Hôn nhân của người Ê Đê phải có ba nghi lễ được tiến hành tuần tự. Có đủ ba lễ mới thành đám cưới: Thứ nhất là lễ hỏi chồng (Trôk Kôông)Khi đôi nam nữ đã ưng nhau, nhà gái phải làm lễ đi hỏi chồng. Sau khi cúng Yang ở nhà, đoàn nhà gái có ông Dăm dei (ông chủ họ) và người thân thuộc sang nhà trai xin cưới. Lễ vật gồm một ché rượu và một chiếc vòng đeo tay (vòng kôông). Nhà trai cũng có Dăm dei và người trong họ cùng dự bàn bạc về của cải, về thời gian làm dâu của người con gái. Khi nhất trí, hai họ đổi cho nhau đôi vòng kôông ấy. Chiếc vòng này vô cùng quan trọng:Những chiếc vòng tay đã được trao cho nhauVòng của chàng trai đã trao cho cô gáiVòng của cô gái đã trao cho chàng trai…
Trang 1HỎI ĐÁP VỀ VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Trên dải đất Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống Mỗi một dân tộc đều có những nét văn hoá độc đáo riêng, thể hiện trong nếp ăn, nếp ở, việc cưới xin, thăm hỏi, lễ hội Qua những nét sinh hoạt văn hoá đó, con người với con người gắn kết với nhau hơn, sống vui vẻ hoà hợp cùng xây đắp thêm cho đời sống được ấm no, hạnh phúc hơn.\
Phần thứ nhất VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO TRONG ĐỜI SỐNG SINH HOẠT
Câu hỏi: Ba lễ lớn mới thành đám cưới của người Ê Đê diễn ra như thế nào?
Trả lời:
Hôn nhân của người Ê Đê phải có ba nghi lễ được tiến hành tuần tự Có đủ ba lễ mới thành đám cưới:
* Thứ nhất là lễ hỏi chồng (Trôk Kôông)
Khi đôi nam nữ đã ưng nhau, nhà gái phải làm lễ đi hỏi chồng Sau khi cúng Yang ở nhà, đoàn nhà gái có ông Dăm dei (ông chủ họ) và người thân thuộc sang nhà trai xin cưới Lễ vật gồm một ché rượu và một chiếc vòng đeo tay (vòng kôông) Nhà trai cũng có Dăm dei và người trong họ cùng dự bàn bạc về của cải, về thời gian làm dâu của người con gái Khi nhất trí, hai họ đổi cho nhau đôi vòng kôông ấy Chiếc vòng này vô cùng quan trọng:
Những chiếc vòng tay đã được trao cho nhau
Vòng của chàng trai đã trao cho cô gái
Vòng của cô gái đã trao cho chàng trai…
… Nếu ngày mai lúc mặt trời mọc
Lời nói hôm qua, chàng trai lại nói khác
Nếu vừa quay lưng, chàng đã làm khác
Phụ bạc người con gái mà chàng đã chọn
Sẽ phải đền một heo cùng số tiền phạt vạ
Sau lễ này, đôi nam nữ được xem như đã thành vợ chồng
* Thứ hai là lễ thỏa thuận (Bi Kuôl):
Trang 2Sau lễ Trôk Kôông độ một đến ba tháng, nhà gái tổ chức lễ thỏa thuận Nhà trai thách cưới: yêu cầu nhà gái đem những gì đến (thường là chiêng, ché,trâu, bò) và ấn định thời gian cô gái phải sang ở nhà trai làm dâu bao nhiêu lần Lễ tổ chức nghiêm trang, có đủ họ hàng tới dự.
Lễ làm xong, cô gái đến ở nhà chàng trai Thời gian này có thể kéo dài từ một đến ba năm, tùy theo:
- Hoàn cảnh nhà gái có khả năng làm lễ cưới, nộp đủ lễ vật cho nhà trai
- Nếu trong thời gian làm dâu, cô gái không đáp ứng được yêu cầu của nhà trai thì có thể bị trả về Nhà gái sẽ bị phạt, nộp lại chi phí ăn ở trong thời gian
cô gái làm dâu
- Thời gian làm dâu này, vợ chồng đã ăn ở với nhau, đẻ con (có khi hai, ba đứa), song vẫn chưa phải là đã cưới
* Thứ ba là lễ cưới (Kpil Ung Mỗ):
Sau lễ thỏa thuận, thời gian thử thách đã qua, người ta nhất trí cho đôi vợ chồng về ở nhà cha mẹ cô dâu và bắt đầu làm lễ cưới Nhà gái phải chuẩn bị đầy
đủ lễ vật:
Nếu nhà gái không nộp đủ lễ hồi môn
Thì ngay đêm nay
Chàng trai sẽ trở về cha mẹ nó
Như thế thì cha mẹ vợ đáng tội.
Lễ cưới được tổ chức như sau:
Những người trong họ nhà trai đóng góp mỗi nhà một ché rượu, mời thầy cúng đọc lời khấn nguyện trên từng ché rượu
- Ché đầu tiên dành cho tổ tiên
- Ché thứ hai cho cha mẹ chồng
- Ché thứ ba dành cho đôi vợ chồng
Mỗi ché rượu được cắm hai cần Làm lễ xong ché nào, ché đó mới được uống Đầu tiên là cha mẹ đôi bên, rồi đến hai vợ chồng, sau mới đến họ hàng vàngười lớn trong buôn Phụ nữ uống trước, đàn ông uống sau, xen kẽ một người bên chồng, một người bên vợ
Kết thúc buổi lễ là cuộc tiễn đưa vợ chồng về nhà vợ Đoàn rước rể, mỗi khi đi qua một chặng (ra khỏi cửa, xuống thang, qua suối, v.v…) là nhà gái lại
trao cho chàng rể một chiếc kôông như lời cam kết thủy chung.
Vào đến nhà gái thường qua những lễ thức khác như:
- Đầu tiên là lễ cúng mẹ chồng (Kpih Ami Ung)
- Lễ cúng tổ tiên, cúng mẹ vợ
Trang 3Sau đó đến lễ của đôi vợ chồng Trong lễ này, hai vợ chồng đến ngồi bên chiếu lễ vật, mỗi người đặt một chân lên chiếc xà gạc Thầy cúng đọc lời cầukhấn và lấy máu của con vật hiến tế (bò hay lợn) hòa với rượu cần bôi lên chân của hai vợ chồng ba lần Như vậy là đã có thần linh chứng giám.
Sau đó, ông Dăm dei nhà gái bón cơm cho cô dâu chú rể, mỗi người hai miếng cơm và ba chén rượu Đôi vợ chồng cùng chạm tay vào chiếc kôông, cam
kết cuộc sống thủy chung Tiếp đó là từng người khách đến tặng quà và lễ cưới kết thúc
Sau 3 hoặc 5 ngày, đôi vợ chồng đưa nhau về nhà trai, chú rể lấy tư trang, vật dụng cá nhân và công cụ sản xuất mang về ở hẳn bên vợ
Câu hỏi: ở đám cưới người Tày, lễ vật nhà trai mang đến nhà gái có gì độc đáo?
Trả lời:
ở đám cưới người Tày, trong số lễ vật nhà trai mang đến phải có cả tấm vải Sằm Khẩu Việc dâng vải này là
cả một nghi thức, tiến hành ngay sau khi lễ tổ tiên và nộp gánh
Đứng trước bàn thờ, chú rể trịnh trọng dâng tấm vải lên mẹ vợ (nếu mẹ vợ không còn thì là người phụ nữ trực tiếp nuôi dưỡng cô dâu lúc nhỏ) Vải SằmKhẩu này dệt tay, rộng hai gang , dài từ 10 - 15 sải, nhuộm màu hồng một nửa (xem là vải ướt) và một nửa để trắng (ước lệ là vải khô)
Tấm vải có ý nghĩa nhắc đến công ơn của mẹ Những gia đình nghèo, trẻ con đái ướt tã lót không có để thay, mẹ đã xoay phần khô cho con nằm, còn mẹ
nằm sang phần ướt (cũng như thành ngữ Việt có câu: Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn) Dâng tấm vải ấy là khẳng định con luôn luôn nhớ đến sự vất vả, kiên
trì chịu đựng của mẹ khi con còn trứng nước
Người mẹ vô cùng xúc động khi nhận tấm vải Bà sẽ cất kỹ vào đáy hòm Sau này khi con sinh cháu, bà đem nhuộm chàm cả tấm vải rồi đem làm tã lót vàlàm một cái địu cho đứa cháu ngoại đầu lòng
Khi chú rể hai tay cầm dâng tấm Sằm Khẩu thì vị quan lang nhà trai trân trọng hát bài: "Dâng tấm vải ướt khô" Mọi người trang nghiêm ngồi nghe, bà mẹthì có phần nghẹn ngào, cảm động
Bài hát được dịch như sau:
Kính dâng lên phụ mẫu song thân
Kính trình lên tông thân nội ngoại
Quanh năm chọn được mỗi ngày lành
Ngày rể nộp tấm khăn khô ướt
Ngày sinh con tã ướt mẹ nằm
Bên tã khô mẹ dành con ủ
Chăm sóc con mẹ ngủ không yên
Trang 4Công cúc dục cao hơn trời thẳm.
Ngày nay con đã lớn theo chồng
Nhớ công khó bụng mang mười tháng
Công ơn ấy khó thể đền bồi
Nay rể mới có lời đáp nghĩa
Khăn khô ướt là lễ dâng lên
Tuy là nhỏ, mẹ hiền hãy nhận
Gọi có chút lễ mọn đáp ơn
Xin trình lên thân nhân quý họ
Thu nạp cho vạn tạ ghi lòng.
Câu hỏi: Khăn đội đầu của phụ nữ Thái có tên gọi là gì? Nét đặc trưng của loại khăn đó?
Trả lời:
Nhìn khăn đội đầu, người ta có thể phân biệt được người đó thuộc dân tộc nào, thậm chí có thể phân biệt được các ngành khác nhau trong cùng một dân
tộc Khăn đội đầu của phụ nữ Thái có tên gọi là khăn piêu, có thể xem là một đặc trưng văn hoá
Khăn piêu của phụ nữ Thái đen dệt bằng sợi bông nhuộm màu chàm tím sẫm, có độ dài chừng một sải tay Mặt khăn piêu gọi là Nả piêu, được thêu bằng những đường chỉ ngũ sắc, tạo ra những đường dây hoa văn, gọi là Sài peng (dây tình) Các sợi dây tình này đan xen vào nhau, tạo thành các ô vuông, hình ngôi sao xéo tám cánh, đối nhau từng đôi một Hai đầu khăn piêu là vải ngũ sắc, các góc tết thành sừng, gọi là cút piêu Cút piêu là những hình tròn như đồng
xu quấn chỉ dày, đậm Piêu bình thường chỉ tết ba sừng Piêu sang dùng trong ngày lễ hội hoặc làm quà biếu được tết 5 hoặc 7 sừng Người Thái có câu thành
ngữ: Hạ cút hợ ý, chốt cút hợ âm, nghĩa là: 5 cút tặng chị, 7 cút biếu mẹ.
Khăn piêu được kết hợp hài hoà bởi các đường nét, màu sắc núi đồi, hoa lá Mỗi khăn piêu đều in dấu ấn cá tính, khả năng nữ công của chính con ngườitạo ra nó Khi đã tìm hiểu nhau, rồi đi đến đính ước, thì khăn piêu trở thành vật tin Piêu là quà biếu khi về nhà chồng, là sợi dây tình và cũng có thể là vậtdâng cúng trong ngày lễ
Câu hỏi: Ngày đầu năm, dân tộc Thái thường làm gì?
Trang 5Trả lời:
Ngày đầu năm, già trẻ gái trai trong bản người Thái đổ xô ra suối hoặc ra các mó nước Trên đường đi, họ với tay bẻ lấy một cành cây, thường là cành cây
ổi, hoặc cây bông (hoa) Mỗi người cúi xuống hớp một ngụm nước suối súc miệng, rồi rửa mặt Sau đó, họ nhúng cành ổi xuống suối, vẩy (khoát) nước rải lênkhắp người, vừa vẩy vừa đọc lẩm nhẩm những câu ca Lúc rửa mặt thì đọc câu:
Mặt ta bẩn ta đến rửa
Ta dậy sớm trước chim
Ta đến rửa mặt trước chuột
Người trên thấy họ thương
Người khôn thấy họ mến
Khi khoát nước vào mình, họ đọc:
Ta đến kéo cái xấu trong người ta ra
Ta đến đổ cái xấu trong người đi sạch
Thiên hạ làm bùa mê, ta phủi
Ông tạo bỏ thuốc độc, ta phủi
Gái tơ nói điều xấu, ta phủi
Ta phủi nó trôi theo con suối
Ta giũ cho sạch hết xấu xa.
Trẻ em chưa biết kể, biết nói thì người lớn kể giùm Sau đó, họ buông cành ổi cho trôi theo dòng suối Rửa mặt xong, mọi người mới ra về và bắt tay vàocông việc của ngày Tết
Câu hỏi: Nét độc đáo trong lễ hội múa xòe của dân tộc Thái?
Trả lời:
Múa xòe có từ lâu đời Tổ tiên người Thái dặn con cháu rằng:
Không xòe không tốt lúa
Không xòe thóc cạn bồ
lớn, xung quanh là các vòng tròn cùng hướng vào tâm là đống lửa
Trang 6Xòe bao gồm hai điệu múa cơ bản: Xòe nắm tay và xòe tung khăn Thiếu nữ Thái trong trang phục áo cơm có hàng cúc bạc lấp lánh, khăn piêu rực rỡ, xòetay mời khách cùng đứng vào vòng xòe Tay nắm tay, chân bước đi, nhún theo nhịp trống, nhịp xúc xắc và khèn bè Vòng xòe chụm vào rồi lại xòe ra như mộtbông hoa nhiều tầng.
Múa xòe là động tác gợi về câu chuyện hành trình đi tìm đất cư trú của ông Tạo Lò, tổ tiên xưa của người Thái Ông dẫn đoàn người đi qua Mường Tấc(Phú Yên) qua Mường Than (Than Uyên) xuyên sang Mường Lò, nơi có địa hình tròn trĩnh như chiếc mâm xôi, có dòng suối Thia vắt qua thung lũng như dảibạc, rồi quyết định sinh cơ lập nghiệp tại đây Múa xòe quanh đám lửa là để mừng cho kết quả tìm tòi gây dựng ấy
Cùng vào xòe khi múa, khách được nắm tay người đẹp, được mời rượu thân tình và rất được hào hứng cùng điệu múa Đó là xòe nắm tay Ngoài ra còn cóđiệu xòe tung khăn Tung khăn là hai tay cầm hai đầu khăn thổ cẩm rực rỡ tung lên qua đầu theo nhịp tay đưa Hội xòe trở thành một bông hoa khổng lồ rựcrỡ
Câu hỏi: Khi vào bản làng người dân tộc ở vùng Tây Bắc - Bắc Bộ, cần biết những điều gì?
Trả lời:
Phó, v.v… rất hiếu khách Tuy nhiên, các dân tộc này có một số điều kiêng kỵ mà du khách đến thăm các gia đình ở bản làng cần ý tứ, tìm hiểu vài phong tục,tập quán trong đời sống của đồng bào để ứng xử giao tiếp được thuận lợi và tốt đẹp
Khi vào bản làng: Hàng năm, đồng bào các dân tộc có lệ cúng xua đuổi tà ma và cúng thần thôn bản, thường tổ chức vào tháng 2 hoặc tháng 6 hay tháng 7
âm lịch
Vào dịp này bản làng có dấu hiệu kiêng kỵ để vào chỗ dễ thấy nhằm ngăn cấm người lạ đặt chân vào Những dấu hiệu này là:
- Buộc cành lá xanh ở cột cao trên đường vào bản
- Đan phên mắt cáo, buộc vào xương hàm của lợn, hoặc trâu, bò
Vào lúc này, người trong bản không ai đi làm lụng gì cả Nếu có người lạ vô tình đội nón, đeo gùi hoặc ba lô, che ô dù hay gồng gánh… đi vào thì người
đó sẽ bị bắt, bị phạt bằng cách nộp đủ số lễ vật để làm lại lễ cúng cho thôn bản Trong trường hợp có việc cấp bách cần vào thôn ngay thì người khách lạ phải
bỏ gồng gánh, ba lô, mũ nón, v.v… Tất cả những thứ ấy phải xách tay Như thế mới có thể được giảm, miễn phạt
Khi vào thăm nhà: cần quan sát cẩn thận mỗi khi đến một nhà nào Nếu thấy ở trước cửa nhà, tại đầu cầu thang có cắm hoặc treo một cành lá xanh, một
cành gai hay có cắm một tấm phên đan hình mắt cáo… thì đó là dấu hiệu kiêng kỵ và cấm người lạ mặt vào nhà
Mỗi nhà có một vị trí quan trọng nhất Vách nhà ở giữa hoặc góc đầu nhà sàn là nơi thờ tổ tiên Việc trang trí nơi thờ ở, mỗi dân tộc có khác nhau, nhưngcùng chung quan niệm là chỗ thiêng liêng nhất, cần phải được kính trọng Khách tới nhà không được tự tiện đặt bất cứ món gì của mình vào nơi đó và cũngkhông được phép sờ tay đụng tới các vật thờ cúng
Trang 7- Khi ngồi, khách không được quay lưng vào nơi thờ.
- Bếp lửa là nơi vừa nấu nướng, vừa tiếp khách và cũng là chỗ thiêng liêng thờ thần lửa, vua bếp và cũng có nhiều kiêng kỵ liên quan tới chỗ này Kháchngồi cạnh bếp lửa để sưởi ấm không được đặt chân lên hoặc làm xê dịch hòn đá kê làm kiềng Theo quan niệm của một số dân tộc, các hòn đá này là nơi trúngụ của thần lửa
Khi đun nấu, người Tày, người Giáy… luôn chú ý đặt quai chảo, nồi lên bếp theo chiều dọc của nhà, không theo chiều ngang
- Người Dao, H’mông khi đưa củi vào bếp, không đưa ngọn vào trước, vì sợ con gái trong nhà sau này sẽ sinh ngược
- Khi ngồi gần bếp, khách không được quay lưng và không giẫm chân vào bếp
- Trong ngôi nhà, cửa và cột cây chính cũng là vị trí thiêng liêng dành thờ thần cửa và cột cái Không nên ngồi dựa vào cửa hay treo mũ nón và tựa lưngvào cột cái
- Người Tày, Thái kiêng không đem lá xanh và cành cây xanh, rau xanh vào cửa chính
- Không nên huýt sáo ở trong nhà vì đồng bào dân tộc tin đó là tín hiệu gọi giông bão và tà ma
Khi giao tiếp: Có ba trường hợp đáng chú ý:
- Chào hỏi nhau: Khi đi đường hoặc đến nhà người dân tộc, khách nên chào hỏi bằng thái độ thân thiện và chân thành Nụ cười cởi mở, thân ái sẽ làm tan
biến mọi mặc cảm do bất đồng ngôn ngữ Khi chia tay nhau, có thể bắt tay với nụ cười nở trên môi, khỏi cần phải nói lời tạm biệt hay hẹn tái ngộ
Với người Dao, H’mông, không nên xoa đầu trẻ vì họ quan niệm đầu là nơi trú ngụ của hồn người, nếu người lạ sờ lên đầu trẻ hồn sẽ hoảng sợ bỏ trốn vàtrẻ sẽ bị ốm đau
- Lúc ăn uống: Người dân tộc có quan niệm khác nhau về vị trí chỗ ngồi
Với người Dao và Giáy, dãy ghế phía gần bàn thờ dành riêng cho người cao tuổi nhất và khách quý nhất Khách bình thường không được ngồi
Với người H’mông, khi cha mẹ mất, vị trí đầu bàn thờ và gần bàn thờ luôn được bỏ trống, với ý nghĩa là nơi đó dành cho hồn cha mẹ ngồi
Với người Tày, Mường, Thái, tại chỗ giáp với cửa sổ, gia chủ có đặt 2 chén nhỏ là có ý dành cho tổ tiên về tiếp khách Khách không nên ngồi vào vị trínày
Trước khi ăn uống, khách nên chờ đợi gia chủ thực hiện những nghi lễ mời tổ tiên, chúc tụng những điều tốt lành
Khách tránh rót rượu trước, không gắp thức ăn trước gia chủ
- Lúc ngủ: Mỗi ngôi nhà của đồng bào dân tộc ở Lào Cai đều có chỗ ngủ dành riêng cho khách Phải theo sự bố trí của chủ nhà Khi nằm không để chân
về phía bàn thờ
Trang 8ở một số vùng, người Dao, H’mông, Thái, Kháng… không giăng màn màu trắng trong nhà (Theo Phạm Côn Sơn, Non nước Việt Nam - Sắc hương Bắc
Thế nhưng, thời ấy phong tục của từng dân tộc rất khắt khe, ngăn cấm trai gái người khác tộc không được lấy nhau và con gái không được tự do tìm hiểungười bạn đời cho mình Vượt qua lễ nghi, đôi uyên ương khác dòng tộc này vẫn yêu nhau thắm thiết, tưởng chừng không có trở lực nào ngăn cản nổi
Lúc bấy giờ, hai bản và hai gia đình có hiềm khích về đất đai, quyền lợi Vào một ngày nọ, lúc hai người đang cùng bên nhau trên núi Khâu Vai thì phíadưới núi, dân làng hai bản đang đánh nhau đổ máu Họ hiểu rằng sự xô xát này có ảnh hưởng rất lớn tới tình yêu của mình , cho dù khăng khít đến đâu cũngkhông thể vẹn toàn Cả hai đành gạt nước mắt chia tay, hẹn kiếp sau trở nên chồng vợ và mỗi năm gặp lại một lần vào đúng ngày chia tay, tại đúng nơi thườnghẹn hò, tức là ở Khâu Vai
Từ đó, Khâu Vai trở thành nơi hẹn hò chung cho những người yêu nhau nhưng thường bị trắc trở không lấy được nhau Dần dần, Khâu Vai cũng trở thànhnơi hẹn ước và là chợ tình như mọi người thường gọi
ở Khâu Vai ngày xưa không có chợ, không ai mua nên không có người bán Người ta đến đây bất luận già trẻ, với nỗi lòng trắc ẩn, với tình duyên lỡ làng
từ trước, dù đã qua rồi khá lâu hoặc vừa mới xảy ra Họ trở lại tìm dấu tích và những kỷ niệm thân thương của độ nào vẫn còn thấm đượm trong tim họ.Như có những động lực vô hình mạnh mẽ tác động, thôi thúc những người bạn tình năm cũ lại gặp nhau đúng hẹn ước Những người đã từng được gởigắm trao nhau tình thương nỗi nhớ thật lòng, được nhìn mặt và vóc dáng của nhau với mừng mừng tủi tủi tưởng chừng không dứt Họ có dịp gần gũi nhau,vui chơi, tâm sự, chiều chuộng nhau trong thời gian rất ngắn ngủi Họ đem theo thức ăn từ nhà gồm cơm nếp gói, bánh, khoai củ… bày ra cùng nhau ăn.Ngồi ăn cùng nhau, họ được nắm tay, mặt giáp mặt, con tim rộn ràng thương yêu sau những tháng ngày xa cách
ở xa, người ta phải vượt qua những nẻo đường dốc núi "trần ai" và phải lo liệu đến đây từ chiều hôm trước Khi tới nơi mỗi người đều chăm chú đi tìmkiếm hình bóng xưa Gặp được nhau, họ đưa nhau vào nơi yên tĩnh, vắng vẻ để cùng nhau trút bỏ nỗi lòng nhớ thương từ bao lâu Cũng có những cặp vợchồng đưa nhau cùng đến Khâu Vai với mục đích giúp nhau tìm người bạn tình cũ Đây là nét văn hóa đặc thù đáng khích lệ trong đời sống giữa chốn núirừng của người dân tộc Khâu Vai Chồng vợ đều tôn trọng tình cảm riêng từ quá khứ của nhau Họ không đem dĩ vãng vào cuộc sống hiện tại để dằn vặt, gâymâu thuẫn, ảnh hưởng nặng nề, có khi nguy hại cho tương lai Họ quan niệm rằng tình cảm dù sâu sắc cũng bị chi phối nhất thời vì lắm lý do ngoại cảnh Cuộcsống hiện tại với sự gắn bó bền chặt mới là điều đáng trọng
Trang 9Chiều ngày 27 chợ tan, đôi bạn tình lại chia tay bịn rịn Họ lại hẹn năm sau nhưng không ai biết chắc chắn còn gặp nhau được nữa hay không Những cặp vợchồng thật sự lại tìm nhau, cùng che ô dù, dẫn dắt nhau về nhà, cố xua đuổi những hình ảnh xa xưa để vun đắp cho cuộc sống hiện tại với mái ấm gia đình vànhững đứa con thương yêu của mình Nhiều đôi vợ chồng trên đường về tổ ấm cũng chân thành kể lại cho nhau nghe những điều lý thú khi gặp lại bạn tình cũ
và với họ chẳng có gì phải che giấu nữa
Cũng có rất nhiều người đến chợ Khâu Vai nhiều lần mà chưa gặp lại được người bạn tình cũ Sự tìm kiếm, ngóng đợi vô vọng, chiều tà họ ngậm ngùi lủithủi ra về một mình, lòng tràn ngập nỗi buồn
Từ năm 1992 đến nay, Khâu Vai đã thật sự hình thành chợ có mua bán, trao đổi hàng hóa, sản vật địa phương Cứ năm ngày có một phiên chợ và là chợtrao đổi mua bán hàng hóa đích thực Chỉ có ngày 27 tháng 3 âm lịch mới đầy đủ ý nghĩa là phiên họp tình yêu và là điểm hẹn của những người hoài niệm quákhứ yêu thương
Khâu Vai chẳng những là nét văn hóa tình cảm xã hội đặc thù của đồng bào dân tộc miền núi Hà Giang mà còn là nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tinhthần của cộng đồng dân tộc Việt
Câu hỏi: Vì sao có núi Cốc - sông Công?
ai kết bạn cùng Chàng chỉ có một cây sáo làm bạn Mỗi khi tiếng sáo của chàng vút lên thì con gà gô đang gáy ở rừng sồi giữa trưa nắng chói chang cũngngừng bặt, gió đang thổi cũng dừng lại để nghe, cỏ cây phải động lòng thương cảm Ngày qua ngày, các em chàng lớn lên mỗi người một nơi thì chàng vẫnkiếm củi một mình bên dãy núi Chúa, bụng bảo dạ rằng mình đã rơi vào phận nghèo thì còn nói gì đến chuyện vợ con Vào một ngày kia, chàng tìm đến vùngĐịnh Hóa ngày nay để đi ở cho một nhà giàu Đàn trâu của nhà này đông vô kể Những nhà kho đựng thóc lúa của họ cũng san sát như rừng Ruộng của họnhiều đến nỗi con nai chạy phải mỏi chân Nhà chủ có một cô con gái đẹp tuyệt trần, lại múa dẻo nổi tiếng khắp vùng Nàng thường có mặt ở những ngày đầuxuân khi bản làng mở hội tung còn Các chàng trai bản ai ai cũng muốn được hát Sli (hát lượn) qua hai bờ núi với người con gái ấy Đến tuổi đôi mươi, nàngđẹp rực rỡ, tài múa của nàng mềm mại như dòng nước uốn lượn ở con suối trước nhà, nhưng nàng vẫn chưa nhận lời kết duyên với ai Người ta vẫn gọi nàng
là nàng Công Nàng vừa đẹp, vừa hiền, vừa múa khéo nhưng ít người được trò chuyện Cha nàng ra điều kiện: Ai muốn làm rể nhà nàng thì phải làm côngtrong ba năm và không được sai phạm điều gì Hết thời gian đó, cha nàng sẽ cho gặp mặt nàng Công Nàng bằng lòng với người nào thì lễ cưới sẽ được tiến
Trang 10hành ngay Nhưng đã mấy năm trôi qua, nàng Công chưa ưng thuận người nào Người xin kén rể nhà nàng đông lắm Ngày cha nàng cho họ gặp mặt con gái,
họ đứng chen chúc dưới sàn Khi nàng Công bước ra, ai cũng cố chen đến, ngoi lên cho nàng nhìn rõ mặt Nàng Công cứ đứng lặng rồi lặng lẽ bước vào trongnhà Đám đông buồn bã tản đi…
Vừa khi ấy, nàng Công nghe thấy ở bên ngoài có tiếng sáo vút lên bay bổng, véo von Thoạt đầu nàng cũng không để ý lắm, nhưng dường như tiếng sáo
ấy cứ len lỏi tìm đến tận phòng nàng ở, dìu dặt, thiết tha kể về nỗi cô đơn và cảnh sống éo le, khổ cực của ai đó Nghe tiếng sáo, nàng Công bỗng đầm đìanước mắt Nàng quay ra sàn ngoài thì tiếng sáo như xa dần Nàng quay trở vào, vừa đặt mình nằm nghỉ thì tiếng sáo lại vút lên Đêm ấy, nàng thao thức khôngthể nào chợp mắt được Đến nửa đêm về sáng, nàng vùng dậy lần tìm theo tiếng sáo Khi tiếng sáo dẫn nàng vừa kịp đến ngôi lều của chàng trai nọ thì tiếng
gà rừng đã eo óc gáy Nàng Công vội vã ra về, nàng chưa biết rằng đó chính là tiếng sáo của chàng Cốc
Đến hôm sau, nàng lại đi tìm Lần này thì hai người gặp được nhau Thoạt đầu, chàng Cốc thấy sự lạ đã toan tránh vào phía sau một đống củi, nhưng nàngCông đã kịp nhận ra Hai người trò chuyện đến khi biết được ý định chân thành của nàng Công, chàng Cốc mới mạnh dạn ngỏ lời muốn được xe duyên vớinàng Không ngờ nàng Công bằng lòng ngay Từ đó, cứ đêm đêm, tiếng sáo lại đưa nàng Công vào rừng với chàng Cốc và sớm mai nàng lại có mặt
ở nhà
Nhưng câu chuyện tình của họ cũng không thể giữ kín mãi được Người của nhà giàu một lần đem gạo, muối vào cho chàng Cốc đã tìm thấy những sợi tócmượt dài còn vương trên sàn chòi canh trâu của chàng và vội về báo cho ông chủ Biết chuyện, nhà giàu lập mưu để kiếm cớ đuổi chàng Cốc đi Họ ngầm saingười chất cỏ khô để đốt chuồng trâu rồi đổ lỗi cho chàng Cốc Khi lửa cháy rừng rực, chàng Cốc chỉ biết mang cây sáo ra thổi Gió tự nhiên ngừng bặt.Chàng Cốc đã mừng nhưng lửa không biết nghe tiếng sáo, cứ lem lém liếm vào mái tranh giữa rừng già Lũ trâu chạy hoảng loạn, chàng Cốc bị lửa đuổi sátvào vách đá thì một ông lão râu tóc bạc phơ đứng ngay trước mặt Chàng chưa hết bàng hoàng thì ông lão đã tiến lại gần và nói cho chàng biết thâm ý của nhàgiàu rồi khuyên chàng xẻo thịt trâu làm lương ăn và mau tìm đường thoát khỏi nơi này Chàng Cốc chưa kịp quỳ xuống tạ ơn thì ông lão biến mất
Ngay trong đêm ấy, chàng tìm đường về quê cũ Chàng không quên nhờ tiếng sáo chuyển lời mách bảo đến với nàng Công ở nhà mình, vừa nghe tiếngsáo kể hết sự tình, nàng Công cũng vội vã khoác tay nải hạt vừng lên vai rồi trốn cha, vượt sàn chạy vào rừng gặp người yêu Cùng lúc ấy, cha nàng được tinchàng Cốc đã chạy xa, ông ta vội vàng chạy sang buồng con gái Không thấy nàng Công ở đó, ông ta vội vàng cho người, ngựa đuổi theo Nàng Công kịp traocho chàng Cốc tay nải hạt vừng thì người, ngựa nhà nàng đã rầm rập phía sau Chàng Cốc vội vàng tránh được Nàng Công bị người nhà bắt về Để phạt tộitrái ý cha, nhà giàu đã đẩy nàng vào tận nhà trong rồi cho người canh gác
Chàng Cốc sau khi thoát khỏi cuộc rượt đuổi của người nhà nàng Công, chàng chạy mải miết mặc cho gai góc cào thịt da bật cả máu tươi Tay nải hạtvừng của chàng cũng bị cây cối dọc đường móc rách từ bao giờ Hạt vừng cứ rải theo bước chân của chàng, cho đến khi chàng đặt chân đến ngọn núi Chúaquê mình, lúc ấy chàng mới hiểu cái ý sâu xa của nàng Công Từ đó, chàng lại kiếm sống bằng nghề cũ Ngày này qua tháng khác, chàng vẫn theo lối cây hạtvừng mong đón gặp được người yêu Vừng đã ra hoa, kết trái, trái vừng khô, cây vừng chết, hạt vừng lại rụng xuống mọc thành cây Cây vừng lại ra hoa… Đã
Một ngày kia, chàng Cốc nhịn đói suốt mấy ngày rồi cố trèo lên đỉnh ngọn núi Chúa Chàng cứ ở mãi trên đó, ngày đêm đăm đắm nhìn về phương Bắc Nơi
ấy có hình bóng nàng Công
Trang 11Lại nói về nàng Công, từ khi bị người cha giàu có, độc ác chia rẽ duyên, nàng như bị giam lỏng và vô cùng đau khổ Ngày đêm nàng tự an ủi mình bằngnhững dòng nước mắt Nàng khóc suốt tháng năm dài, thân hình nàng gầy quắt lại, vàng võ, chỉ còn da bọc lấy xương Nước mắt của nàng làm người cha phảiđộng lòng Ông ta hối hận sai bảo người nhà không cần canh gác nữa Nàng Công vội vàng tìm cách theo về với chàng Cốc Nàng cứ lần theo những vệt câyvừng mà đi Nước mắt nàng chảy ròng theo mỗi bước chân Nàng tìm đến chân ngọn núi Chúa thì chàng Cốc không còn ở đấy nữa Nàng không biết rằngchàng Cốc đã trèo lên đỉnh núi Trong cơn tuyệt vọng, nàng Công cứ quanh quẩn lần theo chân núi mà tìm Trời đất như cảm thông với nỗi lòng nàng Một bà tiênnhân từ đã hóa thành bà cụ già nhân hậu dựng lên ở đây một ngôi quán nhỏ, rồi đón nàng về với bà Bà cụ hết lời khuyên giải nàng Bà nói mãi, nói mãi từ lúctrăng lên rồi trăng lặn nhưng tấm lòng nhân từ của bà cụ vẫn không ngăn được nước mắt nàng Công đã chảy thành một dòng sông từ bao giờ Dòng sôngnước mắt của nàng cứ đầy lên và ôm lấy chân ngọn núi Chúa Từ tạ bà cụ, nàng Công trèo lên đỉnh núi và tìm được chàng Cốc Chàng đã đau khổ và chết héo
tự bao giờ Nàng Công vừa khóc vừa đắp mộ cho người yêu trên đỉnh núi cao Nhưng với hai bàn tay con gái, nàng đắp rất chậm chạp Đàn mối rừng cảmđộng trước mối tình éo le ngang trái, bèn kéo về cùng nàng đắp mộ cho chàng Cốc thành một ngọn núi lớn, đất đỏ ối Quả núi ấy cứ cao mãi lên Có ngườiđời sau còn nhớ câu chuyện tình đau thương của hai người, đem kể lại Từ đấy, người đời sau gọi dòng sông nước mắt kia là dòng sông Công (hay sông nàngCông), còn ngọn núi cao nhất ở quê hương chàng Cốc cũng được gọi là ngọn núi Cốc
Câu hỏi: Vì sao ở dân tộc Mường có địa danh gọi là bãi Hạt Cơm Rơi?
Đến vùng núi Ba Vì, Sơn Tinh rất mừng vì thấy miền này đất tốt, chưa có ai khai phá Từ đó, hàng ngày, ông nắm cơm, bơi qua sông Đà sang làm nương
và dựng nhà bên núi Tản (núi Ba Vì) Đến mùa thu hoạch, nhà cũng đã dựng xong, Sơn Tinh đưa mẹ già rời Lăng Xương sang ở hẳn bên đất Ba Vì Nhiềungười thấy vậy cũng theo ông sang đó
Sơn Tinh làm nương phát rẫy trên sườn núi Tản, có hôm quên cả ăn uống Buổi chiều, lúc bơi qua sông Đà về quê mẹ, bụng đói, sực nhớ ra, ông vừa bơivừa bẻ cơm ra ăn, lỡ tay làm rơi một miếng cơm xuống giữa sông Miếng cơm rơi đó cá không dám ăn, nước không dám cuốn Nó nổi dần lên thành một bãicát lớn giữa sông Đà
Trang 12Tục truyền, bãi cát giữa sông Đà, thuộc địa phận xã Minh Quang và Khánh Thượng ngang núi Chẹ nhìn ra hiện nay, chính là những hạt cơm rơi của SơnTinh ngày trước Về sau, dân quanh vùng gọi bãi cát này là "bãi Hạt Cơm Rơi".
Câu hỏi: Tại sao sông Krông Pa còn gọi là con sông đói?
Trả lời:
Xưa có một chàng trai mồ côi tên là Y Pa Y Pa sống bơ vơ như sên, như ốc Chỉ có ba con chó chàng nuôi là nguồn an ủi duy nhất của chàng
Ngày này qua ngày khác, Y Pa thường cùng ba con chó của mình ra rừng săn bắn Săn được con chồn, con thỏ, họ đều mang về chia cho dân làng
Có một lần, Y Pa mệt quá Chàng nằm luôn ở nhà ba ngày rồi bảy ngày Thấy chủ nằm mãi, ba con chó hỏi:
- Sao ông Y Pa nằm khoèo mãi thế? Chúng ta phải đi vào rừng săn bắn như mọi hôm chứ?
Y Pa uể oải trả lời:
- Tao đi săn sao được, đói mấy ngày nay rồi Còn chúng mày chắc kiếm ăn được đấy chứ?
- Sao ông không theo chúng tôi mà đi ăn lượm như thế?
- Chúng mày khác, tao khác Tao là con người, chúng mày là con vật
Đến ngày hôm sau, đói quá, Y Pa phải cùng ba bạn chó vào rừng kiếm ăn Từ sáng đến trưa, đi mãi, đi mãi, chẳng được con gì Y Pa không đi nổi nữa Bacon chó khát quá, chạy quanh tìm nước uống Tìm không được nước, nhằm chỗ đất trống, ba con chó đứng bới mãi Y Pa nghĩ: "Tại sao chó lại sủa và đào bớimãi một chỗ đất bằng?" Y Pa đến, ba con chó vẫn sủa, vẫn bới Xem tận mắt, ngửi thấy tận cái mũi, Y Pa không thấy có gì khác Đang đói, lại khát, Y Pa tứcbực quát:
- Thôi chúng mày ngồi đó, để tao đào bới thêm xem thử dưới này có gì không?
Sẵn dao trong tay, anh bắt đầu đào Hết một điếu thuốc, hết hai điếu thuốc, hết ba điếu thuốc, Y Pa vẫn không thấy có gì Chó vẫn sủa, Y Pa tức giận quátlớn:
- Sủa gì mà sủa lắm vậy? Chúng mày khát nước quá hả, để tao đái cho mà uống! Thần Trời, thần Đất, thần Núi, thần Sông đi đâu mà không cho mình giọtnước nào? Lại đi săn từ sáng đến giờ chẳng được gì!
Y Pa định đái nhưng các thần đã nghe thấy lời nói của Y Pa, muốn trừng phạt Y Pa về tội nói năng thiếu lễ độ Một dòng nước từ hố đang đào vọt lên,phun dữ dội Đang cơn khát nhưng thấy nước hung dữ quá, Y Pa tìm đường chạy trốn
Không chạy về phía mặt trời lặn, ba con chó theo Y Pa chạy về hướng đông Người và chó chạy đến đâu, nước theo đến đó Chạy lên núi cao, thần Nướccàng leo nhanh, chạy xuống hố sâu, thần đuổi theo tận gót Y Pa chạy mãi, chạy mãi… đến chỗ đất bằng thì không còn sức nữa Y Pa ngã xuống, ngất đi.Thần Nước không muốn cuốn Y Pa đi Bụng của thần linh không muốn để Y Pa phải chết Vì vậy, nước đuổi đến chỗ Y Pa nằm liền chui tọt xuống lòng đất
Trang 13Tỉnh dậy, Y Pa không thấy chó của mình đâu nữa.
Khi chủ ngất đi, ngã khụy xuống, bầy chó sợ quá, chạy sâu vào rừng
Vì nghĩ chủ đã chết, từ đó chó cũng không về sống với buôn làng nữa Sống lẫn trong rừng, đàn chó trở thành chó rừng hay còn gọi là chó sói Vốn chócủa Y Pa là chó săn giỏi nên ngày nay, loài chó sói săn bắt được tất cả các loài thú Nhiều khi chúa tể của rừng là hổ cũng bị chó sói giết chết
Lại nói về Y Pa, hết ngày này qua ngày khác, chàng dò dẫm, tìm đường về buôn cũ Đến đâu, tới đâu, Y Pa ngủ lại đó Chàng kể cho người Ê Đê, Gia Rai,
Ba Na, Mơ Nông nghe chuyện thần Nước đuổi mình Con đường mà thần Nước đi lúc đuổi theo trừng phạt chàng trai và chó, từ đó mới có tên là "Krông Pa".Krông Pa là con sông Pa và sự đói, khát của Y Pa và ba chú chó nên sông Krông Pa còn gọi là "con sông đói"
thế nào?
Trả lời:
Phuối pác (hay còn gọi là phuối rọi) là những lời ca có vần điệu của nam nữ Tày hàng ngày Đây là một lối nói tự do, số câu chữ không câu nệ, thường
diễn ra trong lúc gặp gỡ trên đường lên nương, ra chợ, đi hội chứ không bao giờ diễn ra trong nhà như những thể loại khác Nó như là những lời ướm hỏi, trêughẹo tình tứ (lúc gặp gỡ) và những lời dặn dò nghĩa tình tha thiết (lúc chia tay)
Phuối pác là lối hát ứng khẩu, mang tính khẩu ngữ đậm hơn bất cứ một thể loại dân ca nào khác Từ tình huống dỗi hờn, trách móc:
Trầu em trồng trên đất cứng rắn
E anh ăn sẽ nghẹn trắng mắt
Về nhà bỏ vợ gái thành góa
Đứa nhỏ thêm đứa lớn không thương
Còn đứa bò trên giường "loẹp loẹp".
đến những câu thề nguyền trang trọng:
Đôi ta như chỉ xe tám
Bao giờ nó đứt "lẹt" mới thôi.
Tất cả đều mang đậm chất tự nhiên của lời ăn tiếng nói hàng ngày Nhưng mặt khác, trong quá trình diễn xướng, trong sự lặp lại nhiều lần của tình huống,lời nói tự nhiên đó đã được gia công đẽo gọt, được nâng lên thành lối nói có chất thơ, lối nói bóng bẩy mang tính xã giao lịch sự Các cung bậc tình cảm lứa
Trang 14đôi đều có trong những lời nói vần phuối pác Đó là lòng ước ao gặp mặt, nỗi nhớ thương nhưng tập trung nhiều nhất là sự trách móc hờn giận vì xa cách vàlời hẹn hò thề thốt sắt son.
Phuối pác là lời nói vẫn thường được dùng khi gặp gỡ hoặc chia tay, vừa mang vẻ đẹp tự nhiên của đời sống hàng ngày vừa mang vẻ đẹp hoa mỹ của ngôn
ngữ ước lệ cách điệu, qua đó thể hiện được những cung bậc của tình yêu lứa đôi: sự chất phác, sự bay bổng và lòng yêu thiết tha sâu nặng… Chỉ là những lờinói vẫn mang đầy tính ngẫu hứng trong những thời điểm nhất định nhưng phuối pác đã tồn tại như một chỉnh thể văn học thực sự trọn vẹn trong việc khámphá, thể hiện tình cảm lứa đôi
thế nào?
Trả lời:
Các dân tộc thiểu số hầu như nơi nào cũng uống rượu cần Hiện nay, chúng ta chưa sưu tầm được hết sự tích rượu cần của các dân tộc, chỉ mới biết ngườiMường, người Thái giải thích lý do ra đời của rượu cần như sau:
Một ông cụ có hai người con dâu Cụ muốn thử xem ai là người thông minh, đức hạnh Cụ bảo:
- Bố đi ăn uống đã nhiều, nhưng chưa được ăn con vật gì mà thịt lại nằm trong xương, cũng chưa được uống loại nước gì chảy ngược cho ngọt ngào, ý vị.Các con cố tìm cho bố Chỉ có ăn uống những thứ đó, bố mới khỏe ra được
Cô dâu cả nghĩ mãi, không hiểu là thức ăn, thức uống gì Cô dâu thứ hai cũng bí, hỏi chỗ này chỗ khác cũng không ai biết thức ăn ấy ra sao Cô buồn rầu
ra suối ngồi nghĩ Bỗng cô nhìn thấy con ốc bên bờ suối Đúng rồi! Con ốc, ruột trong mềm, vỏ ngoài cứng, thế chẳng phải thịt nằm trong xương hay sao?Bên bờ suối, lại có ai đã cắm một cái vòi chuyền cho nước chảy ngược lên máng Muốn nước chảy ngược cũng phải làm như vậy Cô liền bắt một mớ ốc vềnấu canh, múc một bầu nước, vót cái cần cắm vào bầu Cứ để nước lã như thế thì sẽ chẳng có mùi vị gì, cô bèn bỏ vào bầu vài nắm lá thuốc trong rừng Cômang những thứ đó về thì ông cụ không có nhà Cô giấu kín các thức đã chuẩn bị, chờ bố về đưa nộp
Cô dâu cả đang nghĩ chưa ra cách, thấy em thu giấu thì bực, liền lén bỏ vào bình một nắm bã trấu và tấm vụn Không ngờ như thế lại làm cho bình nướcthêm chất Lá, trấu, tấm quện lại, lên men, hóa thành một thứ rượu ngọt Ông bố ăn canh ốc rồi cầm cần hút Đúng là nước thân nước thương chảy ngược vàcanh thịt nằm trong xương Ông cụ khen nức nở, rồi sau đó giao cả cơ nghiệp cho cô em Và lịch sử xa xôi của bình rượu cần có từ đó
thế nào?
Trả lời:
Trang 15Khắp (hoặc là khặp) là một loại dân ca của người Thái Khắp có nghĩa là hát, hát để kể lể tâm tình, để động viên lao động, để vui chơi Hiện nay, chưa có
sự nghiên cứu phân loại nào về kho tàng của khắp Ta chỉ thấy ở từng địa phương thường ghép thuật ngữ khắp vào lời ca điệu hát của vùng mình để gọi thànhtên cho dễ
ở Mường Lay (vùng Tây Bắc, Việt Bắc) người ta gọi là Khắp Tảy Lay, tại Mường Xo (Phong Thổ) gọi là Khắp Tảy Xo; ở Quỳnh Nhai là Khắp Tảy Chiên;
ở Thuận Châu là Khắp Tảy Muổi, ở Mộc Châu là Khắp Tảy Xang.
ở Thanh Hóa, nếu là người Thái ở Lang Chánh hát thì gọi là Khắp Mường Chánh, ở Thường Xuân gọi là Khắp Mường Hương Đi bè trên sông Mã mà hát thì gọi là Khắp lóng má, trên sông Chu gọi là Khắp lóng xăm Ngay ở một bản mường, người mạn dưới hát gọi là Khắp pọng tớ; ở mạn trên hát, gọi là Khắp pọng mưa.
Những bài hát khắp ở từng môi trường sinh hoạt cũng thường được đặt tên khác nhau Hát ở tiệc rượu gọi là Khắp mú lẩu, hát trong đám cưới gọi là Khắp Tỏn pạn xông nảng (đón đưa nàng), hát tỏ tình trai gái gọi là Khắp báo xao.
Có khi người ta nghe theo điệu cao thấp, nghe theo người hát mà đặt tên Bài hát du dương của đôi trai gái tình tự gọi là Khắp xon láy Hát cần cao giọng cho tiếng hát vang xa, gọi là Khắp ơi! Bà tày hát gọi là Khắp mụt, ông mo hát gọi là Khắp mùn Hát đố là Khắp thả, hát ghẹo là Khắp kẹo, khắp cưa.
ở Nghệ Tĩnh, người hát lại chia ra:
- Khắp xư: Dành để kể chuyện đời xưa.
- Khắp ơi: Hát khi đi rừng, làm nương (chỉ một người hát).
- Khắp ọt èo: Điệu hát riêng của các thanh niên (người già không hát).
- Khắp ảm pùn, Khắp phả ái: Điệu hát khi say, muốn xin miễn không phải uống nữa.
Lời hát trong khắp là những lời được sắp xếp có vần, có điệu như những câu thơ Chủ yếu là loại thơ bảy chữ, thơ năm chữ, đôi khi có thêm bớt Khôngthấy những câu lục bát hay tương tự lục bát như ở dân tộc Kinh, và cũng không gặp những bài kiểu bát cú, tứ tuyệt như ở dân tộc Tày Vẫn thường gặp là vầnlưng, rơi vào chữ thứ ba, chữ thứ năm trong câu bảy chữ Vần chân thường đặt theo lối gieo vần gián cách, song nhiều khi chỉ chú trọng chuyển nhanh hơn làtheo đúng vần
Thí dụ: (phiên âm)
Buồn tấm tắc, buồn ọt nhăng nội
Buồn tắm tội buồn khói pày piêng
Cùn ọt piêng xuồn kiên mà lọm
Trang 16Tầm pông ơi tầm pích
Ma kin khấu hà lanh
Ma kin càng mắc pặc
Ma phặc xộc sáng còng 1
Lời khắp có thể hát đơn ca, tốp ca Âm điệu thường réo rắt, gợi cảm Khắp ơi thường có độ cao, ngân xa, xon láy về trầm Một số đoạn trong các khắp xư
có khúc thức gọn, mạnh mẽ và lôi cuốn Trên sông nước, một vài lóng má, lóng xăm, có giặm thêm cả những tiếng dô, hầy… Khắp có thể được các nhạc cụđệm theo Đi kéo gỗ có thể mang cả cồng chiêng đệm cho lời hát Trong các buổi diễn xướng nghi lễ, các ông và khắp mùn, khắp mụt vẫn có cồng chiêng phụhọa cho những bài khắp, hoặc những lời mo Khắp còn được hát với khèn loại pí pè (khèn bè), hát với sáo, loại pi-khúi (sáo dọc)
Khắp không có thủ tục như hát quan họ, hát ghẹo, hát đúm; không có thể thức riêng như hát lẻ, hát cuộc; cũng không dành chuyên cho một nghề nghiệp,
một sinh hoạt riêng nào Khắp không phải chủ yếu là trữ tình như xường, nhưng loại Khắp báo xao lại rất tình tứ, hấp dẫn Những đoạn trong cả một bài như Xống chụ xôn xao vẫn được dùng để hát khắp Nhiều địa phương cũng có hát đối đáp bằng những bài hát khắp để vừa tỏ tình, vừa kiểm tra tri thức bên nữ bên
nam
Câu hỏi: Người Thái có lối hát giao duyên nào?
Trả lời:
Hạn khuống là một diễn xướng dân gian, chủ yếu là hát đối giao duyên của riêng người Thái (Tây Bắc).
Vào mùa thu, mùa đông, những mùa khô ráo và tương đối nhàn rỗi, người Thái tổ chức "sàn hoa Hạn khuống".
Sàn hoa cao khoảng 1,5m, dài từ 5 - 6m, lan can tre nứa xung quanh đan hoa văn mềm mại Một cây nêu dựng ở chính giữa sân khấu và bốn cây khácdựng ở bốn góc Trên cây nêu treo chim muông, ve sầu và những dây xích đan bằng lạt nhuộm màu ngũ sắc Tất cả các đốt cây đều được tiện gọt khá cầu kỳ,sơn xanh, đỏ Các góc sàn đều bắc cầu thang lên xuống làm bằng những ống bương ghép lại Những cầu thang này không chỉ có giá trị sử dụng mà còn đượcdùng như một đạo cụ sân khấu (thang chỉ được bắc xuống khi các chàng trai hát đối đáp thắng)
Điều khiển Hạn khuống là năm cô thiếu nữ xinh đẹp, khéo léo Bốn cô điều khiển bốn cây Lắc xáy gọi là Sao lắc xáy còn một cô đảm nhiệm cây Lắc xáy cốc gọi là Sao tổn khuống.
Khoảng 8 - 9 giờ tối, hát đối đáp giao duyên Hạn khuống bắt đầu Một hồi trống, chiêng, chũm chọe rung lên Người đánh trống liên tục thay đổi tư thế,
nhún nhảy say sưa Người điều khiển chiêng, trống thật uyển chuyển, mềm mại, còn người chơi chũm chọe khi ngồi xổm, khi đứng dậy nhảy múa thật hấpdẫn
1 Những câu trích này chỉ cốt để minh họa cách hiệp vần nên không cần dịch nữa
Trang 17Dứt hồi trống, chiêng Sao tổn khuống mời một cụ già có uy tín nhất lên mở màn cho đêm Hạn khuống Các cô gái Sao lắc xáy ngồi quanh bếp lửa Hạn khuống, các cụ già hát lời chào mừng và các cô gái đáp lễ Sau đó, các cụ già xe chỉ, đan lưới, kể chuyện cho con cháu nghe, các cô gái thì quay xa, kéo sợi, têm trầu Thang được rút về đặt bên bếp lửa Các chàng trai tìm đến hát với các cô Sao lắc xáy, nếu thắng cuộc, thang mới được bắc để các chàng trai lên.
Cuộc hát đối đáp không chỉ là cuộc thử tài mà còn mang cả tính kịch nữa Nếu các cô múa điệu chèo thuyền thì thang không được bắc và các chàng trai không
thể lên sàn Hạn khuống Bởi vậy, phải có những lời hát nào đó để các cô chấp nhận.
Ví dụ, các chàng trai hát:
Tôi ở xa nhìn thấy lửa
ở xa nhìn thấy nước
Nhìn thấy vực sông sâu
Nhìn thấy áo chàm đem lòng muốn mặc
Nhìn thấy người má hồng lòng muốn hỏi thăm
Thấy đôi mắt long lanh lòng càng muốn liếc
Nhìn thấy Hạn khuống rực rỡ lại muốn
quấy quả chơi
Xin lên sàn rồng bay
Xin lên sàn phượng múa
Các cô gái hát:
Vòng bạc đáng thương ai đó
Vòng bạc của quý ai kia
Người yêu ai đấy của quý ai kia
Các cô gái hát chối từ:
Em đây khó nghĩ trăm bề
Thang ba bậc còn ở rừng tre
Dừng sáu bậc còn ở rừng gỗ
Một mình em không đi lấy được
Em sẽ tìm lá dong xanh về gói xôi nóng
Trang 18Tìm lá dong đỏ về gói cơm chiều
Xin chàng hãy rộng lòng tha thứ
Hãy chờ đợi hôm khác có thang.
Các chàng trai:
Dĩn hút máu anh đã hết bằng rá rồi đó
Muỗi hút máu anh đã hết bằng nong rồi đó
Bọ chó đã bò lên ầm ầm, để chúng anh ở
dưới này mãi sao?
Khi thang được bắc lên, các chàng trai phải hát đối đáp sao cho có thể được ghế ngồi, được mời nước, mời thuốc Nếu thắng các chàng trai phải hát đối
với "Sao tổn thương" Các khán giả của Hạn khuống luôn chia làm hai phe, người ủng hộ các cô gái, người ủng hộ các chàng trai và tìm cách nhắc bài cho
người hát đối mà mình ưa thích
Cứ thế bên ánh lửa, cuộc hát đối đáp thâu đêm, hết ngày này sang ngày khác Sinh hoạt Hạn khuống không đêm nào giống đêm nào, với thời gian có thể
kéo dài suốt mùa thu sang mùa đông và nó có sức cuốn hút kỳ lạ
Câu hỏi: Nét độc đáo của thể loại khan ở các dân tộc Tây Nguyên?
có lúc nói thường, có lúc ngâm, có lúc lại trình bày như một màn diễn xướng
Có khá nhiều khan đã được biết đến, nổi tiếng nhất là khan Đam San (được Sabitier phát hiện năm 1924) Tiếp đó, từ sau Cách mạng tháng Tám, các khan Đăm Di, Xinh Nhã, v.v được giới thiệu Từ khan trở nên quen thuộc, gần gũi hơn nên người ta thường gọi chung các bản sử thi này là khan cả Thật ra, tác phẩm như Đăm Noi người Ba Na gọi là hơmon, chứ không gọi là khan.
Do độ dài và nội dung thường kể những chuyện anh hùng xuất chúng, các bài khan đã được xem là những anh hùng ca, hay những sử thi Giới nghiên cứufolklore Việt Nam quan tâm nghiên cứu thể loại này
Trang 19Câu hỏi: Nêu một vài nét đặc trưng một số loại đàn dây của các dân tộc thiểu số?
Trả lời:
sử dụng trong sinh hoạt hát then Ta thường gọi là đàn tính là không chuẩn, bởi lẽ tính tức là đàn, tẩu tức là quả bầu Tính tẩu là đàn làm bằng quả bầu khô.
Tính tẩu là đàn dây gảy của các dân tộc Thái, Tày, Nùng ở Tây Bắc - Việt Bắc
Hộp đàn làm bằng nửa vỏ quả bầu đã phơi khô, có khoét lỗ thoát âm mang hình hoa thị Mặt đàn bằng gỗ xốp, mỏng, nhẹ, không sơn Cần đàn dài, không
có phím Đuôi đàn uốn cong ra đằng sau, có treo những quả nhạc vừa để trang trí, vừa để khi cần thì hòa nhịp, giữ nhịp theo bài ca Xưa kia, dây tính tẩu làmbằng sợi tơ xe lăn, ngày nay người ta dùng sợi ni lông Tính tẩu của người Thái mắc hai dây; tính tẩu của người Tày, Nùng mắc ba dây, ở giữa là dây trầm.Người ta dùng ngón trỏ (tay phải) để gảy đàn, tay trái nhấn lướt trên cần đàn tùy theo cung bậc cao thấp khác nhau, có khi là độc tấu, có khi là vừa hát vừa đệm,cũng có khi người ta vừa đánh tính tẩu vừa múa
Nam nữ thanh niên Tày còn hòa tấu tính tẩu, nam đánh loại trầm (to), nữ chơi loại thanh (nhỏ), có thêm quả nhạc giữ phím
Thứ hai là, đàn Ta lư: Ta lư là đàn dây gảy của dân tộc Vân Kiều Ta lư làm bằng gốc tre già, mặt đàn được bạt phẳng, cần đàn là gốc tre rỗng tạo độ vang
cho đàn Ngày nay, người Vân Kiều còn tạo dáng đàn Ta lư trên một khúc gỗ hoặc trên một ống tre rỗng Hai trục gỗ cắm xuyên trên cần đàn mắc hai sợi dâyđay xe lăn, chuốt nhựa cây
Người ta sử dụng đàn Ta lư đệm cho hát, múa trong các sinh hoạt vui chơi, hội hè
Trong những năm chống Mỹ, nhạc sĩ Huy Thục sống với đồng bào Vân Kiều, ông đã sáng tác bài "Tiếng đàn
Ta lư" nổi tiếng một thời.
Thứ ba là, đàn Tam: là đàn của dân tộc Việt và dân tộc Hà Nhì (người Hà Nhì gọi là Tà in) Đàn có ba dây nên gọi là Tam Hộp đàn bằng gỗ cứng, mặt bịt
da trăn hay da lợn Cần đàn khá dài, được làm bằng gỗ cứng, không có phím, phía trên có ba trục để mắc dây (ngày xưa các cụ dùng dây tơ xe lăn, nay người
ta thay bằng dây ni lông) Người ta gảy đàn bằng miếng gảy bằng nhựa (xưa kia làm bằng tre cật mỏng) Người nghệ sĩ dùng tay trái vuốt nhẵn, nhanh, chậm,trên cần đàn không phím, đàn vang lên những cung bậc cao thấp thể hiện giai điệu của bài ca Tiếng đàn tam trong trẻo, đầy đặn và âm vang Đàn tam được sửdụng trong đàn bát âm hay trong dàn nhạc sân khấu chèo
Câu hỏi: Nhạc cụ hơi của các dân tộc thiểu số được chia ra làm bao nhiêu loại? Nêu đặc tính của mỗi loại đàn?
Trả lời:
Nhạc cụ hơi của các dân tộc thiểu số được chia làm năm loại, cụ thể như sau:
1) Kèn bầu: Còn gọi là kèn đám ma, kèn sôna, có nơi gọi là kèn bóp hay kèn loa Người Thái, người Nùng, người Chăm cũng có loại kèn này.
Trang 20Thân kèn bằng gỗ cứng, từ đầu nhỏ rồi to dần Loa kèn bằng vỏ quả bầu khô, hoặc bằng đồng, bằng gỗ Thân kèn có bảy lỗ bấm hình tròn xếp hàng dọc,dưới thân kèn có một lỗ bấm dành cho ngón cái điều khiển Kèn bầu có ba loại: loại cao, loại trung và loại trầm.
Âm thanh kèn bầu khỏe, vang xa; ở phần cao nghe chói tai; ở phần thấp có khả năng diễn đạt được chất bi thảm
Kèn bầu được sử dụng trong dàn đại nhạc cung đình ngày xưa Ngày nay, kèn được sử dụng trong dàn nhạc đám ma, đám rước, nhạc sân khấu tuồng; (khi hòavới trống, thanh la chũm chọe nghe rất khí thế, hào hùng)
2) Khèn bè: Khèn bè là loại nhạc cụ hơi của dân tộc Thái và một số dân tộc ở Tây Nguyên Khèn bè là loại nhạc cụ đa thanh Có loại khèn 10 ống, 12 ống
hoặc 14 ống Khèn bè làm bằng ống sậy, hoặc bằng ống nứa nhỏ Tất cả được xếp thành hai hàng, buộc với nhau và xuyên qua một bầu gỗ Mỗi ống đều cógắn lưỡi gà bằng đồng ở đoạn tiếp giáp với bầu gỗ Bầu gỗ đặt ở phần gần giữa các ống; phía đầu bầu có lỗ thổi Khi nghệ nhân thổi, ống nào được bấm sẽphát âm; các âm cao thấp, cung bậc khác nhau tùy theo bài bản Bấm nhiều lỗ thì sẽ phát ra nhiều âm cùng một lúc, tạo thành chồng âm thanh
Âm thanh khèn bè tươi vui, đầy đặn, có khả năng thể hiện các bè cùng lúc
Đêm rừng trăng sáng, các cô gái người Thái, người Lự thì hát, các chàng trai dùng khèn bè đệm theo; tiếng khèn và tiếng hát quyện vào nhau rất tình tứ vàthơ mộng
Người Trung Quốc, người Thái Lan, người Lào cũng có khèn bè
3) Sáo dọc: Loại sáo khi thổi để dọc, người Việt, người Mường, người Thái đều có Nhiều dân tộc thiểu số khác cũng sử dụng sáo dọc, nhưng do nhu cầu
ca hát của từng vùng mà số lỗ được khoét không giống nhau Sáo dọc của người Việt được khoét sáu lỗ bấm, hình tròn cách đều Sáo dọc dễ làm, thổi ít tốnhơi Âm thanh của nó nhẹ nhàng, êm dịu Nghệ nhân dùng để độc tấu những bài dân ca mềm mại, duyên dáng, trữ tình Một số dân tộc ở Việt Bắc - Tây Bắccòn gọi sáo dọc là Pí
4) Tù và: Tù và làm bằng sừng trâu, sừng bò tót hoặc vỏ ốc biển (loại to) Đầu nhọn của sừng trâu, bò tót, ốc biển được cưa thủng làm chỗ thổi, luồng hơi
làm chấn động không khí, tạo ra âm thanh Khi thổi, tuỳ theo sức hơi mạnh nhẹ mà phát ra âm thanh cao thấp Tù và là nhạc khí của nam giới (thổi tốn hơi,nhiều sức) Âm thanh của nó to, vang xa, gợi sự hoang vu, bí ẩn Xưa kia, tù và được sử dụng như một phương tiện thông tin, báo động khi có giặc giã, nguybiến, khi đi săn Cũng có khi đêm khuya, chàng trai tài hoa xách tù và lên cánh đồng mênh mông, thổi khúc dân ca nhắn gửi bạn tình
5) Klông-pút: Là nhạc khí hơi lùa của nhiều dân tộc ở Tây Nguyên, nhất là người Hrê Klông-pút trong dân gian gồm từ 2 đến 5 ống nứa to Các ống đàn
có đường kính khoảng 6 đến 10cm, độ dài ngắn khác nhau được xếp theo chiều nằm
Nghệ nhân lấy hai bàn tay khum khum, vỗ nhẹ vào nhau trước từng ống đàn tạo nên một luồng hơi lùa vào ống làm chuyển động cột không khí bên trongống đàn; ống đàn phát ra âm thanh cao thấp tuỳ theo độ dài ngắn của mỗi ống Trước kia, Klông-pút do các cô gái biểu diễn Âm thanh Klông-pút vang, trầm
ấm, tạo cảm giác ngầm, sâu, vang động núi rừng Các cô gái Hrê dùng Klông-pút chơi những bài ca tình tứ, mênh mang, sâu lắng về dòng sông , về cây lúa quênhà, về tình yêu cao nguyên, làng bản
Trang 21Câu hỏi: Cho biết một số đặc tính của bộ nhạc cụ gõ?
Trả lời:
1) Loại gõ trên màng rung: Đó là các loại trống to, trống nhỏ, người Việt và tất cả các dân tộc khác đều có sử dụng.
- Loại trống một mặt gồm: Trống bộc, trống bồng, trống chùa.
Các loại trống một mặt chỉ đóng vai trò phụ, làm chức năng phụ họa cho một tổng thể tiết tấu của các nhạc cụ gõ to lớn hơn, âm vang khoẻ hơn
- Loại trống hai mặt: Trống đại, trống cái, trống chầu, trống bản, trống cà rùng.
Các loại trống này thường được sử dụng trong các đền, chùa, nhà thờ họ vào các ngày hội, ngày lễ, hoặc trong đám rước
2) Loại nhạc cụ gõ trực tiếp: Đó là loại nhạc cụ gõ không qua màng rung.
- Loại thứ nhất được làm bằng gỗ như: Đuống (dân tộc Mường), T’rưng gỗ (dân tộc Tây Nguyên - Khơ Me Nam Bộ), Mõ, Song Loan, Phách, Sênh
- Loại thứ hai được làm bằng tre nứa như: Đàn T’rưng (Tây Nguyên), Mõ tre, Phách ả đào
- Loại thứ ba được làm bằng đồng như: Cồng, chiêng (dân tộc Mường và các dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng, chiêng trong lễ hội, đánh thành bài bản
có sức hấp dẫn, lôi cuốn mọi người vào những cuộc nhảy múa thâu đêm) Qua nhạc (lắp ở tính tẩu) Não bạt, chũm choẹ: được sử dụng kết hợp với các loạitrống to, nhỏ, tạo không khí vui tươi, hùng hồn, giục giã
- Loại thứ tư được làm bằng đá như:
Đàn đá: có ở Tây Nguyên, Khánh Sơn, Đồng Nai Tiếng đàn đá vừa ấm, vừa đanh, lại trong sáng, mang lại vẻ huyền bí của hang động cổ sơ Nhiều nghệ
sĩ Việt Nam đã nghiên cứu và biểu diễn đàn đá như một nhạc cụ độc tấu có màu sắc riêng biệt
Khánh đá: Khánh đá đặt ở đền, chùa, được sử dụng cùng với trống, chiêng kết hợp trong hồi "khởi nhạc", báo hiệu buổi hành lễ bắt đầu Tiếng khánh đátrong, ngân nga, tạo không khí trang nghiêm, thành kính
Câu hỏi: Lối hát Sli của dân tộc Nùng diễn ra vào thời gian nào trong năm?
Trả lời:
Sli là lối hát giao duyên của người Nùng Sli thường được hát theo lối có tổ chức hoặc không có tổ chức trong những dịp mừng nhà mới, mừng sinh nhật,
ngày Tết, ngày hội đầu xuân… Sli rất phong phú, thường mỗi nhánh Nùng có một loại Sli, như người Nùng Giang có Sli giang, người Nùng Cháo có Sli sìnhlăng, người Nùng Phàn Sình có "nhì hau", "soong hầu"…
Trang 22Sli Nùng là những bài văn vần, mỗi câu bảy chữ, mỗi bài có từ một đến tám câu hoặc dài tới vài trăm câu Trên thực tế, số lượng câu Sli rất phong phú, đa
dạng, rất khó có một sự phân loại hợp lý Căn cứ vào tính thực hành diễn xướng, người ta thường chia Sli thành hai loại: Sli cuộc và Sli mời Sli cuộc là một
cuộc hát Sli được tổ chức có quy mô giữa chủ và khách, có thể hát trong nhiều đêm, mỗi bên ít nhất có hai người hát, có rất nhiều người nghe Vào nhữngngày hội đầu xuân, khi một tốp con trai hoặc con gái nghỉ đêm tại bản lạ, họ được mời xướng Sli Thông thường, bên chủ cất tiếng mời lịch sự, nếu bên kháchkhông trả lời thì chủ quay ra khiêu khích, mắng mỏ thậm tệ cho đến khi khách đáp lời Nếu khách vẫn không đáp thì cuộc Sli không thành Khi bên khách cấttiếng đáp, họ đố bên chủ nhiều câu đố hiểm hóc, nếu chủ không trả lời được thì cuộc Sli coi như chấm dứt tại đó Vì thế, cuộc Sli thu hút người nghe ngay từkhúc dạo đầu của nó Dù rằng các bài Sli có thể ít nhiều quen thuộc với khán giả nhưng những tình huống xảy ra ở các cuộc Sli thì không cuộc nào giốngcuộc nào Điều đó luôn tạo sự mới mẻ, bất ngờ cho người nghe và ngay cả người hát Tục ngữ Nùng có câu "Đêm ốm dài, đêm Sli ngắn" là vì thế
Các nhà nghiên cứu đã hình dung một cuộc hát lý tưởng với ba chặng sau:
- Những bài hát chào mời thăm hỏi
- Những bài trao đổi tình cảm, ca ngợi quê hương, xứ sở, con người…
- Những bài tiễn biệt dặn dò
Cụ thể là các bài Sli mời, Sli ra đường, Sli nhỡ độ đường, Sli gặp gỡ, Sli vào bản, Sli phiền hà, Sli đố, chúc mừng, Sli mừng nhà, Sli trầu, Sli mùa xuân,Sli giờ, Sli kể chuyện, Sli mây, Sli trăng, Sli sao, Sli khen, Sli gặp bạn mới, Sli giao duyên, Sli yêu, Sli kết, Sli thuyền, Sli núi, Sli nhạn, Sli nhắn nhủ, Sli giãbiệt…
Như đã nói ở trên, mỗi cuộc Sli có một trình tự riêng tùy thuộc vào tâm trạng của người hát, vào mối quan hệ chủ khách, vào những tình huống bất ngờxảy ra, vào độ ngắn dài của thời gian cuộc Sli… mà trình tự và số lượng các chặng và các bài là không cố định Mỗi chặng là một tình huống, một cái cớ đểbên này đòi hỏi hay khen ngợi, thách đố bên kia Người đáp khi thì dùng những lời từ chối khéo léo, khi thì là lời đáp lại khiêm tốn, khi thì lợi dụng tìnhhuống để bộc lộ hoàn cảnh, tình cảm của mình, lời lẽ thật ý nhị và tình tứ
Câu hỏi: Vì sao lại gọi là hát lượn? Hát lượn được diễn ra như thế nào?
Trả lời:
Lượn thường được hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng, lượn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca người Tày, bao gồm cả then (lượn then),
hát đám cưới (lượn quan làng), phuối pác (lượn phuối pác) và phong slư (lượn phong slư) Theo nghĩa hẹp, lượn chỉ là những điệu hát giao duyên của ngườiTày mà thôi Cả hai cách hiểu đều có lý, song có lẽ phổ biến hơn cả là cách gọi tên lượn theo nghĩa hẹp, tức là bộ phận hát giao duyên đối đáp của người Tày
Lượn của người Tày gồm ba loại: Lượn cọi, lượn slương, lượn Nàng hai Nếu như lượn cọi và lượn Nàng hai có địa bàn chính ở phía tây Việt Bắc thì lượn
slương lưu hành ở địa bàn Lạng Sơn là chính Khác với lượn cọi là loại lượn sử dụng vần lưng để kéo dài khổ thơ, lượn slương chỉ dùng loại thất ngôn tứtuyệt vào cuộc lượn Sau những bài mời của chủ bản, khi vào cuộc, chỉ có một đôi trai gái hát đối đáp với nhau, các bài hát đều được nhập tâm, hoặc ứng khẩu
Trang 23chứ không phải có thầy dẫn lượn như lượn cọi Lượn slương thường được tổ chức vào ngày hội lồng tồng mùa xuân, hay vào những đêm trăng sáng của dịp
nông nhàn Theo những tài liệu sưu tầm được, sơ bộ có thể chia lượn slương thành ba phần: Lượn đi đường, lượn sử và lượn chúc mừng Trong đó phần lượn chúc mừng không phải là hát giao duyên, chỉ là lời cảm tạ của người lượn đối với gia chủ nên nó có tính chất gắn kết khá lỏng lẻo với cuộc lượn Phần lượn
sử với một thời gian khá lớn dành cho việc lượn về các truyện cổ dân gian của người Tày và các tích truyện có nguồn gốc từ Trung quốc thể hiện chiều sâu
của cuộc lượn slương khi tình cảm của người hát đã hết sức sâu nặng Nhưng chính vì tính chất và nội dung của nó, lượn sử không có sức thu hút mạnh đối
với người nghe Còn phần lượn đi đường là phần chứa đựng nhiều tình huống bất ngờ nhất Về mặt hình thức, đó là phút ban đầu thăm dò, tìm hiểu, làm quen,
dỗi hờn, trách móc Về mặt nội dung, tình cảm được diễn tả ở đây từ nỗi nhớ thương kín đáo, e ấp đến sâu sắc, mạnh bạo Phần này rất được người nghe yêuthích, và đây chính là phần trọng tâm của một cuộc lượn slương Không có một cuộc lượn slương nào thiếu phần này dù cho hai phần kia có thể không lượnđến
Đúng như tên gọi, lượn slương (nghĩa là lượn thương) nổi bật lên mục đích bộc bạch niềm thương nhớ nhuốm màu đau th ương Đó là nỗi buồn, nỗi đaucách biệt do cảnh ngộ và một niềm ước ao vô vọng về sự sum họp Niềm bộc bạch nhớ thương này trong lượn slương đậm hơn rất nhiều nhu cầu giao duyên(tìm hiểu, làm quen…) thường thấy ở các làn điệu dân ca giao duyên khác, khiến cho lượn slương nghiêng về phía diễn tả một tình yêu đã nặng sâu hơn làmột tình yêu vừa chớm hé Và cách diễn đạt mang đậm sắc màu độc thoại hơn là những dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ đối thoại Có thể thấy rõ điều nàyqua các chặng (chương) của một cuộc lượn slương
Các chặng hát của lượn slương cũng như những làn điệu dân ca khác đều có những cái cớ, những khuôn mẫu tức cảnh để biểu lộ tâm tình Chẳng hạn
những chương như Gà gáy, Đứng thuyền hái hoa hay Bốn mùa, Mười hai tháng thì không nhằm mục đích miêu tả không gian và thời gian mà chỉ nhân đó để
diễn tả lòng mình
Chẳng hạn:
Gà gáy dạo chơi ta kết giao
Trông lên trời thẳm sáng đầy sao
Trăng lên sáng trời trăng phải lặn
Giờ này đôi ta biết làm sao?
Đó là hiện tượng phổ biến trong ca dao, dân ca nói chung, ý tứ thường được triển khai trên những cái khuôn ước lệ có sẵn Ví dụ: Ca dao người Kinh
thường có khuôn mẫu: Ngày ngày Thân em Nhưng điều đặc biệt đáng nói ở đây là lượn slương thường sử dụng cách diễn đạt ước lệ của văn chương cổ
điển để bộc lộ tình cảm trên một cái khuôn ước lệ dân gian
Trên đây, chúng ta đã nói đến lượn với tư cách là một thể loại trong những điệu hát dân ca Nhưng hát lượn là cả một cuộc diễn xướng, một sinh hoạt cótính cách hội, có trình tự, có quy cách hẳn hoi Dưới đây xin khảo sát một buổi hội về hát lượn với những lề lối của nó, trong quá trình phát triển của một buổidiễn xướng
Trang 24Được tin có khách từ phương xa đến, thanh niên đã liên hệ với chủ gia đình để được phép lượn Cũng không hiếm khi có khách, chủ nhà đi mời thanh niêntrong bản đến hát lượn để gia đình, làng xóm thêm vui vẻ Dẫu cho đã có thỏa thuận và được sự đồng ý của gia đình, trước khi mời khách hát, thanh niên trong bảnvẫn hát xin phép gia chủ:
Cất tiếng xin thưa với chủ nhà
Có phải về đây khách phương xa?
Sĩ tử xin trình được hội ngộ.
Mời khách viễn phương cùng lượn ca!
Sự tán đồng của gia chủ và các bậc già cả trong thôn xóm mở đầu một cuộc hát lượn
ba phần:
a) Lượn nài: là những câu hát mời khách hát lượn.
Hoa guột nở bên đường xanh biếc,
Ta đây định vài lời chào trước,
Chẳng biết bạn có đáp lời hay không
Hay bạn muốn để ta phải chào suông!
Khách bao giờ cũng giữ ý tứ, không phải nghe lời mời là đáp ngay; buộc chủ phải tiếp tục:
Mở bài khai khấu ước chào xuân,
Đồn rằng chốn ấy đầy hải ân
Đồn rằng chốn ấy đầy xuân sắc
Sĩ tử xin chào để vui xuân!
Có khi chủ phải mời tha thiết:
Thời hoa với nguyệt chẳng lâu gì,
Xuân sắc đương thì được mấy khi,
Xuân sắc đương thì hãy kết bạn
Hoa tàn xuân vãn đời còn chi!
hay:
Trang 25Bạn hỡi khan ngay chớ để chờ,
Vì ngồi đợi sao, sao đã xa,
Vì ngồi đợi sao, sao đã sa xuống,
Tiếc chi tiếng hát với lời ca!
b) Khan: là đáp lời Thoạt tiên khách thường hát dưới dạng từ chối:
Hôm nay em đi chợ về tối,
Bàn tay vẫy mặt trời không lại,
Mặt trời vượt xuống núi, qua đèo,
Trời tối, vào bản xin trú chân,
Bản bạn muốn hỏi han việc gì?
Hay đến tối, lại ngờ trộm cắp?
Đêm khuya không yên giấc xin khan,
Xin bạn, bạn ơi xin chớ lượn!
c) Sau khi hát, khách đã bắt đầu khan (đáp lời) thì cuộc lượn hát được tiếp tục bằng những bài chúc mừng nhau, thăm quê quán của khách; còn khách thì
hát những bài hát mừng thăm gia chủ, bà con trong bản mường, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên của xứ sở mà họ đến trú ngụ:
Đến đồng tôi ngắm đồng thênh thang,
Đến làng tôi ngắm làng bát ngát,
Núi rừng tỏa gấm vóc vây quanh
Bản làng hoa nở hồng rực rỡ.
Bước thứ hai: Đây là phần dài nhất, chiếm hầu hết thời gian của một cuộc hát lượn, có thể kéo dài vài đêm, phụ thuộc vào tài nghệ của đôi bên nam nữ
hát với nhau Bước này có thể chia ra làm hai phần:
a) Phần thứ nhất: gồm những bài đã đặt sẵn và được học thuộc lòng Tuy nhiên, người ta có thể sáng tạo thêm sao cho phù hợp với hoàn cảnh cả cuộc hát
lượn Có nhiều bài rất cổ truyền từ đời này sang đời khác Đầu tiên người ta hát những bài gọi là "lượn trầu", tức những bài mời nhau ăn trầu, hút thuốc, tiếptheo là những bài "lượn cam, lượn kẻ" (lượn đố, lượn giải đáp), trong đó có thể có những chữ nho Phần này được tiếp tục bằng những bài vịnh cảnh Dướiđây xin nêu vài ví dụ:
- Vịnh cảnh khuya:
Trang 26Canh một vắng vẻ mênh mông,
Gió thổi hiu hiu lọt đến phòng,
Gió thổi hiu hiu không yên giấc,
Tựa cửa trông chờ bóng người thương.
- Vịnh trăng xinh:
Trăng xinh lồng lộng quyện mây vàng,
Chiếu rọi xuống đây người viễn phương,
Chiếu rọi xuống đây, người cách xứ,
Còn không bạn nhỉ, tấm lòng thương?
- Vịnh hoa:
Đẹp nhất là đây hoa "biooc rồm"
Hoa nở theo lệnh chúa sơn lâm
Bụt ở trên giời mong lai vãng
Hoàng tử long cung ước đến thăm!
- Vịnh cảnh bốn mùa và những tháng trong năm:
Tháng Giêng mùng Một đốt hương liền,
Đốt đèn hai ngọn lên chầu tiên,
Đốt đèn hai ngọn lên chầu bụt,
Ngoảnh lại vườn xuân nhớ bạn hiền
hoặc:
Tháng ba khảm khắc1 vọng trên ngàn,
Lòng buồn dõi mãi chốn kim loan,
Trai ở phòng văn, thư ngại viết,
Gái chốn buồng hương tính2 ngại đàn.
1 Khảm khắc là một loài chim thường hót về đêm, tiếng nó não nuột, vang vọng trên ngàn.
2 Tính là một loại đàn dây của người Tày, Thái.
Trang 27Sau những bài ấy, thường là những bài "tứ quý canh nông", những bài giáo nam giáo nữ, những bài về sinh hoạt văn hóa, xã hội, những câu chuyện về các
nhân vật lịch sử của dân tộc cũng như các dân tộc anh em, những thiên tình ca như Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Nam Kim - Thị Đan, Tống Trân - Cúc Hoa, Tần Chu - Quảng Lương, Lương Quân - Biooc Rồm, v.v Cuộc hát lượn được nối tiếp bằng những bài về lao động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày, về
kinh nghiệm sản xuất Ta cũng có thể thấy trong lượn không ít những câu về lịch sử của người Tày, của đất nước ta nói chung:
Truyền bài tôn sứ về hai anh em,
Như hai gióng trúc nghĩa tình thân,
Hạt gạo chia đôi người một nửa,
Anh về bên Hán, em về Kinh 1
hoặc:
Vua Gióng thủa xưa, trời sinh ra,
Đúc nên ngựa sắt, dẹp phong ba,
Ngựa hí nơi đầu lửa ngụt cháy,
Đuổi giặc gìn giữ nước non ta.
hoặc:
Phân mao chốn ấy định biên cương,
Đất nước ngàn năm với cột đồng2
Cỏ gianh chốn ấy ngả hai phía,
Truyền mãi nước non giống Lạc Hồng!
Xen vào những bài trên có hàng loạt bài tả tình, tả cảnh, ngợi ca đất nước giàu đẹp
Đồn trắng Phía Puông 1 , nước triền miên
Trên thời cung bụt, dưới cung tên,
én nhạn bướm ong rộn soi bóng,
1 Sau khi cuộc khởi nghĩa của Nùng Chí Cao thất bại, nước Đại Nam bị phân chia ra làm hai, một nửa thuộc Việt Nam, một nửa thuộc Trung Quốc, nhân dân
Tày cũng theo đó mà cư trú trên lãnh thổ của cả hai nước
2 ý nói cột đồng Mã Viện.
1 Phía Puông: ở hồ Ba Bể.
Trang 28Tiên nữ vãng lai ngộ nhân duyên.
b) Phần thứ hai: Phần này theo tiếng Tày gọi là "slương", tức là hát "để bày tỏ tâm tình của mình đối với người yêu" Thật ra, không phải lúc nào lượn hát
với nhau là có thể yêu nhau, tiến tới xây dựng gia đình Tuy nhiên, phải công nhận rằng đó là những tiếng hát tâm tình, là khúc nhạc lòng của thanh niên nam
nữ trong lứa tuổi đầy hứa hẹn và khao hát yêu đương, cho nên, không có gì đáng ngạc nhiên ở phần này toàn là những bài về tình yêu nam nữ, thể hiện lòngmong muốn được yêu thương, mong có được mối tình chung thủy Biết bao nhiêu lời nguyện ước, thề thốt thiết tha, tràn ngập lòng tin và hy vọng được hátlên với tất cả tâm hồn say đắm của tuổi trẻ Những bài lượn này thường theo cảnh mà có những lời, những câu cho thích hợp:
Trăng xinh chiếu rọi ở ngoài sàn,
Chiếu rọi ngoài sàn như thở than,
Chiếu rọi ngoài sàn như than thở,
Đã kết cùng nhau chớ lìa tan!
hay:
Đôi lời khuyên bạn, bạn đường xa,
Sinh ra lạc số của không nhà,
Sinh ra lạc số không quê quán,
Bạn có lòng thương chia một nhà.
hoặc:
Tháng năm nhộn nhịp với cấy cày,
Đơn thân nhổ mạ, nắng gắt gay,
Mạ đã nhổ về, không người cấy,
Bạn có lòng thương giúp vài ngày!
Tình cảm đậm đà, thiết tha biểu hiện bằng những lời tế nhị xa xôi:
Ngày buồn ra bến nước dạo chơi
Thoáng bóng lá vàng rơi ngỡ bạn.
hoặc:
Đôi lời gửi bạn, bạn thân thương,
Ngày vắng buồn thân than với sương,
Trang 29Ngày vắng buồn thân than với gió
Hỡi người xa cách, còn lòng thương?
Và ngay cả lúc tình yêu họ như sống dậy, họ vẫn băn khoăn, lo lắng:
Chim ăn trái nhiều cây quên cành
Cá bơi lội nhiều ghềnh quên vực.
Nhưng lòng người đâu dễ đổi trắng thay đen
Thuyền không thể không có lái
Cá không thể không có sông
Bướm ong đâu bỏ hoa xuân,
Y như ta kết vững bền về sau
Bước thứ ba: Đây là chặng đường chiếm ít thời gian nhất và cũng là chặng cuối cùng của cuộc hát lượn Phần này thường gồm những bài nhắn nhủ, hẹn
hò Hát lượn thâu đêm đến lúc canh tàn, trước phút chia tay với một tình cảm lưu luyến, khách hát những bài từ tạ Buồn rầu nhớ khách, thương người trailàng (hoặc gái bản) bằng những câu luyến mến, thiết tha tiễn bạn, trao kỷ niệm để ghi nhớ buổi trúc mai sum họp, với những lời hẹn ước một cuộc tái ngộ maisau:
Đôi lời nhắn bạn, ta về quê,
Vườn đào chốn đây ta phải lìa,
Nhạn nhắn én, nhạn bay về chốn,
Hẹn mùa hoa thắm bướm trở về!
Câu hỏi: Nét sinh hoạt dân ca độc đáo của trai gái Tày - Nùng diễn ra như thế nào?
Trả lời:
Phong slư là những bức thư tình, một sinh hoạt dân ca độc đáo của trai gái Tày - Nùng Những bức thư này được viết bằng chữ Nôm Tày trên vải sô đỏ,
rộng khoảng một mét vuông Vải được vẽ hoa biên và hai bên là hai con rồng há mồm chầu mặt trời hoặc chim muông Vì nam nữ thanh niên trước đây ít
người biết chữ và có đủ trình độ viết thư, nên thư được viết thông qua một người trung gian, tiếng Tày gọi là Slấy cá (là người trí thức bình dân của nhân dân
Tày - Nùng) Vì thế, thư tình nhưng lại được đọc chung cho trai gái cả bản cùng nghe Những người đang yêu đều tìm thấy trong phong slư tiếng nói thầm kín
Trang 30là sáng tác của cá nhân nhưng được xã hội hóa Và thầy Slấy cá, bằng việc ngâm nga diễn xướng những bức thư phong slư đã biến những con chữ riêng tư, cụ
thể thành một sinh hoạt dân ca không thể thiếu được đối với trai gái Tày - Nùng
Phong slư thường thấm đẫm nỗi buồn tuyệt vọng vì xa cách Trai gái làm quen trong một dịp gặp gỡ tình cờ (hội chợ…), tình cảm như "lửa mới nhen" thì
đã phải chìm vào xa cách Ngọn lửa âm thầm ấy phải hết sức mãnh liệt thì mới đủ sức chống chọi với những thử thách vô bờ bến Họ chỉ còn cách duy nhất làtrông chờ vào những lá thư diệu vợi như một nguồn dưỡng khí ít ỏi cho ngọn lửa tình yêu Vì thế, nỗi buồn bã, vô vọng là điều không thể tránh khỏi trongphong slư
Giản đơn chỉ là nỗi nhớ, ở một khía cạnh nào đó, do bị cách ngăn cũng biến thành nỗi nhớ:
Bỏ kim chỉ rã rời chân tay
Chẳng biết làm sao đây hỡi chàng.
Và biến thành sự dỗi hờn mang chút cạnh khóe:
Trúc mong khó tới được cung tiên
Rồng trên trời không cùng rắn ráo
Yến không thể bạn với quạ đen.
Lâu ngày thành trách móc nặng nề:
Trời tối còn lúc sáng có ngày
Làm người chớ dối nhau quá tệ
Bỏ thuyền bè trên giữa biển khơi
Là trọng tội, mong em hãy nghĩ.
Người bạn mình nào có tội gì đâu, vì chỉ không được gặp mà sinh lòng buồn bã đau xót mà đổ lỗi cho nhau:
Trúc một lòng cùng quyết với mai
Sợ đun bếp phải nơi không nồi
Hoặc như người đơm đó ngọn cây.
Song từ trong sâu xa của tình yêu, những tình cảm tốt đẹp bao giờ cũng bén rễ vô cùng chắc chắn, bất chấp giá lạnh, xa cách và sự bất trắc khó lường xảy ra
Họ đã dựa vào nhau để chống chọi lại những cách vô tình của ngoại cảnh:
Nước nhỏ loạn bao nhiêu mà sợ
Đèo cao ta hãy cố cuốc bằng
Trang 31Cuốc xuống thấp cho thành như ruộng
Mới thật chàng thương bạn hết lòng.
Và một tấm lòng yêu sắt son, một quyết tâm đạp bằng cách trở:
Nghĩa vẹn chớ phụ nhau mới nghĩa
Dẫu chết cũng yêu để bạn lòng
Dù chết cũng lấy xong mới chết.
Cũng có khi lứa đôi phải thực sự chia lìa Đó là khi không thể chờ đợi, không thể đến với nhau, một trong hai người đi lấy chồng (vợ) trước, để lại những
bức phong slư slắng (thư dặn) đầy cảm động Trong nỗi buồn đau phải chấp nhận số phận, những lời dặn lại của bạn lòng đầy tình nghĩa thiết tha, cao thượng:
Chàng hãy tìm ai cùng kết bạn
Rừng xanh còn ngàn vạn cành hay
Thiên hạ biết bao người xinh đẹp
Khuyên chàng đừng có tiếc mà buồn!
Và chàng trai, tình yêu trong tuyệt vọng vẫn sống rất mãnh liệt:
Hát quan làng hay còn là hát quan lang (hát trong đám cưới) diễn ra trong đám cưới của người Tày Trong đoàn nhà trai đi đón dâu, người hát quan làng
đóng vai trò quan trọng, người đại diện cao nhất có thẩm quyền giải quyết tất cả mọi việc liên quan đến vấn đề nghi lễ Người đó phải là người đã có vợ, con cáikhôn lớn, có uy tín đạo đức, ăn nói lịch thiệp Và quan trọng hơn ông phải thuộc các thơ lẩu (thơ rượu) để có thể ứng đáp kịp thời Người phù rể cũng phảibiết thơ lẩu và vai trò quan làng phụ Cô dâu phụ cũng phải có tài ứng đối Có bà đưa dâu (tai slấng), bà đón dâu (tai tắng) là những bà, những cô đã có giađình
Trang 32Đoàn nhà trai đến phải dừng lại trước cổng nhà gái Bên nhà gái, bà tai slấng và các cô phụ dâu cất tiếng hát trước để chất vấn Ông quan làng và các phù
rể hát đáp lại Cuộc đối đáp bắt đầu và kéo dài suốt cả thời gian của đám cưới Hầu hết các bài đều đã thuộc lòng, nhưng cả hai bên trai, gái không được háttùy tiện mà phải theo trình tự nhất định Chặng nào có bài phù hợp với chặng nấy Thứ tự các bài là:
- Bài hát chăng dây
- Bài hát giữ cửa
- Bài hát trải chiếu
- Bài hát mời nước, mời rượu, mời trầu
- Bài hát trình tổ tiên
- Bài hát mời cơm
- Bài hát lạy tổ tiên
- Bài hát nộp dâu, nộp rể
Đám cưới không có hát thì uống rượu không vui Tiếng hát quan làng cất lên, tất cả mọi người đều lắng nghe, say sưa, hào hứng Hát quan làng thực chất
là hát đối đáp cho ăn ý, ăn lời, chứng tỏ tài năng trí tuệ và nghệ thuật Hát để mừng hai gia đình, mừng cô dâu chú rể và cũng là dịp cho các nam thanh nữ túkhác trong bản mường chọn bạn đồng tâm Có nhiều mối tình đã được nảy nở trong tiệc rượu hát quan làng
Nội dung các bài hát quan làng đều nhằm ca ngợi đạo nghĩa vợ chồng, công ơn cha mẹ và cảm tạ về sự lịch thiệp, nhiệt tình của khách trong buổi đón đưa.Ngôn ngữ các bài hát giàu hình ảnh, thường đưa ra những ví von tế nhị
Dưới đây là vài câu hát trong bài Hát mời cơm:
- Nhà trai:
Cá thịt đầy mâm
Hôm nay có việc mừng đám cưới
Vui vẻ nhà gái nhà trai
Gái trai nay đã khôn lớn, giỏi giang
Rau, thịt không thiếu gì
Chúng tôi là khách đến đây
Được đón tiếp thế này, nhớ mãi
Trang 33Ăn rồi biết nói lời sao đây
Biết lấy chi mà trả công lao (đón tiếp)
- Nhà gái đáp:
Mấy khi có người đến nhà này
Hai họ chọn ngày này vui quá
Đường đi núi cao chắc là khó lắm
Mừng mọi người đến đây vẫn khỏe
Hôm nay vui như mùa xuân đến
Chúng tôi có đôi lời vui vẻ
Mời mọi người ăn bát cơm muối trắng
Cùng họ hàng nội ngoại mừng vui
Cho dâu rể cùng nhau hạnh phúc.
Trên đây là lời hát chung về hát quan làng Tùy từng nơi, yêu cầu hát còn có phần chi tiết, chặt chẽ, cụ thể hơn
Chọn được ngày xin cưới, nhà trai báo tin cho nhà gái, và đi tìm ông quan làng cho họ mình Người này phải biết 36 bài hát (nai lùa) về cưới xin
Vào ngày cưới, ông quan làng cùng hơn chục người bên nhà trai mang lễ vật đi đón dâu Đến nhà gái, muốn lên được nhà, phải hát các bài mang nội dungtuần tự Thí dụ phải báo cáo lý do, dẫn lễ gì, xin nước rửa chân, xin bước lên thang, xin mở cửa, xin vượt vật cản (nếu có), xin trải chiếu, xin chè nước, xinống điếu hút thuốc, xin ngồi, v.v…
Chuẩn bị cúng lễ thì xin thắp hương, xin thắp đèn, xin giờ tốt Đến sáng hôm sau, hát xin cô dâu và đồ dùng của cô (hòm xiểng, chăn màn) Cuối cùng làhát xin đưa cô dâu về nhà trai Cứ thế, mỗi một lý do, một việc yêu cầu, là bài hát tương ứng với nội dung ấy Nếu hát đúng thì người đại diện nhà gái đápứng, bằng không sẽ bị phạt uống rượu (mỗi bài từ hai đến bốn chén) Do đó, các ông quan làng dẫn lễ phải rất thuộc dân ca Tày dùng cho cưới xin theo tục lễmới có thể đưa cô dâu về nhà chồng
Câu hỏi: Văn hóa trống đồng và lễ hội hóa trang của dân tộc Lô Lô có gì độc đáo?
Trả lời:
Trang 34Trống đồng của người Lô Lô dùng để đánh trong những ngày có tang ma và thi thoảng trong ngày nhảy múa vào rằm tháng 7 âm lịch Đây là nét khác biệtvới người Lạc Việt, họ dùng trống vào những ngày lễ hội, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật hay trong chiến trận.
Trống đồng của người Lô Lô có hoa văn là những vòng tròn có chấm, những đường thẳng song song hướng tâm hoặc hình người hóa trang cách điệu,v.v… Tang trống nở, thân eo, chân choãi ra Người ta dùng một dùi trống và đánh cả hai đầu dùi cùng lúc trên cả trống giảnh kê và trống giảnh đú Ngườiđánh trống giỏi được mọi người trong bản quý trọng Họ vừa đánh trống với biến tấu to nhỏ, nhanh chậm, vừa có nhịp điệu rõ nét
Sau những ngày lễ tang hoặc lễ rằm tháng 7, trống được đưa về nhà tộc trưởng Người tộc trưởng đào đất chôn sâu xuống để bảo quản trống khỏi bị hỏnghoặc mất Khi dòng họ có việc, trống lại được đào lên, lau chùi sạch sẽ và đem sử dụng Trước khi sử dụng, trưởng làng sẽ chọn một số đàn ông làm lễ hóatrang Họ vào rừng lấy lá cây, cành non hóa trang toàn thân Họ trút bỏ quần áo, đeo mặt nạ, toàn thân cài đầy cành lá và kéo nhau về nhà có người mất, nhảymúa theo nhịp trống quanh thi hài Khi tiếng trống đồng vang lên, người Lô Lô cho rằng linh hồn người chết đã được thoát xác trở về với tổ tiên của mình, vìvậy âm thanh của trống đồng rất thiêng đối với người Lô Lô, nó trở thành một phong tục ngàn đời không thể thiếu
Câu hỏi: Tục cướp vợ của người Cơ Tu diễn ra như thế nào?
Như vậy, trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vẫn còn tồn tại những nét văn hóa có thể nói là độc đáo nhưng cũng có những tục lệ cổ hủ và bất hợp lýnhư tục cướp vợ của người Lô Lô
Câu hỏi: Văn hóa kết "tồng" ở người Nùng thể hiện điều gì?
Trả lời:
Kết "tồng" là một nét văn hóa giàu tình thân ái, giúp đỡ nhau, coi nhau như người thân trong họ và có khi còn gắn bó thắm thiết hơn người trong họ
Trang 35"Tồng" tiếng Nùng có nghĩa là hợp nhau, giống nhau Nếu hai người bạn giống nhau ở nhiều điểm, ý hợp tâm đầu, sống chết có nhau thì sẽ làm lễ kết
"tồng" Con trai, con gái từ 18 tuổi trở lên là có thể kết "tồng", con trai kết "tồng" với con trai, con gái kết "tồng" với con gái Tục lệ này có từ rất lâu đời Nơiđây, nhà ở rất thưa thớt, cuộc sống âm thầm lặng lẽ ven suối, khi họ muốn trao đổi với nhau thì phải đi rất xa nơi ở của mình mới có người vì vậy họ đã có tụckết "tồng" để qua lại với nhau Nhiều chàng trai, cô gái đến già vẫn chưa lập được gia đình Bởi lẽ đó, tục kết "tồng" đã diễn ra nhằm mở rộng phạm vi quenthuộc tiến tới quen thân như họ hàng
Khi kết "tồng", họ cũng đưa ra những quy tắc sau:
Thứ nhất, là người cùng tuổi, cùng năm sinh
Thứ hai, là người cùng cảnh ngộ, như hoàn cảnh gia đình giống nhau, cùng nghèo hoặc cùng giàu, cùng là con trai một, hoặc cùng chưa vợ, hoặc cùng có
vợ và có một con, cùng muộn chồng hay cùng xa quê hương
Thứ ba, trùng tên, có thể tuổi chênh nhau không nhiều, gia cảnh hơi khác nhau
Thứ tư, cùng nghề nghiệp, cùng lớp học, cùng khoa thi, cùng hoạt động chính trị, xã hội
Thứ năm, có cùng sở thích, sở trường (thích hát Sli, thích săn bắn, cùng thích một màu sắc )
Khi có một trong năm quy tắc trên, hai người sẽ đi lại, tìm hiểu nhau kỹ lưỡng và tâm sự với nhau, đến nhà nhau để biết rõ về cha mẹ, anh chị, họ hàngnội ngoại của nhau Sau một thời gian hai người thấy hợp nhau và hiểu rõ về gia đình, họ hàng thì chuẩn bị làm lễ kết "tồng" Mỗi người chỉ được kết "tồng"tối đa là hai người Buổi lễ kết "tồng" có mặt ông bà, cha mẹ, chú bác, họ hàng tham dự và chứng kiến Họ sửa soạn một bữa cỗ thịnh soạn để những người cómặt cùng ăn Sau buổi lễ kết "tồng" đó, họ coi nhau là ruột thịt; họ hàng, cha mẹ của người này cũng là họ hàng, cha mẹ của người kia Con cái trong gia đình
họ tùy theo tuổi mà gọi nhau theo vai anh em Ngoài ra, mỗi khi gia đình của hai bên có công việc, giỗ tết, cưới hỏi, họ đều qua lại giúp đỡ nhau nhiệt tình.Nghĩa tình của bạn "tồng" này được duy trì đến đời con, cháu, chắt
Câu hỏi: Người Tày tổ chức hội mừng lúa mới vào thời gian nào? Diễn biến của hội ra sao?
Trả lời:
Vào tháng 9, tháng 10, lúa nếp trĩu bông, hạt to, bông lúa cong như hình lưỡi liềm là lúc người Tày làm lễ mừng lúa mới
Họ chuẩn bị mổ lợn làm cỗ và bắt đầu tiến hành việc giã cốm Không phải như cảnh giã gạo quen thuộc ở nông thôn các nơi, giã cốm thực sự là một buổitrình diễn âm nhạc đặc sắc
Một hàng đuống (cối giã) xếp song song chừng vài chiếc Cối đuống phải chọn gỗ tốt khoét ruột, mỗi cái dài chừng 2m Nam nữ mỗi người cầm một cáichày cao từ 1,2m đến 1,4m, đứng thành hai hàng hai bên đuống Hai đầu đuống có hai người cầm hai thanh tre gõ vào hai bên đuống như làm hiệu lệnh và giữ
Trang 36nhịp Được lệnh, từng người giã chày vào cối theo từng giai điệu nhất định Mỗi điệu có tiết tấu riêng, dựa trên những tích truyện khác nhau Người xem cóthể hiểu được câu chuyện bằng cách vừa nghe âm thanh, vừa tưởng tượng ra được những cảnh sống lao động, những sinh hoạt thường ngày, hay nhữngchuyện về tình yêu đôi lứa và được chia thành những tiết mục như sau:
* Queéng loỏng kha tham là tiết mục gõ đuống mở đầu Ba người, lúc thì hai gái một trai, lúc thì hai trai một gái, cầm ba chày gõ xuống mép đuống theonhịp điệu ba, tạo thành bản nhạc dạo đầu Gõ đuống mà như đang dạo một thứ nhạc cụ độc đáo, hấp dẫn của người chơi và người xem
* Queéng loỏng lạc thái là điệu tiếp theo Điệu này, mỗi đuống có tám người tham gia, mỗi bên sườn đuống bốn người cầm chày gõ xuống theo nhịp hai.Khi tiếng chày, tiếng đuống cuộn vào nhau, thì hai người ở đầu (gọi là au mè, tức là mẹ) gõ theo nhịp khác, còn sáu người ở giữa (gọi là au lục, tức con) cứ gõtheo nhịp một ở hai bên sườn đuống Lạc thái có nghĩa là kéo chày
các cảnh sinh hoạt xã hội hoặc tình duyên, được diễn ra như sau:
* Queéng loỏng cắp cáng: Kể về sự tích con cắp cáng, một loài vật đi lẻ đôi, luôn cất tiếng gọi nhau Ngày xưa, có một đôi trai gái yêu nhau không thành
vợ chồng Người con gái phải đi lấy người không hợp duyên, làm ăn sa sút Người con trai lại được gia đình hòa thuận Một năm đói kém, người con gái phảiđến nhà người yêu cũ vay một nửa gánh thóc (tiếng Tày là khon) Khi về đến nhà, chồng bảo đây là một gánh (một háp) chứ đâu phải một khon Họ cãi nhau,
vợ thì khon khon, chồng thì háp háp Họ cãi nhau đến chết, biến thành đôi cắp cáng Con đực kêu háp háp, con cái kêu khon khon, từ núi này vọng sang núi
nọ như nhắc nhở câu chuyện dở dang của cảnh gia đình không được thuận hòa do đôi lứa bị ép duyên
* Queéng loỏng kèm rừa: Kể về chuyện đôi trai gái yêu nhau Một đêm trăng đẹp thả thuyền tâm sự trên dòng sông Thuyền va vào thác đá, họ gặp tai nạn
mà không hay biết Khi trình bày điệu này, hai người trai gái, mỗi người một đầu đuống, cầm chày đưa ngang, đập vào mạn đuống, như tiếng sóng vỗ hòa với
âm thanh khác
* Queéng loỏng tặp tua ma: Tức là đập đầu những con chó hư Đây là một nhịp điệu vui tươi, tinh nghịch, tạo ra những âm thanh dồn dập, khẩn trương
* Queéng loỏng tắm húc: Có nghĩa là dệt cửi Âm thanh gợi ra những động tác khéo léo của những cô gái Tày trên khung cửi, tạo nên những tấm vải,những tấm thổ cẩm mịn màng và rực rỡ sắc màu Nghe điệu này, ta nhớ đến những câu dân ca:
Tấm vải bằng đầu đũa
Cắt áo bố mẹ chồng cũng đủ
Cắt áo cho chú thím cũng được
Gốc tấm vải còn mua được trâu
Ngọn tấm vải còn nuôi được người ở
Trang 37Cách sắp xếp khi gõ đuống theo điệu dệt vải, cũng gợi ý tượng trưng: Tám nghệ nhân biểu diễn trên mặt đuống, hai đàn chày hai bên, tượng trưng cho haicặp khung cửi mắc song song, tám chày theo tay của tám nghệ nhân gõ nhịp hai, gợi ý những sợi vải kéo dài trên bề mặt khung cửi Hai người au mè (mẹ)cầm hai chày vắt ngang gõ theo nhịp ba, như những sợi vải đan ngang, lúc sang bên này, lúc chuyển bên kia.
Cùng với các giai đoạn queéng loỏng, người ở ngoài còn có thể cùng nhau hát giao duyên, hát xòe, làm cho cuộc giã cốm càng thêm tưng bừng rộn rã.Giã cốm không phải chỉ có biểu diễn âm nhạc như trên đây Giã cốm là để đưa cốm làm lễ vật cúng tổ tiên và thần linh Theo tục lệ phải giã chín lần, sảychín lần thì hạt cốm mới đạt tiêu chuẩn Tất nhiên, các việc làm cốm này phải được hoàn thành từ trước Phải có nghi lễ tạ ơn thì hội giã cốm mới được bắtđầu Mâm cúng phải có gói cốm và các món ăn cổ truyền khác như cá nướng, cơm nếp, nước canh vịt, rau dớn, măng rừng và đặc biệt là món cháo cốm Cúng
tổ tiên và thần linh xong, gia chủ mời khách dự tiệc Người ta cho rằng, trong năm, được ăn cháo cốm sẽ no cả năm và năm ấy sẽ được nhiều cơm, nhiều gạo.Trong bữa ăn, tất nhiên có mời rượu, có hát khắp để chúc tụng nhau, sau đó mới đi vào hội giã cốm như đã kể trên Tiếng Tày (ở vùng Yên Thái) gọi hội giã
cốm theo giai điệu như vậy là queéng khâu mâu.
Câu hỏi: Rước Chúa Gái - phong tục hôn lễ dưới thời Hùng Vương được bắt nguồn từ đâu?
Trải qua bao đời nay, hình ảnh đám cưới của Sơn Tinh và công chúa Ngọc Hoa vẫn còn giữ được trong ký ức của nhân dân Qua thế hệ này đến thế hệkhác, dưới hình thức hội làng và cúng tế thần linh, người ta đã truyền tục và phản ánh hình ảnh của ký ức đó Trước khi làm lễ cầu hôn, Sơn Tinh và ThủyTinh phải làm lễ ra mắt, rồi trổ hết tài năng của mình cho Vua Hùng với tư cách là cha của Ngọc Hoa cùng dân làng xem xét Sơn Tinh khi thắng cuộc thìđược đón Ngọc Hoa về làm vợ, Thủy Tinh thua cuộc thì uất hận đến ngàn đời quyết tâm dâng cao nước gây lụt lội, Nhưng có tài rồi vẫn chưa đủ mà Sơn Tinh
và Thuỷ Tinh còn phải có đủ đồ thách cưới như: "Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, 100 tệp bánh chưng, 100 tệp bánh giầy"… Ai đem đến trướcmới được mời vào kết hôn cùng công chúa, khi được chấp nhận rồi đám cưới mới được tổ chức đón dâu và múa hát cùng nhiều trò vui nhộn
Qua lễ hội mùa xuân của một số vùng xung quanh Đền Hùng, chúng ta sẽ có dịp được thấy một số diễn xướng dân gian khá sinh động Đó là lễ hội làng
He với trọng tâm là lễ hội rước Chúa Gái Đó còn là trò diễn bách nghệ khôi hài của dân làng Vi - Trẹo Chuyện xưa kể rằng, hàng năm, vào tháng Chạp, các
cụ già của hai làng Vi - Trẹo tụ họp tại đình Cả để bàn việc tổ chức lễ hội mùa xuân và bàn việc rước Chúa Gái Chúa Gái được chọn lựa kỹ càng trong đámthanh nữ vừa độ tuổi trăng tròn (15 - 16 tuổi) Đó là một cô gái chưa chồng xinh đẹp, thuỳ mị, nết na, nghĩa là nếu theo quan niệm phong kiến phải có đủ cả
Trang 38công, dung, ngôn, hạnh Con nhà phong quang, không có tang chế, bố là người có chức sắc, dẫu không là quan trong làng thì cũng phải là người sang trong
họ Trước ngày rước một tuần dân làng phải đến trang trí nhà Chúa Gái cho thật đẹp đẽ, sang trọng, chăng đèn, kết hoa trong nhà ngoài sân lộng lẫy Mọi sinhhoạt của Chúa Gái được khép kín trong phòng Tất cả các cô gái khác cùng trong độ tuổi phải phục vụ Ngày rước Chúa Gái cũng chính là ngày lễ hội làng He(làng He ngày xưa gồm hai thôn Vi - Trẹo, hai thôn này thuộc hai xã Chu Hoá và Hy Cương và hội làng He chính là hội Đền Hùng ngày nay)
Từ rất xưa trong dân gian đã có câu:
"Sơn Tây vui nhất hội chùa Thầy.
Vui thì vui thật chẳng tày hội He".
Vì vậy, trong ngày hội rước Chúa Gái, dân làng tổ chức nhiều trò vui như: Săn lợn, chạy địch, chạy Tùng dí và diễn trò bách nghệ khôi hài…
Hội làng He được tổ chức gồm hai phần riêng biệt, phần lễ và phần hội Phần lễ được tiến hành trọng thể tại đình làng Đó là sự biểu đạt phần đời thườngcủa con dân trước các thiên thần và các nhân thần đã có công dựng nước và bảo vệ xã tắc Phần hội được tổ chức vui tươi lành mạnh Đó là sự biểu đạt nhucầu thưởng ngoạn của cuộc đời mỗi con người Tất cả các trò vui được diễn trong hội làng He chỉ nhằm mục đích sao cho Chúa Gái vui tươi Vì theo quanniệm của dân làng, nếu Chúa Gái vui cười thật nhiều thì năm ấy cả làng sẽ làm ăn thuận lợi hơn
Theo các cụ già trong làng kể lại thì thực chất cuộc rước Chúa Gái trong hội làng He được mô phỏng theo tích Tản Viên đón vợ Vì sau khi Ngọc Hoa đãkết hôn cùng Sơn Tinh, nàng đã trở về với bố đẻ mà không về ở với chồng, nên Sơn Tinh đã phải đem lễ lại mặt đến đón vợ về Vì thương cha nhớ mẹ nên sắp
ra khỏi cổng làng, công chúa Ngọc Hoa không đi nữa, dân làng phải làm đủ mọi trò vui, trò bách nghệ khôi hài để nàng vui lòng lên kiệu về với chồng bênquê hương Núi Tản - sông Đà (Ba Vì - Hà Tây) Ngày nay, khi tìm hiểu toàn bộ diễn trình của các lễ hội dân gian trong làng xã quanh đất cổ Phong Châu,khảo sát câu chuyện tình sử giữa công chúa Ngọc Hoa và Tản Viên Sơn Thánh, ta sẽ ghi nhận được dung diện phong tục hôn nhân thời cổ đại khi các VuaHùng dựng nước Văn Lang Đó là tục hôn nhân một vợ một chồng và việc kén chọn để "lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống", đó cũng là tục thách cưới,tục cưới xin có tổ chức trò vui và tục đón dâu, lại mặt…
Qua tất cả các phong tục hôn nhân thời ấy đã phản ánh rõ nét đời sống, xã hội thời Hùng Vương là một xã hội phát triển khá cao Chuyện tình công chúaNgọc Hoa đã phản ánh chế độ hôn nhân trong xã hội có gia đình ở giai đoạn phụ quyền, nghĩa là "Thuyền theo lái, gái theo chồng" Sự lựa chọn chàng rể vàtục thách cưới dường như là phong tục được bảo lưu ở rất nhiều địa phương thuộc tỉnh Phú Thọ cho đến ngày nay
Câu hỏi: Nét văn hóa truyền thống của người Nùng được thể hiện qua lệ buộc cót như thế nào?
Trả lời:
Mỗi một vùng, một dân tộc đều có nét văn hoá truyền thống riêng, người Nùng Bắc Cạn sống xen với các dân tộc khác Họ có nét văn hoá riêng rất độcđáo, tạo ra truyền thống tốt đẹp Một trong những truyền thống là lệ buộc cót (tiếng Tày, Nùng gọi là lệ lảm dảo), là một phần nghi thức trong lễ Kỳ Yên củangười Tày, Nùng
Trang 39Trong lễ Kỳ Yên có nghi thức "Pủ lường pủ váng" có nghĩa là (đắp bồ đắp cót) Cót ở đây tượng trưng cho cót gạo nuôi dưỡng người già, cũng là "cót hộmệnh" được con cháu bồi đắp tiếp, cầu cho người già được sống lâu, khoẻ mạnh" thực túc sức cường" ở lệ buộc cót gồm có: Một cái cót hình trụ tròn, rỗngtrên dưới, để ở giữa đựng gạo, một cái cân tiểu ly mang ý nghĩa trường thọ, sống lâu, một ngọn chuối non, một ngọn dâu tằm non tượng trưng cho sự trẻtrung, tươi tắn Một cây đèn, một cây chuối non, một đoạn tre non cả rễ Tất cả đều thể hiện cho số mệnh sống lâu, trường tồn Những ý nghĩa đó đã thể hiệnrất rõ ở lời lẽ của Bụt (Then) Trong lễ buộc cót, khi Bụt khởi lễ đắp cót hộ mệnh thì các con cháu, họ hàng những người trong gia đình sẽ xúc gạo ở cáithúng cạnh đó cho đầy ắp Có một người là nam giới khoẻ mạnh, đạo đức tốt phải lên tầng gác buộc cót Người này sẽ lấy cái cót tượng trưng ở dậu gạo và
xà nhà
sẽ đem cây chuối non và đoạn tre non có cả rễ ra vườn trồng cho cây sinh sôi phát triển Lễ buộc cót đã thể hiện sự kính trọng, lòng yêu thương và sự quantâm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ Đây là hình thức mừng thọ của người dân tộc Nùng "Lễ buộc cót" mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện truyền thốngtốt đẹp của đồng bào dân tộc Nùng
Câu hỏi: Tục gõ sạp đón khách của người Thái được diễn ra như thế nào?
Trả lời:
dân gian độc đáo của đồng bào Thái vùng phía tây tỉnh Yên Bái Gõ sạp tạo bầu không khí sôi động, náo nhiệt khi trong bản, trong nhà tổ chức các cuộc vui
nứa cắt bỏ mấu ở hai đầu, đứng thành hàng sát mép ngoài lan can
Khi khách đã đến sân nhà, người điều khiển trống cái nổi một hồi trống thật dài Sau đó đánh trống dặp để những người cầm ống làm động tác chuẩn bị.Đến khi tiếng trống dặp chuyển thành những tiếng tùng cắc cắc rồi lại đảo lại cắc cắc tùng tùng liên tiếp, biến hóa thì những người cầm ống cũng trỗống xuống sàn nhà, đập hai ống vào nhau, sao cho âm thanh của ống xen kẽ vào âm thanh của trống Tiếng trống, tiếng gõ sạp vừa nhanh vừa liên hoàn tạocho khách đến chơi có một cảm giác rất hưng phấn và hòa đồng trong cuộc vui
Khi khách đã quây quần quanh những mâm cỗ, tiếng gõ sạp sẽ dừng lại, các cô gái tỏa đi các mâm rót rượu mời khách, rồi sau đó họ tập trung ở một gócnhà hát khắp, hát ví đối đáp với khách Khi cuộc rượu tàn và chuyển sang màn múa xòe thì những cô gái lẫn trong vòng xòe cùng với khách Khi khách bắt
Trang 40đầu ra về, các cô gái nhanh chóng cầm những chai rượu và những chiếc chén được chuẩn bị sẵn, tiếp tục đứng ra lan can rót rượu mời khách uống chén rượuchúc mừng và chia tay với khách Du khách khi ra về sẽ cảm thấy mình đã có một cuộc vui thật thú vị trong sự mãn nguyện về tấm lòng nhiệt tình và hiếukhách của người dân nơi đây.
Câu hỏi: Nét đẹp truyền thống trong lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ của người Ra Glai diễn ra như thế nào?
Đền ơn đáp nghĩa cha mẹ, tiếng Ra Glai là "Ea tixâu pilâu dhadha" Bất cứ người Ra Glai nào cũng đều cho rằng công lao của cha mẹ như núi cao, nhưnước mạch nguồn chảy ra và họ tâm niệm sẽ đền đáp xứng đáng ngay từ khi còn ở chung nhà, chung bếp cho đến khi có vợ, có chồng ra ở riêng Nhưng nhưthế chưa đủ, theo tập tục của người Ra Glai, việc đền ơn đáp nghĩa cha mẹ đối với họ phải được nâng lên thành nghi lễ, được họ tộc và buôn làng chứng kiến,thừa nhận, như thế mới được coi là trọn vẹn Theo quan niệm đã có từ lâu đời của người Ra Glai, điều bất hạnh lớn nhất của con người là cha mẹ qua đời màngười con chưa kịp làm lễ Ea tixâu pilâu dhadha Sự ân hận này nhiều khi day dứt người con suốt cả đời Do đó, mỗi người Ra Glai khi trưởng thành, ngoàitrách nhiệm chăm sóc, kính yêu cha mẹ thường ngày, nếu cảm thấy cha mẹ có dấu hiệu già yếu (sức khỏe kém, da mặt có nhiều nếp nhăn, tóc bạc, kém ăn,mất ngủ ) thì phải chuẩn bị lễ vật để tổ chức lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ
Thông thường, lễ vật gồm có thịt lợn, thịt gà, gạo nếp, rượu cần, một ít trầu cau, thuốc lá Nhà nhiều của thì chuẩn bị làm lễ lớn, giết trâu, bò ngườinghèo thì tùy theo khả năng kinh tế của mình mà tổ chức Vật chất không phải là tiêu chuẩn để đánh giá tấm lòng hiếu thảo của con đối với mẹ cha, cái chính
là thái độ, là tấm lòng của người con đối với cha mẹ trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng Sự có mặt của bà con trong buôn làng vừa biểu thị tình cảm quýmến, vừa để chứng kiến việc thực hiện một tập tục xã hội Họ mang đến những lời chúc tụng chân thành của cộng đồng đối với gia đình nói chung và cha mẹcủa gia chủ nói riêng Những gia đình khá giả, hoặc gặp những năm được mùa, thường tổ chức cuộc lễ này rất lớn và vui chơi kéo dài hai ba ngày đêm
Về nghi thức, khi cỗ bàn được bày ở giữa nhà thì mẹ cha - đối tượng chính của buổi lễ - được mời ngồi vào vị trí trung tâm, nơi trên mâm cỗ đặt một đĩathịt và lòng heo đủ món Những người khác gồm bà con, họ hàng, người trong buôn đều tề tựu đông đủ chung quanh Sau khi tiến hành lễ khấn vái các