1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC Ở VIỆT NAM

84 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề an ninh lương thực của quốc gia hiện nay được đảm bảo, nhưng trước những sức ép về cung và cầu luơng thực hiện nay như: diện tích sản xuất lương thực mỗi ngày một giảm, năng suất

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG

THỰC Ở VIỆT NAM

VÕ THỊ KIỀU OANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2009

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Chí Minh xác nhận khoá luận “PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC Ở VIỆT NAM” do VÕ THỊ KIỀU OANH, sinh viên khoá 31, ngành KINH TẾ NÔNG LÂM, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày………

NGUYỄN VĂN NGÃI

Người hướng dẫn (Chữ ký)

Chủ tịch hộ đồng chấm báo cáo Thư kí hộ đồng chấm báo cáo

(Chữ ký ( Chữ ký

họ tên) họ tên)

Ngày… tháng……năm Ngày…… tháng…… năm

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn đến thầy, cô ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm, Thành Phố Hồ Chí Minh Cảm ơn, các thầy, cô của Khoa Kinh Tế đã truyền thụ những kiến thức bổ ích, kinh nghiệm quý báu cùng sự chỉ bảo tận tâm của thầy, cô trong suốt 4 năm học tại trường, làm hành trang vững chắc cho em trong cuộc sống

Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Ngãi, Người đã tận tâm hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm, giúp tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả người thân và bạn bè đã đóng góp ý kiến, trao đổi kinh nghiệm trong suốt thời gian học ở lớp cũng như thời gian làm khóa luận

Xin gửi lời cảm ơn chân thành!

Sinh viên thực hiện

Võ Thị Kiều Oanh

Trang 4

Qua việc tổng hợp số liệu thống kê cho thấy, hiện nay diện tích gieo trồng lương thực giảm đáng kể do tốc độ CNH – ĐTH diễn ra nhanh chóng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là ở hai vùng sản xuất lương thực lớn nhất nước là ĐBSH và ĐBSCL chiếm 50 đến 70% ản lượng của cả nước Mặt khác, tốc độ tăng năng suất của hai vùng trọng điểm này lại thấp hơn so với các vùng khác trong cả nước Với những tác động này đã ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề an ninh lương thực của quốc gia trong tương lai Theo kết quả tính toán, dự báo đến năm 2020 nếu tốc độ tăng năng suất chỉ đạt 0,5% hoặc không thay đổi, Việt Nam phải nhập khẩu thêm lương thực Do đó khoá luận đã đưa ra những chính sách nhằm hạn chế chuyển đổi đất sản xuất lương thực, để đảm bảo sản lượng lương thực của quốc gia trong tương lai

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii DANH MỤC CÁC HÌNH x

1.1 Lý do chọn đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2 1.4 Cấu trúc luận văn 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 4 2.1 Điều kiện tự nhiên của Việt Nam 4

2.1.2 Điều kiện khí hậu 5

2.1.3 Nguồn nước và thủy văn 6

2.1.4 Địa hình và đất đai 7

2.2 Tình hình sử dụng đất 11

2.3 Tình hình kinh tế xã hội 12

2.3.1 Dân số và lao động 12

2.3.2 Cơ cấu ngành nghề nông thôn năm 2006 13

2.4 Cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ cho phát triển nông nghiệp 14

2.4.1 Thủy lợi và khuyến nông 14

2.4.2 Điện nông thôn 14

2.4.3 Giao thông nông thôn 15

2.5 Tình hình an ninh lương thực thế giới những năm gần đây 17

2.6 Chiến Lược An Ninh Lương Thực của Việt Nam Đến Năm 2020 22

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Cơ sở lí luận 27 3.1.1 Nhận thức quan điểm về an ninh lương thực 27

Trang 6

3.1.2 Khái niệm về an ninh lương thực 27

3.1.3 Vai trò của an ninh lương thực ở Việt Nam 29

3.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33

3.2.2 Phương pháp phân tích chung 33

3.2.3 Phương pháp xử lí số liệu 34

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Tình hình cung lương thực và những sức ép đối với cung lương thực ở Việt

4.1.1 Tình hình sản xuất lương thực 35

4.1.2 Những sức ép đối với nguồn cung lương thực của Việt Nam 40

4.2 Cầu lương thực và những sức ép đối với cầu luơng thực 54

4.2.1 Cầu luơng thực cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu 54

4.2.2 Những sức ép đối với cầu lương thực 59

4.3 Biện pháp đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia trong tương lai 65

4.3.1 Biện pháp đối với nguồn cung lương thực (đảm bảo giữ diện tích, tăng

năng suất) 65 4.3.2 Đối với nhu cầu tiêu thụ lương thực 68

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69 5.2 Kiến nghị 70 5.2.1 Đối với nhà nước 70

5.2.2 Đối với nông dân 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á

BTNMT Bộ Tài Nguyên Môi Trường

CNH - ĐTH Công Nghiệp Hoá - Đô Thị Hoá

ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long

ĐBSH Đồng Bằng Sông Hồng

ĐKKT - XH Điều Kiện Kinh Tế Xã Hội

ĐKTN Điều Kiện Tự Nhiên

DTBQ Diện tích bình quân

FAO Tổ Chức Nông Liên Hiệp Quốc (Food and Agricultural) FDI Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Foreign Direct Investment) LĐNN Lao động nông nghiệp

NGTK Niên Giám Thống Kê

NN Nông nghiệp

NN & PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn

ODA Nguồn vốn viện trợ nước ngoài

TCTK Tổng Cục Thống Kê

TP Thành Phố

WB Ngân hàng thế giới (World Bank)

WTO Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thể Hiện Tình Hình Sản Xuất Đất Nông Nghiệp Năm 2006 So với 2001 11

Bảng 2.2: Tình Hình Dân Số và Lao Động 12

Bảng 2.3: Cơ Cấu Ngành Nghề ở Nông Thôn Năm 2006 13

Bảng 2.4: Sản Lương Lương Thực Bình Quân Hằng Năm của Thế Giới 17

Bảng 2 5: Dự Trữ Lúa Gạo của Các Quốc Gia Trên Thế Giới 18

Bảng 2.6: Chỉ Số Giá Lương Thực Thế Giới 19

Bảng 2.7: Giá Xuất Khẩu Một Số Loại Lương Thực Của Một Số Nước 20

Bảng 2.8: Dự Kiến Cân Đối Cung Cầu Thóc Gạo của Việt Nam Đến Năm 2020 24

Bảng 4.1: Sản Lượng Các Loại Cây Lương Thực Qua Các Năm 37

Bảng 4.2: Diện tích lúa gieo trồng qua các năm 41

Bảng 4.3: Tình Hình Chuyển Đổi Cơ Cấu Diện Tích Đất Nông Nghiệp Năm 2006 So

với 2001 44 Bảng 4.4: Dự Báo Diện Tích Đất Trồng Lúa 3 Vụ của Những Năm Trong Tương Lai

của Cả Nước 46

Bảng 4.5: Năng Suất Lúa Cả Năm Của Các Vùng Trong Cả Nước Giai Đoạn 2000 –

2007 47 Bảng 4.6: Cơ Cấu ODA Theo Lĩnh Vực Thời Kì 2006 – 2010 50

Bảng 4.7: Tỷ Lệ Vốn FDI Đầu Tư vào Nông Nghiệp Qua Các Năm 51

Bảng 4.8: Dự Báo Diện Tích Gieo Trồng Cả Năm, Tốc Độ Tăng Năng Suất Trung

Bình 2,8% Năm Giai Đoạn 2000 - 2007, Sản Lượng Trong Tương Lai 52

Bảng 4.9: Dự Báo Diện Tích Gieo Trồng Cả Năm, Tốc Độ Tăng Năng Suất Bình Quân

2%/Năm, Sản Lượng Trong Tương Lai 52

Bảng 4.10: Dự Báo Diện Tích Gieo Trồng Cả Năm, Tốc Độ Tăng Năng Suất Bình

Quân 1,5%/Năm, Sản Lượng Trong Tương Lai 53

Bảng 4.11: Dự Báo Diện Tích Gieo Trồng Cả Năm, Tốc Độ Tăng Năng Suất Bình

Quân 1%/Năm, Sản Lượng Tương Lai 53

Bảng 4.12: Dự Báo Diện Tích Gieo Trồng Cả Năm, Tốc Độ Tăng Năng Suất Bình

Quân 0,5%/Năm 53

Trang 9

Bảng 4.13: Dự Báo Diện Tích Gieo Trồng Cả Năm, Năng Suất Không Thay Đổi, Sản

Lượng Trong Tương Lai 54

Bảng 4.14: Sản Luợng Thóc Tiêu Dùng Qua Các Năm 55

Bảng 4.15:Tiêu Dùng Gạo Bình Quân Đầu Người Mỗi Năm 56

Bảng 4.16: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam qua các năm 56

Bảng 4.17: Dự Báo Về Dân Số Với Tốc Độ Tăng Bình Quân 1,33%/Năm Giai Đoạn

2001- 2007, Nhu Cầu Tiêu Dùng Thóc Bình Quân Đầu Người/Năm giảm 25/năm,

Mức Tiêu Dùng Thóc 61

Bảng 4.18: Dự Báo Về Nhu Cầu Lương Thực Dùng Chế Biến Thức Ăn Cho Chăn

Nuôi, Khi Nhu Cầu Về Thịt Tăng 5,8%/Năm 62

Bảng 4.19: Dự Báo Cân Đối Cung Cầu Thóc Cho Tiêu Dùng Trong Nước Và Xuất

Khẩu Trong Tương Lai, Tương Ứng với Mức Sản Lượng Khi Tốc Độ Tăng Năng Suất

Bình Quân 2,8%/Năm; Đơn vị tính triệu tấn/năm 63

Bảng 4.20: Dự Báo Cân Đối Cung Cầu Cho Tiêu Dùng Trong Nước Và Xuất Khẩu

Trong Tương Lai, Tương ứng Với Mức Sản Lượng Khi Tốc Độ Tăng Năng Suất Bình

Quân 2%/Năm 63 Bảng 4.21: Dự Báo Cân Đối Cung Cầu Cho Tiêu Dùng Trong Nước Và Xuất Khẩu

