1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO cáo NCKHSPUD 3 2018

43 234 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 815 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục được một trong những nguyên nhân trên, nhóm chúng tôi đã chọn giải pháp là “Sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà nhằm nâng cao chất lượng môn hoá học lớp 12 phần sắt và

Trang 1

I TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Một trong những mục tiêu của năm học 2017- 2018 mà Bộ trưởng bộgiáo dục đào tạo đề ra là “từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, nângcao chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn, học đi đôi với hành” Vậynếu chúng ta chỉ chú trọng đến giáo dục mũi nhọn mà không để ý đến giáodục đại trà thì chất lượng giáo dục cũng chưa được nâng cao Nói cách khácnếu trong một lớp học, giáo viên(GV) giảng dạy chỉ quan tâm đến họcsinh(HS) khá, giỏi, rồi chăm lo bồi dưỡng cho đối tượng học sinh này màkhông quan tâm gì đến các học sinh yếu, kém thì không thể nói là giáo viên

đó dạy có chất lượng Vậy dạy như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dụcđại trà? Theo chúng tôi để làm được điều đó thì mỗi giáo viên chúng ta khôngchỉ biết truyền đạt, nhồi nhét kiến thức cho học sinh mà phải biết cách hướngdẫn, tạo điều kiện giúp đỡ cho học sinh từng bước có thói quen tự tìm tòi,nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo; ngoài thời gian học ở trường cònbiết tự học ở nhà; không những học ở thầy, cô còn học hỏi từ bạn bè; biếtcách trao đổi, thảo luận, hợp tác, tương trợ giúp đỡ nhau trong học tập, màmột khi học sinh đã có ý thức tự giác trong học tập thì chất lượng giảng dạycủa giáo viên lúc đó mới thật sự được nâng cao

Ở một trường nông thôn thuộc huyện như trường trung học phổthông(THPT) Phạm Văn Đồng, trừ lớp chọn ra thì hầu như các lớp còn lại sốlượng học sinh yếu, kém nhiều, khả năng tiếp thu kiến thức rất chậm, không

có ý thức tự giác học tập Học sinh học yếu, lười tư duy, không tập trung, uểoải, mệt mỏi, sợ giáo viên gọi phát biểu nên tiết học trôi qua một cách nặng

nề Chính vì thế giáo viên muốn học sinh hiểu bài thì phải làm việc cật lực vàmất nhiều thời gian Với thời lượng một tiết học 45 phút thường chỉ đủ đểhướng dẫn học sinh học phần lý thuyết còn việc vận dụng, củng cố, hướngdẫn học ở nhà thường qua loa, đại khái, chiếu lệ, không sâu sắc, học sinh yếu,kém nắm không chắc kiến thức, không có kĩ năng vận dụng Mặt khác ởchương trình hóa học 12 lại rất ít tiết bài tập, trước mỗi tiết kiểm tra không có

Trang 2

tiết ôn tập như các môn khác, do đó học sinh không được ôn tập, hệ thống lạicác kiến thức đã học nên chất lượng các bài kiểm tra rất thấp.

Trên đây là một số nguyên nhân làm giảm chất lượng môn học

Để khắc phục được một trong những nguyên nhân trên, nhóm chúng tôi

đã chọn giải pháp là “Sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà nhằm nâng cao chất lượng môn hoá học lớp 12 (phần sắt và một số kim loại quan trọng) tại trường THPT Phạm Văn Đồng”.

Nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tại lớp 12C3 của trườngTHPT Phạm Văn Đồng Chúng tôi tiến hành

+ Lấy điểm thi học kì 1 theo đề của Sở làm điểm đối chứng

+ Điểm bài kiểm tra số 2 học kì 2 sau khi học xong phần sắt và một sốkim loại quan trọng để đối chứng

Chúng tôi thực hiện giải pháp thay thế khi dạy các bài 31, 32, 33,34 với

nội dung “Sắt và một số kim loại quan trọng”.

