1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)

61 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

ĐINH THIÊN THUẬT

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI NGUYỄN ĐỨC BINH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Thái Nguyên – năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

ĐINH THIÊN THUẬT

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI NGUYỄN ĐỨC BINH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Duy Hoan

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

dụng linh hoa ̣t, sáng tạo lý thuyết vào thực tiễn sản xuất , trên cơ sở đó nhà trường đã ta ̣o điều kiê ̣n cho sinh viên tham gia thực tâ ̣p ta ̣i các trang tra ̣i chăn nuôi , nhằm tạo cơ hội tiếp xúc , trực tiếp xử lý các vấn đề trên vâ ̣t nu ôi qua đó nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức chuyên môn, trau dồi kinh nghê ̣m sống giúp sinh viên có cơ sở vững chắc phu ̣c vu ̣ quá trình làm viê ̣c sau này

Em đã tổng hợp toàn bô ̣ kiến thức thu được trong sáu tháng thực tâ ̣p đ ể xây dựng bài báo cáo thực tâ ̣p nghề nghiê ̣p này

Để có được kết quả này, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học

Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình anh Nguyễn Đức Binh chủ trang trại chăn nuôi đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở

những người đã hết lòng động viên , giúp đỡ , tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành công viê ̣c ho ̣c tâ ̣p của mình

Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong

thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

ĐINH THIÊN THUẬT

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4

2.1.3 Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập 5

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7

2.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản 10

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 18

2.2.4 Những hiểu biết về một số bê ̣nh thường gă ̣p trên lợn nái sinh sản và lợn con giai đoa ̣n theo me ̣ 21

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 29

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 29

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32

3.3 Nội dung thực hiện 32

Trang 5

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32

3.4.2 Phương pháp thực hiện 32

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 34

4.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại qua 2 năm (2016 – 5/2017) 35

4.3 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn ta ̣i trang tra ̣i 36

4.3.1 Kết quả quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản ta ̣i tra ̣i 36

4.3.2 Kết quả quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn con ta ̣i tra ̣i 38

4.4 Kết quả thực hiện quy trình vê ̣ sinh phòng bệnh cho đàn lợn ta ̣i trang tra ̣i 39

4.4.1 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh 39

4.4.2 Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn nái và lợn con 40

4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lơ ̣n tại trang trại 42

4.5.1 Kết quả công tác chẩn đoán bê ̣nh trên lợn nái và lợn con 42

4.5.2 Kết quả điều tri ̣ bê ̣nh trên lơ ̣n nái và lợn con theo me ̣ 44

Phần 5 KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Tồn tại 47

5.3 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ 11

Bảng 2.2 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện di ̣ch 22

Bảng 4.1 Nội dung các công việc chính trong phục vụ sản xuất 34

Bảng 4.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại qua 2 năm (2016 - 5/2017) 35

Bảng 4.3 Số lượng lợn nái và lợn con t heo me ̣ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 36

Bảng 4.4 Kết quả thực hiê ̣n thao tác đỡ đẻ cho lợn tại trang trại 37

Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con sinh ra đến khi cai sữa 38

Bảng 4.6 Kết quả thực hiện các thao tác xử lý trên đàn lợn con 39

Bảng 4.7 Kết quả tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn tại trang tra ̣i 41

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái sinh sản 42

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con 43

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lơ ̣n nái sinh sản 44

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 45

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, với mục đích hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng

Để đạt hiệu quả kinh tế cao cần đẩy mạnh viê ̣c áp du ̣ng các biện pháp kỹ thuật vào cải thiê ̣n giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Đặc biệt chú trọng đến công tác giống, giống tốt thì vật nuôi tăng trọng nhanh, khả năng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao

Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái đang nuôi ở các trang trại hiện nay là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém , đặc biệt là bệnh như : Viêm tử cung , viêm

chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn,

hiểu về những bệnh thường gă ̣p trên đàn lợn nái sinh sản là rất cần thiết

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên , đươ ̣c sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa

nuôi để thực tâ ̣p và tiến hành thực hiện chuyên đề : “Thực hiện quy trình chăm sóc

nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

Để thu được kết quả tốt trong thời gian thực tập và thực hiện tốt những nội dung

đã đề ra Bản thân em đã đề ra một số mục tiêu để thực hiện như sau:

Trang 9

- Nắm được tình hình chăn nuôi lợn tại tra ̣i chăn nuôi Nguyễn Đức Binh , huyê ̣n Ba Vì, thành phố Hà Nội

- Nắm được qui trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu

Ba Vì, thành phố Hà Nội

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại

pháp phòng trị bệnh

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại chăn nuôi Nguyễn Đức Binh đóng trên địa bàn xã Ba Tra ̣i , huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Xã Ba Trại:

Ba Trại là một trong 7 xã miền núi của huyện Ba Vì Nằm ở dưới chân núi

Ba Vì, có diện tích khoảng 36 km2, Ba Trại xưa thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây

cũ, ngày nay thuộc huyện Ba Vì thành phố Hà Nội

Vị trí địa lý: phía Đông giáp xã Tản Lĩnh, phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh, phía Tây giáp xã Thuần Mỹ, phía Nam giáp núi Ba Vì

Địa hình của xã:

Nhìn chung địa hình của xã phần lớn là đồi gò, độ cao các quả đồi chênh nhau từ 5 đến 20 mét, độ dốc không lớn Diện tích ruộng có 730 mẫu bắc bộ phần lớn là ruộng chằm, diện tích còn lại là đất đồi

Diê ̣n tích đất nông nghiê ̣p lớn, đi ̣a hình không hiểm trở, trực thuô ̣c thành phố Hà Nội là điều kiệ n thuâ ̣n lợi để phát triển ng ành chăn nuôi theo quy mô tập chung để đáp ứng nhu cầu thực phẩm lớn

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Đặc điểm chung của xã Ba Trại bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc , cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa

C

Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1%, vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12 và tháng 1

Trang 11

Điều kiê ̣n khí hâ ̣u không khắc nghiê ̣t , nhìn chung thuận lợi cho phát triển ngành chăn nuôi

2.1.2 Điều kiê ̣n kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Giao thông, thủy lợi

Xã nằm giữa hai con đường Tỉnh lộ, đường 87 Sơn Tây - Đá Chông và đường 88 Sơn Tây - Bất Bạt Đường 87 đi qua xã từ phía Đông - Nam qua các xóm Chằm Mè - Trung Sơn tiếp giáp đường 89 tại Đá Chông Đường 89 chạy song song với sông Đà qua địa phận xã Thuần Mỹ Đường 88 đi qua xã ở phía Bắc và cũng là ranh giới giữa Ba Trại với Cẩm Lĩnh

Vị trí xây dựng của trại chỉ cách trục đường chính khoảng 1 km nên rất thuận tiện cho việc đi lại như: Ra vào vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư thú y cũng như các sản phẩm chăn nuôi

Hê ̣ thống thủy lợi : kênh, mương, đường ống, cống thoát ta ̣i đi ̣a phương được

sản xuất, chăn nuôi

Trang tra ̣i có hệ thống ống thoát nước xây dựng ngầm , có nắp đậy đảm bảo thoát nước nhanh, có ao tập trung nước thải tại để xử lý trước khi xả thải ra ngoài kênh mương, đồng ruộng bên ngoài Đảm bảo vê ̣ sinh môi trường

2.1.2.2 Chính sách ưu tiên

Huyê ̣n Ba Vì có các xã miền núi và là khu vực chăn nuôi tro ̣ng đi ểm của của Hà Nội nên được ưu tiên chú trọng đầu tư phát triển về cơ sở hạ tầng , công tác quản lý, vay vốn để phát triển ngành chăn nuôi hiệu quả

Khu vực có truyền thống chăn nuô i từ nhiều thế hê ̣, hiê ̣n nay tâ ̣p chung nhiều trang tra ̣i chăn nuôi nên các di ̣ch vu ̣ cung cấp vâ ̣t tư , thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y,

tư vấn chăn nuôi phát triển

Trang 12

2.1.3 Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của trại

Là trang trại tư nhân bắt đầu hoa ̣t đô ̣ng vào đầu năm 2016 Với quy mô ban đầu 100 lơ ̣n nái, chuồng trại khép kín chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiện đại Tất cả các trang thiết bị phục vụ trong chăn nuôi đều được nghiên cứu, tính toán để phù hợp với vật nuôi, luôn đáp ứng và tạo điều kiện môi trường nuôi tốt nhất cho sự phát triến của đàn lợn Với nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi , các công việc: Quản lý, kỹ thuật , kế toán đều do chủ trại chủ đô ̣ng đảm nhiê ̣m sắp xếp Sinh viên thực tập đảm nhâ ̣n phần lớn các công việc của trại như bảo vệ , cho lợn ăn, dọn chuồng,

