Điểm nổi bật trong sự phát triển đó là tốc độ phát triển rất nhanh của nghề nuôi cá tra đạt sản lượng cao cải thiện được đời sống vật chất của người nuôi với chất lượng tốt đáp ứng được
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRA TẠI HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG
TÔ THỊ HỒNG LOAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2009
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Phân Tích Hiệu Quả
Kinh Tế Và Vấn Đề Môi Trường Của Mô Hình Nuôi Cá Tra tại huyện Long Hồ Tỉnh Vĩnh Long” do Tô Thị Hồng Loan, sinh viên khóa 2005 – 2009, ngành Kinh Tế
Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
_.
Nguyễn Ngọc Thùy Người hướng dẫn,
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Khóa luận đã hoàn thành với tất cả sự nỗ lực của bản thân Bên cạnh đó, nó cũng là kết quả của sự động viên, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần và kiến thức của nhiều cá nhân, tổ chức Để có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin
Gửi đến thầy TS Nguyễn Ngọc Thùy lòng biết ơn chân thành nhất Cảm ơn Thầy đã rất nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích, và
sự hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, Ban Chủ Nhiệm Khoa Kinh Tế, các Thầy Cô giảng dạy, cùng các bạn lớp Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường khóa 31 đã gắn bó với tôi trong suốt 4 năm học vừa qua
Cảm ơn các anh chị, cô chú ở Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản thuộc Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Vĩnh Long, Trung Tâm Kỹ Thuật và Tài Nguyên Môi Trường Vĩnh Long, đặc biệt Chú Huy, Chú Phát, Anh Phú, Chị Diễm (TTKTTNMT), Bác Hiền, Chú Thảo (CCBVNLTS), Ông Sáu Tới (Trưởng Ấp An Hòa xã An Bình) đã nhiệt tình cung cấp số liệu và hướng dẫn tận tình cho tôi hoàn thành nghiên cứu này
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Long Hồ, các cô chú thuộc UBND xã An Bình, Đồng Phú, Tân Hạnh, Bình Hòa Phước, Hòa Ninh
Sau cùng, để có được như ngày hôm nay tôi không thể nào quên công ơn ba mẹ
đã sinh thành, dưỡng dục, không ngại vất vả, hy sinh trong suốt thời gian qua để tôi được bước tiếp con đường mà mình đã chọn Cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình đã luôn động viên và ủng hộ cho tôi!
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2009 Sinh viên
Tô Thị Hồng Loan
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
TÔ THỊ HỒNG LOAN Tháng 06 năm 2009 “Phân Tích Hiệu Quả Kinh Tế
Và Vấn Đề Môi Trường Của Mô Hình Nuôi Cá Tra tại huyện Long Hồ Tỉnh Vĩnh Long”
TO THI HONG LOAN June 2009 “An Analysis of The Economic
Efficiency and Environmental Issue of Pangassiduc Fish Farming System in Long
Ho District, Vinh Long Province”
Khóa luận tìm hiểu về hiệu quả và nhận thức về môi trường của hộ nuôi cá tra trên cơ sở phân tích số liệu điều tra 55 hộ nuôi cá tra trên địa bàn huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long
Chi phí mà hộ dân nuôi cá tra là 5987,982 triệu đồng cho 1 ha với sản lượng bình quân của 1 ha là 367,782 tấn và giá bán bình quân 1 tấn cá tra là 14,700 thì doanh
thu thu được sau 1 vụ nuôi 1 ha cá tra là 6006,194 triệu đồng, lợi nhuận 18,212 triệu đồng, thu nhập 31,141 triệu đồng cho 1 ha nuôi cá tra Kết quả cũng cho thấy hộ nuôi
cá bỏ ra 1 đồng chi phí thì lợi nhuận thu được là 0,0030 đồng Đề tài cũng đã tìm ra được các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất cá tra bao gồm công lao động, kinh nghiệm, chi phí cải tạo, lượng thức ăn, mật độ thả, môi trường bằng hàm sản xuất Nuôi cá tra là nghề đem lại nguồn thu nhập thêm cho hộ dân nhưng cũng rất rủi ro, người nuôi phải đối diện với rất nhiều rủi ro
Nhận thức của người nuôi cá tra về ô nhiễm môi trường nước chưa cao, có hộ còn tránh né vấn đề làm ô nhiễm môi trường, tất cả các hộ nuôi đều không có hệ thống
xử lí nước thải trước khi thải ra sông lớn Tất cả đều thải thẳng ra sông không qua bất
kì một xử lí nào
Cuối cùng đưa ra một số đề xuất để việc nuôi cá tra của huyện phát triển theo đúng qui hoạch, đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế và ngày càng bền vững
Trang 5
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 5
2.2 Tổng quan về huyện Long Hồ 7
c) Khí hậu 9 d) Đặc điểm thủy văn 10
Trang 6a) Dân cư 14 b) Cơ sở hạ tầng 14
c) Y tế 16 d) Giáo dục 16 e) Văn hóa – Du lịch – Xã hội 16
f) Kinh tế 17
2.3.1 Phân loại 20 2.3.2 Phân bố 20
2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng 21
2.3.5 Đặc điểm sinh sản 21
2.4 Kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm 23
3.1.2 Các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế 27
a) Các chỉ tiêu kết quả 27 b) Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế 27
3.1.3 Khái niệm phát triển bền vững 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 32
a) Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 32 b) Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 32 3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 32
Trang 7a) Phương pháp thống kê mô tả 32
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.2 Kết quả nghiên cứu qua điều tra hộ nuôi cá tra 40
a) Độ tuổi 40 b) Trình độ học vấn 41
c) Số năm nuôi cá tra của hộ 41 d) Qui mô diện tích nuôi cá tra của các hộ 42
4.2.2 Nguồn cung cá tra giống cho sản xuất 43
4.2.4 Tình hình sử dụng thuốc tăng trưởng, phòng và trị bênh cho cá 45
4.2.5 Tình hình tín dụng của các hộ điều tra 46
4.2.6 Tình hình tham gia khuyến ngư của chủ hộ 47
4.3 Kết quả và hiệu quả của nuôi cá tra tính trên 1 ha / 1 vụ 47
4.3.2 Hiệu quả kinh tế của 1 ha cá tra cho 1vụ nuôi 48
4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cá tra 49
4.4.1 Xác định các giả thiết của mô hình 49
4.4.3 Ước lượng các thông số của mô hình 50
4.5 Những thuận lợi và khó khăn của hộ nuôi cá tra 53
4.6 Nhận thức về môi trường của chính hộ nuôi cá tra 54
4.7 Nhận thức mức độ ô nhiễm của người nuôi 56
4.8 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả nghề nuôi cá tra tại địa phương 58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60 5.2 Kiến nghị 60
Trang 8a) Đối với chính quyền địa phương các cấp 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
CHLB Cộng hòa liên bang
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
FAO Tổ chức nông lương thế giới
HQKT Hiệu quả kinh tế
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kỳ Vọng Dấu Cho Các Hệ Số của Mô Hình Ước Lượng 34
Bảng 3.2 Kiểm Định Hiện Tượng Tự Tương Quan 36
Bảng 4.1.Kết Quả Quan Trắc Mẫu Nước ở Sông Tiền Vào Tháng 9 Năm 2008 38
Bảng 4.2 Độ Tuổi Của Các Chủ Hộ 40
Bảng 4.3 Trình Độ Học Vấn Của Chủ Hộ 41
Bảng 4.5 Kết Quả - Hiệu Quả của 1 Ha Nuôi Cá Tra 48
Bảng 4.6 Các Thông Số Ước Lượng của Hàm Năng Suất Cá Nuôi Năm 2008 50
Bảng 4.7 Kiểm Tra Lại Dấu Các Thông Số Ước Lượng Hàm Năng Suất 51
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Huyện Long Hồ Tỉnh Vĩnh Long 7
Hình 2.3 Nhóm Đất Chính của Huyện Long Hồ 12 Hình 2.4 Dân Số Trung Bình Qua Các Năm 15 Hình 2.5 Sản Lượng Khai Thác Thủy Sản của Huyện Long Hồ năm 2007 17
Hình 2.6 Sản Lượng Nuôi Trồng Cá Các Lọai Của Huyện Năm 2007 18
Hình 4.1 Hệ Thống Kênh Phân Phối Cá Tra của Hộ Nuôi ở huyện Long Hồ 38
Hình 4.2 Biểu Đồ Số Năm Kinh Nghiệm của Chủ Hộ 41