Kết quả cho thấy đã có tác động ảnh hưởng rõ rệt đến kết qủa học tậpcủa học sinh: Điểm bài kiểm tra số 2 học kì 2 sau khi học xong phần sắt vàmột số kim loại quan trọng có giá trị điểm trung bình là X= 6,55; Giá trị điểmtrung bình của bài thi học kì 1 là X= 4,92

Kết quả kiểm chứng của bài T-test cho thấy ttn-đc = 4,998 2,09 cónghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của bài thực nghiệm và bàiđối chứng Điều đó chứng minh rằng sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ởnhà đã nâng cao chất lượng môn hoá học lớp 12 (phần sắt và một số kim loạiquan trọng) tại trường THPT Phạm Văn Đồng

II GIỚI THIỆU

Qua thực tế giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, khảo sát ý kiến của cácgiáo viên dạy môn hóa học và học sinh đang học các lớp học đại trà ở trườngPhạm Văn Đồng, tôi nhận thấy trong tiết dạy giáo viên còn làm việc thay chohọc sinh rất nhiều Trong khi đó, học sinh học rất thụ động, lười tư duy,không phát biểu xây dựng bài Có rất ít học sinh trả lời được câu hỏi của giáo

Trang 3

viên đưa ra mặc dù câu hỏi đó rất dễ chỉ cần đọc thông tin trong sách giáokhoa thì có thể trả lời ngay được Chính vì thế tiết học kém phần sinh động vàtrôi qua một cách nặng nề Phần lớn lớn thời gian của tiết dạy chỉ dành đểgiảng giải truyền đạt phần lý thuyết nên việc vận dụng, củng cố không đượcsâu sắc Đặc biệt là phần hướng dẫn học sinh nghiên cứu bài mới trước ở nhàchưa cụ thể, rõ ràng chỉ mang tính chất đơn giản, làm cho có chứ chưa đemlại hiệu quả.

Theo chúng tôi nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do học sinh họcyếu, chưa có thói quen nghiên cứu bài mới trước ở nhà Trong khi đó hầu nhưgiáo viên ít chú trọng phần này, cuối tiết học khi đã hết giờ giáo viên thườnghay nói “các em về nhà nghiên cứu trước bài mới” Với cách hướng dẫn qualoa như thế này thì chỉ có học sinh giỏi thực sự mới đọc bài trước còn các đốitượng học sinh còn lại không biết nghiên cứu bài mới là nghiên cứu nội dung

gì và bắt đầu từ đâu nên khi lên lớp học sinh bị lúng túng, không biết giáoviên hỏi câu hỏi đó nằm trong phần nào, dựa vào đâu để để trả lời Câu hỏinào cũng thấy khó và xa lạ, không tìm ra được đáp án thì làm sao dám mạnhdạn phát biểu ý kiến mà một khi học sinh không trả lời được thì giáo viênphải chờ đợi mất thời gian, hạn chế việc hướng dẫn học sinh làm bài tập phầnvận dụng, củng cố đồng thời phải trả lời thay cho học sinh nên tiết học chủyếu thầy truyền tải, nhồi nhét kiến thức, trò chờ ghi chép, thiếu sự tương tácgiữa thầy và trò dẫn đến chất lượng, hiệu quả của tiết dạy mang lại không cao

Để khắc phục hiện trạng trên, đã có đề tài sáng kiến kinh nghiệm

nghiên cứu về việc sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà “Giúp học sinh

học tốt hơn chủ đề kim loại kiềm, kiềm thổ, nhôm hóa 12 thông qua phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà” của cô Phan Thị Cát năm học 2015 -

2016 Đề tài này đã đem lại hiệu quả thiết thực đối với trường chúng tôi Năm

học này, nhóm chúng tôi tiếp tực nghiên cứu đề tài “Sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà nhằm nâng cao chất lượng môn hoá học lớp 12 (phần sắt

và một số kim loại quan trọng) tại trường THPT Phạm Văn Đồng”.

Trang 4

Giải pháp thay thế: Sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà nhằm

nâng cao chất lượng môn hoá học lớp 12 (phần sắt và một số kim loại quan trọng) tại trường THPT Phạm Văn Đồng.

