1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (2018)

75 293 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ====== NINH THỊ NGUYỆT NGA XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC V

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NINH THỊ NGUYỆT NGA

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ

CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ THỊ LAN ANH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện thuận lợi cho

em thực hiện khóa luận này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo TS Lê Thị Lan Anh – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Qua đây em xin gửi tới Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trường Tiểu học Đồng Xuân – Phúc Yên – Vĩnh Phúc và trường Tiểu học Đào Mỹ - Lạng Giang – Bắc Giang lời cảm ơn chân thành

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Ninh Thị Nguyệt Nga

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận tốt nghiệp này là kết quả của quá trình nghiên cứu mà bản thân tôi thực hiện dưới

sự hướng dẫn chỉ bảo của cô giáo TS Lê Thị Lan Anh – Giảng viên trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2

Những nghiên cứu này không hề trùng khít với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Ninh Thị Nguyệt Nga

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc khóa luận 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 6

1.1 Cơ sở lí luận về việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học 6

1.1.1 Từ đồng âm 6

1.1.1.1 Khái niệm từ đồng âm 6

1.1.1.2 Giá trị sử dụng của từ đồng âm 7

1.1.2 Từ nhiều nghĩa 8

1.1.2.1 Khái niệm từ nhiều nghĩa 8

1.1.2.2 Giá trị sử dụng của từ nhiều nghĩa 9

1.1.3 Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa 10

1.1.3.1 Sự giống nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa 10

Trang 5

1.1.3.2 Sự khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa 11

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học 12

1.1.4.1 Tư duy 12

1.1.4.2 Tri giác 12

1.1.4.3 Tưởng tượng 13

1.1.5 Vai trò của công nghệ thông tin và một số phần mềm thường sử dụng trong thiết kế bài tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học 13

1.1.5.1 Khái niệm của công nghệ thông tin 13

1.1.5.2 Khái niệm về phần mềm dạy học 14

1.1.5.3 Vai trò của các phần mềm trong dạy học 14

1.1.5.4 Phần mềm Violet trong dạy học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa 16

1.2 Cơ sở thực tiễn về việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học 18

1.2.1 Nội dung chương trình dạy học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa 18

1.2.1.1 Nội dung chương trình dạy học từ đồng âm 18

1.2.1.2 Nội dung chương trình dạy học từ nhiều nghĩa 19

1.2.1.3 Nhận xét chung 21

1.2.2 Việc dạy học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa ở trường tiểu học 21

1.2.3 Khảo sát thực trạng kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24 CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 25

Trang 6

2.1 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho

học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 25

2.1.1 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 25

2.1.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 25

2.1.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình 25

2.1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh 25

2.1.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 26

2.1.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 26

2.1.2 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học 26

2.1.2.1 Bài tập về từ đồng âm (Bài 1- 14) 26

2.1.2.2 Bài tập về từ nhiều nghĩa (Bài 15 – 28) 29

2.1.2.3 Bài tập phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa (Bài 29 – 40) 33

2.1.3 Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 35

2.1.3.1 Các bước xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 35

2.1.3.2 Sử dụng phần mềm Violet 1.9 để xây dựng bài tập trắc về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học 37

Trang 7

2.2.1 Mục đích thực nghiệm 49

2.2.2 Đối tượng thực nghiệm 49

2.2.3 Phương pháp thực nghiệm 50

2.2.4 Nội dung thực nghiệm 50

2.2.5 Kết quả thực nghiệm 51

2.2.6 Nhận xét chung về thực nghiệm 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang trên đường thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay Trong công cuộc đổi mới đó, con người là khâu đột phá, có tính quyết định nhất Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có đường lối quan điểm chỉ đạo, chính sách nhằm đổi mới giáo dục và đào tạo ở mọi ngành học, cấp học, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đặc biệt là Giáo dục Tiểu học – cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân – nơi ươm mầm và nuôi dưỡng những tài năng, chủ nhân tương lai của đất nước Bởi, nền tảng có vững chắc thì toàn bộ hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền vững và phát triển hài hòa

Ở cấp Tiểu học, Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng, chiếm nhiều thời lượng trong chương trình dạy học Môn Tiếng Việt không những cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, những hiểu biết sơ giản về tự nhên, xã hội và con người mà còn hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để hoạt động và giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi góp phần rèn luyện các thao tác tư duy Môn Tiếng Việt qua đó bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần nhỏ trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng của con người Môn Tiếng Việt

ở tiểu học bao gồm bảy phân môn đó là Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện Mỗi phân môn đều có nhiêm vụ, mục tiêu riêng nhưng đều có mối quan hệ mật thiết với nhau

Ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một

Trang 9

và câu giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh những kiến thức về từ và câu Từ trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng, bao gồm có

từ thuần Việt và từ vay mượn Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo thành câu, câu là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất Vì vậy, trong quá trình học tập và giao tiếp hàng ngày người nói, người nghe phải hiểu được, sử dụng được từ chuẩn xác nhất thì việc giao tiếp mới đạt hiệu quả Đối với học sinh tiểu học, vốn từ của các

em còn hạn chế nên việc dạy học về từ khá khó khăn, đặc biệt là từ đồng âm

và từ nhiều nghĩa Khi học từ đồng âm và nhiều nghĩa các em thường hay có

sự nhầm lẫn bởi từ đồng âm và từ nghiều nghĩa có hình thức giống nhau, ranh giới không rõ ràng

Trong thực tế dạy học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa hiện nay đã có những thành công đạt được song vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu đặt ra Trong quá trình dạy học còn mang nặng lối dạy học theo phương pháp truyền thống Do đó hiệu quả giờ học không cao, giờ học còn khô khan, nhàm chán, chưa tạo được hứng thú cho học sinh Vì vậy, để khắc phục được tình trạng trên và đáp ứng nhu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, đặc biệt là trong dạy học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa nói riêng cần thiết phải

sử dụng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Việc sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học giúp thay đổi hình thức học tập, làm cho không khí lớp học sôi nổi hơn, học sinh vui vẻ cởi mở hơn qua đó góp phần nâng cao tình thần đoàn kết của học sinh Đặc biệt học sinh tiếp thu bài một cách tự giác, tích cực qua đó kiến thức được củng cố và ghi nhớ sâu hơn

Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học cho thấy việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa còn là vấn đề mới, chưa được giáo viên sử dụng nhiều Nguyên nhân là do giáo viên vẫn còn e ngại và lung túng trong việc sử dụng công nghệ thông tin Vậy việc sử dụng công

Trang 10

nghệ thông tin trong dạy học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa như thế nào để đạt hiệu quả tốt đang còn là vấn đề trăn trở của nhiều giáo viên

Bản thân cũng là một giáo viên Tiểu học, với mong muốn giúp học sinh nắm rõ từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt được từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cũng như giúp giáo viên có một giờ dạy hiệu quả nên tôi đã chọn nghiên cứu,

đi sâu tìm hiểu đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là mảng kiến thức khó đối với học sinh Tiểu học đặc biệt là việc phân biệt chúng Chính vì thế mà đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả về từ vựng có đề cập đến từ đồng âm và

từ nhiều nghĩa Chẳng hạn:

Hai tác giả Lê Phương Nga, Nguyễn Trí trong Giáo trình Phương pháp

dạy học Tiếng Việt 2 – NXB ĐHSP – 2004 đã chú ý đến việc nhận từ đồng

âm, từ nhiều nghĩa

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) trong Dẫn luận ngôn ngữ học –

NXB ĐHSP – 2008 đã đưa ra những dấu hiệu để phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

Trong cuốn Hỏi – Đáp về dạy học Tiếng Việt 5 – NXB Giáo dục Việt

Nam đã trình bày biện pháp chơi chữ và những dấu hiệu để phân biệt từ đồng

âm và từ nhiều nghĩa

Tuy nhiên, các tài liệu trên chỉ nêu nên hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa; chỉ đưa ra những dấu hiệu chung chung để phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Song chưa có tài liệu nào trình bày về việc xây dựng hệ thống bài tập

để giúp học sinh phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa Chính vì vậy, đề tài

Trang 11

âm, từ nhiều nghĩa, xây dựng hệ thống bài tập phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cũng như nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho đông đảo giáo viên đặc biệt là giáo viên tiểu học

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

5.2 Đề xuất các bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

5.3 Thực nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp phân tích

+ Phương pháp tổng hợp

+ Phương pháp điều tra

Trang 12

+ Phương pháp chuyên gia

+ Phương pháp thực nhiệm

+ Phương pháp thống kê

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học Chương 2 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và thực nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT

TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Cơ sở lí luận về việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt

từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học

1.1.1 Từ đồng âm

1.1.1.1 Khái niệm từ đồng âm

Có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra các khái niệm khác nhau về

Theo Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Hỏi – Đáp Tiếng Việt 5: “Từ

đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng có nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau và không hề liên quan với nhau”.[9,tr.129]

Như vậy, theo chúng tôi: Từ đồng âm là những từ giống nhau về hình

thức ngữ âm nhưng khác nhau về ý nghĩa

Ví dụ: Trong tiếng Việt có nhóm từ đồng âm “cầu”

Cầu1: quán ở giữa đồng, hay giữa đường cái để người qua lại nghỉ chân Cầu2: đồ chơi có một đế nhỏ hình tròn, trên mặt có nhóm lông chim hoặc túm giấy nhỏ, dùng để đá chuyền qua lại cho nhau hay dùng vợt đánh

Trang 14

Cầu3: công trình bắc qua mặt nước hay một nơi đất trũng để tiện cho việc qua lại

Cầu4: mong muốn những điều tốt đẹp

Cả 4 ý nghĩa trên của từ “cầu” không liên quan gì với nhau cho nên 4 từ trên là từ đồng âm

1.1.1.2 Giá trị sử dụng của từ đồng âm

Theo định nghĩa trên thì “Từ đồng âm là những từ giống nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về ý nghĩa.”