Hình 4.3 Biểu Đồ Thể Hiện Diện Tích Nuôi Cá Tra của Chủ Hộ 42
Hình 4.5 Biểu Đồ Các Loại Bệnh của Cá Tra 44
Hình 4.6 Các Loại Thuốc Tăng Trưởng, Phòng và Trị Bệnh 45
Hình 4.8 Biểu Đồ Nhận Thức Chất Luợng Môi Trường của Người Nuôi 54
Hình 4.9 Cống Xả Nước Từ Trong Ao Ra Ngoài và Từ Ngoài Vào Ao 55
Hình 4.10 Màu Nước Khi Thải Từ Trong Ao Ra Ngoài Sông 55
Hình 4.11 Cơ Cấu Nhận Thức của Hộ Nuôi Về Mức Độ Ô Nhiễm 56
Hình 4.12 Nhận Thức của Hộ Nuôi về Mức Độ Ảnh Hưởng của Môi Trường Đến Sức
Khỏe 56
Trang 12DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ Lục 1: Kết Xuất Mô Hình Hàm Năng Suất Cá Tra
Phụ Lục 2 : Kết Xuất Kiểm Định White Mô Hình
Phụ Lục 3: Mô Tả Thống Kê (Descriptive Stats)
Phụ Lục 4 : Ma Trận Hệ Số Tương Quan Giữa Các Biến Trong Mô Hình
Phụ Lục 5 : Kết Xuất Mô Hình Hồi Qui Phụ
Phụ lục 6: Các Kiểm Định Giả Thiết Cho Mô Hình
Phụ lục 7: Kiểm Tra Các Vi Phạm Giả Thiết Trong Mô Hình
Phụ Lục 8: Giá Trị Giới Hạn Cho Phép của Các Thông Số và Nồng Độ Các Chất Ô Nhiễm Trong Nước Mặt (TCVN 5945-1995)
Phụ Lục 9: Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn
Phụ Lục 10: Danh Sách Hộ Điều Tra
Trang 13sự đa dạng về chủng loại các sản phẩm có nguồn gốc từ thủy sản Chính vì vậy, ngành nuôi trồng thủy sản đang giữ vai trò hết sức quan trọng, là thế mạnh đồng thời cũng là ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế đất nước
Trong quá trình hội nhập quốc tế, tự do hóa thương mại đã và đang có những tác động tích cực đối với khu vực nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, quá trình hội nhập cũng mang lại những thách thức lớn cho Việt Nam về khả năng cạnh tranh trong sản xuất, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế trong nuôi trồng, chế biến; đảm bảo môi trường đảm bảo yêu cầu của thị trường thế giới
Là một khu vực có rất nhiều sông ngòi, kênh rạch chằng chịt trong những năm qua thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long nói riêng đã phát triển mạnh mẽ và góp phần rất lớn vào mức tăng trưởng của ngành thủy sản trong cả nước Điểm nổi bật trong sự phát triển đó là tốc độ phát triển rất nhanh của nghề nuôi cá tra đạt sản lượng cao cải thiện được đời sống vật chất của người nuôi với chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu của các thị trường trong và ngoài nước Với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1 tỉ USD năm 2007 (Trương Ngọc Hảo, Phát Triển Xuất Nhập Khẩu Ảnh Hưởng Đến Tài Nguyên Môi Trường: Trường Hợp Việt Nam), cùng với những kết quả đạt được trong năm 2008 và 2 tháng đầu năm 2009, hiện nay nuôi cá tra làm nguyên liệu xuất khẩu đã và đang được đẩy mạnh phát triển
Là một ngành mới xuất hiện trong thời gian hơn 10 năm trở lại đây, đem lại kinh tế cho người dân địa phương và cho ngành thủy sản tỉnh nhà, đã góp phần làm cải thiện
bộ mặt kinh tế khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đã nhanh chóng trở thành lựa
Trang 14chọn cho các hộ gia đình muốn làm giàu trên mảnh đất quê hương nhưng đây cũng là nghề mang lại rủi ro nhiều nhất khi không có thị trường tiêu thụ
Với điều kiện là một tỉnh nằm giữa 2 con sông lớn: sông Tiền và sông Cổ Chiên, diện tích mặt nước lớn, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc nuôi cá tra Do đó, nuôi cá tra nhanh chóng được xem là một ngành thế mạnh trong các ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các hộ nông dân trong vùng, chỉ trong thời gian ngắn diện tích nuôi trồng cá tra của tỉnh đã tăng lên nhanh chóng
Chính từ việc chạy theo nhu cầu của thị trường mà không tính đến cái lợi lâu dài, dẫn đến diện tích nuôi cá tra tăng không theo quy hoạch đã ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước, làm diện tích mặt nước bị ô nhiễm, chất thải từ quá trình nuôi
cá cũng đổ trực tiếp không qua xử lí ra kênh rạch, sông ngòi dẫn đến nguồn nước sinh hoạt của không ít hộ dân trong vùng cũng bị ô nhiễm Hơn nữa, việc nuôi cá tra đa số
là tự phát người dân chưa có kinh nghiệm dẫn đến cá chết, giá cả bấp bênh, chưa nắm bắt được thị trường nên trong 2 tháng đầu năm 2009 lượng cá tra vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho các công ty xí nghiệp chế biến thủy sản
Xuất phát từ thực tế đó, được sự chấp thuận của khoa Kinh Tế - Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM và sự hướng dẫn của thầy TS Nguyễn Ngọc Thùy, tôi quyết
định nghiên cứu đề tài: “Phân Tích Hiệu Quả Kinh Tế Và Vấn Đề Môi Trường
Của Mô Hình Nuôi Cá Tra tại huyện Long Hồ Tỉnh Vĩnh Long” nhằm đề ra các
giải pháp làm hạn chế ô nhiễm môi trường nước, tìm ra hướng phát triển bền vững nghề tiềm năng này
Trang 151.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hiệu quả kinh tế và vấn đề môi trường của mô hình nuôi cá tra tại huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng nuôi cá tra năm 2008 của huyện Long Hồ
- Phân tích lợi ích và chi phí của mô hình nuôi cá tra
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá tra bằng hàm sản xuất
- Đánh giá nhận thức của người nuôi cá tra về vấn đề môi trường
- Đề xuất các giải pháp nhằm ngăn chặn và cải thiện môi trường nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả của mô hình nuôi cá tra
1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
1.3.1 Phạm vi thời gian
Đề tài thực hiện trong khoảng thời gian từ 10/03/2009 đến 20/06/2009 Trong
đó khoảng thời gian từ 10/03 đến 29/03 tiến hành thu thập số liệu thứ cấp và chọn lọc tài liệu, từ ngày 30/03 đến ngày 10/04 điều tra thử và điều tra chính thức thông tin về tình hình nuôi cá tra của các hộ gia đình và nhập số liệu Thời gian còn lại tập trung vào xử lý số liệu, chạy mô hình, viết báo cáo
- Phân tích lợi ích và chi phí của mô hình nuôi cá tra
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá tra bằng hàm sản xuất
Trang 16- Đánh giá nhận thức của người nuôi cá tra về vấn đề môi trường
- Đề xuất các giải pháp nhằm ngăn chặn và cải thiện môi trường nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả của mô hình nuôi cá tra
1.4 Cấu trúc của khóa luận
Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của khóa luận
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
Giới thiệu tổng quan về tài liệu tham khảo, trình bày về điều kiện tự nhiên kinh
tế, kinh tế, xã hội của huyện Long Hồ và sơ lược về cá tra
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu, các chỉ tiêu sử dụng và phương pháp để tiến hành nghiên cứu
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trong chương này sẽ trình bày những kết quả nghiên cứu chính bao gồm: Tình hình nuôi cá tra của huyện năm 2008, phân tích hiệu quả kinh tế, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của cá tra, đánh giá sự nhận thức của người nuôi cá tra về vấn đề môi trường
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tóm lược các kết quả nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá tra và làm giảm lượng chất thải thải ra các con sông kênh rạch
Trang 17CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Nguyễn Văn Chung (2002) phân tích so sánh hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi cá tra và cá ba sa nuôi bè cho thấy lợi nhuận từ cá tra là 24.245.720 đồng và cá ba