Vấn đề nghiên cứu: Việc sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà

các bài thuộc nội dung phần “sắt và một số kim loại quan trọng” có giúp nâng

cao chất lượng môn hoá học lớp 12 tốt hơn không?

Giả thuyết nghiên cứu: Sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà có

nâng cao chất lượng môn hoá học lớp 12 trường THPT Phạm Văn Đồng(phần sắt và một số kim loại quan trọng)

III PHƯƠNG PHÁP

1 Khách thể nghiên cứu

Nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tác động trên lớp 12C3 củatrường THPT Phạm Văn Đồng: Lớp 12C3 với bài kiểm tra số 2 học kì 2 là bàithực nghiệm (tn); Bài kiểm tra học kì 1 theo đề của Sở là bài đối chứng (đc)

Bảng 3: Tổng số học sinh, giới tính và dân tộc của lớp12C3

Chúng tôi sử dụng thiết kế kiểu 1: thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đốivới 1 nhóm duy nhất là lớp 12C3

Bảng 4: Kiểm tra trước và sau tác động đối với lớp 12C3

Trang 5

phần “Sắt và một số kim loại quan trọng” lớp 12

tại trường THPT PhạmVăn Đồng

02

3 Công cụ đo và quy trình nghiên cứu

3.1 Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm

Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học củanhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan Cụ thể:

Bảng 5 Thời gian thực nghiệm

Tuần Môn/Lớp Tiết theo PPCT Nội dung

29 12C3 57 Bài 34: Crom và hợp chất của

crom

3.2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

Các hoạt động trong tiết dạy môn hoá học đều có thể sử dụng phiếu họctập chuẩn bị bài ở nhà

Ở hoạt động chuẩn bị bài ở nhà: Ở hoạt động này giáo viên phát phiếu

học tập chuẩn bị bài ở nhà, học sinh nhận phiếu, về nhà đọc sách và điềnthông tin cơ bản vào phiếu

Ở hoạt động dạy kiến thức mới: Giáo viên có thể sử dụng phương pháp

đặt vấn đề để hỏi học sinh về các kiến thức đã được học sinh chuẩn bị ở nhà,giáo viên bổ sung thêm những kiến thức mới mà học sinh chưa biết

Trang 6

Ở hoạt động phần củng cố: Giáo viên có thể cho học sinh tổng hợp lại

kiến thức bằng sơ đồ tư duy

4.1 Công cụ đo lường

Xử lý các số liệu thu được bằng các phương pháp thống kê có sự hỗ trợcủa phần mềm ECXEL

- Giá trị trung bình mẫu (X):

n i 1

1(x -X)n-1

 với n < 30

+ δ): = 

n

2 i

1(x -X)n

với n ≥ 30

Trang 7

có ý nghĩa thống kê

+ Nếu t < 2,09 (α =0,05, n ≥ 30 ) thì sự sai khác không có ý nghĩa thống kê

- Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD): X -X2 1

δ): (doichung)

4.2 Nội dung đo lường

- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra học kì 1 theo đề của Sở đểlàm bài kiểm tra trước tác động nhằm kiểm chứng độ chênh lệch giữa điểmbài kiểm tra của nhóm trước và sau khi tác động

- Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra số 2 học kì 2 sau khi học

sinh học xong các bài có nội dung trong phần “sắt và một số kim loại quan trọng” do chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở lớp 12C3 Bài kiểm tra sau tác

động gồm 30 câu trắc nghiệm

Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên, chúng tôi tiến hành bài

kiểm tra, thời gian làm bài là 45 phút (nội dung kiểm tra trình bày ở phần phụ lục 2), sau đó xử lý kết quả và phân tích dữ liệu

IV KẾT QUẢ, PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN

1 Kết quả, phân tích dữ liệu trước và sau tác động

Trang 8

Chúng tôi dùng bài kiểm tra học kì 1 theo đề của Sở để làm bài kiểmtra trước tác động nhằm kiểm chứng độ chênh lệch giữa điểm bài kiểm tratrước và sau khi tác động

Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra số 2 học kì 2 sau khi học xong

các bài có nội dung trong phần “sắt và một số kim loại quan trọng” do chúng

tôi tiến hành nghiên cứu ở lớp 12C3 Giá trị điểm trung bình của bài kiểm trasau tác động (X= 6,55) cao hơn so với giá trị điểm trung bình của nhóm trướctác động (X= 4,92)

Biểu đồ so sánh giá trị điểm trung bình trước tác động và sau tác động của lớp 12C3.

