1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một số kỹ năng sử dụng kênh hình trong dạy – học môn Lịch sử 7

28 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 4,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong việc học tập các nhânvật lịch sử các em càng không có hứng thú học, nếu giáo viên GV có đưa ra những hình ảnh nhân vật minh họa thì các em chỉ chú ý vào kênh hình mà không để ý đến

Trang 1

Phần thứ nhất ĐẶT VẤN ĐỀ

Bộ môn lịch sử có vai trò và tác động rất lớn trong việc giáo dục thế

hệ trẻ, nó góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục ởtrường phổ thông, trên cơ sở trang bị cho học sinh (HS) những kiến thức cơbản hiện đại của khoa học lịch sử và bồi dưỡng các kỹ năng tư duy thựchành môn lịch sử, thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường

Tuy nhiên hiện nay việc HS không thích học cũng như tìm hiểu vềlịch sử dân tộc ngày càng nhiều Phần lớn các em không nhận thức được vịtrí môn lịch sử do tâm lý coi thường bộ môn là môn phụ, môn học thuộclòng, mất nhiều thời gian, lại khô khan, nhàm chán nên không dành thờigian cho bộ môn, chỉ học một cách chống đối Trong việc học tập các nhânvật lịch sử các em càng không có hứng thú học, nếu giáo viên (GV) có đưa

ra những hình ảnh nhân vật minh họa thì các em chỉ chú ý vào kênh hình

mà không để ý đến nội dung lịch sử Do đó nhiều em chỉ thuộc lòng câuchữ, không hiểu được bản chất sự kiện, không nắm được các quy luật vậnđộng, phát triển của xã hội Cho nên tình trạng HS thiếu hoặc không hiểubiết lịch sử ngày càng trở nên phổ biến, điều đó vô cùng nguy hiểm khi vănhoá Việt Nam, con người Việt Nam ngày càng hội nhập với văn hoá và conngười của nhiều dân tộc trên thế giới

Vậy tại sao HS lại không thích học môn lịch sử? Có nhiều nguyênnhân dẫn tới tình trạng trên, nhưng theo tôi nguyên nhân chủ yếu là việcdạy học lịch sử của chúng ta từ trước đến nay còn nặng về cung cấp kiếnthức gây ra tình trạng quá tải cho HS, nhiều GV chưa biết cách khai tháchết hiệu quả của hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa (SGK), nên làmcho giờ học trở nên nhàm chán, khô cứng, thiếu tính hấp dẫn

Có thể nói rằng sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử là một yêu

Trang 2

môn lịch sử nói riêng Đây là một phương tiện rất có hiệu quả và là mộtnguồn nhận thức rất quan trọng tạo điều kiện để GV thực hiện phươngpháp giảng dạy mới, còn HS dễ dàng nhận thức tri thức mới một cách tíchcực, chủ động và sáng tạo

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng của bộ môn lịch sử vàyêu cầu đổi mới giáo dục, cũng như thực tiễn dạy học bộ môn, việc biênsoạn SGK lịch sử Trung học cơ sở (THCS) đã có nhiều đổi mới về nộidung và phương pháp, không đơn thuần chỉ là tài liệu giảng dạy của GV

mà còn là tài liệu học tập ở lớp và ở nhà của HS theo định hướng mới Đó

là HS không phải học thuộc lòng SGK mà cần tìm hiểu, nghiên cứu những

sự kiện có trong SGK dưới sự tổ chức giúp đỡ, hướng dẫn của GV, từ đócác em hình thành cho mình những hiểu biết về lịch sử

Kênh hình trong SGK lịch sử gồm nhiều loại: Lược đồ, sơ đồ, bản

đồ, tranh ảnh Mỗi loại có một phương pháp sử dụng riêng, song tựu trunglại, có thể sử dụng trong bài tìm hiểu kiến thức mới, củng cố kiến thức đãhọc, ra bài tập về nhà và trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS.Đây là nguồn tư liệu rất quan trọng trong quá trình dạy học nó chứa đựngcác thông tin tư liệu liên quan đến nội dung của bài học, có vai trò rất lớnđến việc nhận thức lịch sử của HS Thông qua kênh hình các em tự rút ranhững nhận xét, những kiến thức liên quan đến các câu hỏi trong bài tậphoặc nó giúp các em hình thành các biểu tượng lịch sử cụ thể nhất

Như vậy, khai thác kênh hình trong SGK lịch sử là một biện phápquan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học, tuy nhiên nó chưa đượcquan tâm một cách đầy đủ, chúng ta mới chỉ chú ý đến kênh chữ nhiều hơn

mà ít quan tâm đến kênh hình Trong các buổi bồi dưỡng, tập huấn chuyênmôn, hầu như mới chỉ tập trung về kênh chữ, phương pháp mà chưa cónhững nội dung bồi dưỡng cụ thể về kênh hình cho GV

Việc sử dụng, khai thác kênh hình để làm nổi bật nội dung bài giảng

là một vần đề không đơn giản Mỗi một kênh hình trong SGK đều có giá trị

Trang 3

“biết nói”, nhưng không phải GV nào cũng biết cách làm cho kênh hình đó

“nói lên” được Muốn vậy, đòi hỏi người GV phải có nguồn kiến thức

phong phú và kỹ năng sử dụng kênh hình nhất định

Hiện nay trong thực tế giảng dạy môn lịch sử, GV vẫn chưa triệt để

sử dụng và khai thác kênh hình trong SGK, vẫn còn nặng về thuyết trìnhkiến thức, chưa phát huy được tính tích cực của HS Sở dĩ có điều đó là donhiều nguyên nhân: tranh, ảnh lịch sử còn thiếu, chưa phục vụ đầy đủ bàidạy; chưa có những tài liệu hướng dẫn sử dụng kênh hình lịch sử, GV cònphải tự mầy mò nghiên cứu; một số GV chưa hiểu hết tầm quan trọng củakênh hình, còn ngại sử dụng vì phần chưa hiểu rõ bản chất, nội dung củakênh hình, phần còn sợ mất thời gian, phần nghĩ không cần thiết mà chỉ đểminh hoạ cho bài giảng nên chưa phát huy được tính tích cực chủ độngtrong học tập của HS Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và thiết bị cho việc dạyhọc bộ môn còn thiếu rất nhiều, các tài liệu tham khảo, tranh ảnh, tạp chí ởthư viện nhà trường về lịch sử hầu như rất ít Một số trường còn thiếu GV

bộ môn chính ban nên bố trí giáo viên bộ môn Ngữ văn, Địa lí sang dạylịch sử… hậu quả là việc dạy bộ môn lịch sử bị xem thường, kết quả họctập của bộ môn bị hạn chế

Với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng môn học, phát triểnnăng lực tư duy và hứng thú học lịch sử ở HS, bằng thực tiễn giảng dạy vàhọc hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp cũng như nghiên cứu tài liệu tôi xinmạnh dạn đưa ra một số ý kiến chủ quan về việc sử dụng kênh hình thông

qua sáng kiến: “Một số kỹ năng sử dụng kênh hình trong dạy – học môn Lịch sử 7”

Trang 4

Phần thứ hai NỘI DUNG

1 Cơ sở khoa học (lý luận) để đề xuất sáng kiến:

Như chúng ta đã biết, quá trình nhận thức của con người là một quátrình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừutượng trở về thực tiễn Nhưng do đặc trưng của bộ môn lịch sử là không thểkhôi phục lại quá khứ trong phòng thí nghiệm mà phải dựa vào các chứng

cứ lịch sử, các đồ dùng trực quan để tái tạo lại sự kiện lịch sử từ đó đi đếnkết luận, vì vậy hệ thống kênh hình có một vai trò rất quan trọng trong việcgiúp HS tái hiện lại những sự kiện lịch sử đã xảy ra trong quá khứ

Hình vẽ, tranh, ảnh trong SGK có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ

là nguồn kiến thức, có tác dụng giáo dục tư tưởng tính cách mà còn pháttriển tư duy cho HS, từ việc quan sát HS sẽ đi tới công việc của tư duy trừutượng Bản thân kênh hình không thể gây ra sự quan sát tích cực của HSnếu như nó không được quan sát trong những tình huống có vấn đề, trongnhững nhu cầu cần thiết phải trả lời một vấn đề cụ thể Như vậy tư duy HS

sẽ dần dần phát triển, trong những tình huống có vấn đề Mặt khác, thôngqua quan sát, miêu tả HS được rèn luyện kỹ năng diễn đạt, lựa chọn ngônngữ, từ đó khả năng sử dụng ngôn ngữ của các em ngày càng phong phú,trong sáng Từ quan sát thường xuyên các tranh ảnh lịch sử, GV luyện chocác em thói quen quan sát và khả năng quan sát các sự vật một cách khoahọc, có xem xét, phân tích, giải thích để đi đến những nét khái quát rút ranhững kết luận lịch sử Nhờ những việc làm thường xuyên như vậy mà cácthao tác tư duy được rèn luyện, khả năng phát huy trí thông minh sáng tạocủa HS ngày càng được nâng lên Và quan trọng hơn, HS có hiểu biết vềlịch sử, có ý thức, tình cảm trân trọng và thái độ sống tốt đẹp hơn

Theo xu hướng hiện nay là giảm bớt thuyết trình của GV, tạo điềukiện để HS học tập tích cực nên kênh hình được sử dụng như là một nguồn

Trang 5

cung cấp kiến thức giúp cho HS tự tìm tòi, phát hiện những kiến thức vàrèn luyện kỹ năng bộ môn Do vậy việc khai thác hệ thống kênh hình vôcùng quan trọng trong quá trình dạy học lịch sử, nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của HS trong việc học tập bộ môn

1.1 Các yêu cầu đối với giáo viên và học sinh:

Để khai thác và sử dụng hiệu quả kênh hình lịch sử, GV và HS cầntuân theo một số yêu cầu sau:

+ Về phía giáo viên:

- Nắm chắc nội dung chương trình

- Nắm chắc và xác định rõ nội dung kiến thức trong kênh hình mà

HS cần khai thác

- Chuẩn bị một số câu hỏi cho phù hợp với trình độ HS, gợi ý để các

em biết tự giác khai thác kiến thức từ kênh hình

- Kịp thời động viên, khuyến khích và đánh giá HS

+ Về phía học sinh:

- Phải có sự chuẩn bị chu đáo: đọc trước nội dung SGK, tập suy nghĩ

và trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung của bài học và nội dung củakênh hình trong SGK

- Được rèn luyện một số kỹ năng khai thác kiến thức từ kênh hình

- Hiểu được yêu cầu do GV đưa ra khi thực hiện khai thác kiến thức

từ kênh hình

- Tích cực, chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức từ hệ thống kênhhình

1.2 Các nguyên tắc khai thác kênh hình:

Khi khai thác kênh hình trong dạy học lịch sử, GV cần đảm bảo cácnguyên tắc sau:

- Sử dụng đúng mục đích: Trong quá trình dạy học GV phải đề ra

Trang 6

của mỗi bài chính là HS lĩnh hội được tri thức, hình thành và phát triển kĩnăng, nhân cách Mỗi một loại kênh hình có một chức năng riêng nênchúng phải được nghiên cứu cụ thể để sử dụng đúng mục đích phù hợp vớiyêu cầu bài học.

Ví dụ: Kênh hình được trình bày để minh hoạ cho bài giảng thì việc

sử dụng chúng cũng chỉ dừng lại ở việc minh hoạ nhằm làm cho nội dungbài giảng sinh động, phong phú hấp dẫn hơn GV không sử dụng chúngtrong củng cố hay trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS Vớinhững kênh hình là nguồn cung cấp thông tin kiến thức thì GV phải gợi

mở, yêu cầu HS thông qua làm việc với kênh hình để tìm ra kiến thức vàlĩnh hội tri thức đó

- Sử dụng đúng lúc: Nghĩa là kênh hình phải được sử dụng hợp lí

nhất, trong trình bày kiến thức mới hay là củng cố kiến thức kỹ năng đã họchoặc ra bài tập về nhà Tóm lại cần được đưa ra khi HS cần được minh hoạ,cần tìm hiểu nhất về nội dung bài học, tránh đưa ra đồng loạt phân tán sựchú ý của HS

- Sử dụng đúng mức độ, cường độ: Tuỳ vào từng nội dung, mục

đích sử dụng của kênh hình mà GV đưa ra những yêu cầu khác nhau đốivới HS Trong giờ giảng bài mới vì điều kiện thời gian không cho phép nên

GV chỉ tập trung giới thiệu thuyết minh một số hình vẽ, lược đồ, tranh ảnh

(nếu bài nhiều tranh ảnh) Với những hình ảnh khác GV chỉ dừng lại ở việc

cho HS quan sát sơ lược để nắm được những biểu tượng ban đầu mà thôi.Hoặc với những kênh hình để minh hoạ cho bài giảng, GV không nên cho

HS đứng lên thuyết trình về kênh hình đó vì điều đó vượt quá sức của các

em, có thể giao cho HS tìm hiểu ở nhà Cần phải bố trí thời gian ở những

kênh hình một cách hợp lí mà không bỏ qua phần cơ bản là kênh chữ

- Kết hợp sử dụng kênh hình SGK với các đồ dùng được trang bị:

Như bản đồ sơ đồ, tranh ảnh phóng to, các tài liệu thành văn có liên quan

Trang 7

Với những kênh hình khó quan sát hoặc chưa cụ thể GV có thể phóng tohoặc cụ thể hoá để các em dễ nhận biết và tiếp thu hơn.

- Nội dung thuyết minh kênh hình: Phải sinh động hấp dẫn, kết hợp

với những lời nói truyền cảm sẽ có sức thuyết phục cao đối với HS

- Phương pháp khai thác: GV hướng dẫn HS quan sát (đầu tiên

quan sát tổng thể rồi mới quan sát các chi tiết) kết hợp miêu tả, phân tích,đàm thoại thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở để HS tự rút ra được bài học

GV có thể tổ chức cho HS làm việc theo nhóm cá nhân hoặc toàn lớp

1.3 Các bước khai thác kênh hình:

Để việc khai thác kênh hình có hiệu quả, phát huy được tính tích cựccủa HS, xin nêu một số gợi ý việc khai thác theo 4 bước sau:

Bước 1: Đọc SGK để tạo nền kiến thức cho kênh hình.

Bước 2: Quan sát kênh hình để xác định một cách khái quát nội

dung cần khai thác dưới sự hướng dẫn của GV

Bước 3: Học sinh trình bày kết quả tìm hiểu nội dung kênh hình Bước 4: Giáo viên nhận xét, bổ sung nội dung trả lời của HS, hoàn

thiện nội dung khai thác kênh hình

2 Nội dung cụ thể của sáng kiến:

Hệ thống kênh hình trong SGK lịch sử 7 có thể chia làm 2 loại sau:

- Thứ nhất là tranh, ảnh lịch sử gồm có tranh, ảnh chân dung vàtranh, ảnh phản ánh những thành tựu đời sống văn hóa, vật chất

- Thứ hai là bản đồ, lược đồ lịch sử có thể chia làm 2 loại chính: bản

đồ tổng hợp và bản đồ chuyên đề Trong đó, bản đồ, lược đồ tổng hợp phảnánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của một nước hay nhiều nước cóliên quan ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện tự nhiên nhấtđịnh Còn bản đồ, lược đồ chuyên đề nhằm diễn tả những sự kiện riêng rẽ

Trang 8

hay một mặt của quá trình lịch sử như diễn biến một trận đánh, sự pháttriển kinh tế của một nước trong một giai đoạn lịch sử.

Mỗi một loại kênh hình khác nhau, GV cần định hướng nội dung vàphương pháp khai thác khác nhau Sau đây là một số kỹ năng thường được

sử dụng khi khai thác kênh hình trong dạy học lịch sử 7:

2.1 Kỹ năng sử dụng câu hỏi gợi mở khi khai thác kênh hình

Kênh hình là một nguồn kiến thức quan trọng trong dạy học lịch sử,

tự bản thân HS không thể nói lên nội dung mà cần phải sự gợi mở, hướngdẫn của GV Câu hỏi gợi mở được đặt ra trong quá trình khai thác kênhhình, giúp HS giải quyết những nội dung kiến thức cơ bản của kênh hình

Sử dụng câu hỏi mang tính chất gợi mở nhằm tạo điều kiện giúp HS nắmvững kiến thức cơ bản, do đó câu hỏi phải mang yếu tố gợi mở, yếu tố nhậnbiết, khám phá…

Câu hỏi gợi mở của GV giúp những tri thức HS tìm được sẽ khắc sâuhơn trong trí nhớ của các em, đồng thời nhờ tích cực suy nghĩ, trả lời cáccâu hỏi gợi mở, khả năng tri giác và tư duy của HS được phát triển, kíchthích trí tò mò, ham thích tìm hiểu lịch sử, sáng tạo trong suy nghĩ…làmcho bài học lịch sử không còn khô khan, khó tiếp thu nữa, HS hứng thú họchơn nên hiệu quả bài học được nâng lên rõ rệt

Khi đặt câu hỏi gợi mở, GV cần lưu ý: hệ thống câu hỏi phải đảmbảo tính vừa sức với từng đối tượng HS và trình độ nhận thức của các em,góp phần từng bước sáng tỏ dần nội dung kênh hình để cuối cùng HS cóthể tìm ra nội dung lịch sử mà kênh hình phản ánh Với mỗi loại kênh hìnhkhác nhau thì hệ thống câu hỏi gợi mở cũng khác nhau

2.1.1 Sử dụng câu hỏi gợi mở khi khai thác tranh ảnh lịch sử

Hình vẽ, tranh ảnh trong SGK là một phần của đồ dùng trực quantrong quá trình dạy học Nó có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là phươngtiện trực quan có giá trị giúp bài học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, gây

Trang 9

hứng thú học tập hơn cho HS, mà còn là nguồn cung cấp kiến thức quantrọng, có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm, tư duy cho HS Đa số HSrất thích xem tranh ảnh lịch sử, nhưng lại ít biết cách khai thác, sử dụngtranh ảnh để phục vụ bài học Vì vậy nhiệm vụ của GV là khi hướng dẫn

HS khai thác, sử dụng tranh ảnh cần giúp các em không chỉ biết miêu tả bềngoài của tranh ảnh, hình vẽ mà quan trọng hơn là phải biết khai thác nộidung lịch sử chứa đựng bên trong hình vẽ, tranh, ảnh

Đối với tranh, ảnh là chân dung các nhân vật lịch sử, thì câu hỏi gợi

mở của GV phải hướng HS khi quan sát chân dung không chỉ chú trọngviệc mô tả bề ngoài (áo, quần, hình dáng…) mà còn chú ý phân tích nộidung, tính cách, hành vi của nhân vật được thể hiện ở tranh ảnh, qua đó đạtđược mục đích giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy của HS

Chân dung nhân vật lịch sử trong SGK thường có hai loại: chân dungnhân vật chính diện và chân dung nhân vật phản diện

Khi khai thác chân dung các nhân vật chính diện như: các anh hùngdân tộc, lãnh tụ cách mạng, nhà phát minh khoa học…, câu hỏi của GVphải làm nổi bật tính cách, một số câu chuyện liên quan đến nhân vật làm

HS hứng thú, kích thích óc tò mò, phát triển năng lực nhận thức Qua đó

HS học tập được tài trí, đạo đức của họ và các em rèn luyện mình theo tấmgương đó

Khi sử dụng chân dung các nhân vật phản diện, cần hướng dẫn HSnhận xét những biểu hiện của tính cách gian ác, tham lam, xảo quyệt củanhững nhân vật ấy Không nên để HS bị thu hút về hình thức của nhân vật

mà quên đó là nhân vật phản diện

Nhưng không phải lúc nào cũng đưa chân dung của nhân vật lịch sử

ra, mà phải chọn thời gian sử dụng phù hợp với nội dung bài học Trongkhi sử dụng chân dung, GV phải định hướng cho HS tự mình đánh giá vaitrò, tính cách của nhân vật đó

Trang 10

Ví dụ 1: Khi dạy lịch sử 7, Tiết 43 - Bài 20: “Nước Đại Việt thời Lê

sơ (1428 – 1527)”: Trong bài có chân dung của Nguyễn Trãi (Hình

47-SGK trang 102)

Sau khi hướng dẫn HS quan sát chân dung Nguyễn Trãi, giáo viên cóthể đưa ra câu hỏi:

Hình 1: Nguyễn Trãi (1380-1442)

Trang 11

Dựa vào hiểu biết của mình và quan sát bức ảnh theo em Nguyễn Trãi là người như thế nào?

(HS: Nguyễn Trãi không những là một nhà chính trị, quân sự tài ba,một anh hùng dân tộc mà còn là một danh nhân văn hóa thế giới)

Em hiểu thế nào là danh nhân văn hóa thế giới?

(HS: Danh nhân văn hóa thế giới là những danh nhân nổi tiếng trênthế giới, những nhân vật có đóng góp xuất sắc không chỉ cho sự phát triểnvăn hóa dân tộc mà còn cho sự phát triển văn hóa chung của nhân loại; làđại diện, biểu trưng cho một nền văn hóa thế giới đa bản sắc, vừa thấm đẫmvăn hóa dân tộc, vừa thấm đượm tinh hoa văn hóa nhân loại)

Sau khi cho HS tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi, cuốimục GV kết luận: Nguyễn Trãi là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử ViệtNam, ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hoá lớncủa nước ta Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như LêThánh Tông truy tặng “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (tấm lòng ỨcTrai sáng như sao Khuê)

Như vậy qua việc khai thác chân dung nhân vật bằng hệ thống câu hỏigợi mở sẽ giúp HS hiểu biết hơn về nhân vật lịch sử, có cái nhìn và đánhgiá đúng về nhân vật đó

Đối với tranh ảnh phản ánh đời sống văn hóa, vật chất thì GV cần

đưa ra những câu hỏi gợi ý xung quanh những tác phẩm ấy để thu hút sựchú ý của HS Bởi vì nếu như chỉ cho HS nhìn thôi thì bức tranh đó trở

thành bức tranh “câm” và nó cũng chỉ nhìn cho vui Song nếu để cho nó có

“hồn” hay “biết nói” thì người GV phải dựa vào điều kiện hoàn cảnh lúc

bấy giờ nêu các câu hỏi cho các em tìm hiểu Sau đây là một số ví dụ cụ thể

Ví dụ 2: Khi dạy tiết 17 - Bài 12: “Đời sống kinh tế, văn hoá”, có

kênh hình là đồ vật đó là hình 23: “Bát men ngọc thời Lý” (SGK trang 45).

Trang 12

Giáo viên đặt các câu hỏi hướng dẫn HS quan sát:

Em hãy miêu tả hình dáng, hoa văn, màu sắc của bát men ngọc thời Lý?