sa 1.203.992 đồng Mức đầu tư con giống trên một bè chuẩn cho bè nuôi cá tra cao hơn bè nuôi cá ba sa là 9.153 con nhưng sản lượng thu được thấp hơn bè nuôi cá ba sa nguyên nhân chính là do thời gian nuôi cá ba sa dài hơn nuôi cá tra nên trọng lượng bình quân trên một con lớn hơn vì thế sản lượng thu hoạch lớn hơn Tỷ suất thu nhập của bè nuôi cá tra cao hơn cá ba sa là 0,54 lần nghĩa là cùng một đồng chi phí vật chất
bỏ ra thì thu nhập đem lại từ việc nuôi cá tra cao hơn thu nhập từ việc nuôi cá ba sa là 0,54 lần Mặc dù chi phí đầu tư cho bè cá tra thấp hơn ba sa nhưng hiệu quả kinh tế của cá tra lại lớn hơn bè nuôi cá ba sa Đó cũng là nguyên nhân người dân ở An Giang chuyển từ việc nuôi cá ba sa bè sang nuôi cá tra
Trương Ngọc Loan (2007) đã tiến hành khảo sát hiện trạng nuôi theo mô hình trong ao thâm canh của 30 hộ ngẫu nhiên với 3 vùng của tỉnh Đồng Tháp: xã Bình Thạnh huyện Cao Lãnh, Xã Tân Khánh Đông thị xã Sa Đéc, huyện Châu Thành mỗi vùng điều tra 10 hộ Kết quả nhóm hộ sử dụng đất bãi bồi đào ao hoặc đào ao diện tích nhỏ thu được lợi nhuận cao hơn nhóm hộ nuôi sử dụng đất vườn, diện tích ao lớn Thả
cá giống kích cỡ 16 – 20 cm thu được lợi nhuận cao nhất Đề tài cũng đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh gan mũ ở cá tra, biện pháp phòng bệnh và cách xử lí bệnh tốt nhất, một
số kiến nghị đề xuất để phát triển nghề nuôi cá tra của tỉnh
Ngoài ra tác giả Nguyễn Đình Bích (2006) tập trung nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm ngành cá, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh bình quân/hộ cho một vụ nuôi trong năm 2005, phân tích chi phí đầu tư của các hộ bị thiệt hại, đánh giá kết quả sản xuất của các hộ bị ô nhiễm bằng các kết quả của từng loại hình nuôi Kết quả mang lại
Trang 18cho thấy thiệt hại đối với các hộ nuôi cá bè cao hơn thiệt hại đối với các hộ nuôi cá ao Đồng thời so sánh các kết quả giữa các thời điểm bị ô nhiễm với kết quả sản xuất một
vụ năm 2005 thì thấy rằng tổn hại ngành cá của huyện là rất lớn
Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó chủ tịch Hiệp hội Nuôi trồng và Chế biến Thủy sản Việt Nam cho biết từ năm 2000, phong trào nuôi cá ba sa, cá tra bắt đầu phát triển rầm rộ và cho giá trị xuất khẩu Đến nay, Việt Nam có 9.000 ha nuôi cá ba sa, cá tra, tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Cửu Long, với sản lượng năm 2008 đạt xấp
xỉ 1,2 triệu tấn; trong đó có 650.000 tấn xuất khẩu sang 127 nước trên thế giới, đưa kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1,45 tỉ đôla, tăng 48% so với năm 2007 Nuôi cá ba sa,
cá tra đem lại việc làm cho hơn 200.000 nông dân và công nhân EU vẫn là bạn hàng truyền thống lớn nhất của Việt Nam về cá ba sa và cá tra Những năm gần đây, Việt Nam đã tìm được nhiều bạn hàng mới, như khối các nước Ả Rập, CHLB Nga, Ucraina Tuy nhiên, sự phát triển “quá nóng” của nghề nuôi cá tra cá ba sa xuất khẩu
đã góp phần quan trọng vào tình hình ÔNMT nước ở ĐBSCL Hiện nay, nuôi cá ba sa/
cá tra ở nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức như: ô nhiễm môi trường, nguồn nước; an toàn vệ sinh thực phẩm; thương hiệu; chống bán phá giá; sự cạnh tranh của các loại thủy sản khác; giá bán hạ nhưng chi phí đầu vào lại tăng Theo số liệu điều tra, trong 1 ao nuôi có diện tích 1 ha cho ra sản phẩm 300 tấn/ năm Trọng lượng thức ăn này có 75% được chuyển hóa thành sản phẩm, phần còn lại được thải dưới dạng thức ăn thừa, thối rửa ứ đọng dưới đáy ao và thải ra môi trường Suy ra 1 ha nuôi cá tra cá ba sa mỗi năm thải ra môi trường 180 tấn chất thải Theo thống kê thì hiện nay 89% sản phẩm cá da trơn của ĐBSCL dành cho xuất khẩu và năm 2007 diện tích nuôi cá tra cá ba sa toàn vùng ĐBSCL là trên 5000 ha Như vậy trong năm 2007
đã có trên 800.000 tấn chất thải từ các ao, hầm, bè nuôi cá tra cá ba sa xả thải ra môi trường nước ở ĐBSCL tập trung ở 6 tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang và Tiền Giang Cụ thế lượng chất thải lắng xuống đáy ao và hòa tan trong nước, toàn bộ nguồn nước từ các ao hầm nuôi cá đều được bơm thẳng ra sông, kênh rạch, hàm lượng các chất đều vượt ngưỡng cho phép gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn nước nuôi thủy sản TCVN 6774 – 200 Hậu quả là kênh rạch ở các vùng nuôi cá
ÔN trầm trọng, nước đục ngầu đặc quánh, chảy lờ đờ, MT không khí xung quanh cũng
ÔN do mùi hôi thối bốc lên từ ao nuôi, quá trình nấu trộn thức ăn cho cá Nước thải từ
Trang 19nuôi cá tra cá ba sa còn là 1 nguyên nhân giải thích cho sự xấu đi của chất lượng nước mặt trên sông Tiền, sông Hậu và nhiều con sông khác Ngoài ra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long trong năm 2007 còn phải hứng chịu từ 72 – 108 triệu m3 nước thải chưa qua xử lý, còn hàng trăm tấn thải rắn và phế thải từ quá trình chế biến
2.2.Tổng quan về huyện Long Hồ
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Chợ Lách (Bến Tre) Toàn huyện có 14 xã và 1 thị trấn, với 117 ấp, khóm
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Huyện Long Hồ Tỉnh Vĩnh Long
Nguồn: Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường
Trang 20b) Đặc điểm địa hình
Huyện Long Hồ có dạng địa hình khá bằng phẳng, với độ dốc < 20, có cao trình khá thấp so với mực nước biển (cao trình < 1,0 m chiếm 40,71 % diện tích) Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, tiểu địa hình Huyện có khuynh hướng cao
ở các xã cù lao và các xã ven sông Cổ Chiên, ven Thị xã và thấp dần về các xã giáp với Huyện Tam Bình Phân cấp địa hình có thể chia làm 3 cấp như sau:
- Vùng có cao trình từ 1,0 - 2,0 m: chiếm 59,29% diện tích, phân bố tập trung ở
4 xã cù lao, thị trấn, các xã ven Thị xã Nơi đây chính là địa bàn phân bố dân cư đô thị, dân cư nông thôn, sống tập trung ven sông rạch và trục giao thông chính, vùng cây ăn quả, đất trồng lúa-màu
- Vùng có cao trình từ 0,6 - 1,0 m: chiếm 32,77 % diện tích, phân bố tập trung ở
xã Long An, Phú Đức, Lộc Hòa, Hòa Phú, Phú Quới, Thạnh Quới Phân bố chủ yếu đất 2-3 vụ lúa với tiềm năng tưới tự chảy khá lớn, đất trồng cây lâu năm phải lên liếp, lập bờ bao mới bảo đảm sản xuất an toàn Trong đó các xã ở phía Bắc quốc lộ 1A là vùng chịu ảnh hưởng lũ nhẹ vào tháng tám hàng năm Dân cư phân bố ít trên vùng đất này
- Vùng có cao trình < 0,6 m: chiếm 7,94 % diện tích, có địa hình, thấp, trũng, ngập sâu, phân bố rãi rác ở các xã Long An, Lộc Hòa, Hòa Phú, Phú Quới, Thạnh Quới Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chủ yếu lúa 2 vụ trong điều kiện quản lý nước khá tốt
Nhìn chung, địa hình của huyện bằng phẳng, độ dốc nhỏ hơn 20, đất đai của huyện Long Hồ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (đất lúa chiếm đa số) Phần lớn diện tích đất có địa hình thấp hơn 1,0 m chiếm 40,71%, rất thuận lợi cho việc sản xuất lúa
và xen canh lúa – màu, lúa – cá, đối với những vùng có cao trình lớn hơn 1,0 m chiếm 59,29% thuận lợi cho phát triển cây màu và cây lâu năm Tóm lại, về mặt địa hình địa mạo rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Vì vậy mà đất dành cho nông nghiệp là
nhiều nhất
Trang 21Khí hậu Long Hồ mang tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, trong năm
có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Khí tượng của huyện khá đồng nhất, với các đặc điểm sau: (theo số liệu tổng hợp các yếu tố khí hậu trạm Vĩnh Long.)
