Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong Đan Phượng Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong Đan Phượng Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong Đan Phượng Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong Đan Phượng Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong Đan Phượng Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong Đan Phượng Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong Đan Phượng Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Thú y
Giảng viên hướng dẫn : TS Đặng Thị Mai Lan
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại trường, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đến nay, em đã hoàn thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y Đặc biệt,
em xin gửi lời cảm ơn tới cô TS Đặng Thị Mai Lan, giảng viên Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn
em trong suốt thời gian thực tập để em hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân viên trại chăn nuôi Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành
đề tài trong quá trình thực tập tại cơ sở
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập, thực tập để em hoàn thành tốt đề tài này
Trong quá trình thực tập, bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô để em được trưởng thành hơn trong cuộc sống sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Dương Thùy Chi
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại Bùi Thanh Phong 7
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 17
Bảng 4.1: Kết quả phòng bệnh cho lợn con 43
Bảng 4.2: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn 46
Bảng 4.3: Kết quả thực hiện công tác khác trên đàn lợn 47
Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm t ử cung trong 3 năm (từ 2015 - 4/2017) 48
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ của lợn 49
Bảng 4.6: Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái từ tháng 12/2016 – 4/2017 50
Bảng 4.7: Tình hình lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo hình thức đẻ 51
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh 52
Trang 5Nhà xuất bản Prostaglandin f2α STT
STH
Số thứ tự Somato Tropin Hormone
TT
TS
TSH
Thể trọng Tiến sĩ Tyreo Stimulin Hormone
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện của trang trại 5
2.1.3 Tình hình chăn nuôi từ tháng 12/2016 đến 4/2017
của trại Bùi Thanh Phong 7
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái 7
2.2.2 Đặc điểm sinh sản của lợn nái 12
2.2.3 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung 14
2.2.4 Chẩn đoán viêm tử cung 16
2.2.5 Một số bệnh viêm tử cung thường gặp 18
2.2.6 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung 22
2.2.7 Một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược thường sử dụng điều trị bệnh viêm tử cung 24
Trang 72.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 29
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứ u 32
3.2 Thờ i gian và địa điểm nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Phương pháp theo dõi thu thập thông tin 32
3.4.2 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng 33
3.4.4 Một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 36
3.4.5 Phương pháp xác định chỉ tiêu theo dõi 37
3.4.6 Phương pháp xử lý số liê ̣u 37
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nuôi tại trại Bùi Thanh Phong 38
4.1.1 Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng 38
4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 41
4.1.3 Các công tác khác 47
4.2 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại cơ sở 48
4.2.1 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái nuôi
tại trại từ năm 2015 - 4/2017 48
4.2.2 Tình hình lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 49
4.2.3 Tình hình lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo tháng theo dõi 50
4.2.4 Tình hình lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo hình thức đẻ 51
Trang 84.2.5 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và theo dõi khả năng sinh sản
sau khi khỏi bệnh 52
Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Tồn tại 54
5.3 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn đóng vai trò rất lớn trong viê ̣c đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng và xuất khẩu , không những thế còn cung cấp nguyên liê ̣u cho sản xuấ t công nghiê ̣p , phân bón cho trồng tro ̣t và giải quyết viê ̣c làm tăng thu nhâ ̣p và giúp người dân thoát nghèo Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết
Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn vẫn còn gặp những trở ngại rất lớn do dịch bệnh xảy ra nhiều, trong đó phải nói đến bệnh đường sinh sản Bệnh xuất hiện nhiều nhất ở lợn nái ngoại được nuôi theo quy mô công nghiệp do khả năng thích nghi của chúng với điều kiện khí hậu nước ta còn kém, trong quá trình
sinh đẻ lợn nái dễ bị các vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E
Coli xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo,
viêm âm môn… đặc biệt là bệnh viêm tử cung, gây ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng và khả năng sinh sản của lợn
Nếu không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới một số bệnh
kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Xuất phát từ tình hình thực tiễn, nhằm góp phần đánh giá tình hình mắc bệnh ở lợn nái trong điều kiện chăn nuôi trang trại và quá trình phòng, điều trị
bệnh viêm tử cung chúng em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Áp dụng quy
trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”
Trang 101.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội
- Xác định được tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm t ử cung tại trại Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội
- Đánh giá được hiê ̣u lực của một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp thêm tư liệu về tình hình mắc bệnh viêm tử cung tại trại chăn nuôi Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả và làm tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản tại trại
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Qua điều tra tình hình bê ̣nh viêm tử cung trên lợn nái của tra ̣i và đánh giá được hiệu l ực của thuốc sử dụng , góp phần kiểm soát và khống chế tình trạng viêm tử cung trên đàn lợn nái
- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi lợn nái hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Trại chăn nuôi Bùi Thanh Phong nằm trên địa bàn hành chính của xóm Đập Tràn - xã Đồng Tháp - huyện Đan Phượng - Thành phố Hà Nội cách quốc lộ 32 khoảng 2 km Nhờ có giao thông thuận lợi nên việc giao lưu kinh
tế với các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên khá thuận tiện
Vị trí của xã được xác định như sau:
- Phía Đông giáp với Thị trấn Phùng
- Phía Tây giáp với huyện Phúc Thọ
- Phía Nam giáp với huyện Hoài Đức
- Phía Bắc giáp với huyện Mê Linh
* Địa hình, đất đai
Xã Đồng Tháp là xã có hệ thống sông Đáy chảy qua nên địa hình của
xã tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa Tổng diện tích đất của trại là 7200m2
* Khí hậu, thủy văn
Trại nằm trong vùng có khí hậu đặc trưng của Bắc Bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít
Rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, nhiệt độ trung bình 29,2°C Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa đông, thời tiết khô ráo, nhiệt độ trung bình 15,2°C Giữa hai mùa này, có hai thời kì chuyển tiếp (tháng 4 và tháng
Trang 1210) Nên có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng
Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 79% Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.800mm và mỗi năm
có khoảng 114 ngày mưa
Nhìn chung, với khí hậu này, thì đây là địa bàn khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp về cả trồng trọt cũng như chăn nuôi Tuy nhiên, có những giai đoạn khí hậu thay đổi bất thường: Hạn hán, lũ lụt, mùa hè thì nhiệt độ tăng lên rất cao (38 - 42°C) Mùa đông nhiệt độ hạ xuống rất thấp (< 10°C) Mùa xuân ẩm độ cao đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, cũng như chăn nuôi
* Giao thông vận tải
Trại nằm cách quốc lộ 32 khoảng 2 km, thuận lợi cho việc giao dịch, trao đổi hàng hóa với các vùng khác tạo điều kiện cho trại phát triển kinh tế, tăng sản lượng, đường giao thông là đường nhựa, gần khu dân cư
* Điều kiện kinh tế xã hội
- Tình hình xã hội: Trại nằm trên địa bàn xã Đồng Tháp, một xã nông
nghiệp của huyện Đan Phượng Hầu hết dân cư xung quanh trại là nông dân, sống định cư bằng nghề nông Ngoài ra, tiểu thủ công nghiệp khá phát triển,
có nhiều cán bộ công nhân viên chức sống tại đây
Trình độ dân trí tại khu vực khá phát triển, người dân đoàn kết Tình hình an ninh trật tự ổn định, ít tệ nạn xã hội Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trại
- Tình hình phát triển kinh tế: Đan Phượng là huyện ngoại thành nằm ở
phía Tây Hà Nội, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khá cao trong các thành phần kinh tế, tiếp sau là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại, trong đó ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
