toàn diện

Giảng dạy cờ vua và giáo dục toàn diện có mối quan hệ gắn bó biện chứng với nhau Giảng dạy có nghĩa là truyền thụ một khối lượng kiến thức kỹ năng cần thiết mang tính chuyên môn, và đưa ra những khả năng áp dụng những kiến thức, kỹ năng đó vào thực tiễn [15]

Giáo dục toàn diện hướng học sinh đến việc làm quen với các chuẩn độ về chính trị, thế giới quan, đạo đức, thẩm mỹ, các quy tắc và nhận thức phù hợp với

sự hình thành các quan điểm chính trị, các nét tính cách, các chuẩn mực hành vi

và tính sẵn sàng hoạt động theo xu hướng chuyên môn đòi hỏi

Giáo dục con người phát triển toàn diện là một quá trình phức tạp và đa dạng, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đó có sự ảnh hưởng của trí tuệ, cảm xúc và ý chí

Có thể đưa ra một số biện pháp tự giáo dục, tự học cờ vua như: Thực hiện các nhiệm vụ và các bài tập ở nhà, công bố kịp thời các tư liệu có giá trị xã hội,

Trang 32

đọc và nghiên cứu các tài liệu, tự bình luận các ván cờ thi đấu của mình, nắm bắt các kiến thức về lý thuyết khai cuộc, hoàn thành tiêu chuẩn rèn luyện thân thể

1.3.1.2 Nguyên tắc hệ thống

Cơ sở của nguyên tắc này chủ yếu bao gồm các tài liệu giảng dạy và phương pháp truyền thụ chúng

Để đảm nguyên tắc này cần tuân thủ các quy tắc sau [15]:

Quy tắc thứ nhất - Tùy thuộc vào lứa tuổi, đặc điểm tâm - sinh lý, mục đích giờ học mà đưa ra những phương pháp, hình thức tổ chức, và lượng kiến thức cho phù hợp

Quy tắc thứ hai - Giáo viên cần trình bày bài giảng theo một trình tự logic nhất định trên nguyên tắc sư phạm phổ biến "từ đơn giản đến phức tạp, từ đã biết đến chưa biết"

Quy tắc thứ ba - Các tài liệu cần được trình bày thành từng phần, theo một

hệ thống nhất định, và phải có ví dụ minh họa cụ thể

Quy tắc thứ tư - Mỗi giờ học ít nhất phải có một thời điểm mấu chốt để

giúp cho việc hiểu rõ chủ đề của bài học (chủ yếu là lý thuyết khai cuộc, các nguyên tắc trong cờ tàn, chiến lược ở trung cuộc.v.v.)

1.3.1.3 Nguyên tắc vừa sức

Cơ sở của nguyên tắc này là cần phải tính đến những đặc điểm về cá nhân như: Lứa tuổi, đặc điểm tâm - sinh lý, khả năng tiếp nhận kiến thức và các đặc điểm khác của học sinh

Từ đó phải có cách đối sử phân biệt với từng cá nhân cũng như tìm hiểu

để biết những khả năng thiên bẩm của học sinh và tác động để hoàn thiện chúng

Trang 33

Sử dụng bàn cờ treo để giảng dạy (kích thước mỗi ô cờ lý tưởng là 10 cm

× 10 cm)

Sử dụng máy vi tính với các phần mềm cờ vua, hoặc máy chiếu Giáo viên phải chuẩn bị một số lượng tài liệu chuyên môn lớn hơn bình thường (các thế cờ cần thiết, các bài tập về đòn phối hợp, các dạng thế tàn cuộc cổ điển, các sơ đồ khai cuộc)

Sử dụng các cuốn vở học chuyên môn cờ vua để nghi chép các bài tập, củng cố và kiểm tra kiến thức, cũng như có thể sử dụng cả các hình cờ thế đã được in sẵn

1.3.1.5 Nguyên tắc bền vững kiến thức và khả năng ứng dụng thực tiễn

Đối với giáo viên cần thiết phải biết là lượng thông tin luôn phụ thuộc vào phương pháp truyền thụ nó Vì vậy việc tiếp thu kiến thức vững chắc luôn ở

trong trạng thái tranh chấp liên tục với "sự dập tắt thông tin" trong các vùng của

vỏ não với quá trình "quên", nên nhiều nhà sư phạm đã khẳng định rằng việc học tập cờ hiệu quả nhất là ở những thời gian đầu tiên của giờ học