- Có chế độ nhiệt cao, ổn định, nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 27,20C, nhiệt
độ bình quân trong tháng khoảng 25 – 28 0C
- Tổng lượng mưa của Huyện thuộc loại trung bình, trong năm đạt khoảng 1.400
mm Mùa mưa bắt đầu khoảng 15/5 dương lịch, kết thúc mưa vào 25/11 dương lịch, thời gian mưa trong năm khoảng 160 ngày, tổng lượng mưa trong mùa mưa chiếm 93% đến 94% lượng mưa cả năm
Trang 22Từ những đặc điểm khí hậu trên cho thấy Long Hồ thuận lợi phát triển nông nghiệp, có thể đầu tư thâm canh tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, được ưu đãi
về khí hậu, thời tiết có thể nuôi trồng quanh năm
* Hạn chế:
- Vào mùa khô lượng mưa không có hoặc rất ít trong khi đó lượng bốc hơi khá cao (từ 94,7 – 150,8 mm/tháng), trong những tháng từ tháng 2 đến tháng 4 nhiệt độ cực đoan có thể lên trên 330C và duy trì trong ngày từ 10 – 15 giờ, lượng bốc thoát hơi nước có khả năng đạt 4 – 6 mm/ngày là điều kiện bất lợi cho quang hợp của cây lúa và khả năng đậu trái của một số loại cây trồng
- Hàng năm hạn bà chằn thường xảy ra vào tháng 7 – 8 dương lịch, kéo dài khoảng 2 tuần ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất lúa và hoa màu vụ thu đông
- Từ tháng 12 đến tháng 1 dương lịch, hiện tượng ngày ngắn, đêm sương hóa do nhiệt độ thấp, ẩm độ cao xảy ra là điều kiện thích hợp cho dịch bệnh phát triển cho lúa
và cây hàng năm
Tóm lại: qua những thuận lợi và hạn chế của yếu tố khí hậu thời tiết, trong bố trí
sử dụng đất, cơ cấu mùa vụ, cây trồng thích hợp để tận dụng những thuận lợi và tránh những hạn chế của yếu tố khí hậu thời tiết, nhằm đem lại thu nhập cao trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
d) Đặc điểm thuỷ văn
Sản xuất nông nghiệp của Long Hồ chịu ảnh hưởng chính của chế độ bán nhật triều biển Đông, thông qua hệ thống sông Cổ Chiên, sông Long Hồ, có đặc tính địa hình rất nhạy cảm với chế độ nước trên sông, rạch, trong ngày có 2 con nước lớn, ròng, trong tháng thì có 2 con nước rong vào những ngày đầu và giữa của tháng âm lịch Hệ kinh trục phân bố khá đều trên toàn huyện với mật độ bình quân trên 15,7 m/ha Kết hợp với hệ thông sông rạch khá phong phú nên tiềm năng về tưới tự chảy cho cây trồng của huyện khá lớn, khả năng tiêu rút nước tốt, đã tạo lợi thế trong sản xuất nông nghiệp
- Kết quả quan trắc mực nước tại trạm Mỹ Thuận (sông Tiền) trong nhiều năm cho thấy: Biên độ triều khá cao dao động từ 75 – 142 cm, tương ứng với đỉnh triều 75 – 159cm Cường độ triều mạnh, biên độ triều vào mùa lũ 70 – 90cm và vào mùa khô dao động 114 – 140cm
Trang 23- Tình trạng ngập lũ: Long Hồ nằm giáp với sông Cổ Chiên nên khả năng tiêu nước vào mùa lũ khá tốt Những năm gần đây hệ thống giao thông nông thôn kết hợp với đê bao thủy lợi và đê bao của từng hộ gia đình phát triển mạnh, đã hạn chế ảnh hưởng của lũ đến cây trồng
Tóm lại: chế độ thủy văn trên địa bàn Long Hồ đã tạo thuận lợi rất lớn cho nền sản xuất nông nghiệp của huyện, sinh hoạt của người dân, nuôi trồng thủy sản và nhất
là giao thông thủy phát triển mạnh
e) Môi trường
Theo kết quả báo cáo hiện trạng môi trường (2001 – 2005) của toàn tỉnh vào năm 2005, chất lượng môi trường nước ở nông thôn hiện nay trên địa bàn tỉnh nói chung và Long Hồ nói riêng đang bị ô nhiễm Nguyên nhân chính là do người dân vẫn còn thói quen thải rác sinh hoạt và các chất thải trong chăn nuôi trên sông rạch Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng tùy tiện các loại thuốc bảo vệ thực vật
đã dẫn đến hậu quả là nước bị phù dưỡng hoá nhanh chóng, làm thiệt hại đến hệ sinh thái thủy vực, giảm đi lượng thủy sản tự nhiên tại các vùng sử dụng nhiều phân bón hoá học Mặt khác thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi làm chết các phiêu sinh động thực vật, làm giảm đáng kể nguồn thức ăn chính cho thủy sản trong tự nhiên
Đối với môi trường đất hiện tại chưa có một thống kê khảo sát nào về hiện tượng ô nhiễm môi trường đất Tuy nhiên trong quá trình phát triển xã hội thì mọi nhu cầu của xã hội đều tăng, trong đó: dân số tăng đòi hỏi lương thực thực phẩm ngày càng nhiều, vì vậy con người phải áp dụng các phương pháp cải tạo đất để tăng cường khai thác độ phì của đất Tuy nhiên trong quá trình sử dụng đất, nhìn chung diện tích đất nông nghiệp của huyện chủ yếu là trồng cây lúa và cây ăn quả từ đó để cây trồng có hiệu quả kinh tế, người dân dùng các biện pháp: Tăng cường sử dụng các chất hóa học như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ; sử dụng các chất điều khiển sinh trưởng; sử dụng công cụ và kỹ thuật hiện đại; mở rộng mạng lưới tưới tiêu Tất cả những biện pháp trên đều gây tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái và môi trường đất: Làm đảo lộn sinh thái, làm ô nhiểm môi trường đất, làm mất cân bằng dinh dưỡng, làm xói mòn và thoái hoá đất, phá hủy cấu trúc và các tổ chức sinh học của đất (do sử dụng máy móc nặng trên đất) Bên cạnh đó chất thải sinh hoạt cũng ảnh hưởng ô nhiểm môi trường đất
Trang 2412.043,09
77,68 0
2.2.2 Tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
Đất đai của Vĩnh Long nói chung và của Long Hồ nói riêng được hình thành
do kết quả trầm tích biển lùi Holocen Theo kết quả điều tra khảo sát thổ nhưỡng của Chương trình đất Tỉnh Vĩnh Long năm 1990 – 1992 và kết quả điều tra khảo sát, chỉnh
lý, đánh giá biến động các đơn vị đất của tỉnh tháng 2-5/2002, do Sở Địa chính (nay là
Sở Tài nguyên và Môi trường) thực hiện trên bản đồ nền tỷ lệ 1:25.000 cho thấy huyện
có 3 nhóm đất chính: Nhóm đất phù sa, Nhóm đất phèn tiềm tàng, Nhóm đất phèn phát triển
Nhóm đất phù sa ( Alluvial Soils ): với diện tích 4.626,49 ha chiếm 27,63%
tổng diện tích, phân bố chủ yếu ở 4 xã cù lao và phân bố rãi rác các xã: Long Phước, Phước Hậu, Tân Hạnh, Long An, Lộc Hòa Trong đó, nhóm đất phù sa chưa phát triển (Undeveloped non acid Soils) với diện tích 324,37 ha chiếm 7,01% trong nhóm đất phù sa; đất phù sa bắt đầu phát triển (Developed non acid Soils) với diện tích 4.302,12ha chiếm 92,99%, trong nhóm đất phù sa
Nhóm đất phèn tiềm tàng (Potential acid sulfate Soil): với diện tích
12.043,09ha chiếm 71,91% tổng diện tích
Nhóm đất phèn phát triển (Actual acid sulfate): Với diện tích 77,68ha
chiếm 0,46% tổng diện tích, chỉ có một loại đất phèn phát triển có tầng phèn từ 80 – 120cm, phân bố ở 2 xã: Thạnh Quới và xã Long An
Hình 2.3 Nhóm đất chính của huyện Long Hồ
Nguồn: Niên Giám Thống Kê huyện Long Hồ 2007
Trang 25b) Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên sét sản xuất gạch, ngói, gốm: Theo kết quả quy hoạch khu vực