Trong Tương Lai, Khi Tốc Độ Tăng Năng Suất Là 1,5%/Năm 63

Bảng 4.22: Dự Báo Cân Đối Cho Nhu Cầu Tiêu Dùng Thóc Trong Nước Và Xuất

Khẩu Tương ứng Với Mức Sản Lượng Khi Tốc Độ Tăng Năng Suất Chỉ 1%/Năm 64

Bảng 4.23: Dự Báo Cân Đối Cho Nhu Cầu Tiêu Dùng Thóc Trong Nước Và Xuất

Khẩu Tương ứng Với Mức Sản Lượng Khi Tốc Độ Tăng Năng Suất 0,5%/Năm 64

Bảng 4.24: Dự Báo Cân Đối Cho Nhu Cầu Tiêu Dùng Thóc Trong Nước và Xuất

Khẩu Tương Ứng với Mức Sản Lượng Khi Tốc Độ Tăng Năng Suất Chỉ Đạt 0%/Năm

64 Bảng 4.25: Kết Quả So Sánh Giá Trị Sản Lượng Giữa 1ha Trồng Lúa So Với Các Cây

Trồng Khác, Nuôi Trồng Thuỷ Sản 66

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Đồ Thị Thể Hiện Tỷ Lệ Xã, Thôn, Hộ Có Điện 15

Hình 2.2: Đồ Thị Thể Hiện Tỷ lệ xã có đường ô tô, đường liên thôn được nhựa bê tông

Hình 4.1: Đồ Thị Thể Hiện Diện Tích Trồng Các Loại Cây Lương Thực Qua Các Năm

36 Hình 4.2: Đồ Thị Thể Hiện Sản Lượng Lương Thực Qua Các Năm 38

Hình 4.3: Đồ Thị Thể Hiện Năng Suất Lúa và Ngô của Việt Nam 39

Hình 4.4: Đồ Thị Thể Hiện Diện Tích Gieo Trồng Lúa của Các Vụ Trong Năm 45

Hình 4.5: Đồ Thị Thể Hiện Tình Hình Xuất Khẩu Gạo của Việt Nam Qua Các Năm

1986 - 2007 58 Hình 4.6: Đồ Thị Thể Hiện Tình Hình Dân Số Việt Nam Qua Các Năm 1988 - 2007 59

Hình 4.7: Đồ Thị Thể Hiện Xu Hướng Mức Tiêu Thụ Một Số Loại Thực Phẩm 61

Trang 11

là yếu tố then chốt để ổn định kinh tế, chính trị - xã hội của đất nước Những năm gần đây vấn đề nóng mà xã hội quan tâm là sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu và mất an ninh lương thực của hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngay cả đối với Châu Á vốn được mệnh danh là “vựa lúa của thế giới” như :Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc và trong

đó có Việt Nam Cung lương thực không đủ cầu chứa đựng những tiềm ẩn nguy cơ bất

ổn định về an ninh, xã hội và chính trị của nhiều quốc gia

Cơ cấu lương thực gồm gạo, khoai lang, sắn trong đó gạo là nguồn lương thực chủ yếu trong bữa ăn, khoai lang và sắn dùng làm để sản xuất thức ăn chăn nuôi Hiện nay, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan, với gần 80% dân số làm nông nghiệp mà chủ yếu là sản xuất lúa Tuy nhiên năm 2008 vừa qua nền kinh tế bị lạm phát giá cả của tất cả các mặt hàng đều leo thang, cùng với sự khủng hoảng về an ninh lương thực của thế giới đã làm cho giá lúa gạo trong nước biến động và tăng cao đột biến kể từ năm 1986 đến nay Trước tình hình lạm phát, và khủng hoảng an ninh lương thực Chính Phủ của nước ta đã có chính sách tạm ngưng xuất khẩu gạo để kiềm chế lạm phát và đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia, nhưng do dự báo sai sản lương lương thực thu hoạch nên chính sách chưa thực sự tối

ưu đã gây nhiều thiệt hại cho người nông dân và các công ty kinh doanh gạo trong nước Vấn đề về tăng giá lương thực nêu trên chỉ là một trong những nguyên nhân tức thời gây mất an ninh lương thực, và vấn đề cần quan tâm ở đây chính là nhân tố gây

Trang 12

ảnh hưởng đến an ninh lương thực của quốc gia trong tương lai như: sự gia tăng dân

số, ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu mực nước biển mỗi năm một dâng cao làm giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp, sâu bệnh, thiên tai, và quá trình công nghiệp hóa –

đô thị hóa cũng chiếm dụng đất nông nghiệp

Mặc dù Việt Nam hiện nay đã có nhiều thành công trong công cuộc cải cách đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn Các chính sách thực hiện xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tựu, đời sống người dân nông thôn mỗi ngày một khá hơn Vấn đề an ninh lương thực của quốc gia hiện nay được đảm bảo, nhưng trước những sức ép về cung và cầu luơng thực hiện nay như: diện tích sản xuất lương thực mỗi ngày một giảm, năng suất tăng với tốc độ giảm dần, trong khi đó nhu cầu lương thực tăng lên dân số mỗi năm tăng 1,2%, và nhu cầu thay đổi khẩu phần ăn do thu nhập tăng Vậy cung và cầu lương thực của quốc gia trong tương lai có cân bằng được hay không? Và vấn đề đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai được giải quyết như thế nào? Chiến lược an ninh lương thực của quốc gia được dự kiến ra sao? Trước những vấn đề này tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN

ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC Ở VIỆT NAM”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích tình hình an ninh lương thực của quốc gia, đưa ra một số ý kiến về chính sách đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Phân tích thực trạng an ninh lương thực ở Việt Nam hiện nay;

- Phân tích các nhân tố tác động đến an ninh lương thực: gia tăng dân số, lạm phát giá lương thực tăng, diện tích đất canh tác nông nghiệp giảm, năng suất lương thực trung bình/năm, thu nhập bình quân đầu người/năm;

- Đưa ra một số ý kiến về chính sách đảm bảo an ninh lương thực của nước ta trong thời gian tới

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu trong phạm vi cả nước, chủ yếu lấy số liệu thứ cấp các vấn đề liên đến sản xuất và tiêu dùng lương thực của quốc gia, dựa trên cân đối cung cầu xác định khả năng đảm bảo an ninh lương thực hiện tại và dự báo trong tương lại

Trang 13

1.4 Cấu trúc luận văn

Nội dung nghiên cứu và kết cấu của luận văn được trình bày trong 5 chương

Khái quát chung về tình hình an ninh lương thực của thế giới

Dự kiến cân đối cung cầu thóc gạo của Việt Nam đến năm 2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn soạn thảo

Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Các khái niệm về an ninh lương thực, những nhận thức quan điểm về an ninh lương thực, vai trò của an ninh lương thực đối với quốc gia, những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và đảm bảo an ninh lương thực Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Phân tích tình hình cung, cầu và những áp lực đối với cung và cầu về lương thực của quốc gia hiện nay và dự báo trong tương lai

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Kết luận chung và đưa ra một số kiến nghị về chính sách để đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia trong tương lai

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Điều kiện tự nhiên của Việt Nam

2.1.1 Vị trí địa lí

Lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai bộ phận: phần đất liền ( diện tích 330.991 km2) và phần biển rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền

a) Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đặc điểm đó đã làm cho

thiên nhiên nước ta có sự khác hẳn với so với các nước khác trên thế giới có cùng vĩ

độ ở Tây Á, Đông Phi, Tây Phi và tác động sâu sắc tới các hoạt động kinh tế

Trang 15

b) Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng Vị trí tiếp giáp trên đất liền và

trên biển làm cho nước ta có thể dễ dàng giao lưu về kinh tế và văn hoá với nhiều nước trên thế giới

c) Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Xingapo, sau đó là

Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á – Thái Bình Dương Trong nhiều năm liên tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào nửa sau thập kỷ 90, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đạt khá cao Vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Bão Lingling bên ngoài bờ biển Việt Nam năm 2001

