1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh lớp 5 (2018)

84 424 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi học những kiến thức này các em sẽ cảm nhận được cái hay cái đẹp chứa đựng trong từng cách nhân hóa,so sánh các sự vật hiện tượng, đồng thời các em cũng sẽ biết cách sử dụng biện pháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGUYỄN THỊ HUẾ

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP

TU TỪ SO SÁNH VÀ NHÂN HÓA CHO

HỌC SINH LỚP 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ts Hoàng Thị Thanh Huyền đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban lãnh đạo, các thầy giáo,

cô giáo trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian 4 năm học tại trường

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo và các

em học sinh khối 5 trường Tiểu học Hùng Vương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận này

Khóa luận này là bước đầu tập dượt nghiên cứu khoa học mặc dù đã cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Người viết

Nguyễn Thị Huế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh lớp 5” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Ts Hoàng Thị Thanh Huyền Toàn bộ nội dung và kết quả nghiên cứu đều là trung thực và chưa được công bố dưới bất

cứ hình thức nào trước đây

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Người viết

Nguyễn Thị Huế

Trang 4

Các từ viết tắt trong khóa luận Nxb: Nhà xuất bản

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích 4

4.Nhiệm vụ 5

5.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

6.Phương pháp nghiên cứu 6

7 Kết cấu khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1.Cơ sở lí luận 7

1.1.1.Khái quát về các biện pháp tu từ Tiếng Việt 7

1.1.2.Phân biệt phương tiện và biện pháp tu từ 8

1.1.3 Những vấn đề lý thuyết về biện pháp tu từ nhân hóa và biện pháp tu từ so sánh 11

1.1.3.1.Khái quát về biện pháp tu từ so sánh 11

1.1.3.2.Khái quát về biện pháp tu từ nhân hóa 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Chương trình SGK Tiếng Việt lớp 5 18

1.2.2.Thực tiễn về việc dạy học biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh cho học sinh lớp 5 19

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA, SO SÁNH 24

2.1 Cơ sở xây dựng biện pháp 24

2.1.1 Nguyên tắc giao tiếp 24

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình 25

Trang 6

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của HS 25 2.2 Dạy HS thực hành phân tích hiệu quả sử dụng của biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh trong phân môn tập đọc 26 2.2.1 Hệ thống hình ảnh so sánh và nhân hóa được sử dụng trong phân môn tập đọc 26 2.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị của các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài 30 2.2.2.1:Đặt các câu hỏi gợi ý để HS tìm các chi tiết, hình ảnh, từ ngữ miêu tả

có trong bài Tập đọc 30 2.2.2.2 Gợi ý để học sinh tìm các hình ảnh so sánh hay 31 2.3 Rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh trong phân môn tập làm văn miêu tả 31 2.3.1 Hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng quan sát, trí liên tưởng, tưởng tượng 31 2.3.2 Hướng dẫn học sinh lựa chọn, sử dụng từ ngữ trong bài văn 35 2.3.3 Hướng dẫn học sinh huy động các kiến thức về biện pháp tu từ so sánh

và nhân hóa Error! Bookmark not defined

2.4 Các dạng bài tập bổ trợ giúp học sinh lớp 5 sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa 40 2.4.1 Bài tập nhận diện, phân tích giá trị của các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa được sử dụng trong đoạn văn, đoạn thơ 41 2.4.2 Bài tập lựa chọn từ ngữ tả đối tượng được so sánh và nhân hóa trong đoạn văn 47 2.4.3 Bài tập phát hiện, chữa lỗi dùng hình ảnh so sánh và nhân hóa trong câu văn đoạn văn 49 2.4.4 Bài tập rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh trong viết đoạn văn, bài văn 58

Trang 7

Chương 3: THỰC NGHIỆM 60

3.1 Khái quát về thực nghiệm 61

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 61

3.1.2 Nguyên tắc thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.3 Nội dung thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.4 Phương pháp thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.5 Tổ chức thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2 Kết quả thực nghiệm 73

3.2.1 Kết quả viết văn tả người của học sinh 73

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước vào thế kỉ XXI, thế kỉ của sự bùng nổ công nghệ thông tin và khoa học, sự phát triển của nền kinh tế tri thức ngày càng trở nên mạnh mẽ Xu thế toàn cầu hóa giữa các quốc gia trong đó có Việt Nam về cả kinh tế, chính trị

và văn hóa, giáo dục Trước sự thay đổi ấy, nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn về cả vật chất và tinh thần, mà tinh thần lại chính là động lực để con người tạo ra của cải Một trong những món ăn tinh thần không thể thiếu

đó chính là văn học Văn học giúp con người ta cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống một cách tinh tế và nhiều màu sắc hơn Nó như lăng kính phản ảnh mọi góc nhìn của cuộc sống bằng chính những hình tượng trong văn học và chất liệu để xây dựng nên những hình tượng ấy là ngôn ngữ Ngôn ngữ giữ một vị trí then chốt đặc biệt quan trọng trong thơ văn Nó không chỉ được dùng để đảm bảo tính thông báo của thông tin mà còn mang tính nghệ thuật, thẩm mĩ và biểu đạt tình cảm Nhờ những ngôn từ hết sức đẹp ấy mà tiếng thơ trở nên chân thực, gần gũi với cuộc sống, thể hiện càng rõ nét những cung bậc cảm xúc của con người Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị là một tác phẩm

mà ngôn ngữ được sử dụng trong đó đạt đến mức chuẩn xác và tinh tế Để tạo nên được sự thành công của nghệ thuật ngôn từ thì không thể thiếu được một phương diện đặc biệt quan trọng đó là các biện pháp tu từ

Chính bởi sự quan trọng của các biện pháp tu từ trong việc thể hiện ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn bản nên việc đưa các biện pháp tu từ vào dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông là việc hết sức cần thiết Mà bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân đó chính là bậc học Tiểu học,

nó là nền móng để các em có thể học tốt hơn ở các bậc học sau Thông qua việc học các biện pháp tu từ không chỉ giúp học sinh cảm nhận thấy cái hay

Trang 9

cái đẹp của văn bản nghệ thuật mà còn ham muốn tạo ra cái hay cái đẹp bằng ngôn ngữ