khai thác sét và cụm tuyến sản xuất gạch ngói của Sở Công nghiệp Tỉnh Vĩnh Long, năm 2001 trên địa bàn Huyện Long Hồ có 5 thân sét phân bố tập trung ở các xã Tân Hạnh, Thanh Đức, Long An và xã Phú Đức với diện tích có khả năng khai thác 2549,57 ha Do đặc điểm về đất đai trong quá trình khai thác sét cần chú trọng đến biện pháp khai thác theo hướng cải tạo mặt bằng đất trả lại diện tích đất nông nghiệp, hạn chế tối đa việc phá vỡ bề mặt tầng canh tác Mặt khác việc khai thác sét nên hạn chế khả năng khai thác nguyên liệu sét với độ sâu cao do trong nguyên liệu sét có chứa nhiều sạn và khả năng phát sinh phèn lớn Vì vậy trong quá trình khai thác cần phải tuân thủ các quy trình đã được xác định và có biện pháp quản lý tốt mới đảm bảo hiệu quả khai thác và sử dụng đất
Tài nguyên cát lòng sông: Theo kết quả khảo sát của Công ty Địa chất và
khoáng sản (năm 2000) thì huyện còn có nguồn tài nguyên cát lòng sông khá phong phú, theo khảo sát có 2 thân cát tập trung ở các xã ven sông Tiền như: xã Hoà Ninh và
xã Đồng phú với tổng chiều dài hơn 13 km, rộng trung bình 200 - 300m, độ dày cát từ
1 – 10m, chủ yếu là cát hạt nhỏ có thành phần hạt từ nhỏ đến trung bình với hạt cát thô 0,35%, hạt cát trung 14%, hạt cát nhỏ 71,30%, cát hạt mịn và bột sét 13,85% với trữ lượng ước tính cấp P1 là 9,16 triệu m3 và trữ lượng cấp C2 là 9,912 triệu m3 Trên địa bàn toàn tỉnh có 11 thân cát, trữ lượng cát trên các sông ở tỉnh Vĩnh Long đạt khoảng 133,903 triệu m3, trong đó huyện Long Hồ có 19,072 triệu m3 chiếm 14,24% trữ lượng
toàn tỉnh
Tuy nhiên trong thời gian qua việc khai thác cát lòng sông ở huyện Long Hồ vẫn chưa đạt hiệu quả cao do các đơn vị khai thác cát chưa chấp hành và thực hiện nghiêm túc quy trình khai thác mặc dù đã có luật khoáng sản cũng như văn bản dưới luật quy định khá cụ thể về quản lý tài nguyên cát sông Qua đó cho thấy chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành các cấp trong việc quản lý nguồn tài nguyên này, dẫn đến tình trạng làm thay đổi dòng chảy, tác động đến môi trường nước, gây hiện tượng sạt lở ven sông và ảnh hưởng đến vấn đề an toàn giao thông thuỷ Vì vậy việc định hướng khai thác cát lòng sông cần phải được quản lý khai thác đúng quy định, quy chế trong quản lý nguồn tài nguyên quý giá này
Trang 26c)Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Phần lớn trong sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt ở
Long Hồ đều cần đến nguồn nước mặt Nguồn nước mặt cung cấp chính qua sông Tiền Giang, sông Cổ Chiên thông qua hệ thống các sông nhỏ như sông Long Hồ và hệ thống các sông, kênh rạch nội đồng cung cấp nước cho toàn bộ đất canh tác và sinh hoạt của huyện Chất lượng nguồn nước trên sông Tiền được đánh giá như sau:
- Lượng nước mùa kiệt trên sông đủ thỏa mãn cho nhu cầu tưới của cây trồng và sinh hoạt, lưu luợng QTB tháng 4 trên sông Tiền 900 – 1.900m3/s (Kết quả quan trắc tại trạm Mỹ Thuận - sông Tiền)
- Chất lượng nguồn nước có độ pH từ 6,8 – 7 Riêng mùa lũ, nguồn nước có lượng phù sa từ 250 – 450 g/m3 làm tăng độ phì nhiêu đất đai của huyện
Với hệ thống sông ngòi phong phú chảy qua huyện đã phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nhu cầu sinh hoạt, tạo điều kiện giữ ẩm, điều hoà tiểu khí hậu và nâng cao mực nước ngầm trong đất Tuy nhiên muốn khai thác tốt nguồn nước này cho sản xuất nông nghiệp cần phải đầu tư nhiều về thuỷ lợi
Nguồn nước ngầm: Theo kết quả khoan khai thác giếng trong chương trình
nước sạch của toàn tỉnh cho thấy, nguồn nước ngầm chỉ sử dụng cho sinh hoạt vì đầu
tư rất tốn kém, chất lượng nước sử dụng được khi khoan ở độ sâu 350 m
2.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a) Dân cư
Theo niên giám thống kê của Phòng thống kê huyện Long Hồ đến năm 2007 toàn Huyện có 155.027 người, mật độ dân số 802 người/km2, tỷ lệ tăng tự nhiên của huyện năm 2007 là 10,15%, có 3 dân tộc người chính đang sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số Riêng dân tộc Hoa chiếm tỷ lệ rất thấp trong cộng đồng và thường tập trung ở các khu vực buôn bán của Huyện
Trang 27số ít theo đạo Thiên chúa, Cao đài
b) Cơ sở hạ tầng
Năm 2007 toàn bộ xã và thị trấn của huyện có điện lưới Quốc gia, tỷ lệ hộ có điện sinh hoạt chiếm 97,02% Tỷ lệ đường liên ấp, đường chính ấp, được đai hóa rãi
đá chiếm 16,62 % Có trạm y tế, trường học cho mỗi xã thị trấn Mạng lưới giao thông
bộ khá đều: Quốc lộ 1A (dài 9,36 km), Quốc lộ 53 (dài 10,4 km), Quốc lộ 57 (dài 2,8 km), đường Tỉnh 909 (dài 6,4 km), cùng với các tuyến hương lộ, lộ liên xã và liên ấp phân bố đều trên địa bàn huyện Giao thông thuỷ ngoài 2 tuyến là sông Cổ Chiên và sông Long Hồ còn có hệ thống sông, rạch vừa và nhỏ phân bố khắp trên địa bàn huyện, đã tạo cho huyện mạng lưới giao thông thuỷ, bộ thuận lợi cho việc lưu thông của người dân trong nội bộ huyện với các huyện khác và các vùng lân cận
c) Y tế
Trang 28Toàn huyện có 100% trạm y tế và 2 bệnh viện (Niên giám thống kê huyện Long
Hồ, 2007) với đội ngũ y bác sĩ có trình độ cao Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh cho người trong mùa mưa; chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch, nhất là dịch Cúm A (H5N1), sốt xuất huyết, các bệnh đường tiêu hóa, hội chứng tay - chân - miệng, bệnh thủy đậu,
Phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS: bằng nhiều hình thức để tuyên truyền việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ hiện nay
d) Giáo dục
Toàn huyện có 39 trường cấp I, 15 trường cấp II và 3 trường cấp III với hơn
775 lớp học cùng với đội ngũ giáo viên hơn 1330 người Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông trên 80% Huyện có trường tiểu học và trường trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc
gia Tỷ lệ học sinh các cấp qua các năm học giảm
e) Văn hóa – du lịch - xã hội
Huyện có trung tâm văn hóa , thư viện phòng đọc sách, trạm thông tin liên lạc, điểm đọc sách báo của ấp và sân chơi thể dục thể thao nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho thanh thiếu niên
Tại bốn xã cù lao Xã An Bình, Hoà Ninh, Bình Hoà Phước và Đồng Phú, cây
ăn trái phát triển rất mạnh và đa dạng Trong những năm gần đây hệ thống giao thông nông thôn ở 4 xã này phát triển tốt, chính quyền địa phương kết hợp với nhân dân đã
xây dựng được 15 diểm du lịch sinh thái, trong đó có nhiều điểm du lịch có qui mô
khá lớn, sản phẩm du lịch phong phú: khu du lịch trang trại Vinh Sang, khu du lịch Đại phát…Đặc biệt là khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đã thu hút đông đảo khách tham quan, góp phần khai thác tốt các tour du lịch trên sông và
du lịch vườn của Huyện Qua đó cho thấy huyện Long Hồ có tiềm năng lớn phát triển dịch vụ du lịch, đặc biệt là việc khuếch trương du lịch sinh thái, đồng thời kết hợp với việc phát huy văn hoá dân tộc của vùng Ngoài ra về mặt văn hoá đối với Long Hồ còn
có khả năng thu hút du khách như sự phát triển các câu lạc bộ đờn ca tài tử mang đậm nét văn hoá miền Tây Nam bộ Với những đặc điểm sản xuất nông nghiệp bên cạnh những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống ở đây, tất cả đã tạo cho Long Hồ một cảnh quan tươi đẹp, có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái cùng với sự phân bố các khu Công Nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất gạch ngói - gốm mỹ nghệ phân bố ven