Qua biểu đồ trên cho thấy giá trị điểm trung bình của bài đối chứng vàthực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, bài kiểm tra sau khi được tác động cógiá trị điểm trung bình cao hơn bài kiểm tra trước tác động (bài đối chứng)

Bảng 6 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra trước và sau tác động

Bài đối chứng (đc) 4,92 ± 0,2321

4,998Bài thực nghiệm (tn) 6,55 ± 0,2291

Bài đối chứng Bài thực nghiệm

Trang 9

khác giữa bài thực nghiệm và bài đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch

kết quả giá trị điểm của bài thực nghiệm cao hơn điểm của bài đối chứng làkhông ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động

Vậy giả thuyết ban đầu là sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhànhằm nâng cao chất lượng môn hoá học lớp 12 (phần sắt và một số kim loạiquan trọng) tại trường THPT Phạm Văn Đồng đã được kiểm chứng

V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1 Kết luận

Quá trình sử dụng phiếu học tập trong dạy học bộ môn hóa học nóichung và sử dụng phiếu học tập chuẩn bị bài ở nhà nói riêng nhằm tích cựchoạt động tự học của HS trong phần sắt và một số kim loại quan trọng hóahọc 12, chúng tôi nhận thấy chiều hướng thay đổi của HS từ sự thụ động ỷ lại,rụt rè phát biểu đến tích cực, tự lực phát hiện, giải quyết các vấn đề để chiếmlĩnh và vận dụng kiến thức mới một cách linh hoạt hơn, chủ động hơn Rènluyện được phương pháp tự học cho học sinh thông qua việc các em tự tìmtòi, nghiên cứu sách giáo khoa (SGK) giải quyết các vấn đề thông qua yêu cầunội dung của phiếu học tập (PHT) chuẩn bị trước ở nhà Qua đó giúp HS dễdàng hơn khi sử dụng PHT trên lớp để thảo luận, tranh luận trong nhóm, từ đó

ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, tăng tính phối hợp giữa các cá nhân, kíchthích sự tìm tòi, tính chủ động trong hoạt động học tập của cá nhân và củanhóm, làm tăng hiệu quả học tập, đồng thời thông qua tổ chức các hoạt độngbằng PHT, giáo viên thu nhận được thông tin ngược về kiến thức, kĩ năng củahọc sinh và có biện pháp điều chỉnh kịp thời trong quá trình giảng dạy

Trang 10

2 Khuyến nghị

2.1 Đối với lãnh đạo nhà trường

Tiếp tục tổ chức bồi dưỡng kiến thức cho giáo viên về các bước tiếnhành một đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (NCKHSPƯD),khuyến khích giáo viên đăng ký đề tài NCKHSPƯD thay cho sáng kiến kinhnghiệm

2.2 Đối với giáo viên

Không ngừng tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nhất là việc

tổ chức soạn giảng và vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy để đápứng yêu cầu dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lựcngười học

+ Tự rèn để nâng cao trình độ về mọi mặt, đặc biệt là năng lực chuyênmôn

+ Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng,hiệu quả giáo dục

+ Phải hết sức kiên trì, chịu khó, nhẫn nại trong quá trình đổi mớiphương pháp dạy học

+ Hết sức quan tâm, chăm lo đến học sinh trong quá trình giảng dạyđặc biệt là học sinh yếu, kém

+ Thường xuyên kiểm tra bài cũ và sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh.Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong rằng các bạn đồng nghiệpquan tâm, chia sẻ và ứng dụng vào dạy học ở tất cả các bài học, tất cả cáckhối lớp nhằm nâng cao chất lượng môn hóa học nói riêng và các môn họckhác nói chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ giáo dục trung học, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông, môn hóa học lớp 12, chương trình chuẩn, Hà Nội 2009