Hiện nay, chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học đã được tiến hành cải cách

và đổi mới về nội dung nhằm phù hợp với sự phát triển về tâm lí, lứa tuổi và khả năng nhận thức của học sinh So với chương trình cũ, chương trình mới sau năm 2000 đã chú ý hơn đến việc đưa vào giảng dạy các biện pháp tu từ trong đó có biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh theo cả hai hướng lí thuyết và luyện tập kĩ năng phân tích cảm thụ Khi học những kiến thức này các em sẽ cảm nhận được cái hay cái đẹp chứa đựng trong từng cách nhân hóa,so sánh các sự vật hiện tượng, đồng thời các em cũng sẽ biết cách sử dụng biện pháp

tu từ này trong lối hành văn của mình làm cho bài văn của mình trở nên sinh động hấp dẫn hơn

Cảm nhận được cái hay cái đẹp trong văn chương luôn là mục tiêu quan trọng của việc học văn trong nhà trường Thực tế cho thấy kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa,so sánh để viết bài văn miêu tả của học sinh lớp 4,5 còn nhiều hạn chế Các bài văn viết của học sinh thường ít sử dụng các biện pháp tu từ hoặc có thì lời văn còn chưa hay, chưa hợp lý hoặc hiệu quả chưa cao Vì vậy các bài văn của các em còn khô khan, câu văn lủng củng, thiếu hình ảnh, đơn điệu, chủ yếu chỉ mang tính liệt kê, mô tả Bên cạnh đó, nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp này trong văn miêu tả cũng như trong các vă bản khác

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Rèn luyện kĩ

năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh lớp 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhân hóa và so sánh là một biện pháp tu từ khá phổ biến, được dùng nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong các tác phẩm văn

Trang 10

chương nghệ thuật Đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu, các luận văn đi

nghiên cứu về vấn đề này như:

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, so sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác về đối tượng [1-154]

Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:

Yếu tố 1: yếu tố được hoặc bị so sánh

Yếu tố 2: yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động Yếu tố 3: yếu tố thể hiện quan hệ so sánh

Yếu tố 4: yếu tố được đưa làm chuẩn để so sánh

Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa [11] so sánh là hình thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng có một tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể , những xúc cảm thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe So sánh gồm bốn yếu tố: cái so sánh, cơ sở so sánh, từ so sánh và cái được so sánh

Còn về biện pháp tu từ nhân hóa, theo tác giả Đinh Trọng Lạc nhân hóa (còn gọi là nhân cách hóa) là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thi thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu diệu của đối tượng không phải là con người, nhằm làm cho đối

tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời giúp người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình [1-64]

Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách:

Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thi tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là con người

Coi đối tượng như con người và tâm tình, trò chuyện với nhau

Trang 11

Nhà văn Tô Hoài trong cuốn “Một số kinh nghiệm về viết văn miêu tả”

đã chia sẻ kinh nghiệm viết văn quý báu, bài học về quan sát và bài học về diễn đạt, sáng tạo trong miêu tả khi nói về độ chân thực và gợi cảm của hình tượng, song chưa đưa ra quan niệm dùng so sánh và nhân hóa trong viết văn

để tạo độ sống động khi viết văn

Cuốn “Văn miêu tả và kể chuyện” của tác giả Vũ Tú Nam, Phạm Hổ,

Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng cũng đã giới thiệu về bài viết của mình về suy nghĩ, kinh nghiệm của bản thân khi viết văn miêu tả và văn kể chuyện Tác giả Phạm Hổ gián tiếp nói lên vai trò, vị trí của so sánh và nhân hóa trong văn miêu tả Nhưng đó cũng chỉ là nói một cách khái quát, sơ lược, chứ chưa gợi

ý, hướng dẫn cách sử dụng các biện pháp này ra sao

Ngoài ra các tác giả Lê Phương Nga và Lê Hữu Thỉnh trong sách Tiếng Việt nâng cao các lớp 3,4,5 đã đưa ra một số các bài tập thực hành để rèn cho

HS kĩ năng so sánh cũng như bài tập ứng dụng vào viết đoạn văn, bài văn Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy vấn đề này đã được rất nhiều các tác giả và nhà nghiên cứu văn học đề cập đến Có công trình đã nói

về văn miêu tả, có công trình xuyên suốt về quy trình dạy tập làm văn, có những bài viết chia sẻ kinh nghiệm về biện pháp cũng như xây dựng hệ thống bài tập nhằm rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh khi viết văn Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở mức khái quát hoặc ở phạm vi rộng chứ chưa đi vào nghiên cứu cụ thể ở một khối lớp Với đề tài này,chúng tôi mong muốn có thể khai thác triệt để hiệu quả của biện pháp tu từ này trong dạy học Tiếng việt lớp 5 đồng thời giúp học sinh có thêm kĩ năng sử dụng nó vào trong lối hành văn của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu gồm 3 mục đích chính:

Trang 12

- Giúp HS nhận biết một cách rõ ràng và chính xác các biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh trong các bài tập đọc, các bài tập làm văn và một số văn bản khác

-Rèn luyện cho HS các kĩ năng sử dụng và cảm thụ các biện pháp trong khi viết văn, từ đó cung cấp cho GV các phương pháp và cơ sở để giảng dạy các dạng bài tập này

-Nâng cao hiệu quả của việc học biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh cho

HS lớp 5

4.Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích trên, đề tài phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:

-Tìm hiểu về lí luận của đề tài

-Thống kê, phân loại các bài tập yêu cầu tìm hiểu hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh trong văn bản tập đọc-sgk Tiếng Việt lớp 5

-Điều tra thực trạng năng lực cảm thụ và kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh

-Tìm ra các giải pháp giúp học sinh lĩnh hội và sử dụng biện pháp tư từ nhân hóa, so sánh trong Tập đọc và tạo lập văn bản miêu tả

-Thực nghiệm khoa học

5.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1: Đối tượng nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động dạy học biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh cho học sinh lớp 5

5.2: Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

-Chương trình môn Tiếng Việt lớp 5

Trang 13

-Khảo sát thông qua hoạt động dạy học môn Tiếng việt lớp 5 tại trường tiểu học Hùng Vương (Tx Phúc Yên-Vĩnh Phúc)

6.Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt mục đích cũng như những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1.Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu những vấn đề lí thuyết của

đề tài, làm rõ các quan điểm, luận điểm trong các tài liệu khoa học liên quan

để xác lập cơ sở lí luận của đề tài

6.2.Phương pháp phân tích

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu những quan điểm, luận điểm trong các tài liệu khoa học liên quan để xác lập cơ sở lí luận của đề tài

để từ đó đi đến phân tích và rút ra những kết luận cho đề tài

6.3.Phương pháp khảo sát thực tế và thống kê số liệu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát bài làm của học sinh Trên cơ sở đó giúp thu thập các số liệu và thông tin chính xác, nhất quán để từ

