1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo sơ kết 3 năm hòa giải

4 476 8

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện công văn số 28UBNDTP ngày 10 tháng 01 năm 2017 của UBND huyện Bát Xát về việc sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở. Sau 3 năm triển khai tổ chức thực luật hòa giải ở cơ sở của Hội CCB huyện Bát Xát đã đạt được những kết quả sau đây.

Trang 1

HỘI CCB TỈNH LÀO CAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HỘI CCB HUYỆN BÁT XÁT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 04 /BC-CCB Bát xát, ngày 13 tháng 01 năm 2017

BÁO CÁO

Sơ kết 3 năm thi hành Luật hòa giải ở cơ sở

Thực hiện công văn số 28/UBND-TP ngày 10 tháng 01 năm 2017 của UBND huyện Bát Xát về việc sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở

Sau 3 năm triển khai tổ chức thực luật hòa giải ở cơ sở của Hội CCB huyện Bát Xát đã đạt được những kết quả sau đây

I NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1 Công tác triển khai thực hiện.

Ngay sau khi công bố luật và Luật Hòa giải ở cơ sở có hiệu lực thi hành Hội CCB huyện đã xây dựng kế hoạch và triển khai đến các tổ chức Hội cơ sở và yêu cầu các tổ chức Hội cơ sở xây dựng kế hoạch và báo cáo với cấp uỷ, chủ động phối hợp với chính quyền, các ban ngành ở cơ sở để tổ chức tuyên truyền, quán triệt đến đông đảo cán bộ, hội viên các nội dung của Luật hòa giải đồng thời chủ động Phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tham gia hòa giải thành công các vụ mâu thuẫn xảy ra trong Nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự xã hội góp phần làm ổn định tình hình tại cơ sở

2 Công tác phổ biến, quán triệt, tuyên truyền.

Trong 3 năm qua Hội CCB từ huyện đến cơ sở thường xuyên phối hợp với các ban ngành đoàn thể tổ chức xuống các thôn bản tổ chức tuyên truyền truyền chính sách, pháp luật, các nội dung của Luật hòa giải được 396 buổi với trên 18.468 lượt người tham gia

Tuyền truyền tham gia xây dựng nông thôn mới, làng bản an ninh trật tự xã hội được: 1149 buổi, với 27.468 lượt người tham dự

3 Chỉ đạo, hướng dẫn, kiện toàn đội ngũ

Hội CCB từ huyện đến xã, thị trấn luôn có sự phối hợp chặt chẽ trong việc củng cố, kiện toàn đội ngũ, cũng như tổ chức, duy trì và hướng dẫn hoạt động của các tổ hòa giải; thường xuyên tham mưu cho cấp ủy, phối hợp tốt với chính quyền, các ban ngành đoàn thể củng cố kiện toàn các tổ hòa giải hoạt động yếu

Theo chức năng nhiệm vụ của Hội CCB huyện trong năm 2015 hội CCB huyện đã ra quyết định số 24/QĐ-CCB ngày 21 tháng 7 năm 2015 về việc công nhận cộng tác viên dư luật xã hội thuộc Hội CCB huyện Bát Xát cho 23 đ/c cán bộ hội cơ sở

4 Kết quả hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Qua 3 năm triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, Hội CCB các xã, thị trấn đã tích cực tham gia tốt vào công tác tuyên truyền pháp luật và vận động nhân dân trong các cuộc hòa giải, đồng thời chỉ đạo các chi hội CCB ở các thôn bản, tổ dân phố tham gia tốt vào

Trang 2

công tác giới thiệu lựa chọn người tham gia tổ hòa giải và tham dự các buổi hòa giải Trong mỗi tổ hòa giải, nòng cốt là sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội người cao tuổi…những người có uy tín ở địa phương Trong 3 năm Hội CCB các xã, thị trấn phối hợp với chính quyền, các ban ngành đoàn thể duy trì

có hiệu quả các tổ làng bản an ninh, hoà giải thành công 131/141 vụ mâu thuẫn trong nhân dân và tham gia giữ gìn an ninh trật tự được 81 buổi với 987 lượt người tham gia góp phần ổn định tình hình cơ sở

