1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng giải thích cuộc khủng hoảng năm 2008

35 418 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 212,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 là cuộc khủng hoảng lịch sử, là đợt suy thoái kinh tế kéo dài nhất và nghiêm trọng nhất kể từ Đại Khủng hoảng thập niên 1930. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ từ cuối năm 2007, lan rộng ra các nước Châu Âu và ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế toàn cầu. Năm 2008 trôi qua với nhiều sự kiện kinh tế đáng chú ý, tiêu biểu nhất là nền kinh tế thế giới trải qua 3 cú sốc liên tiếp: khủng hoảng lương thực, khung hoảng dầu mỏ và nội bật là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers vào 15092008 là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử thế giới. Ngày hôm sau vụ giải cứu lớn nhất một công ty tư nhân được thông qua, khi chính phủ Mỹ nắm đến 80% cổ phần trong công ty bảo hiểm khổng lồ toàn cầu AIG. Hình ảnh phố WALL – trượng đài cho sự phồn vinh, nơi hàng loạt các ngân hàng lớn, các nhà đầu tư, bảo hiểm bị thua lỗ nặng nề và phải tuyên bố phá sản trong thời gian ngắn. Và hiệu ứng domino này đã đánh một đòn tâm lý nặng nề vào thị trường tài chính của các quốc gia, trong đó Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ dư chấn của cuộc khủng hoảng tài chỉnh toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã nêu lên một số vấn đề cơ bản trong kinh tế vĩ mô bao gồm vai trò của tình trạng bất cân đối kinh tế toàn cầu mà nguyên nhân cơ bản nhất chính là vấn đề thông tin bất cân xứng gây ra. Tóm lại vấn đề khủng hoảng tài chính toàn cầu đã và đang là đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm, chú ý không chỉ của các chuyên gia kinh tế mà của mỗi cá thể trong nền kinh tế toàn cầu bởi những hậu quả nặng nề do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra. Năm bắt được tầm quan trọng của vấn đề, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “ Vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng để giải thích cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng này đến Thị trường tài chính Việt Nam”.

Trang 1

15/09/2008 là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử thế giới Ngày hôm sau vụ giải cứu lớn

nhất một công ty tư nhân được thông qua, khi chính phủ Mỹ nắm đến 80% cổ phần trongcông ty bảo hiểm khổng lồ toàn cầu AIG Hình ảnh phố WALL – trượng đài cho sự phồnvinh, nơi hàng loạt các ngân hàng lớn, các nhà đầu tư, bảo hiểm bị thua lỗ nặng nề và phảituyên bố phá sản trong thời gian ngắn Và hiệu ứng domino này đã đánh một đòn tâm lýnặng nề vào thị trường tài chính của các quốc gia, trong đó Việt Nam cũng chịu ảnh hưởngkhông nhỏ từ dư chấn của cuộc khủng hoảng tài chỉnh toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã nêu lên một số vấn đề cơ bản trong kinh tế

vĩ mô bao gồm vai trò của tình trạng bất cân đối kinh tế toàn cầu mà nguyên nhân cơ bảnnhất chính là vấn đề thông tin bất cân xứng gây ra

Trang 2

Tóm lại vấn đề khủng hoảng tài chính toàn cầu đã và đang là đề tài thu hút được rấtnhiều sự quan tâm, chú ý không chỉ của các chuyên gia kinh tế mà của mỗi cá thể trongnền kinh tế toàn cầu bởi những hậu quả nặng nề do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

gây ra Năm bắt được tầm quan trọng của vấn đề, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “ Vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng để giải thích cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng này đến Thị trường tài chính Việt Nam”.