Khí hậu Việt Nam là khí hậu Nhiệt đới gió mùa Lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới, đồng thời nằm ở rìa phía đông nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông (một phần của Thái Bình Dương), nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi vào các vùng vĩ độ thấp

Lượng mưa hàng năm ở mọi vùng đều lớn dao động từ 120 đến 300 xentimét,

và ở một số nơi có thể gây lên lũ Gần 90% lượng mưa đổ xuống vào mùa hè Nhiệt độ trung bình hàng năm ở đồng bằng nói chung hơi cao hơn so với vùng núi và cao nguyên Dao động nhiệt độ từ mức thấp nhất là 5°C từ tháng 12 đến tháng 1, tháng lạnh nhất, cho tới hơn 37°C vào tháng 4, tháng nóng nhất Sự phân chia mùa ở nửa

Trang 16

Các vùng khí hậu, Việt Nam có bốn mùa khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu phía Nam, miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ, và miền khí hậu biển Đông

Miền khí hậu phía Bắc: Bao gồm phần lãnh thổ phía Bắc dãy Hoành Sơn Miền này có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa xuân, hè, thu, đông rõ rệt Tuy nhiên, miền khí hậu này có đặc điểm là mất ổn định với thời gian bắt đầu – kết thúc các mùa

và nhiệt độ

Miền khí hậu phía Nam: Gồm phần lãnh thổ thuộc Tây Nguyên và Nam Bộ Miền này có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với hai mùa: mùa khô và mùa mưa (từ tháng 4-5 đến tháng 10-11) Quanh năm, nhiệt độ của miền này cao Khí hậu miền này ít biến động nhiều trong năm

Miền khí hâu Trung và Nam Trung Bộ: Gồm phần lãnh thổ phía Đông dãy Trường Sơn, kéo dài từ phía Nam dãy Hoành Sơn tới Phan Thiết

Miền khí hậu biển Đông: Biển Đông Việt Nam mang đặc tính hải dương và tương đối đồng nhất

Mỗi miền có những đặc tính khí hậu khác nhau, và khí hậu biến đổi theo các mùa khác nhau trong năm Vì vậy, phải hiểu được những đặc tính của mỗi miền mà có

kế hoạch chọn từng loại giống cây lương thực phù hợp với điều kiện khí hậu của mỗi miền và với những mùa vụ khác nhau trong năm Đối với vụ đông xuân và hè thu thì chọ những loại giống dài ngày, còn đối với vụ 3 chọn những giống ngắn ngày vì phải thu hoạch sớm, trước khi mùa lũ lụt xảy ra

2.1.3 Nguồn nước và thủy văn

Tài nguyên nước ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, gồm cả nguồn nước mặt và nước ngầm ở các thủy vực tự nhiên, và nhân tạo như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo (hồ chứa), giếng khơi, hồ đập, ao, đầm phá và các túi nước ngầm Theo chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năn 2020 (BTNMT, 2005) Việt Nam có khoảng 2.372 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính Trong số này, có 9 con sông (sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vi Gia – Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông

Trang 17

Cửu Long) và 4 nhánh sông (sông Hồng, sông Lô, sông Sê San, sông Srê Pok) đã tạo nên một vùng lưu vực trên 10.000 km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích sông của mạng lưới sông ở Việt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam có rất nhiều các loại hồ tự nhiên,

hồ đập, đầm phá, vực nước có kích thước khác nhau tùy thuộc vào mùa Một số hồ lớn được biết đến như hồ Lak (rộng khoảng 10km2 ở Dak Lak), Biển Hồ (rộng 2,2 km2 ở Gia Lai), Hồ Ba Bể (rộng 5km2 ở Bắc Kạn) và hồ Tây (rộng 4,5km2 ở Hà Nội Các đầm phá lớn thường gặp ở cửa sông vùng duyên hải miền Trung như Tam Giang, Cầu Hai và Thị Nại Với điều kiện nguồn nước phong phú của Việt Nam thuận lợi cho việc tưới tiêu, ngăn lũ lụt, hạn hán vì có khả năng chứa nước lớn, đảm bảo khả năng phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện có 3.500 hồ chứa nhỏ và khoảng 650 hồ chứa cỡ lớn và trung bình để sản xuất điện, kiểm soát lũ lụt, giao thông đường thủy, thủy lợi và nuôi trồng thủy sản (FAO, 1999)

Mặc dù tài nguyên nước ở Việt Nam có trữ lượng dồi dào nhưng trên thực trên nguồn nước có thể sử dụng ngay (sẵn dụng) là hạn hữu vì sự phân bố không đồng đều Nhiều vùng bị thiếu nước sạch để sinh hoạt ô nhiễm, lũ lụt, sạt lỡ đất, hạn hán và các tác nhân khác Chất lượng nước bị suy giảm nghiêm trọng đã hủy hoại môi trường sống và đẩy còn người đến gần các rủi ro nguy hiểm Theo ước tính, khoảng 37% nước bị mất đi do lãng phí, thậm chí có nơi lên đến 50% (Jordan, 2003) Nguyên nhân một phần do hệ thống tưới tiêu hiện tại chỉ có khả năng cung cấp nước cho khoảng 50 – 60% theo yêu cầu thiết kế được tưới (Nguyễn Xuân Tiệp, 2002)

Và những bất cập đối với nguồn nước của Việt Nam hiện nay, là tình trạng các sông, kênh phục vụ cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp bị ô nhiễm Do tốc

độ công nghiệp hóa tăng cao, kèm theo đó là hệ thống xử lí chất thải của các khu công nghiệp, các công ty còn kém, hoặc không xử lí chất thải độc hại trước khi thải ra môi trường, và các cơ quan chuyên ngành chưa có những biện pháp ngăn chặn, xử lí thích đáng đối với các khu công nghiệp sản xuất thải chất thải gây ô nhiễm nguồn nước, gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp Chẳng hạn như các khu công nghiệp: Lê Minh Xuân, Tân Phú Trung – Củ Chi, khu vực huyện Hooc Môn, và các kênh Thầy Cai, An

Hạ và các dòng sông: Sông Đồng Nai, Sông Sài Gòn…

2.1.4 Địa hình và đất đai

Trang 18

Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với những vùng đất thấp, đồi núi, nhiều cao nguyên với những cánh rừng rậm Đất đai có thể dùng cho nông nghiệp chiếm chưa tới 20% Đất nước bị chia thành miền núi, vùng Đồng Bằng Sông Hồng ở phía Bắc; và dãy Trường Sơn, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung, và Đồng Bằng Sông Cửu Long

ở phía Nam

Đồng Bằng sông Hồng: Đồng bằng sông Hồng là một vùng hình tam giác, diện tích 15.000 km2 , hơi nhỏ hơn nhưng lại đông dân hơn đồng bằng sông Cửu long Thời trước nó là một vịnh nhỏ của vịnh Bắc Bộ, dần dần nó được bồi đắp bằng khối lượng phù sa lắng đọng khổng lồ của các con sông, thuộc hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình, qua hàng nghìn năm khiến mỗi năm lấn thêm ra biển khoảng một trăm mét Đây là nơi sinh sống của tổ tiên Người Việt Trước năm 1975, Đồng Bằng Sông Hồng chiếm 70% sản lượng nông nghiệp và 80% sản lượng công nghiệp miền Bắc Việt Nam

Châu thổ Sông Hồng nhìn từ vệ tinh

Sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam ở Trung Quốc, dài khoảng 1.200 km Hai hợp lưu là sông Lô và sông Đà cùng góp phần vào tổng lưu lượng hàng năm trung bình lên tới 500 triệu mét khối mỗi giây Con số này có thể tăng lên gấp 60 lần vào mùa mưa, vùng châu thổ dựa lưng vào vùng trung du và thượng du núi non Cao độ của vùng châu thổ chỉ khoảng hơn 3 mét so với mực nước biển, thậm chí đa phần chỉ

là một mét hay còn thấp hơn nữa Vì là đất thấp nên châu thổ hay bị lũ lụt, ở một số nơi mực nước lũ đã từng dâng ngập làng mạc dưới 14 mét nước Qua nhiều thế kỷ, việc phòng lụt đã trở thành công việc gắn liền với văn hóa và kinh tế của vùng Hệ thống đê điều và kênh mương rộng lớn đã được xây dựng để chứa nước sông Hồng và

Trang 19

để tưới tiêu cho vùng châu thổ giàu lúa gạo này cũng để tháo nước khi bị lũ lụt Hệ thống này sau nhiều thế hệ đã góp phần duy trì mật độ dân số cao ở đồng bằng Sông Hồng và làm tăng gấp đôi diện tích có thể canh tác lúa nước ở đây