Trang 11

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ giáo dục trung học, Tài liệu tập huấn dạy học

và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, môn hóa học, cấp trung học phổ thông, Hà Nội 2014

3 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Quy Nhơn, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên THPT năm 2014- chuyên đề: Tiếp cận một số phương pháp dạy học hiện đại, Bình Định 2014

4 Quan Hán Thành, Trắc nghiệm khách quan hóa học 12, NXB Giáo dục

Trang 12

(Đọc thông tin SGK, hoàn thành nội dung PHT sau):

……… + Tác dụng với dung dịch H2SO4 đặc, nóng, HNO3đặc, nóng:

……… + Tác dụng với dung dịch HNO3 loãng:

……… + Tác dụng với dung dịch H2SO4 đặc, nguội, HNO3đặc, nguội:

……… + Tác dụng với dung dịch muối:

………

Trạng thái tự

nhiên

Trang 13

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Bài tập củng cố (Chọn đáp án đúng nhất)

Câu 1: Số electron lớp ngoài cùng của sắt là

Câu 3: Trong các loại quặng sắt, quặng có hàm lượng sắt cao nhất là

A hematit nâu B manhetit C xiđerit D hematit đỏ.

Câu 4: Hai dung dịch đều phản ứng được với kim loại Fe là

Vị trí : Sắt là nguyên tố kim loại chuyển tiếp, thuộc nhóm

VIIIB, chu kì 4, số hiệu nguyên tử là 26

Trang 14

Tính chất

hóa học

Sắt là kim loại có tính khử trung bình Khi tác dụng với chất oxi hóa yếu Fe bị oxi hóa thành Fe2+, với chất oxi hóa mạnh Fe bị oxi hóa thành Fe3+

- Tác dụng với axit HCl, H2SO4 loãng:

Fe khử dễ dàng ion H+ trong axit HCl, H2SO4 loãng thành khí H2, đồng thời Fe bị oxi hóa thành Fe2+

- Tác dụng với dung dịch HNO3 loãng

Fe + 4HNO3 (loãng)  t o Fe(NO3)3 + NO + 2H2O

- Tác dụng với dung dịch H2SO4 đặc, nguội, HNO3 đặc, nguội

Sắt bị thụ động hóa trong axit HNO3 đặc, nguội và H2SO4đặc, nguội

Trang 15

- Tác dụng với dung dịch muối:

Sắt khử được những ion của kim loại yếu hơn trong dung dịch muối thành kim loại tự do

Fe + CuSO4   FeSO4 + Cu

Fe + 3AgNO3 (dư)   Fe(NO3)3 + 3Ag

Fe (dư) + 2AgNO3   Fe(NO3)2 + 2Ag

Trạng thái

tự nhiên

- Sắt chiếm khoảng 5% khối lượng vỏ trái đất

- Trong tự nhiên, sắt tồn tại chủ yếu ở dạng hợp chất

Quặng sắt quan trọng: manhetit (Fe3O4), hematit đỏ (Fe2O3), hematit nâu (Fe2O3.nH2O), xiđerit (FeCO3), pirit (FeS2)

- Sắt có trong hemoglobin (huyết cầu tố) của máu

Sắt (II) hidroxit Fe(OH) 2

Trang 16

(Đọc thông tin SGK, hoàn thành nội dung PHT sau):

Trang 17

A FeSO4 B Fe(OH)3 C Fe2O3 D Fe2(SO4)3

Câu 2: Sắt có thể tan trong dung dịch nào sau đây?

A FeCl2 B FeCl3. C MgCl2 D AlCl3.

Câu 3: Hợp chất nào sau đây của sắt vừa có tính oxi hóa, vừa có tính khử?

A FeO B Fe2O3. C Fe(OH)3 D Fe(NO3)3.

Câu 4: Chất có tính oxi hoá nhưng không có tính khử là

A Fe B Fe2O3 C FeCl2 D FeO.

Câu 5: Chất phản ứng với dung dịch FeCl3 cho kết tủa là

A Cu(OH)2 B CH3OH C NaOH D CH3COOH.