Trang 3

PHẦN 1 LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG

1.1 THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG LÀ GÌ?

Trong mọi nền kinh tế, các giao dịch về tài chính đều hướng đến mục tiêu cuốicùng là chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến những dự án đầu tư hiệu quả nhất với chi phíthấp nhất có thể Khi sản xuất hàng hóa và dịch vụ của xã hội liên tục phát triển sẽ làmgia tăng không ngừng giá trị thặng dư Những chủ nhân của phần giá trị thặng dư đó luôntìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt nhất nhằm giảm thiểu chi phí cơ hội của việc giữ tiền.Những người muốn thành lập hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh, luôn tìm kiếm cácnguồn vốn đầu tư có chi phí thấp nhất Sự gặp nhau của hai luồng nhu cầu trên tạo nên

các giao dịch về tài chính và tổng hợp tất cả các giao dịch tài chính đó hình thành thị trường tài chính.Tuy nhiên sẽ không đơn giản để các giao dịch về tài chính đạt đến mục

tiêu cuối cùng trên Nguyên nhân là do sự tương hợp về yêu cầu giữa người cho vay vàngười đi vay không phải bao giờ cũng đạt được Các giao dịch tài chính luôn xuất hiệnmột mâu thuẫn cơ bản và cố hữu, một mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại của các điều kiện

cho vay, đó là sự không cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay Tóm lại, trong các giao dịch tài chính thường có sự chênh lệch về thông tin giữa các bên tham gia, đó chính là hiện tượng thông tin không cân xứng.

Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiệnvào những năm 1970 và đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đạibằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof,Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế Như vậy, bấtcân xứng về thông tin có ba đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên giao dịch

Thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên

Thứ ba, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn.

1.2 CÁC DẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG THỊ TRƯỜNG

1.2.1 Sự lựa chọn đối nghịch

Trang 4

1.2.1.1 Khái niệm

Sự lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng giữa các bên khitham gia giao dịch, hoặc một trong các bên thiếu thông tin và hiểu biết phục vụ cho quátrình đàm phán, thực hiện hợp đồng Bất cân xứng thông tin càng lớn nguy cơ lựa chọnđối nghịch càng cao

1.2.1.2 Tác động của bất cân xứng thông tin và lựa chọn đối nghịch

Trên thị trường các hàng hóa hữu hình, đặc biệt các thị trường của loại sản phẩm

có mức chất lượng biến thiên rộng, sự xuất hiện của bất cân xứng thông tin là yếu tố quantrọng kìm hãm giao dịch Người bán luôn có thông tin tốt hơn người mua nên sự nghi ngờ

về chất lượng sản phẩm của người mua là không thể tránh khỏi Điều đó đẩy người muađến hai con đường: hoặc là chọn mặt hàng thay thế, hoặc là tìm cách có thêm thông tin vềhàng hóa đó ( mua thông tin, thuê chuyên gia thẩm định…) Tuy nhiên, việc làm này tăngchi phí giao dịch mà người mua phải trả thêm Những yếu tố này làm giảm nhu cầu củangười mua và kết quả là trên những thị trường như thế, doanh số giao dịch sẽ không cao

Chẳng hạn như, trên thị trường tín dụng, người cho vay thường không thể nắm bắt

đầy đủ thông tin về người vay tiền nên sẽ tính một mức lãi suất cho vay có phần bù rủi ro.Những dự án kinh doanh có rủi ro thấp, lợi nhuận sẽ không đủ trả lãi, chỉ còn lại những

dự án rủi ro cao mới có thể chấp nhận vay mức lãi suất cao Chính vì tình trạng thông tinkhông cân xứng về dự án kinh doanh giữa người cho vay và người đi vay, nên cuối cùngngười cho vay chỉ toàn cho vay những dự án có rủi ro cao hoặc sẽ không chấp nhận chovay Điều này đương nhiên sẽ thu hẹp thị trường tín dụng Khi đó, người cho vay đã thựchiện một lựa chọn đối nghịch thay vì cho vay những khách hàng có mức tín nhiệm cao thì

họ lại chọn những khách hàng có mức tín nhiệm thấp vay

Trên thị trường chứng khoán, lựa chọn đối nghịch xảy ra khi những nhà đầu tư

không biết thông tin về cổ phiếu của các công ty khác nhau do đó có thể định giá cổphiếu không chính xác hoặc mua phải cổ phiếu của công ty hoạt động kém, rủi ro cao.TTCK không minh bạch thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, nhà đầu tư thường cókhuynh hướng trả mức giá trung bình cho các loại chứng khoán khác nhau để phòng ngừa