đó có được các số liệu cụ thể làm cơ sở cho đề tài

6.4 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là phương pháp rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, là một trong những nội dung quan trọng của đề tài Qua phương pháp thực nghiệm, những kết quả cụ thể được định lượng rõ ràng mới có thể có được những kết luận vè giá trị thực tiễn và tính khả thi của những vấn đề được đặt

ra trong khóa luận Phương pháp này được tiến hành sau khi đã đưa ra lý thuyến và hệ thống các biện pháp, các bài tập Đây là bước hiện thực hóa nội dung Đồng thời, đây cũng là bước kiểm tra, đánh giá kết quả, để từ đó có thể rút ra những nhận xét, kết luận về quá trình nghiên cứu của mình

7 Kết cấu khóa luận

Trang 14

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh

Chương 3: Thực nghiệm khoa học

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Cơ sở lí luận

1.1.1.Khái quát về các biện pháp tu từ tiếng việt

Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, việc sử dụng từ ngữ một cách chính xác, minh bạch sẽ đảm bảo cho câu văn của chúng ta trong sáng, dễ hiểu và thực hiện tốt chức năng truyền đạt thông tin của chúng Tuy nhiên

ở một cấp độ cao hơn, để tạo cảm xúc và nâng cao khả năng ngôn ngữ lên tầm nghệ thuật, chúng ta còn vận dụng một kĩ năng khác là “sử dụng các

Trang 15

biện pháp tu từ” Việc sử dụng các biện pháp tu từ thể hiện khả năng ứng biến linh hoạt trong tư duy và ngôn ngữ của người viết, cũng là biểu hiện của việc nắm vững ngôn ngữ, vận dụng tốt công cụ ngôn ngữ vào biểu đạt các hiện tượng xã hội khác nhau Tu từ cũng chính là một biểu hiện của vẻ đẹp ngôn ngữ mà chúng ta tạo ra trong quá trình viết lách

Phải nói rằng, không chỉ có tu từ (hay không vận dụng thành thạo tu

từ thì không thể tạo ra được những cảm xúc mạnh, những hiệu ứng độc đáo và không thể có những bài thơ, bài văn giàu tính nghệ thuật Tu từ chính là một trong những nghệ thuật quan trọng nhất của lĩnh vực chữ nghĩa và là linh hồn của “kĩ thuật chữ nghĩa”

Trước khi đi tìm hiểu hai biện pháp tu từ được đề cập ở đề tài, chúng tôi xin cắt nghĩa qua về khái niệm “tu từ” Có hẳn bộ môn gọi là “tu từ học” theo Từ điển bách khoa Việt Nam [16, tr 670] định nghĩa là “ bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu các cách thức diễn đạt có hiệu quả nhất”, ra đời

từ thời cổ Hi Lạp do các nhà triết học như Platon, Democrite, Aristote khởi xướng và về sau được Cicero, Virgile tiếp tục phát triển bàn về các lời hoa

mĩ và cách thuật hùng biện…

Còn về “tu từ” thì sao? Chắc chắn ý nghĩa của nó cũng không khác nhiều lắm so với môn khoa học đã nói Theo Hoàng Long-Quang Hùng [15- tr867] tu từ là “trau dồi, uốn nắn lời văn cho gọn gẫy, sáng sủa” Chữ

“tu” có nghĩa là sửa chữa, trau dồi, rèn, chấn chỉnh…(trùng tu, tu bổ, tu dưỡng, tu chí, tu chính, tu hành, tu học, tu nghiệp, tu thân…) còn chữ “từ” (theo Thiền Chửu) là “nói ra thành văn”, “lời cung”, “lời dân trình bày” Như vậy rất rõ ràng, “tu từ” chính là sửa chữa, uốn nắn và tu bổ câu

1.1.2.Phân biệt phương tiện và biện pháp tu từ

Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ là hai khái niệm có khá nhiều điểm giống nhau dẫn đến sự trùng lặp Việc phân danh giới không rõ ràng

Trang 16

giữa các phương tiện và biện pháp tu từ, sự thiếu sót trong tính hệ thống, tính nhất quán của việc xác định từng khái niệm đã làm cho HS khó nắm bắt và không biết cách sử dụng chúng Chính vì vậy chúng tôi nêu ra một

số quan điểm để phân biệt một cách rõ ràng hơn hai khái niệm này dựa trên nghiên cứu của tác giả Đinh Trọng Lạc [1-tr6-tr9]

Có thể nói một cách khái quát nhất đó là phương tiện tu từ là phương

tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật-logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ; còn biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là trung hòa hay tu từ(còn được gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ

Có thể phân loại phương tiện và biện pháp tu từ theo các cấp độ:

Trên cấp độ từ vựng, các phương tiện tu từ từ vựng được xác ddinbj

là những đơn vị từ vựng đồng nghĩa mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật, lo-gic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung,có màu sắc tu từ

Các biện pháp tu từ từ vựng là những cách phối hợp sử dụng các đơn

vị từ vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn (trong câu, trong chỉnh thể trên câu) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ giữa các đơn vị trong ngữ cảnh

Trên cấp độ ngữ nghĩa, các phương tiện tu từ ngữ nghĩa là những

định danh thứ hai mang màu sắc của tu từ, của sự vật, hiện tượng Còn các biện pháp biện pháp tu từ ngữ nghĩa là toàn bộ các cách hợp có hiệu quả tu

từ, theo trình tự tiếp nối của các đơn vị từ vựng trong phạm vi của một đơn

vị khác thuộc bậc cao hơn

Trên cấp độ cú pháp, các biện pháp tu từ cú pháp là những kiểu câu

mang màu sắc tu từ do được cải biến từ kiểu câu cơ bản (C-V), như các kiểu câu rút gọn, mở rộng thành phần hay đảo trật tự từ

Trang 17

Còn các biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu để đạt được hiệu quả tu từ trong phạm vi của một đơn vị thuộc bậc cao hơn (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn, trong cả văn bản) như : sóng đôi, đảo đổi, lặp đầu, lặp cuối, câu hỏi tu từ, tách biệt, liên kết

tu từ học…

Và cuối cùng là trên cấp độ văn bản, các phương tiện tu từ văn bản là

những mô hình văn bản đem lại hiệu quả tu từ do được cải biến từ mô hình văn bản trung hòa

Các biện pháp tu từ văn bản là những cách phối hợp sử dụng các mảnh đoạn của văn bản có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do sự tác động qua lại của các mảnh đoạn này với nhau trên cơ sở các kiểu quan hệ

Như vậy, ở cấp độ nào của ngôn ngữ, các biện pháp tu từ cũng cần được phân biệt với các phương tiện ở các đặc trưng sau đây:

- Thứ nhất, biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng các đơn

vị lời nói trong giới hạn của một đơn vị thuộc bậc cao hơn Còn phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau, được đánh dấu về Tu từ học trong giới hạn của một cấp độ nào đó của ngôn ngữ

- Thứ hai, ý nghĩa Tu từ học của biện pháp tu từ nảy sinh ra trong ngữ cảnh của một đơn vị lời nói nào đó Còn ý nghĩa Tu từ học của phương tiện tu từ được củng cố ngay ở phương tiện đó

Thứ ba; ý nghĩa Tu từ học của biện pháp tu từ bị quy định bởi những quan hệ cú đoạn giữa các đơn vị một bậc hay của các bậc khác nhau Còn

ý nghĩa Tu từ học của phương tiện tu từ bị quy định bởi những quan hệ hệ hình của các yếu tố cùng bậc

Tuy rằng giữa các biện pháp tu từ và các phương tiện tu từ có những

sự khác biệt rõ rệt như vậy, nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp

Trang 18

tu từ, mặt khác việc sử dụng một biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng

có thể chuyển hóa nó thành một phương tiện tu từ Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể cùng để xây dựng nên những biện pháp tu từ khác nhau có thể cùng tham gia vào việc xây dưng một biện pháp tu từ duy nhất

1.1.3 Khái quát về biện pháp tu từ nhân hóa và biện pháp tu từ so sánh

1.1.3.1 Biện pháp tu từ so sánh

Khái niệm:

So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn So sánh gồm 2 hình thức cơ bản đó là so sánh logic và so sánh tu từ

Phân loại

So sánh logic là một biện pháp nhận thức trong tư duy của con người, là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng

So sánh tu từ (còn gọi là so sánh hình ảnh) là một biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu các sự vật với nhau miễn là giữa các sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm

mỹ trong nhận thức người đọc, người nghe

Ví dụ:

Còn núi non Cao Bằng

Trang 19

Đo làm sao cho hết

Như lòng yêu đất nước

Sâu sắc người Cao Bằng

(TV 5, tập 2, tr 41)

Ở ví dụ trên, lòng yêu nước của người dân Cao Bằng được ví cao hơn ngọn núi Bằng hình ảnh so sánh càng làm nổi bật hơn tinh thần yêu nước của người dân nơi đây

Như vậy, so sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại của sự vật Nếu như giá trị của so sánh logic là xác lập được sự tương đương giữa hai đối tượng thì giá trị của so sánh từ là sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mỹ ở người đọc, người nghe Khi xem xét phép so sánh ta có thể căn cứ vào mặt cấu trúc hoặc mặt ngữ nghĩa của nó

Xét về mặt cấu trúc

Hình thức đầy đủ nhất của so sánh gồm 4 yếu tố:

- Yếu tố 1: là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo việc so sánh là tích cực hay tiêu cực

- Yếu tố 2: là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động, có vai trò nêu rõ phương diện so sánh

- Yếu tố 3: là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng như nhau

-Yếu tố 4: yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh

Tùy từng trường hợp mà trật tự các yếu tố có thể thay đổi hoặc bớt đi trên mô hình Sự vắng mặt của một trong các yếu tố tạo nên các kiểu so sánh:

Kiểu 1: Có đầy đủ 4 yếu tố và được sắp xếp theo trật tự: cái được so

sánh- phương diện so sánh- mức độ so sánh- cái so sánh

Trang 20

Ở đây đức tính của “ông” và “bà” lần lượt được so sánh với “hạt gạo” và

“suối trong”, một sự so sánh rất đơn giản nhưng lại làm bật lên được đức tính

hiền lành, sự đôn hậu của con người Cao Bằng

Kiểu 2: Đảo trật tự so sánh

Các yếu tố của mô hình so sánh chuẩn đảo trật tự cho nhau tạo nên kiểu

so sánh mới nhưng không làm thay đổi sắc thái ý nghĩa mà tác giả muốn biểu đạt

nghe, người đọc Dạng so sánh này có rất nhiều trong thành ngữ như: Đẹp

như tiên, xấu như ma, đông như hội, nhanh như sóc, chậm như rùa…

Kiểu 4: So sánh vắng yếu tố (2)

Khi vắng yếu tố (2) người ta gọi đó là so sánh chìm Loại so sánh này kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để có thể xác

Trang 21

định đƣợc nét giống nhau giữa hai đối tƣợng ở hai vế và từ đó nhận ra đƣợc đặc điểm của đối tƣợng đƣợc tả

Ví dụ:

Bà như quả ngọt chín rồi

1 3 4

Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng

( Qủa ngọt cuối mùa – Võ Thành An)

Thân dừa bạc phếch tháng năm

Quả dừa-đàn lợn con nằm trên cao

Đêm hè hoa nở cùng sao

Tàu dừa-chiếc lược chải vào mây xanh

(Cây dừa – Trần Đăng Khoa)

Ngoài 5 dạng trên, còn có dạng mà yếu tố (1) và (4) đổi chỗ cho nhau hay còn gọi là so sánh đổi chỗ

Trang 22

(Ca dao)

Xét về mặt ngữ nghĩa:

Có thể phân loại phép so sánh thành các kiểu cơ bản nhƣ sau:

-Phân loại theo mức độ:

+So sánh ngang bằng:

Đây là dạng so sánh dùng từ “là”, “như”, “tựa”…để làm điểm so

sánh

Ví dụ: Người là cha, là bác, là anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ

(Sang tháng Năm- Tố Hữu)

+So sánh không ngang bằng:

So sánh không ngang bằng bao gồm so sánh hơn-kém và so sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối)

So sánh hơn kém là dạng so sánh mà cơ sở của nó luôn gắn với từ “bao

nhiêu” “bấy nhiêu”, “chẳng bằng”

Ví dụ:

“ Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”

Trang 23

“ Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Cũng như cùng nói về rừng cây tràm nhưng với cách nói bình thường là

“Những thân cây rất to, thẳng tắp, tán lá rộng” thì sẽ không gợi được sự chú

ý của người nghe như cách ví von của Đoàn Giỏi“ Những thân cây tràm vỏ

trắng vươn lên trời, chẳng khác nào những cây nến khổng lồ, đầu lá rủ phất phơ” (Tv5, tập 1, tr21) Ta có thể dễ dàng nhận thấy ở cách miêu tả thân cây

tràm của Đoàn Giỏi những cây tràm trở nên đẹp hơn bao giờ hết nhờ phép so sánh mà tác giả đã khéo léo sử dụng trong đoạn văn Nó không chỉ là miêu tả bình thường mà còn là những cảm xúc của tác giả, thể hiện sự yêu thiên nhiên yêu nhiên, yêu và trân trọng những điều giản dị của cuộc sống