Miền núi và Trung Du: Phía Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Việt nam là vùng miền núi và trung du bao gồm nhiều dãy núi, khối núi, cao nguyên và các đồi Đây là nơi sinh sống của nhiều nhóm, dân tộc thiểu số Những dãy núi lớn ở đây là Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn Nhiều ngọn núi có độ cao trên 2.000 mét, trong đó Phan Xi Păng là ngọn cao nhất, lên đến 3.143 mét Ở vùng Đông Bắc và miền Trung nhiều dãy núi chạy ra biển, tạo thành những cảnh quan tự nhiên tráng lệ

Ruộng bậc thang ở Lào Cai

Tây Nguyên: Ở Nam Trung Bộ Việt Nam có hệ thống cao nguyên ở phía Tây dãy núi Trường Sơn được gọi là Tây Nguyên rộng gần 51.8000 km2 Ở đây có những đỉnh núi lởm chởm, những khu rừng rộng và đất đai phì nhiêu Tổng cộng diện tích năm vùng cao nguyên phẳng đất bazan trải dài qua các tỉnh Đắk Lăk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng, lên đến 16% diện tích đất canh tác và 22% diện tích rừng

cả nước Trong chiến tranh Việt Nam cao nguyên miền trung và dãy Trường Sơn là những vùng có vị trí chiến lược quan trọng, không chỉ chi phối miền Nam Việt Nam

mà cả phần phía nam lục địa Đông Dương Từ năm 1975, các cao nguyên là nơi cung cấp đất đai cho dân cư từ những vùng đồng bằng thấp quá đông đúc

Trang 20

Đồng Bằng ven Biển: Những vùng đồng bằng thấp và phẳng ven biển trải dài từ phía nam đồng bằng sông Hồng tới châu thổ sông Cửu Long Ở phía đất liền, dãy Trường Sơn mọc dựng đứng trên bờ biển, các mũi của nó ở nhiều chỗ chạy xiên ra biển Nói chung mảnh đất ven biển khá mầu mỡ và được canh tác dày đặc.

Đèo Hải Vân, một mạch dãy Trường Sơn lan ra tận biển

Đồng bằng Sông Cửu Long: Đồng bằng sông Cửu Long, với diện tích 40.000

km vuông, là một đồng bằng thấp Mọi vị trí trên đồng bằng này không cao hơn ba mét

so với mực nước biển Đồng bằng bị chia cắt dọc ngang bởi nhiều con kênh và các con sông Con sông mang nặng phù sa trên mọi nhánh chằng chịt của nó làm cho đồng bằng hàng năm tiến thêm về phía biển 60 đến 80 mét Các con sông bồi đắp nên đồng bằng này thuộc hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Đồng Nai Một nguồn thông tin chính thức của Việt Nam ước tính rằng khối lượng phù sa lắng động hàng năm là khoảng một tỷ mét khối, hay gần gấp 13 lần khối lượng phù sa lắng đọng của sông Hồng Khoảng 10.000 km vuông đồng bằng hiện được dùng cho canh tác lúa gạo, biến đây trở thành một trong những vùng sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới Mũi phía nam, được gọi là mũi Cà Mau, hay mũi Bãi Bung, là nơi có mật độ rừng rậm cao

và các đầm lầy

Làng quê Cái Mơn – Bến Tre

Trang 21

Các miền tự nhiên: Lãnh thổ Việt Nam phần trên đất liền gồm ba miền tự nhiên

(có những đặc điểm địa hình, động thực vật, khí hậu chung trong miền), đó là: Miền

Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ; Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; Miền NTB và Nam Bộ

6348,154130,94

238,81 -206,81

4,68-4,77

III Nuôi trồng thủy sản 503,47 715,11 211,64 42,04

Nguồn: TCTK,2007

Trang 22

Theo bảng thống kê, tổng diện tích đất nông nghiệp từ năm 2001 đến 2006 tăng 16,35 % Bao gồm, đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp tăng 6.25 %, gồm đất trồng cây hàng năm

và cây lâu năm Diện tích đất trồng cây hàng năm tăng 4,68 %, nhưng diện tích trồng lúa lại giảm, điều này gây ảnh hưởng đến an ninh lương thực của Việt Nam, vì lúa gạo

là lương thực chủ yếu trong cơ cấu bữa ăn của người dân

Cơ cấu

I.Tổng dân số

- Thành thị

- Nông thôn

83106,322336,860769,5

10026,8873,12

84136,822792,661344,2

10027,0972,91

85145,9 23370,0 61784,9

10027,4472,56II.Tổng lao

động

- Thành thị

- Nông thôn

42526,912758,0729768,83

1003070

43338,915168,228170,7

10034,3565,65

44171,9 16343,6 27828,3

10036,6363,37III.Tổng LĐ

Tổng dân số cả nước ta mỗi năm đều tăng, theo TCTK 2008 Việc gia tăng dân

số ảnh hưởng đến vấn đề đảm bảo an ninh lương thực của cả nước, dân số gia tăng sẽ tăng nhu cầu về nhà ở đe dọa đến diện tích sản xuất đất nông nghiệp, nhu cầu về lương

Trang 23

thực và hàng hóa tăng Vấn đề gia tăng dân số cung cấp thêm lực lượng lao động, vì vậy nhìn chung lao động cả nước cũng tăng từ năm 2005- 2007, lao động tăng cả ở thành thị và nông thôn, nhưng tốc độ gia tăng lao động ở thành thị nhanh hơn ở nông thôn Lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn còn cao, chiếm gần 70% trong cơ cấu lao động Nước ta vẫn là nước nông nghiệp chủ yếu, nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân cho mỗi lao động nông nghiệp tương đối thấp, và tính diện tích bình quân trên đầu người thuộc loại thấp so các nước trên thế giới

2.3.2 Cơ cấu ngành nghề nông thôn năm 2006

Bảng 2.3: Cơ Cấu Ngành Nghề ở Nông Thôn Năm 2006

Trang 24

2.4 Cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ cho phát triển nông nghiệp

2.4.1 Thủy lợi và khuyến nông

Hệ thống thủy lợi, khuyến nông, lâm, ngư cấp xã cấp thôn được xây dựng và củng cố góp phần hỗ trợ nông dân sản xuất

Nhiều trạm bơm, hồ đập thủy lợi được xây dựng mới, phong trào kiên cố kênh mương tiếp tục được thực hiện khắp cả nước thêm nhiều diện tích canh tác được tưới tiêu, góp phần tăng năng suất và sản lượng cây trồng Đến năm 2006 có 13.643 trạm bơm nước phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn xã; bình quân một xã có 1.5 trạm bơm nước nhiều nhất là vùng Đồng Bằng Sông Hồng có 3.7 trạm, thấp nhất là Tây Nguyên chỉ có 0.15 trạm Kênh mương do xã/hợp tác xã quản lí đã được kiên cố hóa 43.9 nghìn km chiếm 18.9% tổng chiều dài kênh mương ( năm 2001

là 24.1 nghìn km, chiếm 12.4% tổng chều dài); trong đó những vùng đạt tỷ lệ cao như Bắc Trung Bộ 40.4%, Tây Nguyên 40.2% Tây Nguyên 42,3%, Tây Bắc 36,4% Đến năm 2006, hoàn thành và đưa vào sử dụng trên 220 công trình thủy lợi; năng lực tăng thêm tưới và tạo nguồn 300 nghìn ha, ngăn mặn tăng 226 nghìn ha

Những năm qua nhà nước quan tâm và mở rộng hệ thống khuyến nông, lâm, ngư và thú y của xã và thôn để phục vụ và hỗ trợ nông dân sản xuất Đến năm 2006, có 78.7% số xã có cán bộ khuyến nông, lâm, ngư với 8398 người, bình quân một xã có 0.9 người; 26.6% số thôn có cộng tác viên khuyến nông, lâm, ngư Có 83.6% số xã có cán bộ thú y xã, với 9552 người; 53.1% số xã có thu y thôn và đã phủ được 31.1% số thôn ( 25.2 nghìn thôn) Bên cạnh mạng lưới thú y của xã và thôn, còn 57.1% số xã, với gần 18 nghìn người hành nghề thú y tư nhân Tuy nhiên, một số địa phương hệ thống khuyến nông, lâm, ngư của xã và thôn chưa hình thành hoặc có nhưng tỷ lệ còn thấp như Hải Dương, Đà Nẵng, Quảng Trị, Quãng Ngãi, Đắc Lak, Bình Dương, Bến Tre, Sóc Trăng Mạng lưới thú y xã thôn và thú y tư nhân một số địa phương còn mỏng chưa đáp ứng nhu cầu phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, đặc biệt là vào những thời điểm xảy ra dịch bệnh

2.4.2 Điện nông thôn

Phát triển nhanh mạng lưới điện ở nông thôn đã tạo điều kiện thuận lợi để điện khí hóa nông thôn, nông nghiệp và phục vụ đời sống

Trang 25

Nếu năm 1994 cả nước mới có 60.4% số xã, 49.6% số thôn, ấp, bản (gọi chung

là thôn) và 53.2% số hộ có điện; năm 2001 các con số tương ứng là 89.7%, 77.2% và