Trang 5

rủi ro, vì thế những công ty hoạt động kém nhưng biết cách “tiếp thị” sẽ sẵn sàng pháthành chứng khoán với mức giá trung bình mà nhà đầu tư muốn mua, trong khi nhữngcông ty hoạt động tốt đòi hỏi một mức giá cao thì có thể phát hành sẽ không thành công.Giao dịch chứng khoán trong điều kiện thị trường bất cân xứng thông tin, những ngườitham gia có thể đẩy thị trường đến một trạng thái lựa chọn đối nghịch, đó là việc muachứng khoán của những công ty hoạt động kém và đẩy khỏi thị trường những chứngkhoán chất lượng cao Trong thực tế, những nhà đầu tư sẽ dần ý thức được khả năng lựachọn đối nghịch bất lợi của mình nên sẽ không tiếp tục mua bất kỳ một loại chứng khoánnào nữa, trong khi đó những cổ phiếu tốt do bị trả giá thấp ngang bằng với giá của cổphiếu trung bình nên cũng không bán ra nữa,… nếu những diễn biến trên xảy ra thì nhàđầu tư sẽ quay lưng với thị trường, TTCK sẽ mất tính thanh khoản và ngày càng bị thuhẹp, hàng hóa chỉ còn những loại chứng khoán chất lượng kém,và như vậy thị trườngchứng khoán đã không làm tốt vai trò chu chuyển vốn cho nền kinh tế.

Những phân tích trên đây, giải thích một thực tế đang diễn ra tại hầu hết các thịtrường chứng khoán trên thế giới rằng, chứng khoán trao đổi được không phải là công cụhuy động vốn hàng đầu của các công ty Trên thực tế, chỉ những thị trường chứng khoánrất mạnh, có hệ thống thông tin và gíam sát thông tin tốt mới có khả năng là kênh dẫn vốnquan trọng cho nền kinh tế

1.2.2 Rủi ro đạo đức

1.2.2.1 Khái niệm

Rủi ro đạo đức là hậu quả của thông tin không cân xứng Khác với lựa chọn đốinghịch, rủi ro đạo đức xuất hiện sau các cuộc giao dịch khi một bên thực hiện nhữnghành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của phía đối tác

Rủi ro đạo đức có những đặc điểm chính sau đây:

• Thứ nhất, có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu Một bên tham gia giao dịch không thể giám sát hành động của phía bên kia

• Thứ hai, bên có hành động ẩn giấu dù vô tình hay cố ý sẽ làm tăng xác suất xảy

Trang 6

ra hậu quả xấu.

1.2.2.2 Tác động của bất cân xứng thông tin và rủi ro đạo đức

Trong thực tế, vấn đề rủi ro đạo đức xuất hiện trong rất nhiều thị trường, chẳnghạn: Có một số thị trường mà tình trạng bất cân xứng thông tin dễ được nhận thấy như thịtrường bảo hiểm (y tế, tài sản, tai nạn), thị trường cho vay tín dụng, thị trường chứngkhoán

Trong thị trường cho vay tín dụng, người vay tiền biết nhiều thông tin hơn ngườicho vay về hiệu quả của phương án kinh doanh, khả năng quản lý vốn và mức độ rủi của

dự án hơn người cho vay tiền, thậm chí anh ta còn hiểu rõ về uy tín của bản thân và biếtchắc rằng mình có sử dụng khoản tiền vay đúng mục đích cam kết hay không Nói tómlại, trong thị trường cho vay tín dụng bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến cả lựa chọn bấtlợi và rủi ro đạo đức

