Trong đó, để phát triển thái độ cho người học cần thông qua chương trình kỹ năng mềm KNM dành riêng cho mỗi nghề nhằm xây dựng chân dung nghề nghiệp, đáp ứng mong đợi củacác nhà tuyển dụ
Trang 1ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNGCHƯƠNG TRÌNH KỸ NĂNG MỀM
DỰA TRÊN NĂNG LỰC THỰC HIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG DẠY NGHỀ
Orientation for building skill skilling programs based on the performance of
Vocational school students
ThS PHẠM THỊ LỆ DUNG Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng ThS NGUYỄN THỊ THẢO Học viện Chính trị khu vực III Đà Nẵng
Tóm tắt
Trong thời kinh tế hội nhập hiện nay, tiêu chí ưu tiên tuyển dụng của doanh nghiệp không chỉ
là bằng cấp thay vào đó kỹ năng mềm (KNM) dần dần trở thành yếu tố quyết định thành bại của người lao động Tiêu chí tuyển dụng của doanh nghiệp đã thay đổi, các nhà tuyển dụng ưu tiên lựa chọn ứng viên không chỉ bằng cấp mà cần có sự dung hòa giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng cứng kết hợp KNM và thái độ nghề nghiệp tương ứng với mỗi nghề nghiệp Vì vậy, việc xây dựng chương trình KNM bám sát vào năng lực thực hiện của SV là việc làm hết sức cần thiết.
Từ khóa:Kỹ năng mềm, trường dạy nghề, năng lực thực hiện, sinh viên.
Abstract
In the current time of the current business, the professional expert version is not a ticket of the latch through the business, instead of the software of the progress of the computer is disabled The selected user of the business has been changed, the selected users of the selected users are not only by the level that need to be resolve with the professional expert, the hard skills and professional craft match each arts For the fin, build the built-up software program performance for the power of the student of the working as the required required.
Keywords: Soft skills, vocational school, capacity for implementation, student.
Trang 21 Đặt vấn đề
Hiện nay, dạy học theo năng lực thực hiện (NLTH) trong các trường dạy nghề vẫn chưa quyết liệt, chưa áp dụng rộng rãi Nếu có thì chủ yếu tập trung để nâng cao kiến thức và kỹ năng cho người học mà chưa chú trọng để phát triển thái độ học tập, thái độ nghề nghiệp cho người học Sự nhận thức chưa đầy đủ và hành động chưa đồng bộ trên cả 3 mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ phần nào cũng ảnh hưởng đến định hướng dạy học theo NLTH, đặc biệt chưa làm doanh nghiệp hài lòng đến nguồn nhân lực Dạy học theo quan điểm phát triển NLTH không chỉ chú
ý tích cực hóa người học về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Phát triển năng lực cho người học phải đồng bộ 3 mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ Trong đó, để phát triển thái độ cho người học cần thông qua chương trình kỹ năng mềm (KNM) dành riêng cho mỗi nghề nhằm xây dựng chân dung nghề nghiệp, đáp ứng mong đợi củacác nhà tuyển dụng lao động
2 Khái quát về dạy học theo NLTHvà KNM
NLTH là sự thực hiện các chức năng của vị trí việc làm một cách an toàn và hiệu quả tại nơi làm việc Một người được xem là có năng lực khi họ có kiến thức,
kỹ năng và thái độ cần thiết để thực hiện công việc an toàn và hiệu quả tại nơi làm việc [2; tr.15] Năng lực của một vị trí việc làm bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để thực hiện chức năng của vị trí đó
Đặc điểm cơ bản nhất của dạy học theo NLTH là nó định hướng chú trọng vào kết quả và đầu ra của quá trình đào tạo Trong đó, dạy học theo định hướng đầu ra được xác định từ những tiêu chí của nhà tuyển dụng các ngành công nghiệp dựa trên sự phân tích chức năng của vị trí việc làm Tức là các thức phổ biến là dạy học
Trang 3dựa trên việc làm và tại nơi làm việc theo chức năng của từng vị trí việc làm.Trong dạy học theo NLTH thì kiến thức, kỹ năng, thái độ tích hợp thành các thành tố và đơn vị năng lực Người học sau khi ra trường phải tích hợp 3 yếu tố kiến thức chuyên môn, kỹ năng cứng kết hợp KNM và thái độ nghề nghiệp Để đảm bảo được 3 yếu tố này, trong đánh giá dạy học theo NLTH, người học phải thực hiện đầy đủ các tiêu chí, chỉ số công nghiệp của nhà tuyển dụng lao động Nếu thiếu hoặc không hoàn thành được 1 trong các chỉ số đó bao gồm chỉ số về kiến thức, kỹ năng cứng, KNM và thái độ nghề nghiệp, người học được xem là không có NLTH
và bắt buộc phải đào tạo lại.Vì vậy, dạy học theo NLTH cần sự liên kết giữa các
thành tố nội dung, phương thức và đánh giá trong quá trình dạy học.