79% thì đến 2006 có tới 98.9% số xã, 92.4% số thôn có điện ( trong đó 87.8% số thôn

có điện lưới quốc gia) và tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện đạt tới 94.2% Như vậy là

sau 12 năm số hộ có điện đã tăng thêm 41% nên đến năm 2006 ở khu vực nông thôn

chỉ còn 5.8% số hộ chưa có điện

Hình 2.1: Đồ Thị Thể Hiện Tỷ Lệ Xã, Thôn, Hộ Có Điện

Nguồn: Tổng cục thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê 2007

Cả nước có 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã có điện,

nhưng mới có 6 tỉnh, thành phố (TP Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng và các tỉnh Ninh

Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Tiền Giang) có 100% số thôn có điện Vùng Đồng

Bằng Sông Hồng đạt tỷ lệ số hộ có điện cao nhất 99.9%, tiếp đến là vùng Bắc trung bộ

97.3% và thấp nhất là Tây Bắc 76.8% Tỷ lệ hộ có điện năm 2996 so với năm 2001

tăng nhanh ở cac vùng và tỉnh như Tây Nguyên Tăng 35.7%, Tây Bắc tăng 25.8%,

Đồng Bằng Sông Cửu Long tăng 28.2%, Cà Mau tăng 54.8%, Bạc Liêu tăng 54.9%,

Gia Lai 43%,…

Tuy nhiên, ở một số vùng và tỉnh tỷ lệ xã, thôn, hộ có điện còn rất thấp so với

bình quân chung cả nước như ở Tây Bắc mới chỉ đạt 93.4% số xã, 73.9% số thô và

76.8% số hộ; Lai Châu đạt 88.9%,56.7%,và 54.9%; Điện Biên đạt 81%, 66.6%,

63.2%; Hà Giang đạt 70.9%, số thôn và 68.1% số hộ…

2.4.3 Giao thông nông thôn

Giao thông nông thôn được xây dựng và nâng cấp cả về lượng và chất lượng

Với phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”, giao thông nông thôn có bước

phát triển cả về số lượng và chất lượng, góp phần tích cực tạo cơ sở hạ tầng thuận lợi

Trang 26

để thu hút các nhà đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác

Đến năm 2006, cả nước có 8792 xã có đường ô tô đến được trị sở UBND xã, chiếm 96.9% tổng số xã (năm 1994 là 87.9% và năm 2000 là 94.2%); trong đó, có

8488 xã (chiếm 93.55%) có đường ô tô đi lại được quanh năm, và có 6356 xã (chiếm 70%) đường ô tô được nhựa, bê tông hóa Cả nước đã có 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã, với 4614 xã chiếm 50.9% tổng số xã; vùng Đồng Bằng Sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất là 99.9% (chỉ còn một xã của TP Hải Phòng và 1 xã của tỉnh Hà Tây ô tô chưa đến được), Đông Nam

Bộ đạt tỷ lệ 99.7% và thấp nhất là Đồng bằng Sông Cửu Long 83.2%

Hình 2.2: Đồ Thị Thể Hiện Tỷ lệ xã có đường ô tô, đường liên thôn được nhựa bê tông hóa

Nguồn: Tổng cục thống kê 2007, nhà xuất bản thống kê 2007

Hệ thống đường giao thông nội bộ xã – liên thôn đã được nâng cấp đáp ứng cho việc đi của nhân dân được thuận lợi Cả nước có 5785 xã, chiếm 64.8% tổng số xã (năm 2001 mới chỉ có 33%) có đường liên thôn được nhựa, bê tông hóa theo các mức khác nhau; trong đó 3405 xã chiếm 37.5 % tổng số xã (năm 2001 đạt 14.2%) đã nhựa,

bê tông hóa trên 50% các tuyến đường liên thôn; đặc biệt, có 628 xã (chiếm 6.9%) đã nhựa, bê tông hóa cac tuyến đường liên thôn (năm 2001 có 280 xã)

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ dáng kể, nhưng ở một số địa phương, đường giao thông nông thôn vẫn chưa thuận lợi cho phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Tỷ lệ xã chưa có đường ô tô đến UBND xã ở một số tỉnh vẫn còn cao, như Cà Mau còn 74.1%, Sóc Trăng 26.4%, Bạc Liêu 29.2%, Kiên Giang 25%, thành Phố Cần Thơ

Trang 27

27.3%,…tỷ lệ xã có đường liên thôn được nhựa, bê tông hóa nhìn chung còn thấp, một

số địa phương còn quá thấp như Lai Châu (0%), Lào cai (1.4%), Cao Bằng (2.3%),…

2.5 Tình hình an ninh lương thực thế giới những năm gần đây

Trong vài thập kỉ qua tình hình lương thực trên thế giới được cải thiện đáng kể, tuy nhiên mức độ cải thiện của mỗi khu vực là không giống nhau, và đáng lo ngại là những năm gần đây đã xuất hiện những dấu hiệu xấu đi của an ninh lương thực Đặc biệt là vào 2 năm 2007 – 2008 khủng hoảng lương thực toàn cầu, lạm phát giá lương thực tăng cao gây nhiều bất ổn về an ninh chính trị kể cả các quốc gia giàu Cụ thể ở Haiti đã sa thải Thủ Tướng khi giá lương thực lên đến mức đỉnh Nó dường như là cơn địa chấn đầu tiên của sự bất ổn toàn cầu bắt nguồn từ an ninh lương thực, đẩy 100 triệu người tới bờ vực của thiếu ăn “Khủng hoảng lương thực đe dọa cả những nước giàu” Những cuộc biểu tình và bạo động đã diễn ra ở khắp các nước Áo, Ai Cập, Indonesia,

bờ biển Ngà, Mauritania, Cameroon, Mozambique, Senegal, Mexico, China, Pakistan, Zimbabwe, Italy, Hungary, Uzbekistan, Yemen, Guinea và Burkina Faso “ Trong vòng 4 thập kỷ, từ năm 1955 – 1995, tổng sản lượng lương thực thế giới tăng 124% trong khi dân số thế giới chỉ tăng 105% bảng 2.4

Bảng 2.4: Sản Lương Lương Thực Bình Quân Hằng Năm của Thế Giới

Trang 28

Cùng với sự gia tăng sản lượng lương thực, sự phát triển của thương mại quốc

tế nói chung, thương mại nông nghiệp nói riêng đã góp phần cải thiện phân phối lương

thực trên thị trương thế giới Điều này kết hợp với thu nhập bình quân của người dân

tăng lên do sự tăng trưởng kinh tế đã làm tăng khả năng tiếp cận nguồn lương thực của

người dân Nhờ vậy mà số người nghèo đói trên thế giới giảm đi đáng kể Theo số liệu

của Ngân hàng thế giới (WB), trong vòng một phần tư thế kỷ, từ năm 1981- 2005 số

người nghèo trên thế giới đã giảm từ 1,9 tỷ người xuống còn 1,4 tỷ người, kéo theo đó

số người bị đói cũng giảm đi đáng kể

Tuy nhiên, một vài năm gần đây đã xuất hiện những yếu tố biểu hiện tình hình

xấu đi của an ninh lương thực, đặc biệt là từ năm 2007 đến nay thế giới lâm vào tình

cảnh gọi là “khủng hoảng an ninh lương thực” Biểu hiện đầu tiên là sự sụt giảm sản

lượng lương thực thế giới Sau khi sản lượng lương thực (có hạt) tăng liên tục và đạt

mức kỷ luật 2.300 triệu tấn vào năm 2004 thì những năm sau đó sản lượng bị sụt giảm

và đến năm 2007 chỉ còn 2.100 triệu tấn (Bảng 2.5) Cùng với sự sụt giảm sản lượng

lương thực, dự trữ lương thực của nhiều quốc gia cũng giảm sút trong những năm qua

Thực tế này ảnh hưởng không nhỏ đến tính sẵn có và nguồn cung lương thực

Bảng 2 5: Dự Trữ Lúa Gạo của Các Quốc Gia Trên Thế Giới

Trang 29

Nhân tố tiếp theo khiến cho cuộc khủng hoảng lương thực thêm trầm trọng là

sự tăng vọt của giá lương thực từ năm 2006 Theo tính toán của FAO, chỉ số giá lương thực đến 4/2008 đạt 218,2 điểm (tăng 54% so với cùng kì 2007), trong đó ngũ cốc là

284 (tăng 92% so với cùng kỳ 2007), sữa là 266, thịt là 236, dầu ăn và chất béo là 269 Giá gạo bình quân năm 2007 là 300 USD/tấn nhưng cuối tháng 4/2008 là gần 1.000 USD/tấn Giá lúa mì tháng 3/2008 tăng 130% so với cùng kỳ 2007, đạt gần 500 USD/tấn