Trang 13kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Chính vì vậy, từ lâu huyện đã chú trọng hiện đại hóa trong nông nghiệp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông thôn
Ngoài việc chú trọng phát triển nông nghiệp, huyện cũng chủ trương phát triển tất cả các thành phần kinh tế nhằm đa dạng hóa và phát huy các thế mạnh của huyện hướng tới phát triển kinh tế đồng đều để tạo thế cân bằng cho nền kinh tế toàn huyện Huyện Đan Phượng chủ trương phát triển hiện đại hóa không những trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại mà còn cả trong nông nghiệp
2.1.2 Điều kiện của trang trại
Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 300 nái bao gồm: 1 chuồng đẻ có 74 ô đẻ kích thước 2,4m × 1,6m/ô
và 50 ô chờ đẻ, 1 chuồng bầu có 302 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô; 1 chuồng cách ly, 1 chuồng cai sữa cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn và thuốc, phòng sát trùng, phòng pha tinh,…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 8 quạt thông gió đối với chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng bầu và 2 quạt đối với chuồng cai sữa, 2 quạt đối với chuồng cách ly Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích
Trang 141,5m²; cách nền 1,2m; mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ và chuồng bầu Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc
và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
* Cơ cấu tổ chức quản lý của trại
Toàn trại có 8 người với cơ cấu như sau:
- 01 chủ trại
- 01 quản lý trại
- 01 kỹ thuật trại
- 03 công nhân và 02 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được giao cho từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
Sinh viên thực tập tại trại được bố trí chỗ ăn ở cùng công nhân viên của trại Ngoài việc theo dõi tình hình bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái trong trại, lấy số liệu phục vụ cho quá trình làm báo cáo, sinh viên còn được tham gia các hoạt động khác tại trại cùng kỹ thuật và công nhân Từ đó học hỏi được nhiều kinh nghiệm thực tế giúp cho quá trình làm việc và công tác sau này
Trang 152.1.3 Tình hình chăn nuôi từ tháng 12/2016 đến 4/2017 của trại Bùi Thanh Phong
Trong thời gian thực tập tại cơ sở, em đã theo dõi và tìm hiểu về cơ cấu đàn lợn cũng như tình hình chăn nuôi của trại Kết quả điều tra cơ cấu đàn lợn được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại Bùi Thanh Phong
556 con giảm còn 506 con, lợn con sau cai sữa từ 547 giảm còn 496 con
Trại có 4 đực giống đang hoạt động, các đực giống này được nuôi chủ yếu nhằm mục đích khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo và kích thích lợn nái động dục
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái
* Bộ phận sinh dục bên trong
- Buồng trứng (Ovarium): nằm trong xoang bụng và phát triển thành
từng cặp Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết
Trang 16hormone: estrogen, progesterone, oxytocin, relaxin và inhibrin Các hormone này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn nái (Trần Thị Dân, 2004)[3]
Buồng trứng là cơ quan được hình thành trong giai đoạn phôi thai và lúc con vật mới được sinh ra Hình dạng và kích thước của buồng trứng biến đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục Tuổi, đặc tính cá thể, chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng nhất định đến hình dáng đến kích thước của buồng trứng Cấu tạo gồm:
+ Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
+ Miền vỏ bao gồm 3 phần: Tế bào nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hạt, tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non (Fullicylle cophorimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn nang chín, các tế bào bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào có hình hạt (Sliarum glanusolum), noãn bao càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo thành một lớp màng bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng
- Ống dẫn trứng (Oviductus): được treo bởi màng treo, đó là một nếp
gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng ruột Căn cứ vào chức
năng có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn:
+ Tua điểm: Có hình như tua liềm
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
+ Ống dẫn trứng: Đoạn ống dẫn rộng, xa tâm
+ Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với khoang tử cung
Trang 17- Tử cung (Uterus): gồm hai sừng tử cung, các sừng gấp nếp hoặc quấn
lại và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dày thích hợp
cho việc mang nhiều thai
Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng, ở động vật đẻ nhiều các dây chằng tử cung giãn ra làm cho tử cung thông vào xương chậu
Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống, chúng tiết ra dịch đổ vào bề mặt nội mạc tử cung
Cổ tử cung là một tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với
sự có mặt của một ít cơ trơn có thành dày và một thành xoang chậu hẹp
Theo Trần Thị Dân (2004)[3], trương lực cơ co cao (tử cung trở nên cứng) khi có nhiều estrogen trong máu và trương lực cơ co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng
- Âm đạo (Vagina): nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử
cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm
mạc gọi là màng trinh
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986)[12], âm đạo lợn dài 10 - 12cm, tiểu mô âm đạo phát triển lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất vào ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày
4 và 14
Khả năng co rút âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý sinh dục và cho sự vận động của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo, trong quá trình kích thích lúc giao phối
Trang 18Dịch âm đạo chủ yếu là thấm qua màng âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi làm lẫn với các dịch nhày của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào bong ra từ biểu mô âm đạo
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
Là các phần mà người ta có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
- Âm môn (Vulvace): Còn gọi là âm hộ nằm ở dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có hai môi (Labia Pdendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (Rima vulvace) Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết nhờn và tuyến tiết mồ hôi)
- Âm vật (Clitous): Nằm ở dưới hai mép âm môn Âm vật giống như
dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế, sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, kỹ thuật viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào, vận động bình thường
- Tiền đình (Vestibulum): Là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là
qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trước thông màng trinh với âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình
có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hình chéo hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhày
* Tuyến vú của lợn
- Gồm 2 phần: Bao tuyến và hệ thống ống dẫn
+ Bao tuyến: là nơi sản sinh sữa được cấu tạo từ tế bào biểu mô, mỗi bao tuyến giống như một cái túi nhỏ thông với ống dẫn sữa
Trang 19+ Ống dẫn sữa: khởi đầu bằng ống dẫn nhỏ thông với xoang bao tuyến, nhiều ống dẫn nhỏ tập hợp lại đổ vào ống dẫn trung bình rồi đổ vào ống dẫn lớn sau đó đổ vào bể sữa Có thể hình dung cấu tạo tuyến vú giống hình cành cây còn các bao tuyến giống hình chùm nho
Bể sữa là một xoang rộng, được thông với ống đầu vú để đưa sữa ra ngoài Số lượng bể sữa và ống đầu vú cũng khác nhau tuỳ loài Lợn mỗi một đầu vú có 2 - 3 ống thông vú
Xung quanh ống dẫn sữa và bể sữa được bao bọc bởi những sợi cơ trơn
và có tác dụng trong việc thải sữa khi co bóp Ống thông đầu vú có sợi cơ trơn sắp xếp theo hình vòng Toàn bộ tuyến vú được bao bọc bởi mô liên kết và
mô mỡ Mỗi bao tuyến được bao bọc bởi lưới mao mạch dày đặc, nó cung cấp máu cho việc tạo sữa Hệ tĩnh mạch trong tuyến vú phát triển mạnh hơn hệ động mạch (Hoàng Toàn Thắng và cs., 2006)[17]
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của tuyến vú:
+ Yếu tố bên trong: Quan trọng nhất là yếu tố thể dịch hormone estrogen của buồng trứng và progesterone của thể vàng, tham gia vào sự sinh trưởng và phát dục của tuyến vú cho tới khi hình thành ống dẫn sữa và bao tuyến Cuối thời kỳ chửa và thời kỳ tiết sữa nuôi con thì tuyến yên tiết prolactin, hormone này có vai trò kích thích bao tuyến phát triển và tiết sữa
Ngoài ra các hormone STH, TSH, FSH, LH của thuỳ trước tuyến yên đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của tuyến vú
Yếu tố thần kinh cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát dục tuyến vú Khi kích thích xoa bóp vào bầu vú làm hưng phấn thụ quan cảm giác ở da bầu vú, xung động thần kinh được truyền tới vùng dưới đồi và trung khu điều hoà sinh dục ở vỏ não Thông qua hệ nội tiết sinh sản tiết các hormone thúc đẩy sự phát dục của tuyến vú và tiết sữa
Trang 20+ Yếu tố bên ngoài: Quan trọng nhất là chế độ dinh dưỡng, có tác dụng thúc đẩy nhanh sự sinh trưởng và phát dục của tuyến vú vì nó là nguyên liệu cung cấp cho sự sinh trưởng, phát triển và trao đổi chất Chế độ chăm sóc, điều kiện khí hậu, sự hưng phấn khi gặp đực giống, feromol của con đực đều