KNM(soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, quản lý thời gian, quản
lý cảm xúc, giải quyết vấn đề, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới Chúng quyết định bạn là ai, làm việc thế nào Là thước đo hiệu quả cao trong công việc
Đó là những bí quyết quyết định thành công bên cạnh kiến thức chuyên môn
KNM khác với kỹ năng cứng (hard skills) để chỉ trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn KNM thiên khá nhiều về yếu tố bẩm sinh, tuy nhiên phần lớn con người nếu chịu khó rèn luyện thì vẫn có thể nâng cao đáng kể kỹ năng của bản thân KNM bao gồm các đặc điểm cá tính dễ chịu và hấp dẫn như sự tự tin, thái độ tích cực, trí thông minh cảm xúc, ân huệ xã hội, tính linh hoạt, thân thiện và kỹ năng giao tiếp hiệu quả Nó đại diện cho một thuộc tính cơ bản mà nền kinh tế dựa trên tri thức ngày nay đòi hỏi từ các nhà tuyển dụng, nhân viên và doanh nghiệp của nó
KNM quan trọng như vậy, nhưng trong chương trình đào tạo chính thức của các nhà trường, đặc biệt là hệ thống các trường dạy nghề rất ít quan tâm đến việc này Do vậy, để có được các KNM, SV cần được tạo cơ hội để rèn luyện trong quá
Trang 4trình còn trên ghế nhà trường, nhà trường chú trọng đầu tư xây dựng chương trình KNM thực tiễn, phù hợp với nhu cầu xã hội, nhu cầu của nhà tuyển dụng lao động
3 Phác thảo chương trình KNM theo định hướng phát triển NLTH cho người học
Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mà còn hướng đến mục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân, giúp con người có năng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc nên phát triển KNM trở thành quyền của người học và trong đánh giá chất lượng của giáo dục luôn có tiêu chí KNM của SV
Trong khuôn khổ hợp tác Việt - Đức về chương trình đổi mới đào tạo nghề Việt Nam đã tiến hành khảo sát 280 doanh nghiệp đang sử dụng học sinh tốt nghiệp từ
26 cơ sở doanh nghiệp Các trường tham gia khảo sát là những trường được lựa chọn đầu tư thành trường chất lượng cao Theo đánh giá thực tếcủacác doanh nghiệp, năng lực thực tế về KNM của SV đã tốt nghiệp đều thấp hơn so với yêu cầu của các doanh nghiệp ở tất cả hạng mục Trong đó, cần quan tâm đến KNM như: Đưa ra quyết định và giải quyết các vấn đề ; tổ chức lên kế hoạch và sắp xếp thứ tự
ưu tiên công việc; Áp dụng điều lệ, quy định về an toàn sức khỏe nghề nghiệp; Thúc đẩy và áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng Tuy nhiên, chương trình đào tạo KNM tại trường dạy nghề theo dự án Save children chưa có KNM này Nhiều trường đại học, cao đẳng nói chung, đặc biệt là trường dạy nghề nói riêng chưa quan tâm đến thái độ nghề nghiệp và KNM của SV, có những trường học đã đưa chương trình KNM vào giáo dục SV, nhưng chương trình vẫn áp dụng đại trà, chủ yếu là kỹ năng thường gặp như thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, chưa đặc trưng hóa cho mỗi nghề Ngoài ra, thời lượng chương trình KNM rất ít, 30 tiết, trong đó khởi sự doanh nghiệp 15 tiết