Với chức năng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người nhất, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc So sánh tu từ chính là một trong những phương thức tạo hình , là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của trí tượng tượng vô cùng đa dạng và phong phú Từ đó, ta nhận thấy rằng so sánh tu từ có ý nghĩa rất quan trọng nó là một trong những phương thức làm tăng hiệu quả trong việc sử dụng ngôn ngữ Tuy nhiên, mức

độ hiệu quả của nó còn tùy thuộc vào khả năng, vào vốn ngôn ngữ và sự rèn luyện thường xuyên của mỗi người

1.1.3.2 Biện pháp tu từ nhân hóa

Khái niệm

Trang 24

Nhân hóa là biến sự vật, hiện tượng thành con người bằng cách gán cho

nó những hoạt động, tính cách, suy nghĩ… giống như con người, làm cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn, gần gũi, sống động và có hồn hơn

Ví dụ:

“ Lời của con hay tiếng sóng thầm thì

Hay tiếng của lòng cha từ một trời xa thẳm?

Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận

Cha gặp mình trong những ước mơ con.”

( Tv5, tập 2, tr141)

Thông thường, nhân hóa có 3 kiểu chính:

- Sử dụng các từ ngữ thường gọi con người để gọi con vật

Ví dụ: “ Bác xe biết ngửi thấy mùi đất mới ”

- Sử dụng các từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người để chỉ hoạt động, tính chất của vật

Ví dụ:

“ Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm ”

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

- Dùng các từ ngữ xưng hô với vật như với con người

Ví dụ:

“Trâu ơi, ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Ta đây, trâu đấy ai mà quản công

Bao giờ cây lúa trổ bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”

Trang 25

Trên đây là những vấn đề lí thuyết về cơ sở của hai biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa Đó cũng chính là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng hai biện pháp này cho học sinh lớp 5

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chương trình SGK Tiếng Việt lớp 5

Về sách giáo khoa, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 đã chú trong phương pháp thực hành nhưng những bài tập cấu tạo vẫn còn chưa nhiều, cấu trúc bài đơn điệu, kiến thức còn mang tính trừu tượng nên học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội kiến thức mới

Về hai biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cũng đã được lồng ghép vào chương trình học của các em Cụ thể là trong chương trình của phân môn tập đọc Tiếng Việt lớp 5 có 27 bài có chứa các hình ảnh so sánh và nhân hóa Cụ thể là:

- Quang cảnh làng mạc ngày mùa

- Sắc màu em yêu

- Bài ca về trái đất

- Một chuyên gia máy xúc

- Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà

- Buôn Chư Lênh đón cô giáo

- Về ngôi nhà đang xây

- Trước cổng trời

Trang 26

- Ca dao về lao động sản xuất

- Người công dân số Một

Ngoài ra, ở phân môn Tập làm văn cũng được phân bổ để học sinh

có thể rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả nói chung và sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh nói riêng Thông qua các tiết ôn tập như luyện tập tả người, luyện tập tả đồ vật, tả cây cối, con vật….từ đó giúp học sinh nâng cao kĩ năng viết văn của mình

1.2.2.Thực tiễn về việc dạy học biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh cho học sinh lớp 5

So sánh và nhân hoá là hai biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong khi nói và viết văn bản Hai biện pháp tu từ này không được dạy thành bài riêng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học cũ từ lớp Một đến lớp Năm Chúng chỉ được dạy cho HS giỏi khối Bốn, khối Năm hoặc được nói đến trong các giờ tập đọc khi khai thác nội dung của bài học Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học mới, hai biện pháp tu từ này được đưa vào cho

HS làm quen từ lớp Hai và được dạy chính thức thành bài riêng cho

Trang 27

HS lớp Ba ở phân môn Luyện từ và câu Luyện từ và câu là tên gọi mới

của phân môn Từ ngữ, ngữ pháp Cách gọi này và việc đưa hai biện pháp tu

từ so sánh, nhân hoá vào dạy cho HS nhằm phản ánh một sự chuyển đổi khá căn bản của sách giáo khoa Tiếng Việt HS học hai biện pháp

tu từ này không phải nh các lớp trên (THCS) HS không học một tiết

lý thuyết nào về so sánh, nhân hoá HS tiếp thu kiến thức về so sánh nhân hoá thông qua hệ thống bài tập Đặc biệt biện pháp tu từ so sánh được dạy cho HS lớp Ba trong suốt học kỳ I, còn biện pháp nhân hoá được dạy trong suốt học kỳ II Điều này giúp HS sớm vận dụng được các biện pháp so sánh, nhân hoá trong cách nói, viết, làm cho câu văn trở nên sinh động, có hình ảnh hơn Đồng thời nó còn khắc phục được tình trạng trước đây HS viết câu văn khô, không có hình ảnh, không sinh động Mặt khác, học hai biện pháp tu từ này, HS sẽ thu nhận được ý đồ của tác giả gửi gắm trong các bài văn, bài thơ Thông qua đó, HS được trau dồi kiến thức Tiếng Việt một cách tốt nhất Điều đó giúp HS học Tiếng Việt và sản sinh văn bản có hiệu quả Theo đó, ta thấy việc đưa hai biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá vào dạy cho HS hoàn toàn phù hợp Hơn nữa, lớp 5 lại là một lớp cuối cấp Kiến thức của các môn học nói chung và của môn Tiếng Việt nói riêng đều bao hàm kiến thức của các lớp dưới Cần phải trang bị đầy đủ kiến thức để các em có thể học tốt hơn ở các bậc học tiếp theo Vì vậy việc rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho HS lớp 5 là vô cùng cần thiết

Nhằm nắm vững thực trạng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh của HS để từ đó có thể xây dựng các biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho HS lớp 5 chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát thông các bài văn miêu tả của HS khối lớp 5 tại trường tiểu học Hùng Vương-Tx Phúc Yên-tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 28

1.2.2.1: Kết quả điều tra

Bảng 1 Kết quả điều tra thực trạng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và

nhân hóa trong văn miêu tả của HS lớp 5

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

1.2.2.2: Nhận xét kết quả điều tra

Qua điều tra khảo sát 142 bài văn miêu tả của 142 HS, chúng tôi nhận thấy HS đã có ý thức sử dụng hình ảnh so sánh và nhân hóa vào trong bài làm của mình Trong một bìa văn các em đã sử dụng ít nhất từ 1 đến 2 hình ảnh so sánh và nhân hóa Cụ thể:

Số lượng HS sử dụng đúng hình ảnh so sánh và nhân hóa chiếm 55%, số lượng HS dùng hình ảnh so sánh và nhân hóa hay chiếm 15%, số hình ảnh chưa đạt yêu cầu chiếm 30%

Từ kết quả điều tra cho thấy, đa số HS đã biết cách nhận biết về biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa, biết cách lồng ghép các biện pháp tu từ này vào bài làm để bài làm của mình trở nên sinh động hấp dẫn hơn

Chẳng hạn, khi tả về cái trống trường em có em đã viết rất hay:

“ Anh chàng trống này tròn như cái chum, lúc nào cũng chễm chệ trên một cái giá gỗ kê trước cửa phòng bác bảo vệ Mình anh ta được ghép bằng

những mảnh gỗ đều chằn chặn, nở ở giữa, khum nhỏ lại ở hai đầu Ngang

lưng quấn hai vòng đai to bằng con rắn cạp nong, nom rất hùng dũng”

Trang 29

Hoặc một số hình ảnh miêu tả nổi lên trong bài văn của các em làm tăng thêm sức gợi tả rất nhiều:

“Thỉnh thoảng, bác đồng hồ quên không đánh thức mọi người dậy, thì

ra là bác đã hết pin”

“ Chị mặc chiếc váy rơm vàng óng ả Những sợi rơm đầu mùa được phơi khô vẫn còn sót lại vài hạt thóc, đâu đso phảng phất hương thơm Chị

chổi tự hào về chiếc váy ấy lắm”

“Ngôi nhà trông như một hộp quà khổng lồ được bọc bằng một lớp

Thứ nhất: HS có sự bắt trước vô thức và sự học tập mẫu một cách có ý thức của HS Hậu quả là cho ra hàng loạt những hình ảnh so sánh giống nhau:

cứ nói đến da là trắng như tuyết, nói đến dáng là thon thả, mảnh mai (trong kiểu bài miêu tả một người than trong gia đình mà em yêu thích)

Khi miêu tả cây cối có HS miêu tả như sau: “Những bông hoa rơi từ trên

cao, đài hoa nặng chúi xuống, những cánh hoa đỏ rực lên quay tít như máy tuốt lúa trông đẹp lạ” Tất cả sự bắt chước của các em không giống với đối

tượng được tả Hình ảnh so sánh được các em lựa chọn còn nhiều cái bất hợp

Trong các bài văn miêu tả: tả ngoại hình riêng, tả tính tình riêng sử dụng

từ ngữ chưa phù hợp, Viết câu chưa đúng ngữ pháp, chưa biết cách so sánh

Trang 30

nên các đặc điểm đưa ra so sánh không trọng tâm, rất ít bài có cảm xúc HS bắt chước bài mẫu một cách máy móc

Ví dụ: khi xem bài Tập làm văn tả về một loại cây mà em yêu thích chúng tôi nhận thấy có nhiều bài tả một cách liệt kê, có hình ảnh so sánh nhưng khập khiễng

“Trong vườn nhà em có một cây lộc vừng Nó được trồng ở trong chậu Điều em ấn tượng nhất ở cây lộc vừng đó chính là bộ rễ của nó Những sợi rễ rất xù xì, nhiều nhánh, cuốn bện vào nhau Mỗi sợi rễ to như hai cái ngón tay Được nhìn những sợi rễ như thế nên em liên tưởng đến những chiếc vòi của con bạch tuộc”

HS đã quá tập trung vào miêu tả bộ rễ của cây dẫn đến việc bị lạc đề, ngoài ra những hình ảnh so sánh mà HS đưa ra còn chưa phù hợp

Ngoài ra vẫn còn những bài văn viết tương đối sơ sài, không nêu được đặc điểm nổi bật của đối tượng cần miêu tả

Ví dụ: Tả người các em hay viết những cau gần giống nhau:

- Em bé nào cũng bụ bẫm, mắt đen lay láy

- Cô giáo em tóc đen, lời nói dịu dàng, hàm răng trắng muốt đều đặn như hạt bắp

Nhiều HS biết sử dụng hình ảnh so sánh, nhân hóa nhưng đặc điểm so sánh, nhân hóa và yếu tố được đưa ra làm chuẩn lại không gọt rữa, không đồng nhất tạo nên sự so sánh khập khiễng

- Chị ấy đẹp như con gà mái tơ

- Hoa của cây chuối nhà em to bằng cái tăm

Như vậy, để góp phần dạy và học có hiệu quả các biện pháp tu từ so sánh

và nhân hóa cần đưa ra những biện pháp, những bài tập bổ trợ để giúp học sinh nang cao kĩ năng này Từ đó giúp bài văn của các em trở nên sinh động, hấp dẫn hơn

Trang 31

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA, SO SÁNH

2.1 Cơ sở xây dựng biện pháp

2.1.1 Nguyên tắc giao tiếp

Xuất phát từ chức năng quan trọng của ngôn ngữ đó là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người Con người có thể sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau, nhưng không có phương tiện nào đem lại hiệu quả cao như ngôn ngữ Ngôn ngữ không phải là phương tiện giao tiếp duy nhất, nhưng là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người

Xuất phát từ mục đích của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường Dạy tiếng Việt trong nhà trường có hai mục đích cơ bản đó là:

+ Truyền thụ những kiến thức khoa học về tiếng Việt, cụ thể là những khái niệm, công thức, quy tắc

+ Rèn những năng lực ngôn ngữ tương ứng với những lí thuyết tiếp thu được trong Tiếng việt vào thực tế hoạt động giao tiếp

Ngôn ngữ là một hệ thống hoạt động chức năng, tách khỏi hoạt động chức năng nó sẽ không còn sức sống Môi trường hành chức của ngôn ngữ, của Tiếng Việt chính là giao tiếp Cho nên, mọi quy luật cấu trúc và mọi quy tắc hoạt động của hệ thống ngôn ngữ, hệ thống Tiếng việt chỉ được thể hiện trong lời nói sinh động và rút ra từ lời nói Muốn hình thành kĩ năng kĩ xảo ngôn ngữ, kĩ xảo Tiếng việt cho HS thì trước hết , phải tạo được môi trường giao tiếp cho HS trực tiếp tham gia lĩnh hội hoặc sáng tạo lời nói Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp chi phối toàn bộ quy trình tổ chức dạy - học tiếng Việt, từ khâu xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến khâu thiết kế thi công bài dạy Vì vậy, trong quá trình rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho HS cần hết sức chú trọng vào việc hướng hoạt động của HS theo quan điểm giao tiếp.Các bài tập xây dựng cho