Ví dụ: Nghĩa của đồng (một khoảng đất rộng để gieo trồng) khác hẳn với nghĩa đồng (đơn vị tiền tệ)

Chính vì có ý nghĩa khác xa nhau, không liên quan đến nhau như vậy nên người Việt xưa đã khai thác triệt để điều này bằng việc sử dụng từ đồng

âm để chơi chữ, để gây cười và sử dụng trong giao tiếp hằng ngày

Chơi chữ là cách dùng từ đồng âm dựa vào hiện tượng đồng âm, tạo ra những câu nói có nhiều nghĩa, gây những bất ngờ thú vị cho người đọc, người nghe Người xưa thường sử dụng từ đồng âm để chơi chữ, nó vừa thể hiện sự thông minh, hiểu biết vừa thể hiện sự hài hước, dí dỏm của mình Chẳng hạn trong bài ca dao:

Bà già đi chợ Cầu Đông

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi 1 chăng?

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

Lợi 2 thì có lợi 3 nhưng răng chẳng còn

Lợi 1: lợi lộc, ngụ ý nói đến viêc lấy chồng có được lợi lộc gì không?

Lợi 2,3 : nói đến lợi ở răng, phần thịt bao giữ chân răng

Việc sử dụng từ đồng âm “lợi” trong bài ca dao trên tạo nên sự bất ngờ

trong câu ca dao làm cho người đọc cảm giác hài hước, vui vẻ, đầy thú vị

Trang 15

Hay: “Một nghề cho chín 1 còn hơn chín 2 nghề”

Chín1: chỉ sự thành thạo, tinh thông trong nghề nghiệp của mỗi người Chín2: chỉ số lượng nghề nghiệp

Hay như trong câu:

“Ai1 công hầu, ai2 khanh tướng, trong trần ai3, ai4 dễ biết ai5?

Thế1 Chiến Quốc, thế2 Xuân Thu, gặp thời thế3, thế4 thời phải thế5.” Ai1,2,4,5: là các đại từ

Ai3: là từ tố của trần ai (bụi)

1.1.2.1 Khái niệm từ nhiều nghĩa

Tác giả Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Hỏi – Đáp Tiếng Việt 5 cho

rằng :”Từ nhiều nghĩa là một từ nhưng có nhiều nghĩa Từ nhiều nghĩa hình

thành theo phương thức hoán dụ hoặc ẩn dụ”.[9,tr.131]

Như vậy, theo chúng tôi: Từ nhiều nghĩa là một từ nhưng có nhiều nghĩa

trong đó có một từ mang nghĩa gốc từ còn lại mang nghĩa chuyển

Ví dụ: từ “ăn”

Ăn cơm

Ăn cưới

Trang 16

Cũng giống nhƣ từ đồng âm, từ nhiều nhĩa có rất nhiều giá trị sử dụng

- Gọi tên đồ vật, sự vật: Để gọi tên đƣợc sự vật, đồ vật ta có thể mở rộng nghĩa gốc của từ nhiều nghĩa

Hay nhƣ trong câu:

Ngày ngày mặt trời 1 đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời 2 trong lăng rất đỏ

Mặt trời 1: là ngôi sao trung tâm của hệ mặt trời, có tác dụng chiếu sáng

Trang 17

chuyển nghĩa ấy đã tạo ra rất nhiều từ khác nhau nhưng có nghĩa liên quan tới nhau Điều đó không chỉ làm cho từ tiếng Việt trở nên phong phú và đa dạng hơn, các câu thơ hay đoạn văn trở nên hay hơn, sinh động hơn mà còn giúp

mở rộng vốn từ cho học sinh, giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của mình

1.1.3 Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

1.1.3.1 Sự giống nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

- Đều được hình thành từ quy luật tiết kiệm từ của ngôn ngữ - dùng ít ngôn ngữ nhưng biểu đạt được nhiều

Ví dụ: từ bò có những nghĩa biểu đạt sau:

+ Là danh từ chỉ một loài động vật to, chân cao có hai móng, sừng tròn

và ngắn, lông thường màu vàng, nuôi để kéo cày, kéo xe, lấy sữa, ăn thịt + Là động từ chỉ hoạt động , di chuyển ở tư thế nằm sấp bằng cử động cả chân lẫn tay

- Đều có hình thức giống nhau, đọc giống nhau, viết giống nhau, chỉ khác nhau về nghĩa

Chín 2 đồng âm với chín 1 và chín 3 nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau

Chín 1 , chín 3 là từ nhiều nghĩa với chín 1 mang nghĩa gốc, chín 3 mang

nghĩa chuyển

Trang 18

1.1.3.2 Sự khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có điểm khác biệt chủ yếu sau:

- Là hai hay nhiều từ giống nhau về

hình thức ngữ âm

Ví dụ: cơm chín và chín điểm

- Có nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau,

không có bất cứ mối liên hệ nào

Trang 19

Dựa vào bảng so sánh trên, ta có thể thấy được những điểm khác nhau cơ bản nhất của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

Từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng khác nhau về ý nghĩa Ở mọi văn cảnh khác nhau thì từ đồng âm luôn mang nghĩa gốc Còn từ nhiều nghĩa là một từ nhưng mang nhiều nghĩa khác nhau trong

đó một từ mang nghĩa gốc còn lại các từ mang nghĩa chuyển từ nghĩa gốc Các từ mang nghĩa chuyển được tạo ra từ phương thức ẩn dụ hoặc hoán dụ

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học

Trang 20

1.1.4.3 Tưởng tượng

Tưởng tượng là một quá trình xây dựng những cái mới dựa vào những biểu tượng đã có sẵn của bản thân

Tưởng tượng của học sinh tiểu học được chia ra thành tưởng tượng tái

tạo và tưởng tượng sáng tạo Đối với học sinh giai đoạn đầu tiểu học thì

tưởng tượng hình ảnh còn đơn giản, chưa bền vững, dễ thay đổi và chủ yếu là tưởng tượng tái tạo Còn học sinh cuối tiểu học thì tưởng tượng sáng tạo bắt đầu phát triển, trẻ thích thú với việc làm thơ, vẽ tranh,…

Tìm hiểu các yếu tố tâm lí (tri giác, tư duy, chú ý,…) của học sinh tiểu học giúp chúng ta hiểu đúng đối tượng dạy học Từ đó lựa chọn nội dung dạy học, mức độ yêu cầu bài học, phù hợp với học sinh

1.1.5 Vai trò của công nghệ thông tin và một số phần mềm thường sử dụng trong thiết kế bài tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học

1.1.5.1 Khái niệm của công nghệ thông tin

Thuật ngữ "Công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng

Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology – IT)

Công nghệ thông tin trong tiếng Anh là Information Technolory viết tắt

là IT: là ngành khoa học ứng dụng công nghệ quản lí và xử kí thông tin Đó

là ngành sử dụng máy tính và phần mền máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo

vệ, xử lí và thu thập thông tin

Ở Việt Nam, khái niệm “Công nghệ thông tin” được hiểu và định nghĩa

trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông

tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại – chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác

Trang 21

và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".[11]

Như vậy, Công nghệ thông tin được hiểu là: ngành khoa học ứng dụng

công nghệ quản lí và xử kí thông tin Đó là ngành sử dụng máy tính và phần mền máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lí và thu thập thông tin

1.1.5.2 Khái niệm về phần mềm dạy học

Phần mềm dạy học là phần mềm được tạo lập nhằm trợ giúp trong một chừng mực nào đó có thể thay thế một phần hay toàn bộ các hoạt động dạy học của thầy

Nói đến dạy học người ta phải đề cập đến các khía cạnh chủ yếu sau:

- Nội dung kiến thức cần truyền đạt

- Đối tượng cần truyền đạt

- Phương pháp, phương tiện cần truyền đạt kiến thức

Hiệu quả của việc dạy học được đánh giá bằng khối lượng, chất lượng kiến thức được chuyển từ giáo viên sang học sinh

Trong giáo dục truyền thống, quá trình dạy học diễn ra giữa người với người, việc đánh giá hiệu quả phụ thuộc chủ yếu vào kiến thức cũng như khả năng của thầy Khi có sự hỗ trợ của máy tính điện tử nói chung và sự hỗ trợ của phần mềm dạy học nói riêng thì hiệu quả cho việc đánh giá là sự tích hợp kiến thức đầy đủ của nhiều lĩnh vực

1.1.5.3 Vai trò của các phần mềm trong dạy học

Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục – đào tạo với nhiều mô hình biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học một cách toàn diện; dạy học hướng người học đến việc học tập chủ động, sáng tạo Muốn vậy cần phải nâng cao, cải thiện đồng bộ các

Trang 22

thành tố liên quan, trong đó có công nghệ thông tin, mà điều quan trọng là việc ứng dụng các phần mềm trong việc thiết kế các bài giảng điện tử Bởi vì, với sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học đã giảm nhẹ công việc của giáo viên

và giúp học sinh hứng thú hơn trong các giờ học Bên cạnh đó với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin còn giúp cho giáo viên thể hiện được các năng lực khác của mình

- Ưu điểm của việc sử dụng các phần mềm dạy học

Ưu điểm đầu tiên phải kể đến khi sử dụng các phần mềm để thiết kế các dạng bài tập đó là góp phần truyền tải đến học sinh một khối lượng lớn kiến thức trong một giờ dạy

Ngoài ra, việc sử dụng các phần mềm dạy học để thiết kế các dạng bài tập giúp giáo viên đưa được một lượng lớn các tư liệu có liên quan như tranh ảnh, đoạn phim, video, flash,…làm cho bài học sinh động hơn, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập

Một trong những lí do khiến nhiều quốc gia coi việc sử dụng các phần mềm dạy học trong dạy học là một việc làm không thể thiếu trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học vì nó giúp học sinh hình thành được những biểu tượng rõ nét liên quan đến bài học Từ đó kích thích học sinh tư duy, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình học

Sử dụng các phần mềm dạy học giúp giáo viên bớt được thời gian treo bảng phụ, tranh minh họa và thời gian viết bảng chỉ bằng một cái Click chuột,

vì vậy khắc phục được việc “cháy giáo án” khi dạy, giáo viên có thể dành nhiều thời gian cho việc mở rộng kiến thức liên quan tới bài học cho học sinh Thông qua đó, giáo viên có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học

Trang 23

Như vậy, khả năng mới mẻ và ưu việt này của việc sử dụng các phần mềm dạy học sẽ nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách tư duy và quan trọng hơn là cách quyết định con người

- Nhược điểm của việc sử dụng các phần mềm dạy học

Khi sử dụng các phần mềm dạy học trong thiết kế các dạng bài tập, giáo viên phải mất nhiều thời gian chuẩn bị công phu do phải tìm kiếm nhiều tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau Đây cũng chính là lí do khiến nhiều giáo viên ngại sử dụng các phần mềm dạy học Việc sử dụng các phần mềm dạy học đòi hỏi giáo viên có những hiểu biết nhất định về tin học và các phần mềm dạy học; về phía nhà trường thì phải đảm bảo cơ sở vật chất, cung cấp đầy đủ các trang thiết bị cho giáo viên trong quá trình giảng dạy

Khi trình chiếu giảng dạy trên lớp học sinh tò mò, chú ý đến phim, hình ảnh,…mà ít chú ý đến nội dung của bài học và ít ghi chép những nội dung quan trọng của bài học

1.1.5.4 Phần mềm Violet trong dạy học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa

a) Giới thiệu phần mềm Violet

Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Leson Editor for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên)

Violet là phần mềm công cụ giúp giáo viên có thể xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác,…rất phù hợp với học sinh tiểu học

b) Chức năng của phần mềm Violet

Violet có đầy đủ các tính năng để xây dựng bài giảng như:

- Cho phép nhập các dữ liệu, văn bản, công thức, hình vẽ, các dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim hoạt hình, flash, ), sau đó lắp ghép với nhau, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh và thiết lập tham số

Trang 24

- Tạo các hiệu ứng hình ảnh, hiệu ứng chuyển động, riêng với việc sử lí multimedia Violet tỏ ra mạnh hơn các phần mền khác

- Cho phép thể hiện và các file flash, cho phép sử dụng mọi định dạng file, video, thao tác các quá trình chạy các đoạn video

- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan, tạo bài tập ô chữ cần thiết cho hoạt động củng cố kiến thức và nâng cao nhận thức của học sinh

Bài tập trắc nghiệm gồm các loại: một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi, chọn đúng sai,…

* Ưu, nhược điểm của phần mềm Violet

- Ưu điểm

+ Violet là phần mềm dễ sử dụng, có đầy đủ các tính năng soạn thảo và trình chiếu, phiên bản mới nhất tính tới thời điểm hiện tại là Violet 1.9, trải qua quá trình nâng cấp, cải tiến từ Violet 1.1 đến Violet 1.9 như hiện nay Violet cho phép người dùng có thể thực hiện thao tác sao chép, cắt , dán dữ liệu (ảnh, văn bản, các dạng bài tập, phim, ) trên cùng một màn hình soạn thảo

+ Bên cạnh đó Violet còn tạo ra các bài tập trắc nghiệm, bài tập ô chữ

mà có thể đóng gói và nhúng trực tiếp vào bài giảng PowerPoint một cách đơn giản, từ đó tạo ra hứng thú học tập và phát huy tính tích cực trong học tập cho học sinh

+ Với Violet giáo viên có thể giảng bài một cách dễ dàng, đưa được nhiều kiến thức trong một bài giảng, đồng thời cũng giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá được khả năng tiếp thu bài của học sinh

- Nhược điểm

Người khai thác, sử dụng còn ngại trong vấn đề cài đặt phức tạp và mang

Trang 25

dài) Đây là một phần mới chưa được khai thác triệt để và chuyên sâu nên chưa cập nhật rộng tới người giáo viên, giao diện màn hình chưa nhiều mẫu sẵn có, nền cho bài giảng thường là một màu trắng đơn giản Nhược điểm chung của các bài giảng điện tử là không lưu tuần tự nội dung dạy học trên màn chiếu giống như dạy trên bảng đen phấn trắng, khắc phục nhược điểm trên bằng cách kết hợp phương pháp truyền thống “bảng đen phấn trắng” với trình chiếu bằng các phần mền dạy học, nghĩa là sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ hỗ trợ bài dạy

1.2 Cơ sở thực tiễn về việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học

1.2.1 Nội dung chương trình dạy học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa

1.2.1.1 Nội dung chương trình dạy học từ đồng âm

Việc dạy học từ đồng âm được thực hiện trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5 nhưng học sinh đã được làm quen với từ đồng âm từ rất sớm Cụ thể trong các phân môn sau:

Bảng 1.1 Bảng thống kê các phân môn sử dụng kiến thức từ đồng âm

Trang 26

Từ việc thống kê các phân môn có sử dụng kiến thức của từ đồng âm trên, ta thấy:

Ở các lớp 2, 3, 4 các phân môn đã sử dụng kiến thức của từ đồng âm song chỉ dừng lại ở việc đưa đoạn văn bản chứa từ đồng âm chứ chưa hề đề cập đến việc giải thích cũng như so sánh sự giống nhau hay khác nhau giữa các từ đồng âm được sử dụng trong đoạn văn

Riêng lớp 5, kiến thức từ đồng âm được dạy thành một bài học cụ thể trong chương trình vào tuần 5 và tuần 6 Ở tuần 5, đưa ra khái niệm từ đồng

âm cho cho học sinh Các bài tập ở phần này chủ yếu để vận dụng các kiến thức vừa học như phân biệt nghĩa của các từ đồng âm, đặt câu để phân biệt chúng Đến tuần 6 các em được học cách sử dụng từ đồng âm trong chơi chữ Bài tập ở phần này chủ yếu là tìm các từ đồng âm để chơi chữ và đặt câu với

từ đồng âm

Như vậy, học sinh đã được tiếp cận đến từ đồng âm ngay từ lớp 2, song các kiến thức này chỉ được đan xen trong các văn bản chứ không được đưa ra một cách trực tiếp Đến lớp 5 trong phân môn Luyện từ và câu từ đồng âm đã được dạy học thành bài riêng

1.2.1.2 Nội dung chương trình dạy học từ nhiều nghĩa

Nội dung kiến thức về từ nhiều nghĩa đã được đưa vào để học sinh làm quen từ khá sớm trong tất cả các phân môn ở tiểu học Cụ thể:

Trang 27

Bảng 1.2 Bảng thống kê các phân môn sử dụng kiến thức từ đồng âm

Đến lớp 5, học sinh mới đƣợc học bài lí thuyết về từ nhiều nghĩa Học sinh đƣợc cung cấp khái niệm về từ nhiều nghĩa và các bài tập để vận dụng kiến thức vừa học trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần 8 Cụ thể nhƣ sau:

- Ở tiết 1 của tuần 7 các em đƣợc cung cấp khái niệm về từ nhiều nghĩa cùng với các bài tập thực hành về phân biệt các từ mạng nghĩa gốc và từ mang nghĩa chuyển

- Hai tiết sau ở tuần 7 và tuần 8 học sinh đƣợc luyện tập nhiều hơn với các dạng bài tập nhƣ: giải thích nghĩa của một từ, tìm hoạt động đúng với nghĩa của một từ, đặt câu để phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển, nêu nét nghĩa khác nhau của một từ

Trang 28

Bài: Dùng từ đồng âm để chơi chữ - Tuần 6

Bài: Từ nhiều nghĩa – Tuần 7

Bài: Luyện tập về từ nhiều nghĩa – Tuần 7

Bài: Luyện tập về từ nhiều nghĩa – Tuần 8

Việc phân biệt từ đồng âm sẽ dễ dàng hơn bởi từ đồng âm là các từ có hình thức ngữ âm giống nhau (đọc và viết giống nhau) chỉ khác nhau về nghĩa Sau khi học sinh đã có nền tảng kiến thức về từ đồng âm, thì việc giới thiệu cho học sinh làm quen với từ nhiều nghĩa sẽ dễ dàng hơn

Tuy nhiên, trong chương trình dạy học chưa chú ý đến việc phân biêt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh Chỉ có duy nhất một bài tập trong sách giáo khoa (Bài tập 1 trang 82 – TV5 – Tập 1) có dạng nhận diện, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Với số lương bài như vậy khó có thể giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, trong khi khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế

1.2.2 Việc dạy học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa ở trường tiểu học

Qua dự giờ tiết Tiếng Việt ở tiểu học, việc dạy học của giáo viên vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của phương pháp dạy học truyền thống Giáo viên truyền thụ kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa một cách thụ động cho học sinh Nhìn chung các giờ dạy học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa chưa gây được hứng thú cho học sinh