Trang 2900
1124 1146
1164 1266
92,8
9,6 7,4
sông Cổ Chiên Đây cũng là lợi thế của huyện trong việc phát huy tiềm năng du lịch và dịch vụ
f) Kinh tế
Trong thời gian qua cùng với sự phát triển chung của tỉnh, kinh tế huyện vẫn tiếp tục tăng trưởng và phát triển đúng định hướng Sản xuất nông nghiệp được chú trọng, việc ứng dụng các thành tựu khoa học trong sản xuất được nhân dân quan tâm; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp luôn được đẩy mạnh, thương mại dịch vụ tiếp tục phát triển đáp ứng tốt yêu cầu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Du lịch sinh thái, du lịch miệt vườn ngày càng được mở rộng, chất lượng giáo dục ngày được nâng lên, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững
Về giá trị sản xuất nông nghiệp - thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 5,57%; về giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân hàng năm 30,26%; giá trị sản xuất các ngành thương mại - dịch vụ tăng bình quân hàng năm 12,44% Kinh tế trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực Sản lượng khai thác thủy sản năm
2007 giảm so với năm trước đó nhưng sản lượng nuôi trồng lại tăng rõ nhất là sản lượng cá các loại
Hình 2.5 Sản Lượng Khai Thác Thủy Sản của Huyện Long Hồ năm 2007
ĐVT: Tấn
Nguồn: Niên Giám Thống Kê huyện Long Hồ 2007
Trang 30tầng kỹ thuật ngày càng được nâng cao về chất lượng Bình quân thu nhập trên đầu
người tăng qua các năm: năm 2000 đạt 3,61 triệu đồng, năm 2001 đạt 3,79 triệu đồng, năm 2002 đạt 4,18 triệu đồng năm 2003 đạt 4,70 triệu đồng, năm 2004 đạt 5,41 triệu đồng và năm 2005 đạt 5,7 triệu đồng
Nhìn chung, trong thời gian qua kinh tế của huyện có sự chuyển dịch theo xu thế tích cực điều này đã phản ảnh được thực trạng kinh tế xã hội của huyện Việc phát triển kinh tế của Long Hồ chủ yếu dựa vào nền tảng của sự phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ có phát triển nhưng sự chuyển dịch này còn diễn ra chậm so với bình quân chung của tỉnh Do đó để đảm bảo tốt cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu của huyện nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất đai cần phải bố trí quỹ đất thích hợp cho nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật như hình thành các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ, chuyển dịch mạnh trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp Nguồn tài nguyên không nhiều nhưng đa dạng, nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: đất sét, cát tạo điều kiện để phát triển công
Trang 31nghiệp vật liệu xây dựng và gốm sứ Nhiều ngành, nghề truyền thống là cơ sở để phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và tham gia xuất khẩu
2.2.4 Đánh giá chung
Long Hồ có vị trí rất thuận lợi nên có lợi thế trong giao lưu kinh tế đa dạng, văn hóa phong phú, đồng thời giúp quá trình đô thị hoá và hiện đại hoá nông thôn phát triển mạnh Với điều kiện tự nhiên ưu đãi, Long Hồ có nền nông nghiệp phát triển và sản xuất được quanh năm, nông thôn khá trù phú, dân cư quần tụ đông đúc, kinh tế miệt vườn là truyền thống, đặc biệt vùng cây ăn quả đặc sản ở 4 xã cù lao của huyện
có tiềm năng to lớn trong lĩnh vực khai thác du lịch sinh thái kết hợp phát triển kinh tế vườn và có hệ thống sông ngòi dày đặc và hệ thống sông lớn như sông Tiền và sông
Cổ Chiên đã làm phát triển nhanh chóng nghề nuôi trồng thủy sản chủ lực nhất là nuôi
cá tra Cùng với tốc độ phát triển của Thị xã, tốc độ tăng trưởng của huyện cũng tăng nhanh, việc đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất phục vụ cho tăng trưởng kinh tế ngày càng phức tạp và đa dạng
Qua những thuận lợi và hạn chế của yếu tố khí hậu thời tiết, trong bố trí sử dụng đất, cơ cấu mùa vụ, cây trồng thích hợp để tận dụng những thuận lợi và tránh những hạn chế của yếu tố khí hậu thời tiết, nhằm đem lại thu nhập cao trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Chế độ thủy văn trên địa bàn Long Hồ đã tạo thuận lợi rất lớn cho nền sản xuất nông nghiệp của huyện, sinh hoạt của người dân, và nhất là giao thông thủy phát triển mạnh cùng với phát triển nuôi trồng thủy sản Hơn nữa, với những nét văn hoá đặc trưng của huyện kết hợp với cảnh quan của vùng sông nước là tiềm năng để phát triển
du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái đối với các xã cù lao trên sông Cổ Chiên
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra để có thể khai thác và sử dụng một cách hiệu quả các lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường, đòi hỏi huyện cần phải có các chiến lược đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, có phương hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, đồng thời phải có chính sách khai thác và quản
lý một cách cụ thể các nguồn tài nguyên thông qua công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai cũng như quy hoạch chuyên ngành Riêng đối với các khu vực đất được đánh giá là
có phèn tiềm tàng và phèn phát triển tùy theo mức độ mà đầu tư thủy lợi kết hợp bố trí
Trang 32mùa vụ thích hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân cũng như cho địa phương
2.3 Vài nét về cá tra
2.3.1 Phân loại
Cá tra là 2 trong số 11 loài thuộc họ Cá Tra (Pangassidac) đã được xác định ở sông Cửu Long Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả W.Rainboth xếp cá tra nằm trong giống cá tra dầu Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và còn sống sót rất ít ở Thái Lan
và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần được bảo vệ nghiêm ngặt (sách đỏ)
Cá tra của ta cũng khác hoàn toàn với loài cá nheo Mỹ (Ictalurus punctstus) thuộc họ
Ictaluridae
Phân loại cá tra:
Bộ cá nheo Siluriformes
Họ Cá Tra Pangassidac
Giống Cá Tra dầu Pangasianodon
Loài Cá Tra Pangasianodon Hypophthalmus
2.3.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mêkông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mêkông và Chao Phraya Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột, và cá Tra giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt Nam do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mêkông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên Khảo sát chu kì di cư của cá Tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về
hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm
2.3.3 Đặc điểm hình thái sinh lí
Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7 – 10 %o), có thế chịu đựng được nước phèn có pH>5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 150C , nhưng chịu nóng tới 390C Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Các cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô
Trang 33hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng
2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống vì vậy chúng có thể ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ươm không cho ăn đầy
đủ, thậm chí cả cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn lẫn nhau trong đáy với cá bột Ngoài ra khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác Dạ dày của cá phình to hình chữ U
và co giãn đựợc, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt Ngay khi vừa hết noãn hoàng các thế hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau do đó để tránh hao hụt do ăn thịt lẫn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển
cá ra ao ươm Trong quá trình ươm nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo khác Khi cá lớn cá thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức
ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi,
cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy
2.3.5 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái là 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu khoảng 2,5 – 3 kg Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận Campuchia và Thái Lan Ngay từ năm 1966, Thái Lan đã bắt cá tra thành thục trên sông (trong đầm Bung Borapet) và kích thích sinh sản nhân tạo thành công Sau đó họ nghiên cứu nuôi vỗ cá tra trong ao Đến năm 1972 Thái Lan công bố quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao đất
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp) nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái Ở thời kì thành thục, tuyến sinh dục
ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt đựoc đực cái từ giai đoạn II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đoạn sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt
Trang 34trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa Hệ số thành thục của cá tra khảo sát trong tự nhiên từ 1,76 – 12,94 (cá cái)
và từ 0,83 – 2,1 (cá đực) đối với cá đánh bắt tự nhiên trên sông cỡ từ 8 – 11 kg (Nguyễn Văn Trọng, 1989) Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5% Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 6 dương lịch, cá
có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái Lan, không đẻ tự nhiên của phần sông Việt Nam Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mêkông và Tonlesap, từ thị
xã Kratie ( Campuchia) trở lên đến thác Khon, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào Nhưng tập trung nhất từ Prek Kampi đến hết Kol Rongiew thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie
và Stung Treng Tại đây có thể bắt được những con cá tra có buồng trứng đã thnàh thục Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila Asiatica, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn
Trong sinh sản nhân tạo ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong
tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1 – 3 lần trong 1 năm Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt đối Sức sinh sản tương đối của cá tra có thể tới 135 ngàn trứng / kg cá cái Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm, sau khi trương nước có thể tới 1,5 – 1,6 mm
2.3.6 Nguồn giống cá tra
Đối với người dân Đồng Bằng Sông Cửu Long nguồn giống cá tra trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào vớt tự nhiên Hàng năm vào khoảng đầu tháng 5 âm lịch, khi nước mưa từ thượng nguồn sông MêKông bắt đầu đổ về thì ngư dân vùng Tân Châu (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp) dùng một loại lưới phễu gọi là “đáy” để vớt cá bột Cá tra bột được chuyển về ao và bè khắp Nam Bộ Khu vực ươm cá giống tập trung chủ yếu ở các địa phương: Tân Châu, Châu Đốc, Hồng Ngự các cù lao trên sông Tiền như: Long Khánh, Phú Thuận Trong những thập niên 60 -70 của thế kỉ 20, sản lượng cá bột vớt mỗi năm từ 500 - 800 triệu con và cá giống ươm nuôi được từ 70 –
120 triệu con Sản lượng cá bột hàng năm giảm dần do biến động của điều kiện môi trường và sự khai thác quá mức của con người Đầu thập niên 90 sản lượng cá bột vớt
Trang 35hàng năm chỉ đạt 150 – 200 triệu con (Vương Ngọc Vinh,1994) Đến năm 1999 khi đã chủ động và xã hội hóa sản xuất giống nhân tạo cá tra thì nghề vớt cá tra hoàn toàn chấm dứt Năm 1999 sản lượng cá bột sản xuất nhân tạo đã cao hơn số lượng những năm trước vớt ngoài tự nhiên
2.4 Kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm
Nuôi cá thương phẩm là giai đoạn cuối cùng để có được sản phẩm và cung cấp thực phẩm cho con người Trong xu thế chung hiện nay, nuôi cá tra trong ao đã phát triển các hình thức nuôi thâm canh, mang tính công nghiệp cho năng suất rất cao và hiệu quả kinh tế lớn Sản phẩm cá nuôi ngoài tiêu chuẩn về quy cỡ, cần phải đạt được tiêu chí sản phẩm sạch, tức là đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh và an toàn thực phẩm Sản phẩm cá sạch phải được nuôi trong môi trường sạch, không bị ô nhiễm, cá không
bị nhiễm hay tồn dư các hóa chất, kim loại nặng hoặc kháng sinh đã bị cấm hay hạn chế sử dụng Cá tra có đặc tính chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt của môi trường
ao nuôi nhưng để đạt các yêu cầu cho sản phẩm sạch, người nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về kĩ thuật nuôi
2.4.1 Chuẩn bị ao nuôi
Ao nuôi cá tra thông thường có diện tích từ 500m2 trở lên, độ sâu nước 2,5 – 3
m, bờ ao chắc chắn và cao hơn mực nước cao nhất trong năm Cần thiết kế cống cấp
và thoát nước với kích cỡ thích hợp để chủ động cấp thoát nước dễ dàng cho ao Cống cấp nước nên đặt cao hơn đáy ao, cống thóat nước nên đặt phía bờ ao thấp nhất đễ dể tháo cạn nước Đáy ao bằng phẳng và hơi nghiêng về phía cống thoát Ao nên gần nguồn nước sông, kênh mương lớn để có nước chủ động Nơi cấp nước cho ao phải xa các cống thải nước sinh hoạt, nước thải công nghiệp, không lấy nước nhiễm phèn vào
ao Xung quanh ao và mặt ao phải thoáng, không có tán cây che phủ
Các chỉ tiêu chủ yếu của môi trường ao nuôi cần đạt:
Nhiệt độ nước 26 – 30 0C
pH thích hợp 7 – 8
Hàm luợng oxy hòa tan > 3 mg / lít
Nguồn nước cấp cho ao phải sạch, thể hiện ở các chỉ số ô nhiễm chính dưới mức giới hạn cho phép:
NH3 – N <1 mg/lít
Trang 36Coliform < 10000 MNP / 100ml
Chì (kim loại nặng) 0,002 – 0,007 mg /lít
Cadmi (kim loại nặng) 0,80 – 1,80 μg / lít
Trước khi thả cá phải thực hiện các bước chuẩn bị ao như sao
Tháo cạn hoặc tát cạn ao Bắt hết cá còn sót lại trong ao Dọn sạch rong, cỏ dưới đáy và bờ ao
Vét bớt bùn loãng đáy ao, chỉ để lại lớp bùn dày 0,2 – 0,3 m
Lấp hết hang hóc, lỗ mọi rò rỉ và tu sửa lại bờ, mái bờ ao
Dùng vôi bột Ca(OH)2 rải khắp đáy ao và bờ ao với lượng vôi 7 – 10kg/ 100
m2 để điều chỉnh pH thích hợp, đồng thời vôi còn có tác dụng diệt các mầm bệnh còn tồn lưu ở đáy ao
Phơi đáy ao 2 – 3 ngày
Sau cùng cho nước vào ao qua cống có chắn lưới lọc để ngăn cá dữ và dịch hại lọt vào ao, khi đạt mức nước yêu cầu thì tiến hành thả cá giống