Trang 32

học sinh cần tuân thủ theo quan điểm giao tiếp, tạo ra môi trường giao tiếp tư nhiên để trên cơ sở đó học sinh có thể phát triển lời nói một cách linh hoạt nhất Khi đảm bảo được nguyên tắc này thì quá trình lĩnh hội kiến thức của

HS sẽ trở nên dễ dàng hơn, chính xác hơn

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình

Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình trong dạy học đòi hỏi các yêu cầu, các nhiệm vụ đưa ra phải bám sát nội dung chương trình học Việc đưa ra các biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu

từ so sánh và nhân hóa cho học sinh lớp 5 cũng không ngoại lệ Hệ thống các bài tập đưa ra rèn luyện cho HS bắt buộc phải tuân thủ theo nguyên tắc này Phải phù hợp với nội dung chương trình và nằm trong các kiến thức mà HS đã được học trước đó Dựa trên cơ sở những kiến thức đó, để thiết kế, xây dựng các dạng bài tập giúp HS rèn luyện kĩ năng

Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình là một trong những nguyên tắc giáo dục rất quan trọng Đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình dạy học là một trong những yêu cần cần thiết nhằm đem lại hiệu quả cao trong quá trình học tập của HS nói chung và quá trình rèn luyện

kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho HS lớp 5 nói riêng

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của HS

Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của HS là một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong dạy học nói chung và trong

bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng Dạy học vừa sức có nghĩa là: Những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra cho HS trong lớp đều có thể thực hiện được với sự nỗ lực cao nhất về trí tuệ và thể lực Nguyên tắc này đòi hỏi khi tiến hành rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho HS lớp 5 thì nội dung, phương pháp, phương tiện cũng như cách thức thực hiện cũng phải phù hợp với trình độ, năng lực của HS trong lớp Đồng thời cũng

Trang 33

phải phù hợp với trình độ của từng đối tượng HS để HS có thể phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình Đảm bảo được nguyên tắc này trong dạy học Tiếng Việt nói chung cũng như trong quá trình rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho HS lớp 5 sẽ thúc đẩy mạnh mẽ về mặt trí tuệ cũng như toàn bộ nhân cách của HS Giúp HS phát huy được tính tích cực, tự giác, sáng tạo của mình trong quá trình lĩnh hội kiến thức Nguyên tắc này đảm bảo tất cả HS trong lớp đều có thể thực hiện dược yêu cầu của bài học Ngược lại nếu không tuân thủ một cách chặt chẽ nguyên tắc này ( nội dung rèn luyện quá dễ hoặc quá khó) thì sẽ không phát huy được tính tự giác, tích cực, sáng tạo của HS dẫn đến việc học sinh thụ động trong quá trình tiếp nhận kiến thức

2.2 Dạy HS thực hành phân tích hiệu quả sử dụng của biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh trong phân môn tập đọc

2.2.1 Hệ thống hình ảnh so sánh và nhân hóa được sử dụng trong phân môn tập đọc

Biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa được sử dụng trong khá nhiều các bài tập đọc của môn Tiếng Việt lớp 5 Chúng được lồng ghép khéo léo làm cho bài văn trở nên sinh động hấp dẫn hơn

Cụ thể, trong phân môn Tập đọc lớp 5 bao gồm 62 văn bản nghệ thuật bao gồm thơ, tạp văn, truyện ngắn, truyện cười, truyện ngụ ngôn… trong đó

có 26 văn bản chứa các hình ảnh so sánh và nhân hóa

Trang 34

Bảng 2: Thống kê số lượng hình ảnh so sánh và nhân hóa

trong phân môn tập đọc lớp 5

sánh

Hình ảnh nhân hóa

Trang

1 Quang cảnh làng mạc

10-SGK TV5,T1

5 Tiếng đàn ba-la-lai-ca

69-SGK TV5,T1

102-10

SGK TV5,T1

Trang 35

113-11

SGK TV5,T1

124-12

SGK TV5,T1

139-13

Buôn Chƣ Lênh đón cô

SGK TV5,T1

144-14

SGK TV5,T1

148-15

Ca dao về lao động sản

SGK TV5,T1

Trang 36

24

112, SGK TV5,T2

25

117, SGK TV5,T2

26

130, SGK TV5,T2

27

140, SGK TV5,T2

*Nhận xét số liệu thống kê

Qua bảng thống kê số liệu các tiết tập đọc trong SGK TV5 có thể thấy các bài tập đọc đã khéo léo lồng ghép các hình ảnh so sánh và nhân hóa để giúp học sinh có thể nhận ra cái hay cái đẹp trong các văn bản nghệ thuật Ngoài ra còn

có hệ thống các câu hỏi tìm hiểu bài giúp học sinh có thể nhận biết các biện pháp tu từ Dựa trên hệ thống các câu hỏi, chúng tôi đã xây dựng một vài biện pháp giúp học sinh tìm hiểu giá trị của các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa để từ đó có thể vận dụng vào trong lối hành văn của mình

Trang 37

2.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị của các biện pháp tu từ so sánh

và nhân hóa thông qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài

Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị của các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong phân môn Tập đọc, giáo viên nên lựa chọn những văn bản tập đọc có chứa các hình ảnh so sánh hoặc nhân hóa để HS tìm hiểu GV hướng dẫn HS đọc và khai thác những đặc điểm miêu tả để vừa tìm hiểu nội dung bài học, vừa cảm nhận được cái hay cái đẹp của các biện pháp tu từ thông qua các thao tác sau:

2.2.2.1:Đặt các câu hỏi gợi ý để HS tìm các chi tiết, hình ảnh, từ ngữ miêu tả

có trong bài Tập đọc

Ví dụ: Bài Tập đọc Tiếng đàn Ba-la-lai-ca có các câu hỏi trong bài:

1 Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm

trăng vừa tĩnh mịch vừa sinh động trên công trường sông Đà?

2 Tìm một hình ảnh đẹp trong bài thơ thể hiện sự gắn bó giữa

con người với thiên nhiên trong đêm trăng bên sông Đà

3 Những câu thơ nào trong bài sử dụng phép nhân hóa?

4 Học thuộc lòng bài thơ

Trong 4 câu hỏi trên có 2 câu hỏi tìm hiểu nội dung miêu tả, 1 câu hỏi về biện pháp tu từ Ngoài các câu hỏi trong SGK giáo viên có thể đưa ra một số câu hỏi gợi ý để học sinh có thể thấy được cái hay cái đẹp

Trang 38

Ví dụ: Bài tập đọc “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” của Tô Hoài Tr10)

(TV5-T1 Em hãy tìm từ chỉ màu vàng có trong bài, có bao nhiêu từ chỉ màu vàng khác nhau?