Phương tiện để chống lại “sự quên” thông tin chính là liên tục ôn lại kiến

thức không chỉ trong giờ học đó, mà còn ở đầu giờ học mới ở khía cạnh này, kiến thức về lý thuyết khai cuộc và kiến thức về lý thuyết tàn cuộc có khả năng

dễ ghi nhớ nhất [15]

Quá trình phát triển năng lực và và kỹ năng diễn ra theo nhiều nấc - từ hiểu biết ban đầu đến nắm chắc kiến thức và kỹ năng

1.3.2 Các phương pháp giảng dạy cờ vua

Cờ vua là môn thể thao trí lực, lượng vận động trong cờ vua chủ yếu là lượng vận động tâm lý, tác động trực tiếp vào quá trình tư duy của người tập

Lượng kiến thức giảng dạy cờ vua có thể được quy về 3 nhóm sau:

Nhóm kiến thức thuần túy lý thuyết

Nhóm kiến thức gắn giữa lý thuyết và thực hành

Nhóm kiến thức liên quan đến công nghệ thông tin

Trang 34

Mỗi nhóm trên có đặc điểm riêng biệt, cần có những phương pháp giảng dạy khác nhau, để giải quyết tốt mục tiêu đào tạo của chương trình

Một vấn đề cần lưu ý là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cờ vua hầu hết các kiến thức và kỹ năng trong môn cờ vua đều tập luyện, giảng dạy và huấn luyện với sự trợ giúp của các phần mềm cờ vua, mạng Internet và các chương trình cờ vua trên máy tính Đây là hai đặc điểm quan trọng khi vận dụng các phương pháp giảng dạy chung vào giảng dạy sinh viên chuyên ngành cờ vua ngành GDTC Vì vậy quá trình đó các giáo viên thường hay sử dụng 3 nhóm phương pháp giảng dạy chính đó là [15]:

Nhóm phương pháp giảng dạy;

Nhóm phương pháp thực hiện nhiệm vụ sư phạm;

Nhóm phương pháp thực tập sư phạm

Trong đó nhóm phương pháp thực hiện nhiệm vụ sư phạm được coi là có hiệu quả hơn cả Cụ thể đó là các phương pháp:

Phương pháp dùng lời hay phương pháp mô tả bằng lời (kể chyện, miêu

tả, giải thích, giảng bài, trò chuyện, nghiên cứu tài liệu): phương pháp được dùng trong việc giảng dạy các nội dung như: giới thiệu môn học cờ vua; Vị trí môn học trong hệ thống đào tạo cán bộ Thể dục thể thao bậc đại học; Nhiệm vụ, nội dung và cấu trúc môn học; Lịch sử phát triển của môn cờ vua; Luật cờ vua, các thuật ngữ trong cờ vua; Tổ chức thi đấu và trọng tài trong cờ vua; Lý thuyết

về khái niệm, phân loại, các nguyên tắc, các dạng thức của các giai đoạn của ván đấu.Và lý thuyết mang tính lý luận về cờ vua

Phương pháp trưng bày (biểu bảng, kế hoạch, biểu đồ, áp phích, đèn chiếu, bàn cờ treo): phương pháp được dùng để hỗ trợ cho phương pháp mô tả khi giảng dạy về các dạng thức khai cuộc, tàn cuộc, trung cuộc, các bẫy trong khai cuộc.các dạng thức khác nhau của đòn phối hợp Đây là phương pháp được dùng nhiều trong giảng dạy cờ vua

Xêmina cờ vua:

Trang 35

Xêmina cờ vua là một hình thức tổ chức dạy học mà ở đó sinh viên tranh luận những vấn đề khoa học, những bài tập cờ vua kinh điển đã được chuẩn bị trước dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Đối với sinh viên, Xêmina góp phần củng cố và khắc sâu những kiến thức

và tri thức khoa học, nhờ có Xêmina cờ vua mà sinh viên có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức ngoài chương trình học Xêmina cờ vua còn giúp cho sinh viên biết vận dụng lý luận để phân tích, lý giải hiện tượng và các phương pháp luận trong thực tiễn hoạt động TDTT Qua Xêmina sinh viên tập duyệt nghiên cứu khoa học đồng thời cũng là quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phục vụ quá trình giảng dạy sau này