Trang 5và KNM 15 tiết rất khó để tổ chức các buổi ngoại khóa rèn luyện KNM cho SV Trong khi đó, đặc thù mỗi nghề cần những con người khác nhau không chỉ về kiến thức, kỹ năng cứng mà còn phải đặc trưng hóa KNMtương xứng với mỗi nghề hay
vị trí việc làm.Vì vậy, các cơ sở dạy nghề cần quan tâm đến việc đào tạo KNM cho
SV và xây dựng chương trình KNM theo NLTH theo yêu cầu doanh nghiệp [5, tr.116]
Cũng giống như KNM, thái độ làm việc của SV bị đánh giá thấp hơn so với yêu cầu các doanh nghiệp Cụ thể là: Tính chính xác, cẩn thận, tập trung; Kỷ luật, ngăn nắp, đúng giờ; Tính sáng tạo, đổi mới; Chịu khó và chịu được áp lực [5 ; tr.117] Trong khi đó, doanh nghiệp quan tâm và đánh giá rất cao thái độ nghề nghiệp và trong mục tiêumôn học, mục tiêu bài học nào đều có mô tả thái độ nghề nghiệp.Tuy nhiên giáo viên, nhà trường chưa quan tâm sâu sát đến vấn đề này Vì vậy, việc xây dựng chương trình khung KNM cho mỗi nghề rất cần sự phân tíchdựa trên năng lực nghề nghiệp và có tiêu chí đánh giá rõ ràng.Ví dụ, cụ thể 1 số nghề và chương trình KNMcần có dựa trên hạng mục KNM của các doanh nghiệp theo Chương trình Đổi mới Đào tạo nghề Việt Nam [1; tr.204]
1 Quản trị kinhdoanh
Có tầm nhìn, chiến lược, sáng tạo, đổi mới; có năng lực tổ chức và quản lý; tự tin, luôn tin tưởng vào khả năng và vượt qua những rủi ro
Kỹ năng lãnh đạo
Kỹ năng thiết kế và quản lý chiến lược
Kỹ năng đàm phán
Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả
Kỹ năng đặt mục tiêu/tạo động lực làm việc
2 May- Thiết kếthời trang Có óc sáng tạo và thực tế, tính kiên trì, biết lắngnghe
Kỹ năng biết lắng nghe
Kỹ năng tư duy sáng tạo
Trang 63 Công nghệ thôngtin
Kiên trì, nhẫn nại; khả năng làm việc nhóm; tính cẩn thận, chính xác trong công việc; khả năng làm việc dưới áp lực lớn
Kỹ năng làm việc nhóm
4 Nghề Sư phạm
Giàu tình yêu thương, đặc biệt yêu lớp người trẻ; thích giúp người khác hiểu mình; biết cách truyền đạt; biết tạo không khí thoải mái, dễ chịu; giàu lòng bao dung, độ lượng
Kỹ năng trình bày
Kỹ năng thuyết phục
Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giải quyết vấn đề
5 Hướng dẫn viêndu lịch
- Diễn đạt lưu loát, gọn ghẽ.Giọng nói nhẹ nhàng, dễ nghe; biết tổ chức công việc; nhanh nhẹn, năng động, tự tin
Kỹ năng tổ chức công việc
Kỹ năng giao tiếp
6 Nghề quảng cáo
Tính sáng tạo, óc tưởng tượng cực kỳ phong phú; năng lực sáng tác và truyền tải thông điệp;
tư duy phân tích, năng lực tổ chức và tính toán;
kỹ năng giao tiếp; tính kiên trì, cầu thị; hài hước, lãng mạn, tự tin
Kỹ năng tư duy sáng tạo
Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả
Kỹ năng tính toán
7 Nghề y
Kiên trì, nhẫn nại; can đảm; cẩn thận, tỉ mỉ, trung thực với công việc; biết tạo sự tin cậy, cảm thông chia sẻ với bệnh nhân; khả năng phán đoán tốt, nhạy bén.
Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng thuyết phục
Kỹ năng lắng nghe
Bảng 1: KNM của các doanh nghiệp theo Chương trình Đổi mới Đào tạo nghề Việt Nam
3 Một số kiến nghị về phát triển KNM cho SV theo định hướng NLTH
3.1 Đối với nhà trường
Đặc trưng hóa chương trình KNM cho mỗi nghề vào các khoa chuyên môn; Xây dựng tiêu chí về thái độ trong đánh giá SV đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng lao động Để thực hiện được công việc nhà trường cần tạo mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp để đặc tảNLTH cần có trong mỗi vị trí việc làm, đặc biệt nhấn mạnh đến thái độ nghề nghiệp và KNM Xây dựng nội dung KNM ngoài việc chú trọng đến đặc điểm từng ngành nghề cần quan tâm đến đặc điểm tâm lý, lứa
Trang 7tuổi, giới, nhu cầu của SV để phát huy vai trò tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của SV
3.2 Đối với giáo viên
Giáo viên phải xuất phát từ mục tiêu phát triển con người cho từng nghề, từng bài học để phát triển KNM cho SV Ở mỗi bài giảng, giáo viên cần chú trọng lồng ghép phát triển từng KNMcho SV gắn với từng thái độnghề nghiệp Giáo viên cần lập chương trình, lên kế hoạch và xây dựng các phương pháp dạy học tích cực tạo hứng thú cho người học tham gia tích cực Ngoài ra, giáo viên cần chủ động tạo môi trường thực tếtạicác doanh nghiệp để SV có cơ hội nhận biết và trải nghiệm những thái độ nghề nghiệp thực tế khi còn ngồi trên ghế nhà trường
3.3 Đối với Đoàn Thanh niên
Về phía Đoàn thanh niên cần nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng mềm cho bản thân sinh viên
Đặc biệt, các tổ chức Đoàn - Đội đầu tư thiết kế các chủ đề về KNMlôi cuốn,
hấp dẫn, phù hợp với đặc điểm tâm lý và ngành nghề của SV.Xây dựng và phát triển rộng rãi các loại hình Câu lạc bộ; Đội; Nhóm để sinh viên tương tác, giao lưu học hỏi và khẳng định bản thân Tổ chức các diễn đàn, khóa học về “KNM” cho
SV, cần định hướng ngay từ ban đầu cho SV năm nhất về vai trò của KNM nhằm kích thích các em tự rèn luyện
4 Kết luận
Như vậy,vấn đề đào tạo KNM cho SV là rất cần thiết, đặc biệt là đào tạo KNM theo yêu cầu từng nghề, phù hợp với thực tiễn nghề nghiệp Để đào tạo cho SV những KNM rất cần có sự quan tâm thỏa đáng của tất cả các cấp, các ngành, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Để thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi nhà trường, đặc biệt là giáo viên, Đoàn Thanh niên cần nhận thức được tầm quan trọng của chương trình KNM theo NLTH và quyết tâm xây dựng cũng như
Trang 8đưa ra các tiêu chí về thái độ (KNM) trong giáo dục cũng như trong đánh giá chất lượng người học sát với yêu cầu tuyển dụng của từng vị trí việc làm
Tài liệu tham khảo
1 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bồi dưỡng kỹ năng dạy học, Tổng cục Dạy nghề, Hà
Nội, 2010.
2 Nguyễn Thanh Bình, Giáo trình Chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, NXB Đại học Sư phạm, Hà
Nội, 2009.
3 Hướng Dương (2008), “Nhà tuyển dụng “lắc đầu”, vì sao?”, Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội
4 Nguyễn Thị Môn (2009),“Giáo trình Giáo dục học nghề nghiệp”,Khoa Sư phạm kỹ thuật,
trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định.
5 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp, Báo cáo giáo dục nghề nghiệp Việt Nam 2015, Hà Nội,
2017.
6 Tổng cục Dạy nghề, Báo cáo kết quả khảo sát doanh nghiệp, NXB Hà Nội, 2004.
7 Nguyễn Thị Môn (2009), Giáo trình Tâm lý học nghề nghiệp,Khoa Sư phạm kỹ thuật, trường
Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định.