có ảnh hưởng đến sự phát dục của tuyến vú
2.2.2 Đặc điểm sinh sản của lợn nái
Sinh sản là một thuộc tính sinh vật nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự tiến hoá của sinh vật Quá trình sinh sản là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều khiển của thần kinh và thể dịch Thần kinh và thể dịch luôn luôn xuất hiện Mối quan hệ này tuân theo một quy luật, hệ thống kế tiếp và thống nhất trong một cơ thể với cơ chế hoạt động nhiều chiều của thần kinh
và thể dịch Một trong những khâu nào đó của mối quan hệ nhiều chiều này bị rối loạn thì cơ thể gia súc thay đổi theo chiều có lợi hoặc có hại với khả năng sinh sản, có thể chậm động dục ở lợn nái hậu bị hoặc ở lợn nái sinh sản hay gia súc động dục nhưng không rụng trứng
Một số tình trạng sinh sản của lợn có thể thay đổi theo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái thường thông qua các chỉ tiêu kỹ thuật như: Số con sơ sinh, số con cai sữa, tỷ lệ con chết trong thời gian bú sữa mẹ, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, thời gian lợn con theo mẹ Sinh lý của lợn nái biểu hiện ở các chỉ tiêu như: Tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, khối lượng phối giống lần đầu, tuổi đẻ, thời gian động dục trở lại (Lê Hồng Mận, 2002)[9]
Trang 21hậu bị được sinh ra vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn lợn nái hậu bị được sinh ra vào mùa Xuân
Phạm Hữu Doanh (1995)[4] cho biết: Động dục lần đầu ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm, từ 4 - 5 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể mới chỉ đạt 20 -
25 kg Trong thời điểm này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích luỹ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Vì vậy,
để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì nái lâu bền thì không nên phối giống ngay mà bỏ qua từ 1 - 2 chu kỳ đầu rồi mới cho phối giống Ở nái ngoại, tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn thuần, ở lợn lai F1 (1/2 máu nội) động dục lần đầu lúc 6 tháng tuổi khi đó khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg, ở lợn ngoại động dục muộn hơn với lợn lai, khoảng từ 6 - 7 tháng tuổi khối lượng cơ thể vào khoảng 65 - 80kg
Hiện tượng lợn nái hậu bị không động dục có thể do nhiều nguyên nhân như: Phát hiện động dục không đúng, stress, do thời tiết nóng, động dục thầm lặng (rụng trứng nhưng không có biểu hiện động dục) (Madec F., 1995)[23]
Đối với lợn nái hậu bị có thể gây động dục sớm hơn bằng cách tiêm huyết thanh ngựa chửa liều 20 đv/kg TT
Nguyễn Văn Thiện và cs (2002)[20] cho rằng: Tuổi động dục lần đầu
có khác nhau Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, lợn lai:
+ Lợn Ỉ: từ 120 - 130 ngày + Lợn Móng Cái: từ 130 - 140 ngày + Lợn Đại Bạch: từ 203 - 208 ngày + Lợn Landrace: từ 208 - 209 ngày
* Tuổi phối giống đầu tiên
Là một vấn đề quan trọng, phối giống cho lợn cái đúng thời điểm lợn thành thục về tính, có tầm vóc, sức khoẻ đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được khả năng sinh sản của lợn cái và phẩm chất của lợn con Nếu phối giống quá sớm,
Trang 22sẽ ảnh hưởng tới tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ ảnh hưởng đến sự phát dục của lợn và những hoạt động về tính của
nó (Trần Thị Mỹ Dung, 2010)[5]
Tuổi đẻ lứa đầu: Sau khi phối giống, lợn chửa 114 ngày, cộng thêm số tháng tuổi lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) tuổi đẻ lứa đầu thường là 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai và nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12
- 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh, 1995)[4]
Sau khi thành thục về tính dục lợn bắt đầu có có hoạt động sinh sản dưới sự điều hoà của hormone sinh dục
2.2.3 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Lợn nái sinh sản đều mang khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển
Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004)[7] cho biết: Trong quá trình
có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một
số bệnh truyền nhiễm như: xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu
và viêm tử cung
* Thiếu sót về dinh dƣỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước và trong thời kỳ mang thai làm nái mẹ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây sát
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau (Nguyễn Thị Thuận, 2010)[20]
* Chăm sóc nuôi dƣỡng
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn
Trang 23đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng
đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái (Trần Trọng Bằng, 2010)[2]
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại, cơ
sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt sẽ làm giảm tỷ lệ viêm tử cung
* Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ, dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy cần phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung
* Lứa đẻ
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều ở các lứa đẻ khác nhau Lợn nái ở lứa đẻ thứ nhất, thứ hai thường có tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao hơn các lứa đẻ sau do lợn chưa thuần, xương chậu chưa thích nghi, hormone sinh sản chưa hoàn thiện nên phải can thiệp nhiều gây xây xát đường sinh dục
Từ lứa đẻ thứ ba đến lứa thứ năm lợn nái có sức đề kháng tốt hơn, quá trình sinh đẻ và phối giống dễ dàng hơn, lợn đã thích nghi nên tỷ lệ viêm tử cung ít hơn Từ lứa thứ sáu trở đi, lợn nái có sức đề kháng giảm, sức rặn yếu,
sự co bóp tử cung giảm, thời gian đóng kín cổ tử cung chậm hơn do đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập qua cổ tử cung gây viêm Mặt khác, do khai thác nhiều, sức đề kháng kém, các hoạt động sinh dục giảm vì vậy việc can thiệp vào quá trình sinh sản lại cần thiết dẫn đến viêm tử cung lại tăng lên
Trang 24* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu
Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung,
âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung
2.2.4 Chẩn đoán viêm tử cung
Theo Madec và Neva (1995)[23], xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng
mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc màu vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng, thời kì sau sinh
đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra do viêm bàng quang có mủ Nếu mủ chảy ở thời kì động dục thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt
Trang 25khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất có thể dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
4 Phản ứng co cơ
tử cung Phản ứng co giảm
Phản ứng co rất yếu
Phản ứng co mất hẳn
hoặc hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
- Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:
+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm
+ Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm, nếu
bỏ ăn 1 phần tính ½ điểm
Trang 26+ Ngưỡng thân nhiệt để tính sốt và số ngày bị sốt là 39,8ºC, 1 ngày =
1 điểm
- Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh như sau:
+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: không có vấn đề
+ Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: bệnh nhẹ đến trung bình
+ Tổng số điểm trên 6: bệnh nghiêm trọng
Tóm lại: Chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cung nhưng không sinh mủ
2.2.5 Một số bệnh viêm tử cung thường gặp
2.2.5.1 Viêm cổ tử cung
- Nguyên nhân: Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của
những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm
âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)[6]
- Triệu chứng: Bệnh ở dạng điển hình, lợn có biểu hiện mệt mỏi hay
nằm úp bầu vú, bỏ ăn, ăn kém, âm hộ sưng đỏ, từ âm đạo chảy ra dịch màu trắng đục nếu nặng dịch có lẫn máu Lợn mẹ đứng nằm bứt rứt không yên, lợn con thường thiếu sữa kêu nhiều
Trong trường hợp bệnh nhẹ, lợn không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy chảy không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt từ một vài ngày đến một tuần (Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994)[10]
Trang 27- Bệnh tích: Phần cổ tử cung nhô ra âm đạo sung huyết và sưng, các
vòng nhẫn bên trong của cổ tử cung sung huyết Lối vào của lỗ cổ tử cung biến dạng, niêm mạc trở nên đỏ hoặc đỏ tía Mủ chảy ra từ miệng cổ tử cung
2.2.5.2 Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003)[14]
Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6], thì viêm tử cung chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung
* Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung
Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương, vi
khuẩn: Streptococcus, Staphylococcus, E coli, Salmonella, Brucella, trùng
roi xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh
truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… cũng gây nên thể bệnh này Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại:
- Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ
+ Nguyên nhân: Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị
tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Trang 28+ Triệu chứng: Thân nhiệt cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật
có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những mảnh
tổ chức chết…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, cổ tử cung hơi
mở, niêm dịch, dịch viêm thải ra nhiều và có mủ chảy qua cổ tử cung
+ Bệnh tích: Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả
hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại yếu Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng (Đặng Thanh Tùng, 2006)[21]
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả
+ Nguyên nhân: Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn
thương, xây sát, nhiễm khuẩn
+ Triệu chứng: Thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi
hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
+ Bệnh tích: Vi khuẩn bám vào niêm mạc tử cung phát triển nhanh về
số lượng, gây ra ổ viêm sung huyết, có mủ, gây tróc niêm mạc và xuất huyết Trường hợp nặng, vi khuẩn xâm nhập vào lớp cơ vòng của tử cung, tạo ra các
ổ mủ và dịch thể lan toả trong lòng tử cung, có thể dẫn đến thủng tử cung Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử, những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử
Trang 29* Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis)
+ Nguyên nhân: Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử
cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi vì lớp
cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám (Nguyễn Văn Thanh, 2002)[13]
+ Triệu chứng: Thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản
lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn
mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối
+ Bệnh tích: Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn
dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau
* Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperalis)
+ Nguyên nhân: Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm
cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng (Đặng Đình Tín, 1985)[11]
+ Triệu chứng: Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau
chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy
và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính
Trang 30với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc
bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm
+ Bệnh tích: Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai
sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các
bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
2.2.6 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
* Phòng bệnh
Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường hoặc dùng dung dịch famsafe pha với tỷ lệ 1/2000
+ Trước khi đẻ nên chuyển lợn sang ô chuồng dành riêng cho lợn đẻ đã
vệ sinh sát trùng kỹ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục, bầu vú bằng nước sạch
ấm, phun sát trùng bằng dung dịch famsafe pha với tỷ lệ 1/3000 lên mình gia súc Tay người đỡ phải được sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu
+ Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng dung dịch sát trùng omnicide, gel bôi trơn Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 1/1000, nước muối sinh lý 9/1000 hoặc han iodine 10ml/lít nước Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicillin 1 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 1g vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh
Trang 31sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch
Trong trường hợp phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải được vô trùng, nếu can thiệp bằng tay cần cắt móng tay sát trùng và bôi trơn bằng gel Các thao tác đúng kỹ thuật, nhịp nhàng
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được vô trùng trước và sau khi sử dụng
+ Sau khi lợn đẻ xong tiêm oxytocin liều 2 - 4ml để kích thích đẩy hết sản dịch và nhau thai ra ngoài Tiêm một mũi kháng sinh phòng viêm tử cung Thường xuyên tắm và lau sạch bầu vú cho lợn Bấm nanh lợn con ngay sau khi đẻ để tránh làm tổn thương bầu vú
Theo dõi quá trình đẻ để kiểm tra sót nhau, sau khi nhau đã ra hết, nên thụt rửa tử cung bằng nước muối 0,9% hoặc dung dịch thuốc tím 0,1% sau đó tiêm kháng sinh phòng nhiễm trùng kế phát Nếu lợn nái ít sữa hay mất sữa cần điều trị ngay
Khi đẻ lợn nái thường bị mất sức nhiều do mất nước, mất máu và ăn kém nên sức đề kháng rất yếu nên sau khi đẻ xong nên tiêm kháng sinh, kháng viêm kết hợp với tiêm thuốc bổ cho lợn như: vitamin B1, B-complex, gluconatcanxi, strichnine để trợ sức và kích thích lợn nái ăn khỏe, mau hồi phục và để có sữa cho con bú