Đối với giáo viên: Thông qua hình thức Xêmina cờ vua, các giáo viên có điều kiện bổ xung và mở rộng kiến thức mà khi lên lớp không có thời gian thực hiện Xêmina cờ vua giúp cho giáo viên có điều kiện trực tiếp uốn nắn những kiến thức, kỹ năng sai lệch, không chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết cho sinh viên Qua Xêmina, giáo viên có thể biết được năng lực nhận xét, tự đánh giá sinh viên cũng như khả năng tiếp thu và trình độ tư duy của họ tạo điều kiện phân loại một cách chính xác

Phương pháp tập luyện ứng dụng các phần mềm chuyên dụng cờ vua:

Đây là một phương pháp đặc thù đối với các trường TDTT, nghệ thuật hay các trường kỹ thuật

Phương thức tập luyện ứng dụng các phần mềm chuyên dụng cờ vua là hình thức tổ chức dạy học ở bậc đại học, giúp sinh viên có điều kiện thuận lợi để kết hợp học tập lý thuyết với thực hành thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và các phần mềm trong giảng dạy môn chuyên ngành với thực nghiệm

và nghiên cứu khoa học nhằm mở rộng tầm hiểu biết, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp tương lai, bồi dưỡng khoa học cũng như hứng thú nghề nghiệp cho sinh viên

Do yêu cầu đào tạo, hiện nay các trường có xu hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, các phần mềm chuyên dụng cờ vua song vẫn đảm bảo

Trang 36

trình độ lý thuyết và thực hành cao Trong chuyên ngành cờ vua có rất nhiều phần mềm chuyên dụng có dung lượng rất lớn về các phần như: Khai cuộc, trung cuộc, tàn cuộc, cờ thế đặc biệt có thể khai thác được các ván đấu hay của các đại kiện tướng quốc tế, hay các thế cờ kinh điển Bên cạnh đó, cũng có thể ứng dụng các phần mềm chuyên dụng để tổ chức bốc thăm, tổ chức giải thi đấu trong các lớp chuyên ngành hay các giải truyền thống và các giải toàn quốc Hiện nay trường đại học TDTT Bắc Ninh và Bộ môn Cờ đang tồn tại nhiều hình thức thực hành có ứng dụng các phần mềm như:

Thực hành chuyên môn (bộ môn chuyên ngành);

Thực hành tập luyện trên máy tính;

Thực hành kiến tập;

Thực hành các bài tập nghiên cứu khoa học;

Thực hành giải quyết các tình huống cờ trên máy tính;

Thực hành sử dụng đồng hồ;

Thực hành các phần mềm chuyên dụng cờ vua;

Phương pháp tham quan (tổ chức tham quan các giải đấu lớn ): Người

giáo viên đưa học sinh đi xem thực tế tại các giải cờ vua để học hỏi kinh nghiệm

về tổ chức, thi đấu, tiến hành giải

Phương pháp bài tập (giải các thế cờ theo các chủ đề đã được chọn lựa

riêng nhằm tạo ra những kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn) Giáo viên đưa ra bài tập theo các chủ đề như về cờ tàn, bài tập phân tích tính toán các tình huống, các đòn phối hợp, các bài tập chiến thuật cơ bản của giai đoạn khai cuộc

Phương pháp trò chơi (chơi với bạn cùng nhóm những thế cờ đang học,

hoặc các trích đoạn của ván đấu ): Sau khi dạy về một dạng khai cuộc nào đó, người giáo viên yêu cầu cả lớp tạo thành từng cặp đấu cờ theo dạng khai cuộc

đó

Phương pháp thi đấu (thi đấu các giải hạn chế thời gian, chơi Blid):

phương pháp được tổ chức vào các giờ thực hành, các giờ tự tập luyện, lớp chia

Trang 37

thành các cặp thi đấu với nhau theo sở trường của mình hoặc tiến hành các giải trong lớp với thời gian hạn chế

Phương pháp phân tích ván đấu và các thế cờ điển hình (phân tích các

tình thế điển hình trong khai cuộc, trung cuộc, tàn cuộc ): Là phương pháp người giáo viên đưa ra những tình thế cờ thường gặp trong cờ vua rồi yêu cầu các thành viên trong lớp cùng phân tích và đánh giá từng nước đi của cả hai bên

