Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn và cơ sở nơi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
ĐỖ THỊ MAI PHƯƠNG
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THIÊN THUẬN TƯỜNG- CẨM PHẢ - QUẢNG NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
ĐỖ THỊ MAI PHƯƠNG
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIÊN
THUẬN TƯỜNG-CẨM PHẢ - QUẢNG NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Thị Hồng Phúc
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và tìm hiểu, để hoàn thành tốt khóa luận của mình, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của BCN khoa Chăn nuôi Thú y, trang trại của công ty cổ phần Thiên
Thuận Tường -Cẩm phả- Quảng Ninh Cùng với sự cộng tác nhiệt tình của
các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ cổ động của người thân và gia đình
Nhân dịp này em xin cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, BCN khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép em thực hiện đề tài tốt nghiệp đại học
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phan Thị Hồng Phúc đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài và hoàn
hành khóa luận này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến với công ty cổ phần Thiên Thuận
Tường - Cẩm Phả - Quảng Ninh, chủ trang trại, cùng toàn thể anh chị em
công nhân trong trang trại về sự giúp đỡ theo dõi các chỉ tiêu, thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Đỗ Thị Mai Phương
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Công tác sát trùng trại công ty cổ phần Thiên Thuận Tường 37
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường qua 3 năm 2015 - 5/2017 40
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trạitrong 6 tháng thực tập 43
Bảng 4.3 Những dấu hiệu lợn nái sắp đẻ 44
Bảng 4.4 Kết quả các công tác khác đã làm tại trại 47
Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 48
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 49
Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản 51
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 53
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 54
Trang 5ML : Mililit MMA : Viêm vú, viêm tử cung, mất sữa Nxb : Nhà xuất bản
STT : Số thứ tự
TS : Tiến sỹ
TT : Thể trọng
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của trang trại 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6
2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái 11
2.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 19
2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản 20
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 30
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 30
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 32
Phần 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 34 3.1 Đối tượng 34
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34
3.3 Nội dung thực hiện 34
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 34
Trang 7v
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 34
3.4.2 Phương pháp thực hiện 35
3.4.3.Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 35
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 38
Phần 4.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường qua 3 năm từ 2015 - 5/2017 40
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 41
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại trong 6 tháng thực tập 43 4.2.2 Các công tác khác đã thực hiện tại trại 44
4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường 47
4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái nuôi tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường 49
4.5 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường 50
4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường 52
4.6.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại 52
4.6.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trạilợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường 54
PHẦN 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái
là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với
sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, em tiến hành thực
hiện chuyên đề:“Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại công ty cổ phần Thiên Thuận Tường - Cẩm Phả - Quảng Ninh”
Trang 92
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại công ty cổ phần Thiên Thuận
Tường -Cẩm Phả - Quảng Ninh
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
Trang 103
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại sản xuất lợn hướng nạc trực thuộc công ty cổ phần Thiên Thuận Tường nằm trên địa bàn hành chính của phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Cử a Ông có địa hình khá phức tạp, phía Bắc là những dải núi cao Độ cao
trung bình 600m, thuộc cánh cung bình phong Đông Triều - Móng Cái Phía Đông giáp sông Mông Dương - Huyê ̣n Vân Đồn Phía Tây giáp phường Cẩm
Phú, xã Dương Huy Phía Nam giáp biển Phía Bắc giáp phườ ng Mông Dương
2.1.1.3 Điều kiện khí hậu
Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả vì vậy điều kiện khí hậu mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nhiệt độ trung bình từ 22,7- 24,10C; lượng mưa trung bình 1.297 =
1910.5mm; độ ẩm trung bình 81,3%; số giờ nắng trong năm từ 1530 -
1776 giờ
Gió chủ đạo là gió đông Nam và đông Bắc Hàng năm có gió bão, mưa
to, và cũng bị ảnh hưởng bởi các cơn bão xảy ra trong năm
Trang 114
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
01: Chủ trại là giám đốc công ty
01: Trưởng trại
01: Kỹ thuật trại
02: Kế toán
10: Công nhân và 9 sinh viên thực tập
02: Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng lợn thương phẩm Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn của công ty cổ phần Thiên Thuận Tường có khoảng 6 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió, nhà ở được lợp tôn đỏ, có hai dãy nhà ở, một dãy nhà năm phòng và một dãy nhà ba phòng
- Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ Khu nấu ăn được trang bị
tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho gần 500 nái cơ bản bao gồm: ba chuồng đẻ mỗi chuồng có 44
ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, hai chuồng bầu mỗi chuồng có 250 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, một chuồng đực giống + nái hậu bị có 20 ô kích thước 5m × 6m, sáu chuồng thương phẩm mỗi chuồng có 20 ô kích thước 5m × 6m và một chuồng úm có 20 ô kích thước 5m × 6m Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
Trang 125
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có ba quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và bốn quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng úm, chuồng nái hậu bị + đực giống Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m²; cách nền 1,2m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8m Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tấm cách nhiệt Ngoài ra, mỗi chuồng thương phẩm còn được trang bị hệ thống cho ăn tự động hiện đại nhất hiện nay, với 100% thiết bị và dây chuyền nhập khẩu từ Đan Mạch
- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng mua
từ bên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nước ngọt được) Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ
ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
Trang 132.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính
- Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
+ Giống: các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau, những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn
Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003) [5] cho rằng: tuổi động dục đầu tiên
ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20- 25kg
Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể
đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện
Trang 147
chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn
Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày
tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu
muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
+ Chế độ dinh dưỡng: theo John Nichl (1992) [12] chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục
về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hóc môn oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của hóc môn trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: theo Dwane (1992) [8] mùa vụ và thời
kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn nái
hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh
hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
Trang 158
- Tuổi thành thục về tính của gia súc: tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003) [5] không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh
Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2
chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
* Sự thành thục về thể vóc
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [11] tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm
Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg
mới nên cho phối
2.2.1.2 Chu kỳ động dục
- Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình
Trang 169
thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi
đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [29] lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách
sau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó
đi vào quy luật mang tính chu kỳ
Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [23] cho biết: chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục: đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
+ Giai đoạn động dục: lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
Trang 1710
+ Giai đoạn sau động dục: giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
+ Giai đoạn nghỉ ngơi: đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [26], trứng rụng tồn tại
trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ
Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
2.2.1.3 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa
để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột
ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời
kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất
Trang 1811
Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento S và cs., 2013) [33]
2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái
2.2.2.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa
Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa có vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất lợn con giống Mục đích và yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi lợn nái có chửa nhằm đảm bảo cho thai phát triển bình thường, không bị xảy thai hoặc đẻ non, mỗi lứa đẻ nhiều con, lợn con có sức sống cao, lợn mẹ phát triển bình thường, dự trữ đủ chất dinh dưỡng nuôi con sau này, không bị hao mòn lớn
- Phương pháp phát hiện có chửa:
Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối giống sẽ tác động biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp với quy luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản cho đàn lợn nái Còn nếu không có chửa thì có kế hoạch phối giống kịp thời
Thời gian có chửa của nái bình quân là 114 ngày, thời gian chửa chia thành 2 thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: là thời gian chửa từ ngày 85 đến khi đẻ
Việc phát hiện lợn nái chửa kỳ 2 dễ dàng hơn chửa kỳ 1 vì bào thai lúc này phát triển mạnh, bụng to và xệ hơn.Trong thực tiễn có nhiều phương pháp phát hiện lợn có chửa nhanh và chính xác như phương pháp căn cứ vào chu
kỳ động dục của lợn nái, dùng máy siêu âm, phương pháp đo điện trở âm đạo, phương pháp chuẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái là sau khi phối giống 21 ngày mà không thấy có biểu hiện động dục thì có thể coi là lợn nái
Trang 1912
đã có chửa Lợn nái sau khi phối giống thấy có những biểu hiện như mệt mỏi, thích ngủ, từ kém ăn chuyển sang thèm ăn, lông da ngày càng bóng mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi nặng nề,… đó là lợn nái đã có chửa sau khi phối Ngược lại, khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có hiện tượng xung huyết thì có thể lợn nái đó chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống lại kịp thời
- Quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai:
+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22ngày): đặc điểm của giai đoạn này là hợp
tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này, nhau thai chưa hình thành nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ
và khoa học
+ Giai đoạn tiền thai (23 - 38 ngày): giai đoạn này bắt đầu hình thành
các cơ quan, bộ phận của cơ thể Thời kỳ này nhau thai đã hình thành nên đã
có sự liên hệ giữa cơ thể mẹ và con, lợn mẹ đã có thể bảo vệ được cho phôi thai của mình
+ Giai đoạn thai nhi (39 - đẻ): đây là giai đoạn thai nhi phát triển nhanh
nhất về thể tích và khối lượng, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận và hình thành đầy đủ các đặc điểm của giống
- Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa:
+ Trong quá trình có chửa lợn mẹ không động dục, quá trình đồng hóa chiếm ưu thế hơn so với quá trình dị hóa
+ Quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể lợn mẹ trong thời gian mang thai tăng lên Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là sự tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn mẹ tăng dần
+ Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể lợn nái có chửa như nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh
Trang 2013
dưỡng, cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh lên các quá trình diễn ra trên cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai đoạn phát triển của nó
- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái có chửa:
Việc chăm sóc lợn nái mang thai rất quan trọng đối với sự thành công của người chăn nuôi Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái có chửa
để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái hậu bị còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân tiếp tục lớn
+ Giai đoạn chửa kỳ 1: thời kỳ này phôi và thai còn nhỏ, sử dụng ít chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng để dự trữ tạo sữa sau này Thiếu chất dinh dưỡng trong giai đoạn này có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phôi thai như hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống, khi đẻ ra chứa nhiều phôi thai khô Thừa chất dinh dưỡng cũng dẫn đến hiện tượng tiêu
phôi và làm nái trở lên mập mỡ Dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%,
năng lượng trao đổi không dưới 2900 kcal/kg thức ăn hỗn hợp
+ Giai đoạn chửa kỳ 2: đây là giai đoạn thai lớn sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu mẹ để phát triển, do vậy việc bổ sung dưỡng chất đầy đủ trong giai đoạn này rất quan trọng Khác với chửa kỳ 1, thời kỳ này cần cho nái vận động để có hệ cơ tốt, chân khỏe, khung xương chậu mở rộng (đối với nái đẻ lứa đầu) Thời kỳ này tầm vóc nái nặng nề nên chuồng trại phải khô, tránh mưa, gió lùa, mật độ phù hợp, theo dõi kỹ bộ vú và bộ phận sinh dục, chuẩn
bị chuồng đẻ Khẩu phần của thời kỳ này giống chửa kỳ 1 nhưng mức ăn tăng
lên từ 15 - 20%
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý đến các yếu tố sau: giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn chửa, tình trạng sức khỏe lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ nái
Trang 2114
chửa kỳ 2 cho ăn nhiều hơn nái chửa kỳ 1, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn nái bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 15o
C thì cho lợn ăn nhiều
hơn 0,3 - 0,5kg thức ăn so với nhiệt độ 25- 30oC để tăng khả năng chống rét cho lợn
Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể ăn tăng hơn từ 10 - 15% vì ngoài
cung cấp chất dinh dưỡng để nuôi thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể lợn mẹ
Thức ăn của lợn nái chửa yêu cầu nhiều thành phần, mùi vị phải thơm ngon, không bị hôi thối, hư hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt
Số bữa ăn/ngày: ngày cho ăn hai bữa sáng, chiều Cho ăn thức ăn tinh trước, ăn rau xanh sau (nếu có) Cung cấp đầy đủ nước sạch cho nái chửa
Nguồn thức ăn sử dụng cho nái chửa: nếu là chăn nuôi công nghiệp chúng ta sử dụng thức ăn hỗn hợp và bổ sung thêm rau xanh càng tốt, một
ngày từ 3 - 4kg rau xanh/nái (cho nái chửa kỳ 1), và từ 2- 3kg/con/ngày (cho
nái chửa kỳ 2) Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ (lợn nái nội) có thể cho ăn các thức ăn địa phương có sẵn như ngô, cám gạo, bột sắn, đậu tương, hoặc trộn phối các thức ăn đậm đặc theo tỷ lệ quy định
Trước khi lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, nhưng cần duy trì đầy đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao
Không cho lợn nái có chửa ăn các loại thức ăn có chất độc, thức ăn bị
ôi thối, mốc, các chất kích thích dễ gây sảy thai như lá thầu dầu, khô dầu bông, hoặc bỗng bã rượu
Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 35 ngày đầu sau khi phối giống có chửa, kể cả lợn nái gầy
Vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc quản lý lợn nái chửa là phòng bệnh sảy thai, nghĩa là cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát triển bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non
Trang 2215
hoặc gây sảy thai nhất là trong giai đoạn chửa kỳ 2 Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào chuồng quá nhỏ làm cho lợn chen lấn xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp, do tắm nước quá lạnh hoặc quá đột ngột
Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái chửa kỳ 1 chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với lợn nái quá béo Thực tế đã chứng minh rằng, một cơ sở chăn nuôi khó khăn về tài chính, tiêu chuẩn và khẩu phần ăn thấp, nhưng nếu chú ý chăn thả nhiều, được vận động hợp lý, kết hợp với một số thức ăn mà lợn tìm kiếm được sẽ làm cho lợn mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng tốt, lợn con có sức sống cao
Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 tuần trên ngày với 60 - 90 phút/lần,
lợn nái chửa kỳ 2 thì hạn chế cho vận động, trước khi lợn đẻ 1 tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân chơi
Chú ý, khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng, nhiều rãnh thì không cho lợn vận động Trước khi vận động cho lợn uống nước đầy đủ để lợn không uống nước bẩn ở trên bãi chăn
Tắm chải cho lợn chửa là điều rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để làm tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, tạo cảm giác
dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm cho lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, đặc biệt là mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa
Chuồng trại phải đảm bảo đúng theo quy định cho lợn nái chửa, theo
từng thời kỳ chửa Mật độ nhốt đối với chửa kỳ 1 là mỗi lô từ 3 - 5 con, chửa
kỳ 2 là nhốt 1 con một lô Trong chăn nuôi công nghiệp ở giai đoạn chửa kỳ 2
có thể nhốt mỗi con một cũi Trước khi đẻ 1 tuần cần chuyển lợn lên cũi đẻ
Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
Trang 23- Công tác thú y đối với nái chửa:
Trước khi chuyển lợn nái sang chuồng đẻ, ô chuồng cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng crezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác
Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng
Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem có nóng, sốt không để có biện pháp can thiệt kịp thời
Quy trình tắm ghẻ: thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời Ngoài ra 14 ngày trước ngày dự kiến đẻ, tắm lần thứ nhất sau đó 7 ngày tắm lần thứ hai Đây là điều kiện bắt buộc để dự phòng lợn mẹ bị ghẻ rồi lây truyền sang lợn con ngay từ sau sinh
Cần tiêm vắc xin E coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước
khi đẻ, liều lượng: 2 ml/con, tiêm bắp
Lợn nái được đưa từ chuồng bầu sang chuồng đẻ từ 5 - 7 ngày so với
ngày đẻ dự kiến
2.2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động vật, các loại khoáng, vitamin
Trang 24protein 15%, canxi từ 0,9 - 1,0%, photpho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
* Đối với lợn nái ngoại
- Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
- Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho lợn ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức
- Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng và chiều)
- Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5kg thức ăn/ngày
- Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu
có rau xanh)
- Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%
Trang 2518
- Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
- Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ
* kỹ thuật cho ăn
- lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, và
cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa
các bữa nên chia đều nhau
- Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định
- Cung cấp đầy đủ nước uống cho lợn nái nuôi con
- Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần
- Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời
* Kỹ thuật chăm sóc
- Vận động: theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao
sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy, sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong
điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin
- Chuồng trại của lợn nái nuôi con phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt Vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống
sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24oC, độ ẩm 70 - 75% Chuồng
lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con
Trang 2619
2.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.3.1 Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ
Là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng.Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay
ít con của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa Trong 24 giờ sau khi sinh những con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, dị dạng, thì sẽ bị loại thải
- Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:
+ Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra
+ Loại thai gỗ: là loại thai chết trong tử cung lợn mẹ lúc 25 - 90 ngày
tuổi Dịch thai và tất cả các dịch trong tế bào tổ chức bào thai được cơ thể mẹ hấp thụ qua niêm mạc tử cung, các tổ chức khác của thai rắn lại, thể tích co nhỏ thành cục màu nâu đen, cứng
+ Loại đẻ ra còn sống: trong vòng 24 giờ sau khi sinh, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn,
dị dạng, thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, một số lợn con mới sinh chưa nhanh nhẹn dễ bị lợn mẹ đè chết
Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ/lứa
2.2.3.2 Số con cai sữa/nái/năm
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái, nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu
tố gây bệnh cho lợn con
- Tỷ lệ lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa khoảng 3 - 5% do nhiều yếu
tố khác nhau, bao gồm:
Trang 2720
+ Các nguyên nhân chủ yếu là bị lợn mẹ đè và không bú được chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4%
+ Lợn chết còn do lợn mẹ đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa
kỳ cuối
Do đó cùng với việc cải tạo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của lợn nái thì khả năng truyền giống của lợn đực rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất
Theo Trần Đình Miên (1977) [16], sức sinh sản của lợn là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng phẩm giống Khả năng sinh sản được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ sống khi đẻ và đến cai sữa, tỷ lệ còi cọc, dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến sự thành thục sớm hay muộn, thời gian mang thai, số lần thụ thai của lợn: “sinh sản của gia súc là một hình thái của sức sản xuất và cũng là một biểu hiện đặc trưng của tính di truyền ở mỗi phẩm giống của gia súc”
2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản
2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh (Ngọc Bích và cs 2016) [1] đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn
Trang 2821
xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao,… thường gây viêm tử cung
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [13],
Lê Minh và cs (2017) [17], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao,… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng lợn đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Đoàn Kim Dung , Lê Thị Tài (2002) [6] cho biết : nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên
cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,Klebriella, E coli,…
Lê Văn Năm (1999) [19] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như thức ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng
Trang 2922
cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến m uxin của chất n hày các cơ quan sinh du ̣c bi ̣ phá hủy hoă ̣c kết tủa , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh lý của da ̣ con (trong điều kiện cai sữa bình thường da ̣ con trở về kh ối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bệnh Biến chứ ng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào da ̣ con gây nên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
Theo Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [18], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70%
- Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 42oC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết
Trang 3023
quảhoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai
* Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu
cá Người ta thấy rằng, thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì
có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
Trang 3124
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], Trần Thị Dân (2004) [4] khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2αgây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
Trang 3225
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2αgiảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone
Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
* Điều trị:
-Điều trị cục bộ: thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối 0,9%, KMnO4 0,01% hoặc rivanol 0,1%
-Điều trị toàn thân:
+ Tiêm oxytocin: 2 - 3ml/con/ngày, tiêm trong 2 - 3 ngày
+ Kháng sinh:ceftionel 10ml/con/ngày, tiêm trong 2 - 3 ngày, kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, b- complex, anagin - C
Trang 3326
Theo Nguyễn Văn Điền (2015)[9], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị
bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày
Tiêm amoxi 15% ba lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm
có kết quả điều trị khỏi bệnh cao
2.2.4.2 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân:
Christensenvà cs (2007) [30] khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy:vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes
- Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi
khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm
vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập và gây viêm
- Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
- Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm
- Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
* Triệu chứng: Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng
Trang 3427
Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [24], viêm vú thường xuất hiện ở một vài
vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn,
trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42o
C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con
bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù
lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [15] Vắt sữa ở
những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu
Theo White B R và cs (2013) [38], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống
sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu, sau 1 - 2 ngày thấy
có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời
do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
* Hậu quả:
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
Nguyễn Xuân Bình (2000) [3] cho biết: mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao
liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến
quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường
Trang 3528
tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa
sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh
hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
*Điều trị:
- Điều trị cục bộ: phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá
lạnh để giảm sưng, giảm đau hoặc phong bế bầu vú bằng novocain 0,25 - 0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần, vệ sinh bầu vú, sát trùng bằng cồn
iot 5%
- Điều trị toàn thân: sử dụng một số loại kháng sinh như pendistrep, penicillin, ampicillin, lincomycin, tetramycin,… đều đạt kết quả tốt Có thể dùng phác đồ tiêm vetrimoxin LA 1ml/10kg/TT Hoặc dùng dufamox LA.INJ
tiêm bắp liều 1ml/15kg/TT Dùng 1 ngày, nghỉ 1 ngày Điều trị trong 3 - 5
ngày Kết hợp với trợ sức, trợ lực
* Thực hiện phòng bệnh:vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng(Duy Hùng, 2011) [10]