Trên thị trường chứng khoán, Công ty phát hành chứng khoán biết nhiều thông tinhơn người mua chứng khoán về kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng vốn, khả năngsinh lợi của tài sản, mức độ rủi ro của dự án,… Công ty phát hành có thể che dấu nhữngthông tin bất lợi của công ty, thay vào đó là việc trưng ra những kế hoạch kinh doanh và

sổ sách kế toán đã được làm đẹp Sau khi huy động được vốn thì công ty có thể dùng vốnvào những mục đích khác với cam kết ban đầu để thu lợi và chuyển dịch rủi ro cho nhàđầu tư, nhà đầu tư dù muốn cũng không thể kiểm soát được rủi ro này vì biết ít thông tinhơn công ty hoặc năng lực can thiệp hạn chế Một trường hợp dễ nhận thấy của rủi ro đạođức trên TTCK là tình trạng thao túng các mặt hoạt động của công ty cổ phần và giá cổphiếu Các cổ đông lớn hoặc những người nằm trong ban điều hành công ty do có đượcthông tin về công ty hoặc tạo ra những sự kiện rồi liên kết mua bán để đẩy giá cổ phiếutăng cao, kéo những nhà đầu tư nhỏ ít kinh nghiệm vào cuộc, khi những cổ đông lớn đãrút ra khỏi thị trường thì những cổ đông nhỏ nắm giữ những cổ phiếu giá cao (chọn lựabất lợi) Trên một TTCK có thông tin không cân xứng thì những người mua bán trungthực thường chịu nhiều thiệt hại hơn những người đầu tư mua bán với thông tin nội bộ,nhà đầu tư cá nhân là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất Khi những người mua bán

Trang 7

trung thực bị thua lỗ kéo dài thì chắc chắn họ sẽ rút lui khỏi thị trường vì không ai muốnchơi trong cuộc chơi mà mình luôn ở thế bất lợi, hậu quả là thị trường bị thu hẹp.

1.3 TÁC ĐỘNG CỦA BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.3.1. Đối với nhà đầu tư

• Việc thiếu thông tin, các nhà đầu tư không hiểu biết đầy đủ tình hình sảnxuất kinh doanh, tình hình tài chính, thành phần ban lãnh đạo và cũng như

cơ cấu sở hữu trong công ty Điều này dẫn đến những quyết định sai lầmcủa nhà đầu tư, quyền lợi nhà đầu tư bị thiệt hại

• Các nhà đầu tư không có đầy đủ thông tin về tình hình chung của doanhnghiệp, thông tin toàn ngành, thông tin của các ngành khác, điều này làmcho các nhà đầu tư không có cơ sở để so sánh, dự báo cũng như định giádoanh nghiệp muốn đầu tư Dẫn đến những quyết định đầu tư không chínhxác

• Việc thiếu minh bạch thông tin của các tổ chức niêm yết và các tổ chứckhông niêm yết làm mất niềm tin trong nhà đầu tư, dẫn đến việc rời bỏ thịtrường

1.3.2 Đối với các doanh nghiệp

Bất cân xứng thông tin và chi phí đại diện

Chi phí đại diện là những khoản chi phí phát sinh do nhà quản lý không thực hiệnmục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cổ đông, nguyên nhân phát sinh chi phí này chủ yếu là

do sự mâu thuẫn trong mục tiêu của chủ sở hữu và nhà quản lý Chi phí này gia tăng cùngvới mức độ bất cân xứng thông tin trong doanh nghiệp

Các thay đổi trong chi trả cổ tức tiêu biểu cho đánh gía của ban điều hành về lợinhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp phát hành chứngkhoán mới, sự kiện này có thể được coi là đang cung cấp một tín hiện cho thị trường tài

Trang 8

chính về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp hay các hoạt động tương lai do các giámđốc của doanh nghiệp hoạch định Các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn đều cho rằngcác cung ứng chứng khoán mới đưa tới các đáp ứng chứng khoán giảm Việc mua lại cổphần thường sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố lớn hơn từ cổ phần thường của doanhnghiệp Các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính có thể làm gia tăng thu nhập cuả mỗi

cổ đông ( EPS) Một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, doanh nghiệpphải đối mặt với chi phí kiệt quệ tài chính và chính khoản chi phí này mà các chủ nợthường đòi hỏi một lãi suất hứa hẹn cao hơn Vì vậy, khi một doanh nghiệp thực hiệnquyết định thay đổi cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có về viễncảnh thu nhập tương lai và hiện tại của doanh nghiệp cũng như các dự định của các giámđốc mà giao dịch đề xuất chuyển dịch đến thị trường