Các vụ mâu thuẫn, tranh chấp phần lớn có nội dung liên quan uống rượu say trong dịp tết gây mất trật tự công cộng đánh cãi chửi nhau, trộm cắp vặt, đất đai, môi trường (rác thải, nước thải, tiếng ồn), hôn nhân, thừa kế

5 Vai trò của MTTQ, các tổ chức thành viên của MT.

Mối quan hệ giữa Hội CCB cũng như các đoàn thể khác trong công tác phối hợp với UBND cùng cấp khá chặt chẽ, trong năm 2014 hội CCB, UBND huyện đã xây dựng và ban hành quy chế phối hợp công tác giữa UBND huyện và Hội CCB huyện Bát Xát và đã triển khai các nội dung của quy chế đến các xã, thị trấn, yêu cầu các xã thị trấn xây dựng quy chế hoạt động, tính đến 30/6/2014 đã có 23/23 xã thị trấn xây dựng được quy chế hoạt động Về công tác hòa giải ở cơ sở đã có nhiều

cố gắng tịch cực thể hiện trên các mặt sau:

- Phối hợp tuyên truyền, phổ biến luật cho hội viên, đoàn viên và Nhân dân

- Trực tiếp hiệp thương giới thiệu người tham gia Tổ hòa giải, tổ chức hội nghị ở thôn bản tổ dân phố để lựa chọn bầu hòa giải viên, kịp thời tổ chức giới thiệu bầu bổ sung khi có biến động

- Phối hợp trao đổi, hướng dẫn hòa giải các vụ việc phức tạp

- Giám sát, phản biện việc thi hành Luật, các chế độ, động viên các tổ duy trì hoạt động

- Trực tiếp làm hòa giải viên đối với một số vụ việc mà các bên là đoàn viên hội viên của mình

6 Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn, tác động đến KT-XH, AN-QP

a Thuận lợi

- Việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư bằng đàm phán, thương lượng, hòa giải là nét văn hóa truyền thống lâu đời của Nhân dân ta Luật hòa giải ở cơ sở ra đời là tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống nên dễ dàng

đi vào cuộc sống được Nhân dân, xã hội tiếp nhận và đồng tình ủng hộ

- Luật hòa giải ở cơ sở ra đời đã được tổng kết thực tiễn thi hành pháp lệnh về Hòa giải cơ sở nên các quy định của Luật sát hợp hơn, cụ thể hơn, có tính khả thi hơn

- Được cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức thành viên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả của Hòa giải ở cơ sở

Trang 3

mang lại không chỉ củng cố mối quan hệ tình làng nghĩa xóm, củng cố khối đoàn kết cộng đồng mà còn hạn chế đáng kể tình trạng khiếu nại, tố cáo, kiện nghị, đơn thư vượt cấp

b Khó khăn

- Khả năng trình độ chuyên môn của Hòa giải viên đang hạn chế cả về kiến

thức hiểu biết pháp luật cũng như hiểu biết về đạo đức, truyền thống đạo lý dân tộc

- Những người tham gia làm hòa giải ở thôn bản tổ dân phố hầu hết đều tham gia làm nhiều công việc khác của thôn bản, tổ dân phố nên hạn chế và khó khắn về thời gian

- Chế độ kinh phí hoạt động, đãi ngộ còn quá thấp, những quy định hiện hành chỉ mới đáp ứng một phàn cho hoạt động chung chưa có thù lào cho cá nhân hòa giải viên

- Những vụ việc mang tính chất hôn nhân, gia đình thường ít được các bên đồng thuận hòa giải do mặc cảm, tâm lý và có các vấn đề tế nhị, nhưng đây lại là mâu thuẫn thường hay tái diễn

c Hiệu quả của Hòa giải ở cơ sở tác động đến kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng.