vệ sinh trong ngoài trại…

2.1.3.2 Cơ sở vật chất của trại

Trại xây dựng trên mô ̣t diê ̣n tích đất khoảng 1,2 ha bao gồm chuồng nuôi , phòng tinh, kho thuốc, kho cám, phòng ở, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho cho công nhân, sinh viên thực tập và các hoạt động khác của trại

Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ , gần cổng vào và trước khu vực chuồng nuôi có bố trí hố sát trùng Đường đi trong trại đượ c láng bê tông Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông, mái chuồng kiểu xuôi 2 bên tránh đươ ̣c hiện tượng ứ đọng nước

Khu vực chăn nuôi gồm 3 chuồng Mỗi chuồng thiết kế thành 2 dãy với lối đi

ở giữa 2 bên lắp cửa sổ bằng kính , diện tích 1,2 m², cách nền 1,2 m mỗi cửa sổ

chiếu sáng Có hệ thống làm mát gồm 6 quạt điện ở cuối chuồng và dàn mát ở đầu chuồng, trần được thiết kế bằng vâ ̣t liê ̣u cách nhiệt Mùa đông có hệ thống bóng hồng ngoa ̣i để sưởi ấm Có hệ thống máng ăn và nước uống tự động

Chuồng đẻ tiếp giáp với chuồng bầu có tường bê tông ngăn cách Chiều dài chuồng 36 m, chiều rộng 16 m, có 26 ô, kích thước 2,2m × 1,6m x 1,2m/ô, cuối chuồng có thêm 2 ô để tách cai sữa lợn con

giống kích thước 5m × 6m x 1,4m

Trang 13

Chuồng nuôi gia công lợn thương phẩm xây tách riêng, trung bình nuôi 450 lợn thịt chia làm 6 ô lớn và 2 ô nhỏ ở phía cuối chuồng để phu ̣c vu ̣ cách ly chăm sóc

lơ ̣n mắc bê ̣nh

cách nền đáy khoảng 30 cm bên trên lắp cũi sắt , chỗ của lợn con lắp sàn nhựa , có lồng úm, máng tập ăn

Có cầu cân và hành lang đường dẫn đến cửa cuối từng chuồng nuôi thuận lợi cho công tác xuất nhâ ̣p lợn

Có một máy phát điện công suất lớn đủ cấp điện cho toàn bộ hoạt động của trại khi cần thiết

Hệ thống cấp nước : Nước được bơm về từ 2 giếng đào vào 1 bể áp lực lớn rồi từ đó dẫn đến các khu vực phu ̣c vu ̣ chăn nuôi và sinh hoa ̣t của trại

cám xây ở gần cổng vào trại

2.1.3.3 Thuận lợi và khó khăn của trại

- Thuận lợi:

+ Trại xây dựng cách xa khu dân cư, nên hạn chế được dịch bệnh và không làm ảnh hưởng đến các hộ dân xung quanh

+ Vị trí của trại gần với trục đường giao thông chính

+ Chủ trại đã được đào tạo về chuyên nghành chăn nuôi thú y và có kinh nghiê ̣m chăn nuôi nhiều năm

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị còn mới, hiện đại thuâ ̣n lợi cho công tác chăn nuôi

- Khó khăn:

trang thiết bị

chữa bệnh gă ̣p khó khăn, chi phí tốn kém

+ Giá thức ăn chăn nuôi cao , giá lợn trên thị trường gần đây liên tục giảm mạnh gây ảnh hưởng khá lớn tới hoạt động chăn nuôi của trang trại

Trang 14

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

- Sự thành thục về tính:

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: Giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại

Những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ hơn thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh (2003) [7], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 – 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 – 55 kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai , tức là động dục vào lúc 6 - 7 tháng tuổi khi lợn có khối lượng 60 – 80 kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 -