Điều trị các bệnh viêm nhiễm bằng thuốc kháng sinh mà sau điều trị thấy lợn nái bị mất sữa thì cần tiêm thuốc kích sữa như thyroxine, sinh lý ngọt 5%, oxytocin + magie calciumfort, bổ trợ VTM C, ADE - Bcomplex
Cố định đầu vú và cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt
Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần có bổ sung rau xanh, theo dõi sức khỏe của lợn, trước khi đẻ cho lợn nái ăn ít hay nhịn ăn nhưng phải cho uống nước đầy đủ có thể bổ sung điện giải
Trang 32* Điều trị
Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc mà bệnh chóng khỏi, con vật chóng hồi phục Dùng các thuốc sau:
Vetrimoxin L.A: Tiêm bắp 1ml/10kgTT/2ngày, dùng liên tục 6 ngày Oxytocin: tiêm liều 40 - 50UI/con/2 - 3 lần/ngày
Lutalyse: Tiêm bắp hoặc đưa vào tử cung 2ml/con, một liều duy nhất Anagine - C: Tiêm bắp 1ml/10kg TT/1ngày
Vitamin ADE: Tiêm bắp 1ml 5-10kgTT/ngày
Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng chung với kháng sinh penicilline, sulfamid và thuốc khác
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày
Chú ý: Trong trường hợp bị viêm nặng dịch chảy ra có máu không được thụt rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trứng Trong trường hợp này có thể dùng oxytoxin hoặc PGF2α, giúp đẩy dịch viêm ra ngoài
2.2.7 Một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược thường sử dụng điều trị bệnh viêm tử cung
* Vetrimoxin L.A: Lọ 200ml
- Thành phần: trong 100ml Vetrimoxin L.A có 15gam Amoxycillin
- Cơ chế tác dụng: Amoxycillin hoạt động bằng cách ngăn cản sự tổng hợp
mucopeptide trên thành tế bào vi khuẩn Amoxycillin có hiệu lực diệt khuẩn thay
đổi theo thời gian trên các vi khuẩn gram (+) như: Staphylococci, Streptococci,
Corynebacteria và vi khuẩn gram (-) như: E coli, Samonella, Pasteurella…
Sau đó, amoxycillin xâm nhập nhanh chóng vào các mô cũng như vào
hệ thống mạch máu.Trong đó quan trọng nhất là khả năng phân bố khắp phổi
Trang 33Khả năng chuyển hóa của amoxycillin yếu nên phần lớn bị thận thải trừ qua đường tiểu dưới dạng còn hoạt tính
- Công dụng: Đặc trị viêm tử cung, viêm vú, các bệnh đường hô hấp,
tiêu chảy, viêm ruột, dạ dày, viêm rốn, viêm khớp
- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp 2 ngày 1 lần
Hiệu lực của vetrimoxin L.A kéo dài 48 giờ
Thời gian ngừng thuốc: 10 ngày trước khi giết mổ, 2 ngày trước khi khai thác sữa
* Lincomycin: Lọ 100ml
- Thành phần: Lincomycin, HCl 10 g
Dung môi và chất bảo quản vừa đủ 100 ml
- Cơ chế tác dụng: Lincomycin là kháng sinh thuộc lincosamid
Lincomycin có tác dụng chống vi khuẩn như clindamycin, nhưng ít hiệu lực hơn Thuốc chủ yếu kìm khuẩn ưa khí gram (+) và có phổ kháng khuẩn rộng đối với vi khuẩn kỵ khí
- Công dụng: Đặc trị vi khuẩn gây bệnh viêm khớp, viêm vú, viêm tử
cung, viêm đường tiết niệu Viêm phổi, viêm phế quản truyền nhiễm, áp xe gan, phổi, viêm da và mô mềm… trên gia súc và chó, mèo
- Liều lượng và cách dùng:
+ Trâu, Bò, Dê, Cừu, Lợn: Tiêm bắp 1 ml/10kg TT/ ngày Dùng liên tục 5 - 7 ngày
Trang 34+ Chó, Mèo: Tiêm bắp 2,5 ml/10kg TT/ ngày
* Hitamox L.A: Lọ 100ml
- Thành phần: Amoxycillin (dưới dạng muối trihydrate) 20g
- Cơ chế tác dụng: Hitamox có thành phần là amoxicilin là kháng sinh
bán tổng hợp thuộc họ Beta - lactamin có phổ diệt khuẩn rộng đối với nhiều vi khuẩn Gram (+) và Gram (-) do ức chế thành tế bào vi khuẩn
- Công dụng: Nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường hô hấp,
nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm trùng đường sinh dục, tiết niệu (viêm bàng quang, viêm vú, viêm tử cung), nhiễm trùng sau khi phẫu thuật
- Liều lượng và cách dùng: Tiêm bắp 2 ngày/lần, liều 1ml/10 - 15kg thể
trọng, điều trị trong 5 ngày
Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau hạ sốt, trợ sức trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh
* Amoxinject L.A: Lọ 100ml
- Thành phần: Trong 1000 ml amoxinject L.A chứa 15gam amoxicillin
trihydrate, gentamycin sulphate, tá dược vừa đủ
- Cơ chế tác dụng: Amoxinject L.A là kháng sinh phổ rộng, tiêu diệt
các loại vi khuẩn gram (-)
- Công dụng: Điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, đường sinh
dục, đường tiết niệu, đường tiêu hóa (Viêm phổi, tụ huyết trùng, viêm vú, viêm tử cung, viêm thận, viêm ruột - tiêu chảy, thương hàn, nhiễm trùng vết thương, viêm da có mủ)
- Liều lượng và cách dùng: Tiêm bắp 1 ml/10kg thể trọng/ ngày
* Penicillin: Lọ 100ml
- Thành phần: Penicillin
- Cơ chế tác dụng: Penicillin G là kháng sinh phổ hẹp, có tác dụng chủ
yếu trên vi khuẩn gram (+) (cầu khuẩn: tụ cầu, liên cầu, phế cầu; trực khuẩn: