LỜI CAM ĐOAN Đề tài “ Bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực cảm nhận vẻ đẹp của văn bản thơ từ góc nhìn của phong cách học” được chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa v
Trang 1PHONG CÁCH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
ThS GVC PHAN THỊ THẠCH
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo đặc biệt là Ths GVC Phan Thị Thạch Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô, người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm khóa luận
Qua đây chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới phòng Đào tạo Trường ĐHSP
Hà Nội 2, tới các thầy, cô giáo trong khoa GDTH đã tạo điều kiện giúp đỡ để khóa luận của chúng tôi được hoàn thành
Lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, sửa chữa của các thầy cô và các bạn sinh viên
để đề tài này được hoàn thiện hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Chu Thị Phương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “ Bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực cảm nhận vẻ đẹp của văn bản thơ từ góc nhìn của phong cách học” được chúng tôi nghiên cứu và
hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác, cộng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, Ths GVC Phan Thị Thạch và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân
Chúng tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Sinh viên thực hiện
Chu Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của khóa luận 6
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM NHẬN VẺ ĐẸP CỦA NGÔN NGỮ THƠ TỪ GÓC NHÌN CỦA PHONG CÁCH HỌC 8
1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 8
1.1.1 Một số lí thuyết của phong cách học 8
1.1.1.1 Khái niệm “ Phong cách học” 8
1.1.1.2 Chuẩn mực ngôn ngữ Cơ sở xác định những cách dùng ngôn ngữ sáng tạo 8
1.1.1.3 Một số biện pháp tu từ 9
1.1.1.4 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 15
1.1.2 Lí thuyết về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 17
1.1.2.1 Khái niệm “ Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” 17
1.1.2.2 Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 17
1.1.2.3 Tạo lập và lĩnh hội trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 19
1.1.3 Văn bản, đặc trưng của văn bản 20
1.1.3.1 Khái niệm văn bản 20
Trang 61.1.3.2 Đặc trưng của văn bản 20
1.2 Những hiểu biết chung về năng lực 22
1.2.1 Năng lực 22
1.2.1.1 Năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là một loại năng lực hành động 23
1.2.1.2 Năng lực cốt lõi của học sinh tiểu học ở thế kỉ XXI 23
1.3 Cơ sở tâm lí học 24
1.3.1 Cảm giác tri giác và biểu tượng 24
1.3.2 Trí nhớ và liên tưởng 25
1.3.3 Tưởng tượng 26
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2: THỐNG KÊ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG CÁC VĂN BẢN THƠ VÀ NỘI DUNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BỒI DƯỠNG CHO HỌC SINH NĂNG LỰC CẢM NHẬN VẺ ĐẸP CỦA NGÔN NGỮ THƠ 28
2.1 Thống kê biện pháp tu từ trong các văn bản thơ thuộc SGK Tiếng Việt 5 28
2.1.1 Thống kê các phương tiện và các biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa trong các văn bản thơ thuộc SGK Tiếng Việt 5 29
2.2.1.1 Thống kê các phương tiện từ vựng 29
2.2.2.2 Thành ngữ 31
2.1.2 Thống kê một số biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong các văn bản thơ 31
2.2.2.1 Nhân hóa tu từ 32
2.2.2.2 Ẩn dụ tu từ 32
2.2 Thông kê nội dung chương trình dạy học Tiếng Việt có liên quan dến việc bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ cho học sinh lớp 5 34
Trang 72.3 Nhận xét sơ bộ về kết quả thống kê phân loại các biện pháp tu từ trong các văn bản thơ và nội dung chương trình dạy học tiếng Việt có liên quan đến việc bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ cho học sinh lớp
5 39 2.3.1 Nhận xét sơ bộ về kết quả thống kê phân loại các biện pháp tu từ trong các văn bản thơ thuộc sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 39 2.3.2 Nhận xét việc thống kê phân loại nội dung chương trình dạy học tiếng Việt có liên quan đến việc bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ cho học sinh lớp 5 40 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM NHẬN VẺ ĐẸP CỦA VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO ĐỊNH HƯỚNG CỦA PHONG CÁCH HỌC 42 3.1 Một số biện pháp bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực cảm nhận vè đẹp của văn bản thơ theo định hướng của phong cách học 42 3.1.1 Biện pháp rèn kĩ năng đọc thơ cho học sinh lớp 5 42 3.1.2 Biện pháp rèn cho học sinh lớp 5 kĩ năng phát hiện hình ảnh sự vật được phản ánh trong thơ thông qua hệ thống ngôn từ 43 3.1.3 Biện pháp rèn luyện cho HS lớp 5 khả năng tìm hiểu, cảm nhận ý nghĩa của câu thơ, đoạn thơ 46 3.1.4 Biện pháp rèn cho HS lớp khả năng khái quát chủ đề, tư tưởng của tác giả, khái quát ý nghĩa giáo dục của văn bản thơ 48 3.1.5 Rèn luyện cho HS lớp 5 kĩ năng phát hiện và cảm nhận những cách dùng từ độc đáo trong VB thơ 50 3.1.6 Bồi dưỡng cho HS khả năng phát hiện và cảm nhận hiệu quả của những biện pháp tu từ trong VB thơ 52
Trang 83.1.7 Sưu tầm hoặc sáng tạo thêm các bài tập suy luận, phân tích để giúp HS lớp 5 rèn kĩ năng cảm nhận vẻ đẹp của VB thơ theo định hướng phong cách
học 56
3.2 Giáo án thể nghiệm 59
Tiểu kết chương 3: 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 9đề quan trọng được đặt lên hàng đầu Quá trình đổi mới này không những diễn
ra ở các bậc học, cấp học mà nó còn đi sâu vào các môn học, tiết học
Hiện nay nhiều nhà khoa học nhận thức sâu sắc rằng, để đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trong đó có đổi mới chương trình giáo dục tiểu học, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến việc bồi dưỡng những năng lực cơ bản cho học sinh thông qua các môn học Trong nội dung chương trình giáo dục của trường tiểu học, Tiếng Việt là môn học đóng vai trò vô cùng quan trọng quyết định tới việc hình thành cho học sinh những phẩm chất, năng lực mà công cuộc đổi mới giáo dục đang hướng tới
Cũng chính vì vậy, việc phát triển vốn tiếng Việt cho HS có thể nói là một công việc lớn đặt ra cho tất cả chúng ta, những người đã và đang hoạt động trong ngành giáo dục Ở trường tiểu học môn Tiếng Việt không chỉ trang bị cho HS những hiểu biết cơ bản về tiếng Việt,giúp các em hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết mà còn góp phần cùng các môn học khác phát triển tư duy, hình thành cho các em nhu cầu thưởng thức cái đẹp, khả năng xúc cảm trước cái đẹp, trước buồn – vui – yêu – ghét của con người Nhờ đó năng lực thẩm
mĩ và đời sống tâm hồn của các em cũng được phát triển theo chiều hướng tích cực Thông qua môn Tiếng Việt, HS có điều kiện được tiếp cận với các tác phẩm văn học, trong đó có các tác phẩm thơ Chính ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu của thơ đã cuốn hút lay động các em, giúp các em mở mang tầm hiểu biết và yêu quý tiếng Việt hơn Sự hiểu biết và tình yêu tiếng Việt là động lực để các em học tốt tiếng Việt và các môn học khác ở trường
Trang 102
tiểu học nếu chúng ta chú ý vận dụng những phương pháp dạy học tích cựcđể
tổ chức thực hiện hiệu quả hoạt động dạy học cho HS
Từ nhận thức về tính cấp thiết của việc bồi dưỡng năng lực cho HS và tác dụng của của việc cho HS tiếp cận với ngôn ngữ thơ trong dạy học tiếng Việt nhằm giúp các em bồi dưỡng một số năng lực cơ bản, chúng tôi lựa chọn đề
tài “ Bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực cảm nhận vẻ đẹp của văn bản thơ từ góc nhìn phong cách học”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Ở Việt Nam, một số tác giả đã có công trình nghiên cứu gần gũi với đề tài khóa luận Có thể kể ra đây một số tác giả tiêu biểu như sau:
- Đinh Trọng Lạc ( 1999), Phong cách học tiếng Việt, NXBGD
Trong cuốn giáo trình này, Đinh Trọng Lạc trình bày những vấn đề lí luận về đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của phong cách học và những biện pháp tu từ tiêu biểu trong tiếng Việt
- Nguyễn Trọng Hoàn, ( 2001), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học
văn chương,NXBGD
Trong cuốn sách trên tác giả nhấn mạnh vai trò to lớn của trí nhớ, liên
tưởng, tưởng tượng trong việc cảm thụ văn chương Tuy vậy, việc bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ không phải là đối tượng nghiên cứu của tác giả
- Trần Mạnh Hưởng , (2015), Luyện tập về cảm thụ văn học ở tiểu học,
NXBGD
Trong công trình nghiên cứu đã nêu, Trần Mạnh Hưởng đưa ra một số dạng bài tập để luyện năng lực cảm thụ văn học cho học sinh đặc biệt chú ý tới rèn luyện các kĩ năng cảm thụ Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng ở các dạng bài tập chung chung chứ chưa đề xuất những biện pháp dạy học cần dùng để bồi dưỡng năng lực cho HS
Trang 113
- Các tác giả Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Văn
Minh, Nguyễn Mạnh Hưởng, Bùi Xuân Anh, Lưu Thị Thu Hà trong cuốn Dạy
học tích hợp, phát triển năng lực cho học sinh, NXBĐHSPHN đã cung cấp
một số cơ sở lí luận cần thiết về dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực, đồng thời giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức độ tích hợp khác nhau, từ tích hợp ở mức độ lồng ghép, liên hệ đến tích hợp ở mức độ chương trình Tuy vậy các tác giả chưa đề cập đến việc bồi dưỡng năng lực cho HS thuộc một đối tượng cụ thể
2.2 Gần đây, bồi dưỡng năng lực cảm thụ cho học sinh thông qua các phân môn tiếng Việt cũng là đề tài được một số SV khoa GDTH, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 quan tâm đến Tiêu biểu trong số SV đó là:
- Bùi Thị Nhung, (2007), Rèn kỹ năng đọc – cảm thụ thơ cho học sinh
tiểu học
Ở đề tài trên, tác giả đã đề xuất chung chung về việc rèn kĩ năng đọc cho HS để giúp HS tiểu học nói chung cảm thụ được văn bản Tập đọc
- Nguyễn Thị Thu Hoa, (2012), Xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng
năng lực cảm thụ văn học trong giờ học Tập đọc cho học sinh lớp 4,5
Với đề tài này, tác giả đã giới hạn đối tượng bồi dưỡng năng lực cảm