5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

+ Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [17] chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt

sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (khoảng 6 tháng tuổi) với khối lượng

cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc

Trang 15

234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là

do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng oestrogen và progesterone trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

+ Tuổi thành thục về tính của gia súc:

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh (2003) [7], không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

- Sự thành thục về thể vóc:

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [9], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi

có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể

mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời

cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 – 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 – 110 kg mới nên cho phối

Trang 16

2.2.1.2 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ

cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tuấn Anh (1993) [29], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

- Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 – 40 giờ, với lợn nội là 25 – 30 giờ

- Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 – 30 giờ

- Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

Thời điểm phối giống thích hợp:

Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tuấn Anh (1993) [29], trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 – 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 – 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai

Trang 17

con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

- Quy trình nuôi dưỡng:

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [19], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn

có hệ số choán cao gây chèn ép thai gây ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để

có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức

ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn

ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc

ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

Trang 18

phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không

bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú ,thân nhiệt lợn

mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

Bảng 2.1 Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ

quẩy đuôi rặn đẻ

Trang 19

2.2.2.2 Quy trình nuôi dưỡng va ̀ chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng:

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có tác đô ̣ng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động: đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy

ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 -

2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + ( số con x 0,35 kg/con )

+ Số bữa ăn trên ngày : 2 ( sáng và chiều )

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn bổ sung từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%

Trang 20

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Đối với lợn nái nội:

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc:

Vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 -7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng

ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập

2.2.2.3 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

- Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [19] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc

Trang 21

30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể

Hơn nữa, để tăng 1 kg khối lượng cơ thể ở lợn con tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ

- Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời

kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp

60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất

Trang 22

Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa

Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu

Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích

tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch

vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)

Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006 [26] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước

20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức

ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Trang 23

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra

hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh

- Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản

ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [11] ở lợn con , khả năng sinh trưởng và

lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn sẽ thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định , nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa đa ̣t cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh, còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu

Trang 24

mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

- Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất,

bệnh (Salmonella spp, E coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá

và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [19] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 -

dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn

Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi

đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ

mg/100 ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng

chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng

Trang 25

65 mg/100 ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1 Phòng bệnh

Với phương trâm„„Phòng bệnh hơn chữa bệnh‟‟‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu , nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu , xoay quanh các yếu tố môi trường , mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng và trị bệnh phải được thực hiện cùng nhau để hạn chế tối đa dịch bệnh

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [20] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức

đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [21], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi

khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém , nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn , điều kiện

ngoại cảnh thay đổi , lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E coli, bệnh sẽ nổ ra

vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh , có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và

C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo , không thấm ướt Việc giữ gìn ch uồng trại sạch

sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn

Trang 26

hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [19] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5%

hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi: Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, xả vôi để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 7 ngày với vật nuôi thương phẩm, 10 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải

vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra ngoài môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 10 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

hiệu quả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10] vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó ( mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới, vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng

Trang 27

khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi , chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.3.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs 2012 [10]

- Nguyên tắc để điều trị bệnh là:

+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc

chế lây lan

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh nguy hiểm cho người không có thuốc chữa thì không nên chữa

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường dùng để can thiê ̣p trong ổ dịch , chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng

Trang 28

hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh

có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố , làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc , làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần lưu ý những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm các vitamin, tiêm nước sinh lý

con giai đoạn theo me ̣

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [25], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp

Trang 29

niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2  và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh

- Nguyên nhân

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào khoảng thời gian sau khi đẻ 1 –

10 ngày

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [25], có nhiều nguyên nhân gây viêm

tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn có trong các trường hợp vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thi ̣ Tài, (2002) [6], nguyên nhân gây ra bệnh

viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E coli, còn có thể do trùng roi (Trecbomonas fortus) và do nấm Candda albicans

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc

tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm Các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo

Bảng 2.2 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện di ̣ch

- Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [22], khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ

Trang 30

Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn

Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mạch tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [23], tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

- Hậu quả

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8]; Trần Thị Dân (2004) [5], khi lợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết

cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá

huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm

làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc chửa dễ bị sảy thai

+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

+ Theo Trần Thị Dân (2004) [5] lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không

có khả năng động dục trở lại

+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ đó làm cho

tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

Ngày đăng: 11/09/2018, 14:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w