- Hãy nói một câu có từ chỉ màu vàng sử dụng biện pháp tu từ so sánh hoặc nhân hóa?

2.2.2.3 Gợi ý để học sinh tìm các hình ảnh so sánh hay

Trong một văn bản Tập đọc, giáo viên cần đưa ra những câu hỏi gợi ý để giúp học sinh có thể tìm ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn để từ

đó phát hiện ra cái hay cái đẹp được sử dụng

Ví dụ: Bài tập đọc: “Kì diệu rừng xanh” (TV5-T1-Tr75)

Tác giả đã so sánh những cây nấm trong khu vườn: “Loanh quanh

trong rừng, chúng tôi đi vào một lối đầy nấm dại, một thành phố nấm lụp xụp dưới bóng cây thưa Những chiếc nấm to bằng cái ấm tích, màu sặc sỡ rực lên

Mỗi chiếc nấm là một lâu đài kiến trúc tân kì…Chúng tôi đi đến đâu, rừng ào ào chuyển động đến đấy Những con vượn bạc má ôm con gọn gẽ chuyền nhanh như chớp…Rừng khộp hiện ra trước mắt chúng tôi, lá úa vàng như cảnh mùa thu…Tôi dụi mắt Những sắc vàng động đậy Mấy con mang vàng hệt như màu lá khộp đang ăn cỏ non.”

2.3 Rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh trong phân môn tập làm văn miêu tả

2.3.1 Hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng quan sát, trí liên tưởng, tưởng tượng

Kĩ năng quan sát, tưởng tưởng là một trong những kĩ năng vô cùng quan trọng để có thể hình thành và rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong khi viết văn Tuy nhiên vẫn còn

Trang 39

một số giáo viên lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh cách quan sát, tri giác về đối tượng dẫn đến việc bài văn của các em còn nghèo về hình ảnh, thiếu sự chân thật, sống động và lặp theo khuôn mẫu có sẵn Nhà giáo Đặng

Hiển đã từng nói: “Một giờ văn… không khơi gợi và phát huy được trí tưởng

tượng của học sinh là một giờ văn chết, một giờ văn đóng băng, một giờ văn hóa thạch, nói gì đến tư duy” Đúng vậy, khi không phát huy được trí tưởng

tượng của các em thì không thể nào làm dậy lên lòng yêu thích môn học tập làm văn được, vì các em hoàn toàn không có chất liệu, không có ý tưởng Những kiến thức, kinh nghiệm, hiểu biết mà các em tích lũy được sẽ giúp các

em tạo nên những ý tưởng dạt dào, phong phú và sinh động để từ đó phát triển

ở học sinh tư duy sáng tạo Các em sẽ được nghe, được nhìn, được cảm nhận những hình ảnh thú vị để từ đó thể hiện được cái nhìn qua lăng kính của chính mình Trên cơ sở đó sẽ giúp các em làm giàu vốn sống, trí liên tưởng, tưởng tượng của mình để có thể tạo nên những hình ảnh so sánh mới mẻ, thú vị và hấp dẫn

Chính vì vậy, dạy cho học sinh biết quan sát tìm ý để hình thành thói quen chuẩn bị bài tốt là yêu cầu quan trọng khi làm văn Muốn quan sát tốt, học sinh cần nắm được cách quan sát và những yêu cầu quan sát để làm văn Cùng một đối tượng nhưng mỗi em lại có sự cảm nhận riêng, một cái nhìn riêng và chúng ta cần tôn trọng và phát huy ở học sinh sự liên tưởng, sáng tạo

Để miêu tả một đối tượng nào đó, giáo viên cần giúp học sinh biết cách quan sát đối tượng theo từng góc nhìn, từng thời điểm, biết cách cảm nhận và chọn điểm nhấn của đối tượng để tạo ra nét riêng biệt trong bài văn của mình

Để đảm bảo tính chân thực của bài văn miêu tả cần phải được bắt nguồn từ quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, kết hợp với kinh nghiệm sống và trí tưởng tượng của học sinh, bài văn phải thể hiện được tình cảm, cảm xúc thực của các em trước đối tượng miêu tả

Trang 40

Trước khi bắt tay thực hiện một bài văn, học sinh cần xác định được đối tượng mà mình sẽ miêu tả (đó là vật gì? Hoặc con gì? Hay cái gì?) Sau khi xác định được đối tượng, học sinh sẽ tiến hành quan sát đối tượng Thông thường một bài văn miêu tả thường đi theo trình tự miêu tả từ ngoài vào trong, từ xa đến gần, từ bao quát đến cụ thể Do đó, giáo viên cần chú ý hướng dẫn cho học sinh khi miêu tả

Khi miêu tả đối tượng, ta không nên liệt kê tất cả những gì quan sát được

mà chỉ lựa chọn một vài chi tiết nói về đặc điểm nổi bật, riêng biệt so với đối tượng khác Điều này sẽ giúp học sinh biết xác định chi tiết miêu tả sinh động của đối tượng để đưa vào bài viết của mình Vì vậy, việc lựa chọn chi tiết là một việc làm rất quan trọng trong quá trình quan sát đối tượng khi viết văn miêu tả

Nhiều học sinh nghĩa rằng chỉ cần nhìn đối tương là quan sát Thường thì các em chỉ dùng mắt để quan sát, những cảm xúc của các em chủ yếu được thu nhận qua thị giác Nhưng chỉ nhìn thôi thì chưa đủ, các em phải thực sự quan sát, tức là phải mở rộng giác quan để quan sát Nhìn chỉ nhận diện được đối tượng, còn quan sát là phải nhìn thật kĩ để tìm ra nét riêng của đối tượng

đó Muốn tái hiện chân dung của đối tượng một cách cụ thể và sinh động không có cách nào khác là người viết phải quan sát một cách tỉ mỉ, chi tiết đối tượng, thậm chí phải tiếp xúc, trò chuyện với đối tượng thì khi đó học sinh mới có thể giúp bài viết của mình trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn nhưng không tách khỏi tính chân thực

Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh mở rộng các giác quan khi quan sát để có thể có những cảm nhận về đối tượng từ nhiều phương diện khác nhau Hãy hướng dẫn học sinh cách tách các giác quan ( không nhất thiết phải phải dùng đủ năm giác quan) và hướng dẫn học sinh tập trung vào từng giác quan Chắc chắn học sinh sẽ có những cảm giác khác nhau khi dùng mắt để

Ngày đăng: 11/09/2018, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w