thụ cho HS lớp 4,5 trong giờ Tập đọc thông qua hệ thống cụ thể
- Phạm Thu Trang, (2017), Bồi dưỡng năng lực cảm nhận giá trị của so
sánh tu từ trong các văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 3
- Nguyễn Thu Uyên, (2017), Bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của
nhân cách hóa trong các văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 3
Hai sinh viên trên đã dựa vào khái niệm năng lực để đề xuất một vài biện pháp giúp HS lớp 3 cảm nhận hiệu quả của hai biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong VB nghệ thuật
Trang 124
Thông qua việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy: nghiên cứu về phong cách học, về biện pháp rèn kĩ năng cảm thụ văn học hoặc rèn kĩ năng đọc để cảm thụ văn học không phải là một vấn đề mới vì đã
có không ít người khai thác Tuy vậy, đề tài “ Bồi dưỡng cho học sinh lớp 5
năng lực cảm nhận vẻ đẹp của văn bản thơ từ góc nhìn của phong cách học
không trùng lặp với bất kì một công trình nghiên cứa nào đã nêu
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: những biện pháp bồi dưỡng
năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ từ góc nhìn phong cách học cho học sinh lớp 5
4 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm đạt được những mục đích sau:
4.1 Sử dụng những kiến thức đã hệ thống hóa để xây dựng cơ sở lí luận cho khóa luận.Qua đó giúp tác giả khóa luận hiểu sâu sắc vẻ đẹp của ngôn ngữ trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp
5
4.2 Trang bị cho bản thân những phương pháp, những biện pháp dạy học tiếng Việt nhằm giúp học sinh bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ từ góc nhìn của phong cách học
4.3 Cung cấp cho các bạn sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học một tài liệu tham khảo
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để xử lí đề tài đã nêu, chúng tôi xác định cần phải thực hiện 4 nhiệm vụ sau:
5.1 Xác định cơ sở lí luận cho đề tài
5.2 Thống kê, phân loại bài tập giúp học sinh bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của VB thơ từ góc nhìn phong cách học
Trang 136.1 Giới hạn phạm vi thống kê ngữ liệu
Tất cả những bài tập liên quan đến đối tượng nghiên cứu có trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5
6.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Từ cách hiểu đầy đủ nhất về khái niệm “năng lực” khóa luận tập trung vào các nội dung sau:
a Biện pháp giúp học sinh lớp 5 có hiểu biết về chuẩn mực ngôn ngữ trong tiếng Việt
b Biện pháp rèn luyện cho học sinh lớp 5 kĩ năng phát hiện những cách dùng ngôn ngữ sáng tạo trong thơ
c Biện pháp giúp học sinh lớp 5 có kĩ năng giải mã những cách dùng ngôn ngữ độc đáo để cảm nhận được hiệu quả của những cách dùng đó trong
VB thơ
d Biện pháp bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 có ý thực vận dụng hiểu biết, kĩ năng cảm nhận vẻ đẹp của những cách dùng ngôn ngữ sáng tạo để taọ lập lời nói hay, lời nói đẹp
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp thống kê
Phương pháp được chúng tôi sử dụng để nhận biết, các tác phẩm thơ, các biện pháp tu từ trong các VB thơ thuộc SGK TV lớp 5
Trang 146
7.2 Phương pháp phân tích
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích ngữ liệu nhằm cụ thể hóa và làm sâu sắc những nội dung trình bày về vấn đề bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ từ góc nhìn của phong cách học
7.3 Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng nhằm tái hiện, các biện pháp
và nội dung liên quan tới việc bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ cho HS
7.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu cách dùng ngôn ngữ trong
VB với cách dùng ngôn ngữ tương đương, vắng mặt trong VB
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của khóa luận gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực cảm nhận vẻ đẹp của văn bản thơ từ góc nhìn của phong cách học
Chương 2: Thống kê biện pháp tu từ trong các văn bản thơ và nội dung dạy học tiếng Việt liên quan đến bồi dưỡng cho học sinh năng lực cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ
Trang 157 Chương 3: Biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm nhận vẻ đẹp của văn bản thơ cho học sinh lớp 5 theo định hướng của phong cách học
Trang 168
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM NHẬN
VẺ ĐẸP CỦA VĂN BẢN THƠ TỪ GÓC NHÌN PHONG CÁCH HỌC 1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1 Một số lí thuyết của phong cách học
1.1.1.1 Khái niệm “ Phong cách học”
Một số nhà nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt có những định nghĩa riêng về khái niệm này Chẳng hạn:
Phan Ngọc cho rằng: “Phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu
lựa chọn và tính biểu cảm của các lựa chọn ấy”
[Phan Ngọc 1985, 15]
Đinh Trọng Lạc lại đưa ra cách hiểu khái quát về phong cách học như
sau: “Trên những nét chung nhất, phong cách học được hiểu là khoa học về
các quy luật nói và viết có hiệu lức cao.”