1.3.3 Các phương tiện dạy học cờ vua

1.3.3.1 Các khái niệm về phương tiện dạy học

Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn, Phương tiện dạy học (PTDH) là toàn bộ các yếu tố nhằm xác lập các mối quan hệ trong dạy học, nhằm tăng cường nhận thức của người học trong quá trình dạy học, đó là yếu tố vật chất hoá về hình thức của phương pháp để tác động đến sự chuyển biến nội dung đạt được mục đích dạy học Dựa vào định nghĩa trên ta thấy PTDH bao gồm các yếu tố như các vật liệu dạy học, các công cụ dạy học, máy móc nguyên vật liệu và kể cả kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo sẵn có của giáo viên và sinh viên cũng như chế độ học tập Như vậy định nghĩa trên quá rộng nên rất khó đi sâu vào tìm hiểu và khai thác cho có hiệu quả cao trong dạy học, vì vậy các nhà sư phạm, về truyền thông đưa ra định nghĩa như sau: Phương tiện dạy học là những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện tổ chức, điều kiện hoạt động nhận thức của người học nhằm đạt mục tiêu dạy học PTDH là toàn bộ các phương tiện mang tin, phương tiện truyền tin và phương tiện tương tác trong sự

hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học Ví dụ: Sách giáo khoa, giáo trình, bảng viết, bảng dữ liệu đã chuẩn bị sẵn, tranh ảnh, phim, máy chiếu đa năng với sự trợ giúp của phần mềm máy tính [57]

Có nhiều cách để phân loại phương tiện dạy học, như phân loại theo tính chất của phương tiện dạy học (trong đó nhóm truyền tin cung cấp các giác quan dưới dạng tiếng hoặc hình ảnh hoặc cả hai cùng một lúc như máy chiếu, máy ghi

âm, máy thu thanh, máy thu hình, máy chiếu phim, phòng dạy tiếng, máy tính ; Còn nhóm mang tin là nhóm mà bản thân mỗi phương tiện đều chứa đựng một

Trang 38

khối lượng tin nhất định); Phân loại theo cách sử dụng được chia thành 2 nhóm: nhóm phương tiện dùng trực tiếp để dạy học, nhóm phương tiện dùng để chuẩn

bị và điều khiển lớp học

1.3.3.2 Phương tiện dạy học trong cờ vua

Trong học tập và tập luyện cờ vua có nhiều hình thức học tập và tập luyện khác nhau nên cũng có nhiều phương tiện dạy học phong phú và đa dạng Theo truyền thống, việc học tập cờ vua được sử dụng các phương tiện dạy học như Bàn cờ treo, quân bàn cờ thi đấu cộng với việc sử dụng các bài tập được in sẵn trên giấy cũng như các tài liệu học tập là sách giáo khoa, giáo trình Trong đó, các bài tập là phương tiện chính để nâng cao trình độ cờ vua Việc chủ yếu sử dụng các bài tập cờ vua sẽ tác động vào người học dưới dạng những bài tập có nội dung, tính chất và hình thức thực hiện khác nhau do vậy phương tiện chuyên môn cơ bản trong giảng dạy cờ vua là các bài tập thường được áp dụng phổ biến trong tập luyện cờ vua và được chia thành 3 nhóm: Nhóm bài tập bổ trợ, nhóm bài tập chuyên môn và nhóm bài tập thi đấu

Nhóm bài tập bổ trợ: nhằm tác động gián tiếp đến việc hình thành và phát triển các năng lực chuyên môn cờ vua Các bài tập thể chất cũng chủ yếu nhằm phát triển thể lực (sử dụng bài tập thể chất thuần tuý), các bài tập "chuyển tốt" trong quá trình phát triển các phát triển năng lực chuyên môn (Cờ Nhảy, Cờ Vây,

Cờ Tướng ), các tác động xã hội nhằm phát triển và hình thành nhân cách (hoạt động xã hội) như: Thăm quan, du lịch, hoặc tác động của các môn khoa học khác nhằm phát triển các năng lực tâm lý, sinh lý [11]