Mặc dù ý thức được vấn đề này nhưng không dễ dàng để nhà đầu tư có thể kiểmsoát được, bởi trên thực tế còn tồn tại tình trạng thông tin không cân xứng giữa nhà đầu tư

và nhà quản lý Nhà quản lý có những thông tin mà nhà đầu tư không thể có hoặc do chiphí để thu nhập các thông tin đó là quá cao Nhà quản lý có thể biết được mức độ nỗ lựccủa mình trong khi nhà đầu tư không biết được; Nhà quản lý nhờ trực tiếp điều hành công

ty nên có những thông tin nội bộ mà nhà đầu tư không biết được hoặc biết nhưng khônghiểu được đầy đủ

Trong mối quan hệ người chủ và người đại diện, thường thì người chủ phải trả thùlao cho người điều hành thay mình để làm công việc đó và đưa ra những quyết định theohợp đồng Một hợp đồng hoàn chỉnh có thể loại bỏ khả năng xảy ra mâu thuẫn giữa ngườichủ và người thừa hành, hay xung đột giữa những người có liên quan trong cùng một tổchức Tuy nhiên, thực tế khó có thể thiết kế một hợp đồng và người thừa hành không phảilúc nào cũng hành động vì lợi ích cao nhất của người chủ Do đó, người chủ phải theo dõingười thừa hành và phải tốn chi phí giám sát ( monitoring cost - bao gồm cả chi phí kiểmtoán, chi phí của hợp đồng thù lao cho nhà quản lý và chi phí khuyến khích nhà quản lý),khoản chi phí này sẽ được chủ trừ vào khoản tiền công trả cho người thừa hành Cònngười thừa hành thấy khả năng tiền lương của mình bị giảm đi, họ sẽ chấp nhận gánhchịu chi phí ràng buộc ( bonding cost – chi phí để thiết lập và duy trì những cơ chế để cho

Trang 9

thấy là họ đang hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông.) nhằm đảm bảo với phía chủrằng anh ta sẽ cố gắng hạn chế những hành động có thể gây thiệt hại cho người chủ Mâuthuẫn về lợi ích cũng tạo ra những thiệt hại phụ trội ( residual loss - các thiệt hại xuấtphát từ mâu thuẫn lợi ích) do phúc lợi không tối đa hóa được.

Tổng chi phí theo dõi, ràng buộc và thiệt hại phụ trội được gọi là chi phí đại diện

vì chúng xuất phát từ các mối liên hệ giữa người chủ và người đại diện và xuất phát từ

thông tin bất cân xứng trong các mối quan hệ giữa người chủ và người quản lý Tóm lại, chi phí đại diện cho dù hình thức này hay hình thức khác cuối cùng cũng sẽ làm thiệt hại trong giá trị tài sản cổ đông.

Bất cân xứng thông tin và chính sách cổ tức

Một công trình lý thuyết rất nổi tiếng nghiên cứu về chính sách cổ tức của M.HMiler và Mocligliani (được gọi là thuyết MM) Theo MM trong một thị trường vốn hoànhảo, chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp

Thực tế, việc tăng cổ tức hoặc mua lại cổ phần thường được coi là một thông tintốt dẫn đến việc tăng giá cổ phiếu, và ngược lại khi các công ty giảm hoặc không trả cổtức nữa thì giá cổ phiếu sẽ sụt gỉam Nếu quả thực chính sách cổ tức không quan trọng thìtại sao lại có những phản ứng như vậy trên thị trường? Theo nghiên cứu của Bhattachar(1979), Miler và Rock (1985) thì các nhà đầu tư không phản ứng với chính sách cổ tức

mà phản ứng với các thông tin chứa đựng bên trong chính sách cổ tức Việc tăng cổ tức

có thể là một tín hiệu cho rằng các nhà quản trị công ty rất lạc quan về dòng thu nhậptương lai của công ty Như vậy, theo các nhà nghiên cứu này thì chính sách cổ tức có chứađựng thông tin và có thể coi là một tín hiệu về khả năng phát triển trong tương lai củacông ty Vì thế, thay đổi trong chính sách cổ tức là một tín hiệu có độ tin cậy cao và ràngbuộc trách nhiệm của nhà quản lý công ty nhiều hơn các tín hiệu khác Từ đó làm thayđổi giá trị thị trường của doanh nghiệp