Hòa giải thành có tác động rất lớn đến kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng, được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

-Góp phần vào tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nhận thức pháp luật nên vi phạm luật ít hơn, tình hình được ổn đinh hơn, phong trào “sống” và làm việc theo

“hiến pháp và pháp luật” hình thành và phát triển

- Tình làng nghĩa xóm được tăng cường, khối đại đoàn kết càng được củng cố thúc đẩy các phong trào quần chúng tự quản, xây dựng nếp sống văn minh đô thị tốt hơn, vững chắc hơn

- Khi tình hình cuộc sống ổn định, quan hệ trong cộng đồng ổn định, chặt chẽ, làm cho mỗi gia đình, cá nhân yên tâm lao động, sản xuất, công tác, làm ăn hiệu quả hơn

- Các tranh chấp, mâu thuẫn được phát hiện, giải quyết kịp thời đã góp phần phòng ngừa tội phạm, hạn chế tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp của công dân

II TỒN TẠI, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

1.Tồn tại, hạn chế

- Về thể chế, chính sách

+ Thương lượng, hòa giải là hoàn toàn tự nguyện của các bên không mang tính bắt buộc nên hoạt động của tổ phụ thuộc vào tính tự nguyện và sự hợp tác của mỗi bên làm hạn chế đến hiệu lực, hiệu quả

Trang 4

+ Xác định trách nhiệm của UBND các cấp, nhất là cấp xã chưa rõ, chưa đầy

đủ, đã có lúc cho rằng tổ hòa giải do Ủy ban Mặt trận quản lý

+ Chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự tổ chức và tiến hành cuộc hòa giải của tổ hòa giải, của hòa giải viên nên thực hiện gặp lúng túng, thiếu thống nhất

+ Công tác phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể chưa thường xuyên , hoạt động của các tổ hòa giải viên chưa được đồng đều do công tác bồi dưỡng tập huấn còn ít

- Chế độ, kinh phí hoạt động được quan tâm nhưng vẫn còn thấp, chưa huy động được nguồn lực xã hội tham gia nên vẫn cón đang khó khăn

2 Nguyên nhân

- Về pháp luật: Chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể trình tự tổ chức và tiến hành cuộc hòa giải, làm co các tổ và hòa giải viên ngần ngại, lúng túng Quy định chế độ kinh phí hoạt động, đái ngộ chưa phù hợp, chưa động viên được đội ngũ

- Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận ở cấp xã thiếu thường xuyên, năng lực quản lý tham mưu của công chức Tư pháp xã cho cấp ủy, chính quyền còn hạn chế Năng lực chuyên môn nghiệp vụ hòa giải viên là khó khăn lớn nhất hiện nay

3 Bài học kinh nghiệm

Qua thực tiễn hoạt động cho thấy hoạt động hòa giải ở cơ sở vừa qua và hiện nay vẫn đang trong điều kiện nhiều khó khăn vả về khách quan và chủ quan, ngoài tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt tình còn phải có trình độ về chuyên môn và uy tín tuy nhiên, nơi nào cấp ủy, chính quyền, mặt trận quan tâm, biết phát huy sức mạnh của quần chúng, biết lắng nghe, tham khảo, học hỏi thì nơi đó hoạt động hòa giải ở cơ sở phat huy hiệu quả

III ĐỀ XUẤT, KIỆN NGHỊ

Không

Trên đây là báo cáo sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở của Hội CCB huyện Bát Xát/

Nơi nhận: TM BAN THƯỜNG VỤ

- Hội CCB tỉnh (b/c); PHÓ CHỦ TỊCH

- Phòng tư pháp huyện;

- Lưu: Hội CCB huyện.

Hồ Khánh Vinh

Ngày đăng: 10/09/2018, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w