Bảng 2.6: Chỉ Số Giá Lương Thực Thế Giới

Nguồn: OECD - FAO Agricultural Outlook 2008

Có thể thấy rõ hơn sự gia tăng đến chóng mặt giá lương thực qua giá xuất khẩu của một số loại lương thực của một số quốc gia

Trang 30

Bảng 2.7: Giá Xuất Khẩu Một Số Loại Lương Thực Của Một Số Nước

Điều đáng lo ngại hiện nay có nhiều yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng

và giá cả lương thực, cụ thể là:

- Thứ nhất, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới ngày càng bị thu hẹp nhanh Theo FAO, thống kê mỗi năm thế giới mất đi từ 5 đến 10 triệu ha đất nông nghiệp do bị thoái hóa; tính trong 30 năm qua đã có 100 triệu ha bị thoái hóa Bên cạnh đó, là quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở các nước đang phát triển, đặc biệt

là các nước ở Châu Á diễn ra nhanh chóng, đã sử dụng không ít diện tích đất tự nhiên, trong đó chiếm tỷ lệ lớn là diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực Ở Trung Quốc, 10 năm qua diện tích đất canh tác nông nghiệp giảm từ 1,95 tỷ mẫu xuống còn 1,82 tỷ mẫu; Bănglađet mỗi năm mất 80.000 ha (phần lớn là đát có chất lượng tốt); Philippin, một thí dụ điển hình vì diện tích đất sản xuất lương thực giảm xuống còn 60% so với những năm 80 của thế kỷ trước; Ở Việt Nam, trong vòng 5 năm

2001 – 2005 diện tích đất nông nghiệp đã được thu hồi và chuyển sang phi nông nghiệp là 366.440 ha

- Thứ hai, hiện nay trên thế giới có nhiều nước, nhiều vùng không chú ý đến việc đầu tư khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương

Trang 31

thực nói riêng Nếu như những năm 60 – 70 của thế kỷ trước thế giới bước vào cuộc cách mạng xanh (trong đó việc lai tạo thành công và đưa các giống mới của các loại cây lương thực vào sản xuất đại trà) Đã tạo nên những bước nhảy về sản lượng lương thực chủ yếu do tăng năng suất, nhưng những năm gần đây không những không chú ý đầu tư đúng mức về giống mà còn kỹ thuật canh tác, công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch Vì vậy, tốc độ tăng năng suất trong nông nghiệp ngày càng giảm cụ thể là: nếu như tốc độ tăng năng suất nông nghiệp bình quân trong giai đoạn 1950 – 1990 là 2,1%/năm, thì 1990 – 2007 tốc độ tăng bình quân chỉ còn 1,2%/năm

- Thứ ba, khí hậu trái đất đang có chiều hướng nóng lên: như hiện tượng băng tan làm cho nước biển dâng lên dẫn đến diện tích trồng lương thực sẽ giảm, thời tiết diễn biến phức tạp, thất thường (hạn hán, lũ lụt, bão…), gây nhiều thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp (tăng chi phí sản xuất, làm giảm năng suất cây trồng, giảm sản lương…) Theo FAO, nhiệt độ trái đất nóng lên 10C thì sản lượng lúa giảm 10% (thời gian qua, nhiệt độ tăng lên trên toàn cầu đã làm giảm sản lượng thu hoạch từ 20% - 40% ở nhiều nước thuộc khu vực Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh

- Thứ tư, trong khi nguồn cung lương thực bị đe dọa thì cầu lương thực tiếp tục gia tăng do sức ép của sự tăng dân số trên toàn cầu và thay đổi cơ cấu trong tiêu dùng, đặc biệt do sự gia tăng của tầng lớp trung lưu ở các nước mới nổi như (Trung Quốc,

Ấn Độ, Braxin, Nga…) Theo Liên Hợp Quốc, dân số thế giới đã tăng từ 4,4 tỷ người năm 1980 lên 6,7 tỷ người năm 2008 và dự kiến tăng đến 9 tỷ người vào năm 2050 Hiện nay, tầng lớp trung lưu ở Trưng Quốc là 170 triệu người, Ấn Độ 350 triệu người Trong 10 năm qua nhu cầu của người dân Trung Quốc về thịt tăng 30%, trứng tăng 40%, và sữa tăng gấp 4 lần Cơ cấu tiêu dùng chuyển dịch theo hướng giảm ngũ cốc và tăng đạm đã “hấp thụ” một lượng lớn lương thực cho chăn nuôi (để có 1kg thịt bò cần 10kg ngũ cốc)

- Thứ năm, nền kinh tế thế giới các thập kỷ qua đều tăng trưởng đặc biệt là những năm đầu của thế kỷ 21, GDP toàn thế giới năm 2006 đã tăng gấp 1,52 lần năm

2000 Các nhu cầu về lương thực không chỉ tăng do dân số, mà còn do nhu cầu của các ngành kinh tế khác Đặc biệt, nhiều nước như Mỹ, Tâu Âu và cả Trung Quốc, tuy ở những mức độ khác nhau đang thay nhiên liệu được khai thác dưới mặt đất bằng nhiên liệu sinh học, sử dụng nhiều lương thực (chủ yếu là ngô, lúa mì…) để sản xuất nhiên

Trang 32

liệu sạch (ethanol và diese sinh học…) Theo Liên hợp quốc, sản xuất nhiên liệu sinh học có thể làm tăng giá lương thực hạt có dầu và ngũ cốc lên 30%

- Thứ sáu, do chính sách thương mại quốc tế về xuất nhập khẩu nông sản của các quốc gia trên thế giới Thi trường nông sản thế giới bị bóp méo do chính sách trợ cấp nông nghiệp của các nước phát triển, theo WB chính sách trợ cấp này và mức thuế quan đã làm giảm thu nhập bình quân của các nước đang phát triển 100 USD/năm Vì vậy, có một số ý kiến cho rằng cần phải tự do hóa trong thương mại nông nghiệp thì sẽ tốt, nhưng cũng có một số ý kiến ngược lại cho rằng tự do hóa nông nghiệp thực tiễn thương mại của một số nước xấu đi, và vấn đề lương thực trở nên trầm trọng Ví dụ theo cam kết WTO Nhật Bản mỗi năm phải nhập 800.000 tấn gạo chỉ để cất giữ trong kho trong khi có nhiều nước không thể tiếp cận nguồn lương thực

- Thứ bảy, do việc hạn chế xuất khẩu lương thực của một số quốc gia, làm cho giá lương thực trên thế giới tăng cao Theo FAO, về tổng cung – cầu gạo trên thế giới cân bằng (năm 2007, tổng cung gạo là 583 triệu tấn và nhu cầu 435,7 triệu tấn) Gạo là lương thực chính cho hơn 3 tỷ người nên mặt hàng này rất nhạy cảm Vì vậy, khi giá gạo bắt đầu tăng một số nước bắt đầu kiểm soát giá gạo và xuất khẩu gạo do lo ngại tình hình bất ổn trong nước khiến các nước nhập khẩu gạo ở Đông Á, Nam Á và Châu Phi “hoảng hốt” thu mua tích trữ, đẩy giá ngày càng lên cao

- Ngoài ra, các cuộc chiến tranh, xung đột nội chiến kéo dài ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước châu phi đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung lương thực, tới sức khỏe cộng đồng trên qui mô rộng Theo số liệu thông kê của FAO, trong 34 nước đối mặt với tình trạng khẩn cấp về lương thực năm 2007 đã có 18 nước nảy sinh

từ những nguyên nhân nêu trên

2.6 Chiến Lược An Ninh Lương Thực của Việt Nam Đến Năm 2020

Do lợi thế về vị trí địa lí, Việt Nam có thể trồng lúa trên khắp đị bàn cả nước và trong thời gian 12 tháng của 1 năm, không chỉ trồng một vụ lúa mà có thể trồng đến 3

vụ Tuy nhiên, như đã trình bày các vùng sản xuất lúa gạo lớn là: ĐBSCL và ĐBSH, 2 vùng này chiếm 66,6% diện tích trồng lúa cả năm và gần 70% sản lượng thóc cả năm, điều này có nghĩa là thóc gạo hàng hóa tập trung chủ yếu ở hai vùng này, các vùng còn laị sản xuất gạo chỉ đủ hoặc chưa đủ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ

Trang 33

Trong điều kiện đó, sản xuất lúa gạo gắn với an ninh lương thực trên vi mô cả nước (tầm quốc gia) phụ thuộc vào tính ổn định và bền vững sản xuất lúa gạo ở 2 vùng ĐBSCL và ĐBSH, vừa có chức năng cung cấp cho nhu cầu của nội vùng, đáp ứng nhu cầu bị thiếu hụt ở các vùng khác, đặc biệt là 2 vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, và cung cấp nguồn gạo cho dự trữ quốc gia và xuất khẩu