[Đinh Trọng Lạc 1999, 3]
Theo Cù Đình Tú, phong cách học là: “là một bộ phận của ngôn ngữ học
nghiên cứu các nguyên tắc và quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng và tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định”
[Cù Đình Tú 2001, 21-22] Trong các định nghĩa trên, theo chúng tôi định nghĩa của Cù Đình Tú rõ ràng và có sức thuyết phục cao
1.1.1.2 Chuẩn mực ngôn ngữ Cơ sở xác định những cách dùng ngôn ngữ sáng tạo
a Khái niệm chuẩn mực ngôn ngữ
Trang 179
Chuẩn mực ngôn ngữ là hệ thống các phương tiện biểu hiện tốt nhất, hợp lí nhất và được mọi người thừa nhận, cùng sử dụng để giao tiếp với nhau trong một thời kỳ nhất định Chuẩn mực ngôn ngữ được thể hiện trong các phạm vi: phát âm, chữ viết, dùng từ và đặt câu
( Giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” )
b Chuẩn mực ngôn ngữ là cơ sở để giúp học sinh phát hiện những cách dùng ngôn ngữ sáng tạo trong văn bản thơ
Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ giàu tính hàm súc, giàu tính hình tượng và tính biểu cảm Các yếu tố đó hòa quyện vào nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa Chúng biến hóa qua nhiều sắc thái ảo thực, bất ngờ, thú vị Ngôn ngữ thơ là kết quả vận dụng sáng tạo ngôn ngữ dân tộc của từng nhà thơ trong từng hoàn cảnh cụ thể nhằm bộc lộ xúc cảm của thế giới nội tâm Muốn phát hiện ra những đóng góp của tác giả, muốn cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn thi sĩ trong mỗi bài thơ, người đọc cần dựa vào chuẩn mực ngôn ngữ Chuẩn ngôn ngữ là những phương tiện ngôn ngữ được cộng đồng quy ước
mà thành chúng phù hợp với yêu cầu xã hội, được thống nhất và sử dụng trong giao tiếp hằng ngày Sự thống nhất này giúp người đọc người nghe cùng hiểu nội dung cơ bản trong giao tiếp
Việc HS nắm chắc kiến thức về chuẩn ngôn ngữ sẽ tạo điều kiện cho các
em đối chiếu so sánh chuẩn ngôn ngữ với cách dùng ngôn ngữ mang tính sáng tạo riêng biệt của tác phầm thơ Từ đó các em phát hiện ra cái hay, cái đẹp của ngôn từ mà tác giả sử dụng
Trang 18b.1 So sánh tu từ
So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với
sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe
VD:
“Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày.”
b.2 Nhân cách hóa
Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn VD:
“Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha
Trang 1911
Áo xanh sông mặc như là mới may
Chiều trôi thơ thẩn áng mây Cài lên màu áo hây hây ráng vàng ”
(Dòng sông mặc áo, SGK TV4, tập 2)
b.3.Điệp từ ngữ
Đó là cách cá nhân có ý thức lặp đi lặp lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả nhằm nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu hoặc đoạn văn bản
VD:
“Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay ”
(Hạt gạo làng ta, SGK,TV5, tập 1)
c.Biện pháp tu từ cú pháp
Biện pháp tu từ cú pháp là những cách sử dụng các kiểu câu, những cách
tổ chức sáng tạo thành phân các câu nhằm mục đích tu từ
Trong các văn bản thơ ở tiểu học, lặp cú pháp, đảo cú pháp, dùng câu hỏi
tu từ… là những biện pháp tu từ cú pháp
c.1 Lặp cú pháp
Lặp cú pháp là cách lặp đi lặp lại một kiểu cấu trúc cú pháp của các câu, các vế câu, thành phần câu nhằm khai triển chủ đề hoặc nhấn mạnh ý và tạo sự nhịp nhàng, cân đối cho văn bản
Trang 20VD:
Lặng thầm thay những con đường ong bay”
Trang 2113
âm thanh, ngôn ngữ để tạo ra lời nói có âm hưởng, vần điệu, nhịp điệu, tiết tấu
Trong các văn bản thơ, các nhà thơ Việt Nam đã sử dụng những biện pháp
tu từ ngữ âm như: điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh, đối âm, hài thanh…
để tạo ra các văn bản thơ giàu tính nhạc
d.1 Điệp phụ âm đầu
Đây là biện pháp tu từ ngữ âm lặp lại phụ âm đầu để tạo ra sự trùng điệp
về âm hưởng, tăng tính tạo hình và diễn cảm cho câu thơ Tuỳ theo đặc điểm của phụ âm đầu được chọn làm phương tiện mà nó có thể gợi những liên tưởng tinh tế khác nhau
VD:
“ Mênh mông muôn mẫu một màu mưa
Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ
VD:
“Mây lưng chừng hàng
Về ngang lưng núi
Hàng cây nghiêm trang
Mơ màng theo bụi”
(Xuân Diệu)
Trang 2214
d.3 Điệp thanh điệu
Điệp thanh điệu là cách cá nhân có ý thức sử dụng lặp lại các thanh điệu giống nhau để tạo ra sự tương đồng về âm vực nhằm tạo nhạc điệu cho lời VD:
Anh yêu em xong anh đi đâu”
( Tình hoài, Lê Ta)
d.4 Đối thanh
Đó là cách cá nhân sử dụng các tiếng mang thanh điệu cao hoặc thấp nhằm tạo ra sự đối lập về âm vực để tạo tính nhạc cho lời
VD:
“Dốc₅ lên₁ khúc₅ khuỷu₄ dốc₅ thăm₁ thẳm₄
( Tây Tiến, Quang Dũng)
d.5 Hài thanh
Hài thanh là cách cá nhân lựa chọn và sử dụng kết hợp các âm thanh sao cho hài hoà để có thể gợi lên một trạng thái, một cảm xúc tương ứng với cái được biểu đạt Ðó là hình thức tổng hợp các yếu tố ngữ âm nhằm biểu đạt hấp dẫn một nội dung giao tiếp
VD:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời,
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi ”
(Nhị hồ, Xuân Diệu)
Trang 2315
1.1.1.4 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
a Khái niệm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
a.1 Thế nào là phong cách chức năng ngôn ngữ?
Trong SGK Tiếng Việt 11, NXBGD, 2000, các tác giả Bùi Tất Tươm và Hồng Dân đã định nghĩa phong cách chức năng ngôn ngữ như sau:
Đó là những kiểu diễn đạt bằng ngôn ngữ tiêu biểu cho một phạm vi giao tiếp nhằm thực hiện chức năng nhất định
Các nhà phong cách học trong đó có Đinh Trọng Lạc căn cứ vào chức năng và các đặc trưng cơ bản của các kiểu diễn đạt hình thành trong giao tiếp
và xã hội đã phân chia thành sáu chức năng ngôn ngữ sau:
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày
- Phong cách ngôn ngữ khoa học
- Phong cách ngôn ngữ hành chính
- Phong cách ngôn ngữ chính luận
- Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (văn chương)
a.2 Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
Khái niệm:
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị cao
về nghệ thuật - thẩm mĩ
Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có những đặc trưng cơ bản sau: tính hình tượng, tính truyền cảm, tính hàm súc và tính cá thể hoá
Trang 2416
- Tính hình tượng
Tính hình tượng thể hiện ở cách diễn đạt thông qua một số hệ thống cách hình ảnh, màu sắc, biểu tượng để người đọc dùng tri thức, vốn sống của mình liên tưởng, suy nghĩ và rút ra những bài học nhân sinh nhất định
- Tính truyền cảm
Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ chúng khơi dậy ở người đọc cảm xúc vui hay buồn, yêu thích, căm giận, tự hào giống như tác giả
- Tính cá thể hóa
Tính cá thể hiện ở khả năng vận dụng sáng tạo các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, cú pháp ) của cộng đồng vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật ở mỗi nhà văn, nhà thơ Chính việc vận dụng đó đã góp phần tạo ra sự mới mẻ, hấp dẫn cho hình tượng nghệ thuật mà từng nhà văn, nhà thơ xây dựng trong tác phẩm
VD: Viết về dòng sông quê hương Hoài Vũ đã sử dụng so sánh tu từ độc đáo để tái hiện vẻ đẹp của sông Vàm Cỏ Đông:
“Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ Chở tình thương trang trải đêm ngày.”
Cũng lựa chọn mảng đề tài đó Nguyễn Trọng tạo lại dùng nhân hóa để khắc họa dòng sông quê hương như sau:
“Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha Trưa về trời rộng bao la
Áo xanh sông mặc như là mới may”
Trang 2517
- Tính hàm súc:
Ngôn từ trong tác phẩm văn chương phải cô đọng, phải “nén chặt” ý nén tối đa trong lời làm cho mỗi từ, mỗi câu có sức biểu hiện và biểu cảm cao Việc tác giả văn chương sử dụng một số ít các phương tiện ngôn ngữ, nhưng đạt được dung lượng biểu hiện cao chính là biểu hiện của tính hàm súc của ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.2 Lí thuyết về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.2.1 Khái niệm “ Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong
xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (nói, viết), nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, tình cảm, hành động…
Hoạt động giao tiếp có hai quá trình:
- Quá trình tạo lập (hay sản sinh) lời nói, văn bản Quá trình này do người nói hoặc người viết thực hiện
- Quá trình tiếp nhận (lĩnh hội) lời nói, văn bản do người nghe hoặc người đọc thực hiện
Hai quá trình của hoạt động giao tiếp luôn diễn ra trong quan hệ tương tác với nhau Khi giao tiếp, người nói có thể vừa là người tạo lập nhưng cũng lại vừa là người tiếp nhận lời nói bởi các vai giao tiếp luôn luôn thay đổi Chính
vì vậy khi xem xét các quá trình giao tiếp, chúng ta phải đặc biệt chú ý tới các tình huống giao tiếp cụ thể khác nhau
1.1.2.2 Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp có sự tham gia của nhiều nhân tố Các nhân tố này vừa duy trì hoạt động giao tiếp, lại vừa chi phối tới hoạt động giao tiếp Các nhân tố đó là :
Trang 2618
a) Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp trả lời cho câu hỏi Ai nói, ai viết, nói với ai, viết
cho ai?
Như vậy, nhân vật giao tiếp có thể chia thành người nói (người viết) và
người nghe (người đọc) Quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp cùng với những đặc điểm khác biệt (tuổi, giới tính, nghề nghiệp, vốn sống, văn hoá, môi
trường xã hội) chi phối lời nói (nội dung và hình thức biểu đạt)
b) Hoàn cảnh giao tiếp
Nhân tố này tả lời cho câu hỏi: Nói, viết trong điều kiện nào, ở đâu, khi
nào?
Có hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm hoàn cảnh địa lí , xã hội, lịch sử, kinh tế… của dân tộc, của đất nước Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là nơi chốn, thời gian cụ thể diễn ra giao tiếp
c) Nội dung giao tiếp
Nhân tố này trả lời cho câu Nói về cái gì ?
d) Mục đích giao tiếp
Mục đích giao tiếp định hướng các nhân vật giao tiếp: nói (viết) để làm gì?
Mục đích giao tiếp là một trong yếu tố chi phối việc lựa chọn nội dung và cách thức giao tiếp Khi trò chuyện với một người, sự lựa chọn ngôn ngữ để gây thiện cảm với người đó không giống với các yếu tố ngôn ngữ mà ta lựa chọn khi muốn chấm dứt cuộc hội thoại hay chấm dứt một mối quan hệ mà mình không muốn tiếp tục
Do vậy, những người tham gia giao tiếp cần xác định mục đích giao tiếp ngay từ đầu, từ đó lựa chọn nội dung, cách thức giao tiếp thích hợp để đạt được mục đích một cách tốt nhất trong thời gian ngắn nhất
Trang 2719
e) Phương tiện và cách thức giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp chính là các đơn vị ngôn ngữ (âm thanh, chữ viết, từ, câu) các đơn vị đó được người nói, người viết lựa chọn, tổ chức thành ngôn bản, văn bản nhằm hiện thực hóa nội dung giao tiếp
Trong giao tiếp trực tiếp, nhân vật giao tiếp chọn ngôn ngữ nói để biểu hiện lời Trong giao tiếp gián tiếp bằng VB, người ta chọn ngôn ngữ viết Mỗi dạng thức trên sẽ có cách dùng ngôn ngữ khác nhau Những cách dùng ngôn ngữ trong giao tiếp được gọi là cách thức giao tiếp
1.1.2.3 Tạo lập và lĩnh hội trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
a Tạo lập trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Đó là hoạt độngcủa người nói (người viết) trong hoạt động giao tiếp Tùy vào hoàn cảnh giao tiếp, tùy vào mục đích giao tiếp, người nói (người viết) lựa chọn, tổ chức phương tiện ngôn ngữ để tạo thành sản phẩm lời nói hoàn chỉnh nhằm trao đổi với người nghe người đọc một nội dung giao tiếp để đạt được một mục đích giao tiếp nhất định
b Lĩnh hội trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Đây là hoạt động của người nghe (người đọc)
Tham gia hoạt động giao tiếp, người nghe (người đọc) bằng năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp và kinh nghiệm của bản thân… tiến hành giải mã các phương tiện ngôn ngữ trong sản phẩm lời nói hoàn chỉnh của người nói (người viết) qua đó lĩnh hội được nội dung được phản ánh trong đó
Trang 2820
1.1.3 Văn bản, đặc trưng của văn bản
1.1.3.1 Khái niệm văn bản
Văn bản là một chỉnh thể thống nhất thường được tạo ra từ hai câu trở lên Các câu liên kết với nhau chặt chẽ Chúng được tổ chức theo một kết cấu nhất định nhằm khai triển trọn vẹn một chủ đề
1.1.3.2 Đặc trưng của văn bản
Truyện do có chức năng tái hiện hiện thực đời sống xã hội cho nên thường có cốt truyện, có nhân vật và có phương thức kể chuyện (phương thức
tự sự)
Thơ phản ánh thế giới nội tâm của con người, cho nên thơ trước hết là tiếng nói cảm xúc của cái tôi trữ tình thi sĩ Tiếng nói cảm xúc đó được bộc lộ qua những hình ảnh, tư tưởng được biểu hiện chủ yếu bằng phương thức biểu cảm kết hợp với phương thức miêu tả
- Thuộc về hình thức của văn bản còn là cấu trúc của nó Cấu trúc của văn bản gồm cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài Đó là những cách tổ chức các phần, các bộ phận của VB
- Thuộc về hình thức của văn bản còn là ngôn ngữ, những cách sử dụng ngôn ngữ theo một phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định Mỗi phong cách ngôn ngữ có những đặc trưng riêng Cùng là văn bản, nhưng văn bản hành chính khác văn bản nghệ thuật ở đặc trưng phong cách Nếu ngôn ngữ
Trang 2921
trong văn bản hành chính có tính khuôn mẫu, tính chính xác minh bạch, tính hiệu lực cao; thì ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật lại có tính hình tượng, tính hàm súc và tính cá thể hóa
c Về mặt tính chất
c.1 Tính hoàn chỉnh
Tính hoàn chỉnh của văn bản được thể hiện ở cả hai phương diện nội dung và hình thức Về nội dung, mỗi VB thể hiện trọn ven 1 chủ đề Về hình thức, tính hoàn chỉnh của văn bản thể hiện ở cấu trúc của nó
Tính hoàn chỉnh là một trong những tiêu chí cơ bản đẻ phân biệt VB với những đối tượng không phải là VB
c.2 Tính liên kết
Toàn bộ các mối liên hệ, quan hệ giữa văn bản với cuộc sống khách quan và giữa các thành tố của văn bản với nhau tạo nên tính liên kết của văn bản Cả hai phạm vi liên kết bên trong và bên ngoài ấy của văn bản đều quan trọng Trong mặt liên hệ nội tại, mối liên kết giữa các thành tố, trước hết là mối liên hệ giữa các ý tưởng trong các câu, các đơn vị trên câu; chúng được thể hiện ra nhờ các các yếu tố ngôn từ được gọi là các phương tiện liên kết hình thức Các mặt liên kết nội dung và hình thức ấy được thể hiện ở nhiều cấp độ: cấp độ các câu tiếp nối (liên kết liên câu), các câu gián cách và cấp độ các đơn vị trên câu như cụm câu, đoạn văn, tiết, mục, chương, phần trong quy
mô toàn văn bản Ðiều này làm văn bản có tính hệ thống Người đọc văn bản chỉ có thể hiểu được từng câu, từng đoạn văn bản nếu đặt nó trong mối liên hệ với toàn bộ văn bản
c.3 Tính mạch lạc
Trong văn bản, mạch lạc là sự tiếp nối các ý theo một trình tự hợp lí Sự
tiếp nối hợp lí giữa các ý thể hiện ra ở sự tiếp nối hợp lí của các câu, các đoạn, các phần trong văn bản Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ nghĩa giữa vật nêu
Trang 3022
ở chủ ngữ với đặc trưng nêu ở vị ngữ, trong quan hệ giữa các đề tài (chủ đề) của các câu Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau.trong trình tự hợp lý giữa các câu (mệnh đề) Mạch lạc biểu hiên trong khả năng dung hợp giữa các hành động lời nói…
d Về mặt chức năng
Bùi Minh Toán cho rằng văn bản vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, lại vừa là phương tiện giao tiếp Mỗi VB là sản phẩm cùa hoạt động giao tiếp, nó được người nói (người viết) tạo ra trong một hoàn cảnh cụ thể VB là phương tiện giao tiếp, bởi vì thông qua VB người nói (người viết) trao đổi với người nghe (người đọc) một nội dung tư tưởng tình cảm nhất định
1.2 Những hiểu biết chung về năng lực
1.2.1 Năng lực
Khái niệm
Theo tác giả cuốn Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh –
quyển 2 NXBĐHSP, thì năng lực có thể hiểu theo những cách rộng hẹp
khác nhau
- Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi
tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định
- Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành động cụ
thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng,
kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động
Khái quát những cách hiểu đó, các tác giả đã đưa ra định nghĩa như sau về năng lực: “ Năng lực là khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công việc trong bối cảnh nhất định”.(sđd, tr.7)
Trang 311.2.1.2 Năng lực cốt lõi của học sinh tiểu học ở thế kỉ XXI
Theo cuốn “ Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh”,quyển 2,Trần Thanh Thủy (chủ biên) cho rằng: Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung)
là năng lực cơ bản thiết yếu mà bất kì người nào cũng cần phải có để sông,
để học tập và làm việc
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam sẽ được cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực, các năng lực của học sinh khi kết thúc chương trình giáo dục phổ thông được xác định là:
- Năng lực tư duy
Trang 32- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
Đây là cơ sở ban đầu cho hoạt động phát triển chương trình nhà trường, trong số đó có việc xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề
1.3 Cơ sở tâm lí học
1.3.1 Cảm giác tri giác và biểu tượng
a Cảm giác
Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, “ Cảm giác là hình thức thấp
nhất của nhận thức, cho ta biết được một thuộc tính riêng lẻ của sự vật đang tác động vào giác quan ta; điều nhận thấy trên của cảm tính”
(sđd, tr 103)
b Tri giác
Từ điển Tiếng Việt đưa ra cách hiểu về tri giác như sau: Đó là “hình thức
của nhận thức cao hơn cảm giác,phản ánh trực tiếp và trọn vẹn sự vật, hiện tượng bên ngoài với đầy đủcác đặc tính của nó.”
(sđd, tr.998)
c Biểu tượng
“Biểu tượng là những hình ảnh của các sự vật và hiện tượng của thế giới
xung quanh được lưu lại trong ý thức và được hình thành trên cơ sở các tri
Trang 33Theo tác giả cuốn Tâm lí học, Phạm Minh Hạc (chủ biên), NXBGD, Tập 1,
Tr 266 khái niệm trí nhớ trong Tâm lí học được hiểu là: “Sự ghi lại, giữ lại
và làm xuất hiện lại (tái hiện) những gì cá nhân thu được trong hoạt động sống của mình Nói như vậy chúng ta muốn nhấn mạnh rằng: những quá trình tâm lí này không tự nhiên mà có, không diễn ra một cách tự động”
Nhờ có quá trình vận hành của trí nhớ, con người có khả năng phản ánh, lưu giữ những hình ảnh hay những sự kiện từng xảy ra trong quá khứ Trí nhớ thực sự cần thiết và có ý nghĩa tích cực bởi đó cũng là cơ sở, căn cứ dữ liệu để
so sánh rút kinh nghiệm định hướng cho tư tưởng hành động của con người trong hiện tại và phác thảo, dự kiến kế hoạch cho tương lai
b Liên tưởng
“ Bất kì sự ghi nhớ hay học thuộc nào cũng đòi hỏi phải thiết lập một mối
quan hệ thần kinh tương ứng hay còn gọi là liên tưởng” (Tâm lí học,
A.Ruđích, tr 129) Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa yếu tố tâm lý, nhờ đó sự xuất hiện của một yếu tố này trong những điều kiện nhất định gây nên một yếu tố khác liên quan với nó
Có ba loại liên tưởng:
- Liên tưởng gần nhau là loại liên tưởng diễn ra theo cơ chế tác động hệ
quả, thể hiện mối liên hệ logic thứ tự hô ứng do kí ức tự gợi ra
- Liên tưởng giống nhau là loại liên tưởng dựa vào mối liên hệ thần kinh
do hai đối tượng giống nhau gây nên Chúng xảy ra trong trường hợp sự tri giác về một vật thể nào đó gây nên trong trí nhớ sự nhớ lại vât thể tương tự ngay cả khi nó không tri giác đồng thời hay bên cạnh vật thứ nhất Hiện tượng
Trang 3426
này có ý nghĩa tích cực vì nó tạo cho chủ thể có cơ sở so sánh, đồng thời làm cho việc ghi nhớ có chủ đích đạt hiệu quả tốt hơn
- Liên tưởng tương phản là loại liên tưởng có hình thức gần với liên tưởng
giống nhau, nhưng ở đây sự tri giác một vật thể nào đó lại gây nên trong trí nhớ hồi ức về một vật thể khác có những dấu hiệu đặc điểm, tính chất hoàn toàn ngược lại
Các nhà tâm lí chia tưởng tượng làm hai loại:
b.1 Tưởng tượng tiêu cực
Tưởng tượng tiêu cực là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh không có thật trong cuộc sống, vạch ra những hành vi không được thực hiện
Trang 3628
CHƯƠNG 2 THỐNG KÊ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG CÁC VĂN BẢN THƠ VÀ NỘI DUNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BỒI DƯỠNG CHO HỌC SINH NĂNG LỰC CẢM NHẬN VẺ ĐẸP CỦA
NGÔN NGỮ THƠ 2.1 Thống kê biện pháp tu từ trong các văn bản thơ thuộc SGK Tiếng Việt 5
Kết quả thống kê các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5
Chúng tôi đã thống kê được 26 bài thơ trong sách giáo khoa TV5 (tập 1
và tập 2), do NXB Giáo dục Việt Nam, xuất bản năm 2006 Trong đó chúng tôi xác định được 18 bài thơ thuộc phân môn Tập đọc (chiếm 69,33%), 6 bài thơ thuộc phân môn chính tả (chiếm 19,23%) và 3 bài thơ thuộc các phân môn luyện từ và câu (chiếm 11,53%)
Tên 11 bài thơ trong SGK TV5 tập 1:
Sắc màu em yêu (Phạm Đình Ân, sđd, tr20)
Bài ca về trái đất (Định Hải, sđd, tr.41,42)
Ê-mi-li, con (Tố Hữu, sđd, tr.49,50)
Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà (Quang Huy, sđd, tr.69)
Trước cổng trời (Nguyễn Đình Ảnh, sđd, tr.80)
Mầm Non (Võ Quảng, sđd, tr.98)
Tiếng vọng (Nguyễn Quang Thiều, sđd, tr.108)
Hành trình của bầy ong (Nguyễn Đức Mậu, sđd, tr.117,118)
Hạt gạo làng ta (Trần Đăng Khoa, sđd, tr.139)
Về ngôi nhà đang xây (Đồng Xuân Lan, sđd, tr.148,149)
Ca dao về lao động sản xuất (sđd, tr.168,169)
Tên 16 bài thơ trong SGK TV5 tập 2
Cánh cam lạc mẹ (Ngân Vịnh, sđd, tr.17)
Trang 3729
Dáng hình ngọn gió (Đoàn Thị Lam Luyến, sđd, tr.27)
Hà Nội (Trần Đăng Khoa, sđd, tr.37,38)
Trong lời mẹ hát (Trương Nam Hương, sđd, tr.146)
Sang năm con lên bảy (Vũ Đình Minh, sđd, tr.149)
Nếu trái đất thiếu trẻ con (Đỗ Trung Lai, sđd, tr.157)
Trẻ con ở Sơn Mỹ (Thanh Thảo, sđd, tr.165)
2.1.1 Thống kê các phương tiện và các biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa trong các văn bản thơ thuộc SGK Tiếng Việt 5
2.2.1.1 Thống kê các phương tiện từ vựng
a Các kiểu từ được phân chia theo đặc điểm cấu tạo
a.1 Từ đơn:
Trong 27 bài thơ của chương chình Tiếng Việt lớp 5 chúng tôi xác định
được 1869 từ đơn trong tổng số 2359 từ Chiếm 79,22%
VD:
Sáng/ mát/ trong /như/ sáng/ năm/ xưa Gió/ thổi/ mùa thu/ hương cốm/ mới Tôi/ nhớ/ những/ ngày/ thu/ đã/ xa
(Đất nước, SGK TV5, tập2, tr.94)
Trang 3830
a.2 Từ ghép
Chúng tôi xác định được 401 từ ghép trong tổng số 2359 từ của 27 bài thơ
thuộc SGK Tiếng Việt lớp 5, chiếm tỉ lệ =16,99%
VD:
“Em yêu màu xanh
Đồng bằng, rừng núi
Biển đầy cá tôm
Bầu trời cao vợi”
(Sắc màu em yêu, SGK TV5, tập 1,tr.19)
a.3 Từ láy
Trong 27 bài thơ của chương trình Tiếng Việt lớp 5 chúng tôi xác định được 89 từ láy trong tổng số 2359 từ thuộc 27 bài thơ, chiếm tỉ lệ 3,77% VD:
“Mầm non mắt lim dim
VD: Bọ dừa dừng nấu cơm
Cào cào ngưng giã gạo
Xén tóc thôi cắt áo
Đều bảo nhau đi tìm
(Cánh cam lạc mẹ, SGK TV5, tập 2,tr.17)