Câu 6: Nung 21,4 gam Fe(OH)3 ở nhiệt độ cao đến khối lượng không đổi,thu được m gam một oxit Giá trị của m là

Trang 18

A 16 B 14 C 8 D 12.

Câu 7: Khử hoàn toàn 16 gam Fe2O3 bằng khí CO ở nhiệt độ cao Khí đi rasau phản ứng được dẫn vào dung dịch Ca(OH)2 dư Khối lượng kết tủa thuđược là

A 15 gam B 20 gam C 25 gam D 30 gam.

Sắt (II) hidroxit Fe(OH) 2

Sắt (II) hiđroxit, Fe(OH)2: là chất rắn, màu trắng xanh, không tan trong nước Trong không khí ẩm, Fe(OH)2 dễ

bị oxi hóa trong thành Fe(OH)3 màu nâu đỏ

4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O   4Fe(OH)3

Muối sắt (II): Đa

số muối sắt (II) tan trong nước, khi kết tinh thường ở dạng ngậm nước như FeSO4.7H2O, FeCl2.4H2O,

Trang 19

Điều chế FeO: Nhiệt phân

Fe(OH)2, khửFe2O3

Fe(OH)2  t o

FeO + H2OFe2O3 + CO

500600o C 2FeO+ CO2

Fe(OH)2: cho muối sắt (II) tác dụng với dung dịch bazơ trongđiều kiện không có không khí

FeCl2 + 2NaOH

 

 Fe(OH)2 + 2NaCl

Muối sắt (II): cho

Fe hoặc các hợpchất sắt (II) nhưFeO Fe(OH)2, tác dụng với axitHCl, H2SO4 loãng(không có khôngkhí) Dung dịchmuối sắt (II) thuđược có màu lụcnhạt

dùng làm chất diệt sâu bọ có hại cho thực vật, pha chế sơn, mực và dùng trong kĩ nghệ nhuộm vải

Sắt (III) hiđroxit, Fe(OH)3: là chất rắn, màu nâu đỏ, khôngtan trong nước

Muối sắt (III): Đa số muối sắt (III) tan trong nước, khi kết tinh thường ở dạng ngậmnước như Fe2(SO4)3.9H2O, FeCl3.6H2O,

Điều chế Fe2O3: nhiệt Fe(OH)3: cho Muối sắt (III): Cho Fe tác

Trang 20

muối sắt (III) tác dụng với dung dịch bazơ

3NaOH

 

Fe(OH)3 + 3NaCl

dụng với các chất oxi hóa mạnh như Cl2, HNO3, H2SO4đặc, hoặc các hợp chất sắt (III) tác dụng với axit HCl, H2SO4 loãng,

Dung dịch muối sắt (III) thu được có màu vàng nâu

Ứng

dụng

Fe2O3 được dùng để pha chế sơn chống gỉ

- FeCl3 được dùng làm chất xúc tác trong một số phản ứng hữu cơ

- Fe2(SO4)3 có trong phèn sắt–amoni

(NH4)2SO4.Fe2(SO4)3.24H2O

ĐÁP ÁN PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Tìm hiểu về tính chất hóa học các hợp chất sắt (II) và hợp chất sắt (III) Hợp

Sắt (II) - Tính khử:

Trang 21

2Fe(OH)2 + 4H2SO4(đặc)  t o Fe2(SO4)3 + SO2 + 6H2O

3Fe(OH)2 +10HNO3 (loãng)  t o 3Fe(NO3)3 + NO + 8H2O

- Tính bazơ: tác dụng với axit HCl, H2SO4 loãng, tạo ra muối

Fe2+

FeO + 2HCl    FeCl2 + H2O

Fe(OH)2 + H2SO4 (loãng)    FeSO4 + 2H2O

- Là hiđroxit kém bền, dễ bị phân hủy bởi nhiệt

+ Nhiệt phân Fe(OH)2 không có không khí:

Fe(OH)2  t o FeO + H2O

+ Nhiệt phân Fe(OH)2 trong không khí:

4Fe(OH)2 + O2   t o 2Fe2O3 + 4H2O

Ngày đăng: 10/09/2018, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w