Tổng diện tích lúa cả năm đã giảm tới trên 465 nghìn ha (từ 7,7 triệu ha xuống còn 7,2 triệu ha (2000 – 2007) đồ thị 3), bình quân mỗi năm giảm trên 66 nghìn ha, các vùng ĐBSCL, ĐBSH, Đông Nam Bộ giảm nhanh nhất Xu hướng này nếu tiếp tục sẽ ảnh hưởng xấu đến đảm bảo sản lượng lúa của hai vùng này, ảnh hưởng đến sản lượng gạo cho nhu cầu tiêu dùng trong nuớc và xuất khẩu hiện nay

Theo những dự báo về dân số và khả năng sản xuất lúa gạo đến năm 2020, 2030 của Việt Nam đã có hiện nay thì cân đối cung cầu tóc gạo được luận cứ sau:

- Dân số Việt Nam đạt 85,2 triệu người vào năm 2007, nếu mức tăng bình quân như hiện nay là 1,2% /năm thì đến năm 2010 dân số Việt Nam sẽ là 88,5 triệu người, năm 2015 là 93,6 triệu người, năm 2020 là 98,6 triệu người và đạt 120 triệu người vào năm 2030

- Mức tiêu dùng gạo trên đầu người trong nuớc sẽ giảm do tăng nhu cầu tiêu dùng thịt, rau, củ, quả theo nhịp tăng của thu nhập dân cư, nhưng nhu cầu gạo cho chăn nuôi, công nghiệp chế biến sẽ vẫn tăng, vì vậy tổng lượng thóc gạo tiêu dùng trong nước thời gian tới sẽ vẫn tiếp tục tăng

Dựa trên những luận cứ trên đây, Dự thảo lần thứ 9 Đề án “Chiến lược an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020” do Bộ NN và PTNN soạn thảo đã dự kiến cân đối cung cầu thóc gạo đến năm 2010, 2015, 2020 sẽ như sau (bảng 4.13)

Bình luận số liệu bảng 2.8: An ninh lương thực quốc gia được giữ vững với cân đối cung cầu về thóc gạo cho các mục tiêu sử dụng trong nước vẫn sẽ được đảm bảo

và có dư khá nhiều 5,4 triệu tấn vào các năm 2010; giảm còn 5,1 triệu tấn vào năm 2015; còn 3,3 triệu tấn vào năm 2020 Số thóc dư thừa này sẽ là nguồn để Việt Nam tiếp tục xuất khẩu, nhưng khối lượng giảm dần Mức cung (sản lượng thóc) sẽ phải tăng lên 37,2 triệu tấn vào năm 2015 và 38,5 triệu tấn vào năm 2020

Mục tiêu trên chỉ đạt được, khi các điều kiện sau đây được thực thi

Trang 34

Diện tích đất nông nghiệp giành cho trồng lúa không giảm dưới 3,5 triệu ha vào

năm 2020 và sau đó Có thể coi số diện tích này cần phải được duy trì và bảo vệ để sản

xuất lúa gạo lâu dài cho cả nước;

Diện tích trồng lúa cả năm phải đảm bảo không dưới 6,8 triệu ha vào năm 2020

Điều này phụ thuộc rất nhiều vào những người dân trồng lúa, nếu có lợi ích thỏa đáng

thì họ sẽ giữ, nếu không có lợi thì rất khó bắt họ trồng lúa và diện tích trồng lúa cả

năm có thể sẽ giảm Trong trường hợp đó chính sách hỗ trợ của nhà nước sẽ có vai trò

quan trọng để giữ được số diện tích này

Bảng 2.8: Dự Kiến Cân Đối Cung Cầu Thóc Gạo của Việt Nam Đến Năm 2020

- Để ăn và dự trữ quốc gia 21.50 22,70 23,10 24,70

8 Dự kiến xuất khẩu (triệu tấn gạo) 4,3 3,5 3,3 2,1

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008b, Chiến lược an ninh lương

thực quốc gia, Dự thảo lần 9

Năng suất lúa bình quân trên diện tích trồng lúa cả năm phải đạt 51,4 tạ/ha vào

năm 2010; 54,0 tạ/ha vào năm 2015; 56,5 tạ/ha vào năm 2020 Điều này rất kho khăn

do việc tăng năng suất lúa, phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, khoa học – kỹ thuật,

vốn đầu tư, hiệu quả sản xuất…

Nhu cầu tiêu dùng thóc trong nuớc sẽ là 31,1 triệu tấn vào năm 2010; 32,1 triệu

tấn vào năm 2015; và 35,2 triệu tấn vào năm 2020 Trong đó: người ăn và dự trữ được

Trang 35

tính ở mức tối thiểu là: 22,7 triệu tấn vào năm 2010; 23,1 triệu tấn vào năm 2015; và 24,7 triệu tấn vào năm 2020 tương ứng theo mức dân số dự báo

Để đảm bảo an ninh lương thực trong nước vào các thời điểm xem xét thì xuất khẩu gạo được dự kiến giảm dần từ 4,3 triệu tấn vào năm 2007 sẽ giảm xuống còn 3,5 triệuu tấn vào năm 2010; 3,3 triệu tấn vào năm 2015; và còn 2,1 triệu tấn vào năm

2020

Tóm lại, Việt Nam có điều kiện tự nhiên như khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, hệ thống sông ngòi dày đặc có sức chứa lớn đảm bảo đủ lượng nước cho tưới tiêu, cơ sở vật chất hạ tầng giao thông nông thôn, công trình thuỷ lợi, công tác khuyến nông được đầu tư phát triển và tín dụng nông thôn những năm gần đây cũng được chú trọng đáng

kể tạo điều thuận lợi cho điều kiện sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng và lưu thông hàng hoá một cách dễ dàng Bên cạnh những thuận lợi thì cũng có một số khó khăn như, diện tích đất canh tác tính trên đầu người của Việt Nam tương đối thấp, cho nên chi phí đầu tư trên một diện tích canh tác rất cao, không áp dụng được kỹ thuật canh tác một cách đồng bộ Mặt khác, hiện nay do tốc độ CNH – ĐTH diễn ra nhanh chóng đã chiếm dụng diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích sản xuất lương thực nói riêng, kèm theo hệ thống xử lí chất thải kém hoặc không

có trước khi thải ra môi trường, đã làm nguồn nước tưới, đất canh tác bị ô nhiễm làm cho diện tích đất canh tác bị bỏ hoang, ô nhiễm môi trường còn gây ra hiện tượng nhà kính, biến đổi khí hậu thời tiết thất thường, thiên tai thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng đến mùa màng giảm sản lượng thu hoạch, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân và tình hình an ninh lương thực của quốc gia ở hiện tại và tương lai

Mặt khác, những biến động về khủng hoảng an ninh lương thực của các quốc gia trên thế giới, lạm phát giá cả lương thực thế giới tăng cao cũng gây xáo động đến

an ninh lương thực của nước ta, đặc biệt là những tháng đầu năm 2008 vừa qua tình hình an ninh lương thực có chiều hướng biến động xấu, diện tích và năng suất lương thực của thế giới đang có xu hướng giảm dần, điều này sẽ làm cho sản lượng lương thực trong tương lai cung không đủ cầu, biến động của thế giới là biến động chung ngay cả những nước giàu cũng bị ảnh hưởng, Việt Nam hiện nay, tuy đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, nhưng trước biến động của thế giới năm 2008 vừa qua cũng

đã chịu ảnh hưởng rất lớn, giá gạo trong nuớc tăng cao đột biến, gây nhiều bất ổn về

Trang 36

kinh tế - xã hội, vì lương thực ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu thiết thực của con người, đảm bảo nhu cầu sống, và khoẻ mạnh Vì vậy, trước tình hình sản xuất lương thực hiện nay của Việt Nam, diện tích giảm sản xuất lương thực giảm nhanh cùng với năng suất cũng tăng với tốc độ giảm dần, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng lương thực của quốc gia trong tương lai, bên cạnh đó còn sự chịu sự tác động tiêu cực của tình hình an ninh lương thực trên thế giới, cho nên các cơ quan chức năng, Bộ Nông Nghiệp và Chiến Lược Phát Triển nông thôn đã soạn thảo chiến lược an ninh lương thực của quốc gia trong trong tương lại Đến năm 2020 phải đảm bảo giữ 3,5 triệu ha đất chuyên lúa hay 6,5 triệu ha đất gieo trồng lúa của 3 vụ trong năm, đầu tư tăng năng suất, tăng vụ đảm bảo đủ sản lượng thóc tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Trang 37

CHƯƠNG 3

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lí luận

3.1.1 Nhận thức quan điểm về an ninh lương thực

Khác với các sản phẩm thông thường (tivi, tủ lạnh, xe máy, ô tô…) lương thực

là một nhu yếu phẩm thiết yếu số một của tất cả con người, tất cả thành viên thuộc cộng đồng xã hội ở tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ kinh tế, văn hóa Lương thực đã từng được sử dụng như là vũ khí chính trị quan trọng của quốc gia

Về nội dung danh từ “an toàn” chỉ thuần túy biểu đạt một yêu cầu đơn giản nào

đó theo cách hiểu chung nhất: an toàn là không có sự cố, không có tổn hại xảy ra Thật vậy, chúng ta thường nói đến an toàn lao động, an toàn giao thông…Tuy nhiên, ở phạm vi rộng hơn thuộc lĩnh vực xã hội, chính trị, quốc phòng, do sự khác nhau về mức độ, nội dung và tính chất phức tạp của nó