Bất cân xứng thông tin và cấu trúc vốn

Chúng ta trở lại mô hình cổ điển của MM dựa vào những giả thuyết thị trườnghoàn hảo, MM kết luận rằng cấu trúc vốn – tỷ lệ nợ và vốn chủ sỡ hữu độc lập với giá trị

Trang 10

doanh nghiệp.

Liên quan đến tỷ lệ nợ trên tổng vốn, S Ros (1977) còn tìm ra một nghịch lý, giá trịcông ty thông qua giá trị thị trường sẽ tăng lên cùng với mức vay nợ tăng Ông lập luậnrằng:

Thứ nhất, tỷ lệ nợ cao là dấu hiệu chứng tỏ điểm tín dụng công ty được cải

thiện, vì chỉ có như thế thì các tổ chức tín dụng mới cho vay thêm

Thứ hai: Tỷ số nợ cũng như cho thấy các nhà quản lý

ước đoán rằng thu nhập tương lai của doanh nghiệp đủkhả năng thanh toán những chi phí tài chính đáng kểphát sinh từ những khoản nợ này Tỷ số nợ càng caothì ban lãnh đạo càng đáng tin cậy

Bất cân xứng thông tin ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị doanh nghiệp Chính sựtách biệt trong quyền sở hữu và quyền quản lý làm cho bất kỳ thay đổi nào trong cấu trúcvốn có thể tác động tốt hoặc xấu đến nhà đầu tư về kỳ vọng về dòng tiền, thu nhập trongtương lai Vì vậy, minh bạch thông tin là yếu tố chủ chốt trong việc định giá tài sản hiệuquả và phân bổ nguồn vốn Giúp doanh nghiệp giảm đi chi phí sử dụng vốn và thuận lợitrong việc tiếp cận các nguồn vốn khác nhau, làm gia tăng mức vốn hóa thị trường củadoanh nghiệp và tạ đươc lòng tin cho các nhà đầu tư

1.3.3 Đối với thị trường trong và ngoài nước

Bất cân xứng thông tin làm hạn chế tính hiệu quả của thị trường, nó làm cho môitrường đầu tư cũng như kinh doanh trở nên khó dự đoán được những rủi ro và cơ hội đầu

tư Giá cả hàng hóa trên thị trường phản ánh không đúng giá trị thực của nó

Việc định giá không hiệu quả cản trở sự phân bổ các nguồn lực quốc gia và nguồnlực toàn cầu bằng cách bóp méo tín hiệu giá cả mà nhà đầu tư dựa vào và vì thế làm ảnhhưởng không chỉ nền kinh tế đó mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu Như chúng

ta đã biết, nền kinh tế thị trường chủ yếu dựa trên giá chứng khoán để phản ánh một cáchchính xác giá trị cơ sở cũng như đảm bảo sự phân bổ hợp lý của những dòng vốn mới đếnnhững khu vực hiệu quả nhất của nền kinh tế Như là một kết quả của việc định giá

Trang 11

không hiệu quả, những nguồn vốn đó có thể được phân bổ một cách tiết kiệm nhưngkhông hiệu quả.

Ngoài ra, bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán dẫn đến việc đầu tưchứng khoán theo kiểu “ hiệu ứng domino”, “ hiệu ứng đàn cừu”, kinh doanh bầy đàn, họ

dễ bị lung lay trước những thông tin bên lề, tin đồn, tin mật được cung cấp bởi nhữngngười viết bản tin, hoặc những người thân trong nội bộ công ty, mà không quan tâmnhiều đến tính xác thực hay độ tin cậy thông tin

Rõ ràng để thị trường phát triển cả chiều sâu và chiều rộng, thu hút sự quan tâmcủa nhà đầu tư trong và ngoài nước, chúng ta cần loại bỏ những tác động của tình trạngbất cân xứng thông tin gây nên

Trang 12

PHẦN 2: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG GIẢI THÍCH CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008

2.1 Những yếu tố tác động đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

Có 5 yếu tố trong môi trường kinh tế có thể gây tồi tệ hơn một cách căn bản

cho vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trong các TTTC và đưa đến cuộc khủng hoảng tài chính (1) tăng lãi (2) Sụt giảm thị trường cổ phiếu (3) sự sụt giảm bất ngờ về mức giá tổng hợp (4) tình trạng không chắc chắn tăng lên (5) sự hoảng loạn ngân hàng.