(HS: - Màu sắc, hình dáng: màu xanh nhạt, dáng cân đối

- Hoa văn: hoa dây trang nhã, mang đậm tính dân gian)

Để làm được một sản phẩm đẹp thế này đồi hỏi người thợ thủ công phải là người thế nào?

(HS: Đó là một người thạo tay nghề có kinh nghiệm đạt tới trình độcao)

Giáo viên bổ sung: Ở thời kỳ bấy giờ mọi việc đều làm bằng tay, côngđoạn nung sản phẩm thủ công nếu như quá lửa thì sản phẩm sẽ bị congvênh kém thẩm mỹ hoặc non lửa thì sản phẩm sẽ không dùng được Vớitrình độ cao của mình, thợ thủ công thời Lý đã làm nên những chiếc bátmen ngọc không chỉ có giá trị tiêu dùng mà còn là một tác phẩm nghệthuật

So với sản phẩm ngày nay các em có nhận xét gì?

(HS: không đẹp bằng)

Giáo viên có thể liên hệ và so sánh với các sản phẩm ngày nay: Ngàynay có nhiều sản phẩm đẹp và sản xuất rất nhiều bởi vì người ta đã áp dụng

Hình 2: Bát men ngọc thời Lý

Trang 13

khoa học kỹ thuật làm ra các sản phẩm đó bằng máy và nung bằng các lònung có nhiệt độ ổn định Nhưng những sản phẩm của cha ông ta ngàytrước vẫn còn nguyên giá trị và là tài sản quý giá của dân tộc ta.

Có bạn nào ước mơ trở thành nhà thiết kế các sản phẩm gốm không?

Như vậy qua kênh hình này GV không chỉ cho HS biết được phầnnào về sản phẩm gốm của nhân dân ta thời bấy giờ mà còn xây dựng trongcác em tình cảm đối với những sản phẩm do cha ông ta làm ra, giúp các emthêm yêu mến trân trọng những thành quả lao động của cha ông ta để lại, từ

đó có thể xây dựng niềm mơ ước tương lai của các em

2.1.2 Sử dụng câu hỏi gợi mở khi khai thác bản đồ, lược đồ

Với bản đồ, lược đồ tổng hợp thể hiện tình hình chính trị, kinh tế,điều kiện tự nhiên… thì hệ thống câu hỏi cần hướng HS có sự hiểu biếtđúng đắn về không gian, hoàn cảnh địa lí, ghi nhớ địa danh gắn liền vớinhững đặc điểm điều kiện tự nhiên, mối liên quan giữa các đơn vị hànhchính (quốc gia, địa danh ) với nhau, góp phần phát triển óc quan sát, trítưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cũng như tính tích cực hoạt động của HS

GV cần hướng dẫn các em phân biệt màu sắc giữa các nước hay các khuvực, ký hiệu về ranh giới, biên giới giữa các nước

Ví dụ 3: Khi dạy tiết 7- Bài 6 “Các quốc gia phong kiến Đông Nam

Á” (Lịch sử 7) GV sử dụng “Bản đồ các quốc gia phong kiến Đông Nam Áthế kỉ XVIII-XV” khi trình bày về sự hình thành các vương quốc phongkiến ở Đông Nam Á trong khoảng thời gian từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XV

Trang 14

Đây là bản đồ thể hiện một cách toàn diện, khái quát nhất về địa lí,tên gọi và quá trình phát triển của các quốc gia phong kiến Đông Nam Á,

GV sử dụng bản đồ này để giúp HS có được biểu tượng về khu vực trước

khi đi sâu tìm hiểu sự hình thành, phát triển và suy vong của các quốc gia

Trước hết, GV yêu cầu HS đọc SGK, quan sát toàn bộ lược đồ,hướng dẫn các em tập trung vào một số điểm như:

Nhìn lược đồ các em thấy khu vực Đông Nam Á chia làm mấy loại địa hình?

Tên gọi của các quốc gia thời phong kiến so với tên gọi ngày nay

Ngày đăng: 11/09/2018, 20:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w