Tóm lại, an ninh lương thực hiện nay không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần hay việc phát triển sản xuất một cách đơn giản hay chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành nông nghiệp ở một nước cá biệt như nhận thức phiến diện trước đây mà an ninh lương thực còn là nhiệm vụ kinh tế, chính trị của mọi người trước hết là những nhà lãnh đạo trong nước, những nhà khoa học, những người sản xuất An ninh lương thực đòi hỏi sự nổ lực chung của nhiều ngành ở các nước, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hoạt động của các

tổ chức quốc gia và quốc tế

3.1.2 Khái niệm về an ninh lương thực

Trong thời kì bao cấp an ninh lương thực được hiểu là việc cố gắng sản xuất nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng lương thực cho toàn xã hội Chính vì nhận thức sai lầm này mà quốc gia tổ chức thực hiện mọi nổ lực vào tập trung sản chỉ đạt chỉ tiêu số lượng bất chấp chất lượng, bất chấp điều kiện kinh tế xã hội và hiệu quả kinh tế đã dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước

Trang 38

Sau khi nhận thức rõ hơn về thực tế vào năm 1996 FAO đã dưa ra khái niệm về

an ninh lương thực được các quốc gia trên thế giới chấp nhận rộng rãi: “An ninh lương thực là trạng thái mà ở đó tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều có sự tiếp cận cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế độ ăn uống và thị hiếu lương thực của mình, đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh ”

Khái niệm an ninh lương thực có thể sử dụng ở nhiều cấp độ khác nhau, từ cấp

hộ gia đình, cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới Ở cấp độ quốc gia, an ninh lương thực của toàn dân tộc được hiểu là luôn luôn đảm bảo có sự cung cấp đầy đủ lương thực cho toàn dân tộc, đảm bảo trên phạm vi toàn quốc không ai bị đói và mọi người được hưởng thụ cuộc sống năng động và khỏe mạnh Ở cấp hộ gia đình đảm bảo an ninh lương thực nông hộ có nghĩa là hộ gia đình nông dân phải đảm bảo được lương thực để ăn khi không có nguồn thu lương thực hay nguồn thu tạo lương thực trong một thời gian nhất định, đủ dài để tồn tại tới khi có nguồn thu mới

Việt Nam đã xác định đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là yếu tố quan trọng, là nền tảng để ổn định chính trị - xã hội phát triển kinh tế bền vững Đại hội

Đảngb lần thứ VIII chỉ rõ: “Phát triển nông nghiệp toàn diện hướng vào đảm bảo an

ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, tăng nhanh nguồn thực phẩm và rau quả, cải thiện chất lượng bữa ăn giảm suy dinh dưỡng” Đại hội Đảng lần thứ X đã

nêu: “Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn,

chuyển sang sản xuất những loại sản phẩm có trường và hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng trên cơ sở các quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến; quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định; đảm bảo an ninh lương thực; phát triển chăn nuôi quy mô lớn, an toàn dịch bệnh và bền vững về môi trường; Xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất” Đảng và Nhà nước đã xác định mục tiêu của chương trình an ninh

lương thực quốc gia là phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo xu hướng

đa dạng và bền vững, tăng nhanh khối lượng lương thực, thực phẩm và nâng cao thu nhập, đảm bảo cho mọi người, mọi lúc, mọi nơi có thể đảm bảo được số lượng và chất lượng lương thực, thực phẩm với nhu cầu ngày càng cao, đủ dinh dưỡng, an toàn vệ sinh để nâng cao sức khỏe, thể lực và trí lực

Trang 39

An ninh lương thực cần được hiểu theo nghĩa rộng và phải bao gồm: đủ lương thực cho xã hội để không ai bị đói; người làm ra lương thực không bị nghèo đi, dù là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng xã hội An ninh lương thực chỉ được đảm bảo khi lợi ích của người trồng lúa được tính đến

Điều kiện để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia

• Sự sẵn có của nguồn lương thực

• Sự tiếp cận với nguồn lương thực

• Sự ổn định của nguồn cung lương thực

• Sự an toàn, chất lượng của nguồn cung lương thực

Quan điểm toàn diện về vấn đề an ninh lương thực cùa quốc gia

• Vấn đề sản xuất phải: có đầy đủ lương thực để cung cấp cho toàn xã hội trong mọi hoàn cảnh, ở tất cả các vùng miền, địa phương trong cả nước, tại mọi thời điểm

• Vấn đề phân phối: Phải có hệ thống cung ứng lương thực đến tay người tiêu dùng với mức giá mà cả người mua và người bán chấp nhận được

• Vấn đề thu nhập: Phải tạo điều kiện để mọi người đều có việc làm, có thu nhập, có đủ tiền mua lương thực đáp ứng nhu cầu bản thân và gia đình

Mất an ninh lương thực: là sự thiếu tiếp cận đầy đủ lương thực

3.1.3 Vai trò của an ninh lương thực ở Việt Nam

Lương thực là thành phần chủ yếu trong nguồn thức ăn hằng ngày cung cấp năng lượng cho con người Với sự phát triển nhanh chóng của nông nghiệp, cơ cấu bữa ăn của con người được thay đổi theo hướng tỷ lệ nhiệt lượng do lương thực cung cấp giảm xuống tỷ lệ nhiệt lượng do thực phẩm cung cấp ( bao gồm thịt, trứng, sữa )

và các sản phẩm khác như rau quả tăng lên Tuy nhiên, lương thực vẫn giữ vai trò chủ yếu không thể thay thế được đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người

Nhu cầu lương thực của từng bản thân của con người có xu hướng giảm, song nhu cầu lương thực chung của toàn xã hội lại không ngừng tăng lên, bởi lẽ dân số mỗi ngày một gia tăng Năm 1946 dân số nước ta mói có 25 triệu người, năm 1997 đã lên đến 70 triệu và đến năm 2008 đã gần 80 triệu người và dự báo đến 2010 là 100 triệu

Có đủ lương thực để thõa mãn nhu cầu cho con người quả là điều không dễ Thiếu đói

Trang 40

lương thực và suy dinh dưỡng do thiếu đói lương thực gây ra vẫn luôn là nỗi nhức nhối, lo âu của quốc gia

Lương thực còn là điều kiện thuận lợi để nâng cao mức sống vật chất của con người, bởi vì muốn có nhiều thịt trứng, sữa phải có nhiều lương thực để cung cấp cho ngành chăn nuôi

Trong điều kiện thế giới có nhiều quốc gia riêng biệt, mỗi quốc gia có một chế

độ chính trị, xã hội khác biệt, tồn tại các tầng lớp và giai cấp khác nhau, thì mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn quyền lợi vẫn tồn tại Nguy cơ chiến tranh, bạo loạn vì thế vẫn còn nguy cơ đe dọa mỗi nước Trong điều kiện đó lương thực có vai trò cực kì quan trọng đối với vấn đề chính trị, an ninh quốc phòng của từng quốc gia

Nạn đói, thiếu lương thực trầm trọng kéo dài sẽ là ngòi nổ cho tình trạng hỗn loạn chính trị, trật tự an ninh xã hội Các nước các khu vực có chiến tranh thường kéo theo sự không ổn định về sản xuất và cung cấp lương thực, điều này càng làm cho tình hình chính trị, xã hội thêm tồi tệ, lạc hậu, dân cư thiếu đói lương thực triền miên Đói nghèo thường đi liền với kém phát, trì trệ và lạc hậu

Trên chính trường quốc tế, lương thực là vũ khí mạnh mẽ để giải quyết các vấn

đề chính trị, quân sự Các nước siêu cường thông qua viện trợ cho vay hoặc xuất nhập khẩu để bắt ép để khống chế các nước phụ thuộc vào đường lối chính trị của mình

Khi nền kinh tế bị lạm phát, lương thực cũng có vai trò kiềm chế lạm phát, vì lương thực nằm trong giỏ hàng hóa thiết yếu, chiếm gần hết chi tiêu của người có thu nhập thấp, vậy nếu cung lương thực tăng sẽ góp phần làm giảm giá lương thực, kiềm chế lạm phát Việc xuất khẩu lương thực, thu về nguồn ngoại tệ lớn cho quốc gia, làm giảm thâm hụt cán cân thương mại

3.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực

Khái niệm cung lương thực và các yếu tố phụ thuộc

a) Khaí niệm: Cung lương thực là khái niệm dùng chỉ lượng lương thực của

các doanh nghiệp và hộ gia đình nông dân có khả năng sản xuất được và bán được ở mỗi mức giá ở mỗi thời điểm nhất định

b) Các yếu tố ảnh hưởng

• Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sản xuất lương thực là đất đai và thời tiết khí hậu

Ngày đăng: 10/09/2018, 12:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w