Dựa trên cơ sở nghiên cứu 5 yếu tố có thể gây ra sự đổ vỡ nghiêm trọng trong các thị trường tài chính, nhóm chúng em phân giải cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 như sau:

Khủng hoảng khinh tế toàn cầu 2008 -2009 là khủng hoảng lịch sử, là đợt suy thoái kinh tế kéo dài nhất và nghiêm trọng nhất kể từ đại khủng hoảng thập niên 19930 Sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lelmon Brothers vào 15/09/2008 là vụ phá sản lớn trong lịch sử thế giới.

Khủng hoảng tài chính năm 2008 cũng giống như hầu hết các cuộc khủng hoảng tài chính khác tại Mỹ, đã bắt đầu bằng sự tăng giảm lãi suất, một sự tụt dốc thị trường cổ phiếu, sự tăng tính không chắc chắn – hậu quả thất bại của những công ty tài chính và phi tài chính quan trọng Trong giai đoạn khủng hoảng này, sự tăng tính không chắc chắn, sự tăng lãi suất và sự sụt giảm của thị trường cổ phiếu

đã làm tăng tính khắc nghiệt của những vấn đề lựa chọn đối nghịch trong các thị trường tín dụng Sự sụt giảm ở thị trường cổ phiếu cũng làm tăng vấn đề rủi ro đạo đức khi đó đã làm cho người cho vay ít muốn cho vay hơn và dẫn đến một sự sụt giảm hoạt động đầu tư và hoạt động kinh tế tổng hợp

Do những điệu kiện kinh doanh xấu đi và tính chất không chắc chắn và sự vũng mạnh của các ngân hàng của họ, những người gửi tiền bắt đầu rút vốn khỏi

Trang 13

các ngân hàng Sự rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng dẫn đến những vụ khủng hoảng ngân hàng Hậu quả của việc này làm, giảm số lượng ngân hàng, làm tăng lãi suất hơn nữa và giảm các hoạt động trung gian tài chính cdo ngân hàng thực hiện Việc làm xấy thêm các vến đề vốn dĩ so lựa chionjs đối nghịc và ruti ro gại đức gay

a nên đã đưa tới sự co hẹp nền kinh tế hơn nữa.

2.2 BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN – NGUYÊN NHÂN CỐT LÕI CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2008 bùng nổ do sự tác động kết hợp của nhiềunguyên nhân khác nhau Tuy nhiên khi phân tích kỹ chúng ta sẽ thấy, nguyên nhân cốtlõi của vấn đề là do bất cân xứng thông tin và hai vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi rođạo đức kết hợp với tài chính hành vi của các chủ thể kinh tế gây ra

Mầm móng của mọi việc có lẽ bắt đầu khi FED cắt giảm lãi suất xuống mức 1%

để kích thích tiêu dùng và ngăn chặn việc xuống dốc của nền kinh tế Mỹ Tuy nhiên, nếungười ta không lạm dụng mức lãi suất thấp này quá mức, nếu người ta không phá vỡ cácchuẩn mực tín dụng và tìm mọi cách để “qua mặt” các cơ quan chức năng, nếu mọi việcđều được công khai dưới sự kiểm soát của các cơ quan giám sát thì có thể một cuộckhủng hoảng tồi tệ nhất đã được ngăn chặn kịp thời