Trang 29

Trong giờ học, giáo viên chủ yếu giúp học sinh hình thành kiến thức lí thuyết về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa mà chưa thật sự chú ý đến việc dành thời gian cho học sinh làm bài tập để khắc sâu kiến thức, hình thành kĩ năng ở học sinh Hơn nữa, trong một tiết học với thời lượng từ 30 phút đến 40 phút thì giáo viên chưa thể lồng ghép kiến thức về việc phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh Chính vì vậy mà học sinh chỉ nắm được các kiến thức riêng lẻ, tách bạch về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, khi gặp các bài tập liên quan đến cả hai mảng kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa học sinh

tỏ ra rất lúng túng Việc giáo viên chỉ tổ chức cho học sinh làm các bài tập trong sách giáo khoa mà chưa để tâm tới việc thiết kế, xây dựng một số bài tập phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh trong lớp, cũng là một trong những nguyên nhân khiến học sinh dễ nhầm lẫn trong các bài tập phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Trong dạy học, đôi khi giáo viên còn bị “bí từ” hay nhầm lẫn trong việc lấy ví dụ để phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

1.2.3 Khảo sát thực trạng kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa

Để nắm rõ hơn khả năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh, chúng tôi đã tiến hành khảo sát khối lớp 5 trường Tiểu học Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc và trường Tiểu học Đào Mĩ – huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang Với mục đích đánh giá khách quan nhất khả năng

của học sinh để đưa ra hệ thống bài tập phù hợp năng lực của học sinh

a Cách thức điều tra

Chúng tôi xây dựng 03 phiếu điều tra như sau:

Phiếu điều tra số 1: Phiếu điều tra về từ đồng âm

Phiếu điều tra số 2: Phiếu điều tra về từ nhiều nghĩa

Phiếu điều tra số 3: Phiếu điều tra khả năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

Nội dung phiếu điều tra chúng tôi đưa vào phần phụ lục

Trang 30

b Kết quả điều tra

Kết quả điều tra được cụ thể hóa bằng bảng sau:

Bảng 1.3 Bảng kết quả khảo sát từ đồng âm

Trường Tổng số phiếu Số phiếu đạt yêu cầu

( >5 điểm) Tỉ lệ (%)

Bảng 1.4 Bảng kết quả khảo sát từ nhiều nghĩa

Trường Tổng số phiếu Số phiếu đạt yêu cầu

( >5 điểm) Tỉ lệ (%)

Bảng 1.5 Bảng kết quả khảo sát phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

Trường Tổng số phiếu Số phiếu đạt yêu cầu

Trang 31

Cụ thể trong bài tập số 3 ở phiếu khảo sát số 3: “Cho từ cày Hãy đặt hai

câu có từ cày để phân biệt nghĩa của từ cày là từ đồng âm” Hầu hết học sinh

đều đặt hai câu với nghĩa là chiếc cày và cày ruộng Ví dụ:

- Mẹ em mới mua một chiếc cày

- Bác nông dân đang cày ruộng

Thực chất “cày” trong từ chiếc cày và từ cày ruộng được giải nghĩa như sau: Cái cày: là vật dụng của nhà nông, dùng để cày ruộng (là danh từ)

Cày ruộng: là hoạt động làm tơi xốp đất bằng chiếc cày (là động từ)

Học sinh có thể nhầm lẫn “cày” trong từ cái cày và từ cày ruộng là từ đồng

âm, nhưng thực chất cả hai từ chiếc cày và từ cày đều liên quan đến cày nên

đây là từ nhiều nghĩa

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn dạy học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, chúng tôi nhận thấy rằng việc dạy học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là mảng kiến thức khó Đặc biệt là việc phân biệt

từ đồng âm và từ nhiều nghĩa nhưng trong chương trình học chưa chú ý đến việc này Vì vậy, cần phải xây dựng hệ thống bài tập giúp học sinh phân biệt

từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Để giúp học sinh hứng thứ hơn trong việc làm các bài tập chúng tôi đã thiết kế một số bài tập có sự hỗ trợ của công nghê thông tin, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho giáo viên

Trang 32

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT

TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 2.1 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

2.1.1 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

2.1.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

- Hình thức: Hệ thống bài tập chia thành các nhóm, các kiểu, các dạng một cách nhất quán Căn cứ vào mục tiêu của bài học để xây dựng bài tập sao cho phù hợp và đạt kết quả cao

- Nội dung: Các bài tập đều được xây dựng theo các bài học cụ thể Các bài tập đều hướng vào việc thực hiện mục tiêu của bài học

2.1.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình

Hệ thống bài tập phải luôn bám sát nội dung chương trình của môn học, phải đảm bảo được mức độ kiến thức cần đạt đối với học sinh khi học xong chương trình

Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ không những phải tuân thủ nội dung chương trình của môn học mà cần phải đảm bảo sự phù hợp về kiến thức trong từng bài, trong cả chương trình

2.1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh

Tính vừa sức được hiểu là hệ thống bài tập đưa ra phải phù hợp với trình

độ tri thức cũng như phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Bài tập đưa

Trang 33

Để phát huy tính sáng tạo của học sinh thì các bài tập được xây dựng phải mang tính khoa học tức là các bài tập đưa ra không nên trích nguyên câu trong sách giáo khoa, các phương án trả lời có cùng một cách viết và gần giống nhau để tăng độ nhiễu

2.1.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

Kế thừa là sự tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu đã có Theo cách hiểu đó trong bài tập nghiên cứu này, chúng tôi đã nghiên cứu ở các sách tham khảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số tác giả đi trước để xây dựng

hệ thống bài tập phù hợp với nội dung của từng bài

2.1.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

Muốn đạt được mục đích đề ra, hệ thống bài tập phải có tính khả thi nghĩa là chúng phải là một hệ thống bài tập có thể vận dụng được trong thực

tế dạy học và đem lại hiệu quả như mong muốn

2.1.2 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học

2.1.2.1 Bài tập về từ đồng âm (Bài 1- 14)

Bài 1 Từ đồng âm là những từ như thế nào?

A Giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa

B Giống nhau về nghĩa nhưng khác hẳn nhau về âm

C Giống nhau về âm

D Giống nhau về nghĩa

Trang 34

Bài 2 Khẳng định nào sau đây là đúng:

A Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm

B Từ đồng âm là những từ giống nhau về nghĩa

C Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa

D Từ đồng âm là những từ giống nhau về nghĩa nhưng khác hẳn nhau về âm

Bài 3 Điền từ còn thiếu vào chỗ trống:

Từ đồng âm là những từ giống nhau về…… nhưng khác hẳn nhau về……

Bài 4 Tiếng đồng nào dưới đây có nghĩa là một khoảng đất rộng dùng để gieo trồng?

Trang 35

Bài 7 Nối các từ in đậm ở cột A với nghĩa ở cột B sao cho phù hợp

Bài 8 Trong câu sau sử dụng từ đồng âm nào?

Con ngựa đá con ngựa đá

b Bác bác trứng, tôi tôi vôi

Bài 10 Giải thích nghĩa của các từ in đậm trong các câu sau:

a Trên bàn có vài quyển sách

b Bàn thắng đã được ghi trong mười phút đầu tiên

c Bố mẹ đang bàn công việc

Bài 11 Em hiểu từ “ canh gà” trong câu sau như thế nào?

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

1 Sao chè

2 Sao trên trời có khi tỏ khi mờ

3 Sao lá đơn này thành ba bản

4 Sao ngồi lâu thế

a Chép lại hoặc tạo ra văn bản khác theo đúng văn bản chính

b Sấy khô

c Nêu thắc mắc không biết chuyện gì đang xảy ra

d Các thiên thể trong vũ trụ

Trang 36

Bài 12 Đặt câu với mỗi nghĩa của các từ sau:

a Cờ

b Chín

c Đường

Bài 13 Giải câu đố sau:

Hai cây cùng có một tên Cây xòe mặt đất, cây cày chiến trường

Bài 14 Giải câu đố sau:

Môn gì càng thắng càng thua?

a) Hãy cho biết môn thể thao được nhắc đến trong câu đố?

b) Tìm từ đồng âm trong câu đố trên và giải thích nghĩa của từ đó?

2.1.2.2 Bài tập về từ nhiều nghĩa (Bài 15 – 28)

Bài 15 Từ nhiều nghĩa là những từ như thế nào?

A Từ có nhiều nghĩa

B Từ có một nghĩa gốc và một nghĩa chuyển

C Từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của

từ nhiều nghĩa không có mối liên hệ với nhau

D Từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của

từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau

Bài 16 Khẳng định nào dưới đây là đúng:

A Từ nhiều nghĩa là từ có nhiều nghĩa

B Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một nghĩa chuyển

C Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa không có mối liên hệ với nhau

D Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau

Trang 37

Bài 17 Điền từ còn thiếu vào chỗ trống

Từ nhiều nghĩa là từ có một ……và một hay một số… Các nghĩa của

từ nhiều nghĩa ……mối liên hệ với nhau

Bài 18 Tiếng cày trong cái cày – cày ruộng có quan hệ gì?

B Đồng nghĩa D Trái nghĩa

Bài 19 Những từ in đậm trong bài thơ sau được dùng với nghĩa nào?

Răng của chiếc cào?

Làm sao nhai được?

Mũi thuyền rẽ nước

Thì ngửi cái gì?

Cái ấm không nghe

Sao tai lại mọc?

A Nghĩa gốc

B Nghĩa chuyển

C Cả nghĩa gốc và nghĩa chuyển

Bài 20 Trong các câu dưới đây, câu nào có từ ăn mang nghĩa gốc?

A Mỗi bữa em ăn hai bát cơm

B Hôm nay, bố mẹ đi ăn cưới

C Ăn cơm nhanh lên rồi còn đi học!

D Thể nào về cũng bị ăn đòn

Bài 21 Trong các câu dưới đây, câu nào có từ đầu mang nghĩa chuyển?

A Đợi tớ ở đầu cầu nhé!

B Đau hết cả đầu

C Khi viết, em đừng ngoẹo đầu

D.Đầu đoạn văn cần phải viết hoa

Ngày đăng: 11/09/2018, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w