2.4.2 Thức ăn cho cá
Trong 2 tháng đầu mới thả nuôi,cho cá ăn loại thức ăn có hàm lượng 28 – 30 % Các tháng tiếp theo giảm dần hàm lượng đạm trong thức ăn xuống 25 – 26 % Hai tháng cuối cùng sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 20 – 22 %
Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6 – 10 giờ, chiều từ 16 – 18 giờ Khẩu phần thức ăn tự chế biến 5 – 7 % trọng lượng thân, thức ăn viên công nghiệp 2 – 2,5% Thức ăn cho cá nuôi hiện nay có 2 loại chủ yếu là thức ăn viên công nghiệp và thức ăn hỗn hợp tự chế Khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp phải chú ý đến chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Thức ăn không được nhiễm Salmonella, nấm mốc độc (Aspergillus flavus),độc tố (Aflatoxin) Thức ăn không được chứa các kháng sinh
đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng, theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh mức độ tăng hay giảm của thức ăn, không nên cho thức ăn quá nhiều xuống ao, cá ăn không hết thức ăn thừa còn lại sẽ lắng xuống ao làm môi trường nước bị ô nhiễm
2.4.3 Mật độ nuôi
Cá giống trước khi thả xuống ao nên tắm bằng nước muối 2 - 3% trong 5 – 6 phút để loại trừ hết các kí sinh và chống nhiễm trùng các vết thương hoặc vết sây xát
Trang 37trên thân cá Kích cỡ cá thả 10 – 12 cm (15 – 17 gram/con) Mật độ thả bình quân là:
20 – 40 con /m2
Trang 38CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này của khóa luận sẽ trình bày chi tiết các vấn đề lý luận liên quan đến hiệu quả kinh tế, vấn đề môi trường của mô hình nuôi cá tra và giới thiệu một cách có
hệ thống các phương pháp nghiên cứu mà khóa luận sử dụng để đạt được các mục tiêu
đã đặt ra Nội dung trình bày đi theo trình tự: mở đầu là những khái niệm và cơ sở lý luận liên quan đến hiệu quả kinh tế, vấn đề môi trường của mô hình nuôi cá tra; Phần
kế đến là các phương pháp nghiên cứu cụ thể được ứng dụng để tìm ra kết quả nghiên cứu
3.1 Cơ sở lí luận
3.1.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của một hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu đề cập đến lợi ích kinh tế sẽ thu được trong hoạt động đó HQKT là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường trình độ, lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong một hoạt động kinh tế Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất cuộc sống của con người ngày một tăng, khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở lên khan hiếm
Ở nước ta, thực hiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước Do đó, hoạt động kinh tế của mỗi đơn vị sản xuất không chỉ nhằm vào tăng hiệu quả và các lợi ích kinh tế mà còn phải phù hợp với yêu cầu của xã hội và đảm bảo lợi ích kinh tế chung bởi những định hướng, chuẩn mực được Nhà nước ban hành nhằm tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ
và công bằng xã hội, nuôi trồng hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống
Trang 393.1.2 Các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế
a) Các chỉ tiêu kết quả
Giá trị tổng sản lượng: là chỉ tiêu tổng hợp được tính bằng tiền phản ánh kết
quả thu được từ sản xuất
Giá trị tổng sản lượng = tổng sản lượng * đơn giá sản phẩm
Tổng chi phí sản xuất: là tất cả những khoản chi phí bỏ ra để có được kết quả sản xuẩt
Tổng chi phí sản xuất = chi phí vật chất + chi phí lao động + thuế + chi phí bán hàng + khấu hao
Lợi nhuận = giá trị tổng sản lượng - tổng chi phí sản xuất
Thu nhập = giá trị tổng sản lượng – (chi phí vật chất + chi phí lao động thuê)
= lợi nhuận + lao động nhà
Thu nhập là phần thu được từ việc bán tất cả các sản phẩm làm ra trừ đi chi phí
vật chất và chi phí lao động thuê
Lợi nhuận là phần dôi ra từ việc bán tất cả các sản phẩm làm ra trừ đi tổng chi
phí sản xuất
Doanh thu là tổng giá trị thu được từ việc bán sản phẩm
Chi phí vật chất bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và chi phí lao động, phản
ánh toàn bộ chi phí đầu tư vào quá trình sản xuất
Khấu hao: có nhiều phưuơng pháp khấu hao như khấu hao đường thẳng, khấu
hao nhanh… đề tài áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng để tính tóan cho giá trị khấu hao hàng năm của các loại tài sản đầu tư ban đầu Khấu hao theo đường thẳng còn gọi là khấu hao tuyến tính Đơn giản là chỉ lấy nguyên giá tài sản hoặc chi phí xây
dựng chia cho tuổi thọ của tài sản hoặc công trình
b) Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí (T LN/CP )
T LN/CP = Lợi nhuận/tổng chi phí sản xuất Công thức này chỉ ra rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất thì thu được a đồng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu (T LN/DT )
TLN/DT = Lợi nhuận/doanh thu thuần Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu phản ánh trong kết quả hoạt động kinh doanh Chỉ tiêu
Trang 40này cho biết cứ 1 đồng doanh thu thì đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
Tỷ suất thu nhập theo chi phí (T TN/TCP )
TTN/TCP= Thu nhập / tổng chi phí Chỉ tiêu này chỉ ra rằng cứ 1 đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất thì thu được a thu nhập
Tỷ suất doanh thu theo chi phí (T DT/CP )
TDT/CP = Doanh thu / tổng chi phí Chỉ tiêu này chỉ ra rằng cứ 1 đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất thì thu được a đồng doanh thu
3.1.3 Khái niệm phát triển bền vững
Có thể nói rằng mọi vấn đề môi trường đều bắt nguồn từ sự phát triển nhưng con nguời thì khó có thể chấp nhận việc hạn chế sự phát triển của mình Con đường duy nhất để giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển bền vững và môi trường là chấp nhận phát triển nhưng không có những tác động tiêu cực đến môi trường
Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO), khái niệm hoàn chỉnh về phát triển bền vững được trình bày như sau: “ Phát triển bền vững là sự quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên tự nhiên và sự định hướng thay đổi những kỹ thuật thích hợp nhằm đảm bảo và tiếp tục thỏa mãn nhu cầu của con người ở thế hệ hiện tại và tương lai” Phát triển bền vững là sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai.( Brundtland, 1987)
Phát triển bền vững là loại hình phát triển có tính vững chắc và lâu bền, phát triển bền vững là lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của thế hệ tương lại trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ.(Đặng Thanh Hà, 2007)
Để đạt được phát triển bền vững cần kết hợp hài hòa ba mục tiêu kinh tế, xã hội
và môi trường
Kinh tế: cách tiếp cận kinh tế bền vững dựa trên cơ sở khái niệm của Hicks –
Linhda về tối đa luồng thu nhập có thể tạo ra được trong khi vẫn đảm bảo ít nhất là giữ nguyên trữ lượng tư bản ( tự nhiên và nhân tạo) cần để tạo nên thu nhập đó
Sinh thái: quan điểm sinh thái về phát triển bền vững tập trung vào sựu bền
vững của hệ thống sinh học và vật chất