Nhóm bài tập chuyên môn: Bao gồm các bài tập nghiên cứu, các bài tập hình thành và phát triển năng lực chuyên môn Có thể hiểu chúng là các bài tập nghiên cứu các giai đoạn của ván đấu mang tính chất lý luận, các bài tập chiến thuật - chiến lược, bài tập nghiên cứu các yếu tố thành phần (không gian, thời gian, "Temp" ), các bài tập nhằm trực tiếp phát triển các kỹ năng chuyên môn (tác động vào tư duy dưới các tình huống cờ, bài tập hoàn thiện quá trình tư duy

Trang 39

- định hướng nhiệm vụ dưới dạng các trích đoạn của ván đấu, cờ thế hoặc thi đấu Blizt

Nhóm bài tập thi đấu: Bao gồm các ván đấu theo quy trình thi đấu (có thời gian hạn định, kiểm tra nước đi ) được thực hiện trong các điều kiện khác nhau

Bên cạnh các bài tập nhằm ứng dụng trong giảng dạy cờ vua thì ngày nay cùng với sự tiến bộ của KHKT, sự phát triển của công nghệ thông tin cùng với

sự xuất hiện của hệ thống mạng Internet đã xuất hiện nhiều chương trình phần mềm cờ vua, là phương tiện hiện đại phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy và học tập Càng ngày càng có nhiều chương trình với tính năng mạnh được nghiên cứu sâu và cung cấp cho người học lượng kiến thức lớn tổng hợp về nhiều mặt như: Khai cuộc, trung cuộc, tàn cuộc, chiến lược, chiến thuật…Vì vậy mà có thể học tập và nghiên cứu một cách dễ dàng Các phương tiện mới này đã trở nên rất quan trọng trong công tác giảng dạy và huấn luyện, đặc biệt là sự cập nhật thông tin cần thiết và nhanh nhất

1.4 Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, huấn luyện Cờ vua

1.4.1 Sự phát triển công nghệ thông tin trên thế giới

Công nghệ thông tin (CNTT) đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp truyền thống, thông qua một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện

Nhiều nước đang phát triển, trong đó có không ít quốc gia tuy nghèo và

đi sau, song biết tận dụng cơ hội ứng dụng và phát triển CNTT, nên đã tạo được những bước phát triển vượt bậc Tiêu biểu trong nhóm nước này phải kể tới là Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc

Trang 40

Các tổ chức quốc tế đã đánh giá cao vai trò của CNTT đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các nước, do đó đã tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo để tuyên truyền, quảng bá, tổng kết kinh nghiệm, nêu bài học, khuyến cáo chương trình hành động, hướng dẫn và hỗ trợ các nước hoạch định chiến lược ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin [3]

Hội nghị thượng đỉnh G8 tại Okinawa - Nhật Bản (07/2000) về xã hội thông tin toàn cầu, đã khẳng định: CNTT đang nhanh chóng trở thành một động lực sống còn, tạo ra tăng trưởng kinh tế thế giới CNTT mang lại cả cơ hội và thách thức lớn cho cả nền kinh tế mới phát triển và đang phát triển Nắm bắt được tiềm năng của CNTT, cho phép vượt qua các rào cản lạc hậu về phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ để nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện y tế, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục đào tạo, cũng như thương mại Để làm được điều đó các nước đang phát triển phải xây dựng các chiến lược quốc gia, xây dựng môi trường pháp lý và chính sách khuyến khích phát triển và khai thác CNTT để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội; phát triển nguồn nhân lực CNTT; khuyến khích sáng kiến cộng đồng và hợp tác trong nước

Cuộc cách mạng thông tin tác động sâu sắc vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, các quá trình sản xuất, thương mại và dịch vụ, làm tăng năng suất lao động và trở thành một yếu tố quan trọng quyết định mức độ tăng trưởng kinh tế ở các nước tiên tiến Cuộc cách mạng thông tin đã tạo ra sự chuyển biến về chất của nền văn minh, xã hội loài người, chuyển biến từ một nền văn minh công nghiệp tiên tiến sang nền văn minh thông tin và trí tuệ, từ nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế thông tin, dẫn tới sự hình thành một tổng thể kinh tế, xã hội thông tin toàn cầu

Cuộc cách mạng thông tin nói chung và sự phát triển bùng nổ của mạng thông tin thông tin toàn cầu Internet nói riêng đã làm thay đổi một cách toàn diện phương thức sống, điều kiện làm việc và sinh hoạt của con người, phương thức tổ chức và phát triển xã hội; thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “quốc tế hóa”,

Ngày đăng: 12/09/2018, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w