Khi lãi suất ở mức thấp, kể cả các ngân hàng cho vay cũng như những người đivay đều muốn thực hiện việc vay càng nhiều càng tốt Giá nhà được kỳ vọng là sẽ tăngcao hơn lãi vay phải trả, vì thế ai cũng muốn vay để đầu tư thêm nhiều căn nhà khác.Theo cách này, khi đến hạn họ vừa trả được nợ, vừa “bỏ túi” được một khoảnchênh lệch Với các ngân hàng, việc cho vay càng nhiều càng đem lại cho họ mức thuphí cao hơn Do đó họ tìm mọi cách để cho vay, thậm chí còn lún sâu hơn nữa khi họ tinrằng sau 2 năm, lãi suất cao hơn có hiệu lực thì người ta sẽ đem nhà thế chấp ra đảo nợ,lúc đó họ sẽ thu được hàng loạt phí phát sinh Việc này dẫn đến kết quả là họ cho vaymột cách“vô tội vạ”, không có một chuẩn mực tín dụng nào chấp nhận việc cho nhữngngười không nghề nghiệp, không thu nhập, không tài sản vay và có thể nhận xét làkhông có một quy hoạch, định hướng nào chuẩn mực cho hoạt động tín dụng trong thời

Trang 14

gian này Rõ ràng ở đây đã tồn tại bất cân xứng thông tin, nếu không không có lý do gì

mà các cơ quan chức năng lại để các ngân hàng làm vậy Theo lý thuyết tài chính hành

vi, đây được gọi là sự tự tin thái quá, người cho vay đã đánh giá quá thấp những rủi rohàm chứa trong các khoản vay vô lý này

Các ngân hàng và các tổ chức tài chính lại tiếp tục bưng bít thông tin bằng cáchbán hết những khoản vay có thế chấp nhiều rủi ro nhất của mình bằng cách đóng góichúng lại trong những chứng khoán có tên gọi giấy nợ có thế chấp (Collateralized debtobligations- CDO) Những giấy nợ này chuyển dòng tiền từ hàng ngàn khoản thế chấpthành những lô trái phiếu được “khoanh vùng”, hay xếp hạng với đủ mức độ rủi ro và lợinhuận phù hợp với các dự án đầu tư khác nhau Như vậy, với vỏ bọc bên ngoài là CDO

và được “dán tem bảo đảm” của các hãng xếp hạng Mỹ, các khoản vay xấu đã trở nêntốt, an toàn và hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư, cho nên không một ai có thể nghĩ rằngcác khoản vay như trên cũng được chấp nhận và đem ra xếp hạng Động thái tiếp theocủa ngân hàng một lần nữa chứng minh rằng những khoản cho vay của ngân hàng là bất

ổn Lo ngại rủi ro sẽ xảy đến, các ngân hàng tìm cách chuyển rủi ro cho các tổ chức khác(công ty bảo hiểm) thông qua hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng CDS, theo đó nếu bị vỡ

nợ, ngân hàng sẽ được tổ chức bảo hiểm này bồi thường, bù lại trước đó ngân hàng phảiđóng một khoản phí cố định cho tổ chức này Việc che dấu thông tin thể hiện ở chỗ cáchợp đồng CDS này được ký kết thầm lặng giữa ngân hàng và tổ chức tài chính khác(thường là các công ty bảo hiểm), mà không qua sự quản lí nào của cơ quan nhà nước,cho nên không có cơ chế trung gian nào để xác định giá trị của chúng, chúng làm cho thịtrường chứng khoán trở nên u tối Đến đây thì khoảng cách thông tin có được giữa các

tổ chức tài chính bên trong và công chúng bên ngoài đã quá lớn, có quá nhiều việc bị chedấu Hệ thống các tổ chức tài chính được vị chủ tịch FED đánh giá là có khả năng tựphòng vệ tốt đang tồn tại quá nhiều rủi ro tiềm ẩn mà “chỉ cần một con cờ bị đổ thì cảbàn cờ domino sẽ đổ theo”

Câu hỏi được đặt ra là chẳng lẽ không một ai phát hiện ra được sự bất ổn này sao?

Và chẳng lẽ không có ai đã từng lên tiếng cảnh báo hay sao? Thực ra đã có rất nhiều lờicảnh báo nhưng tất cả đều lần lượt bị bỏ qua Thậm chí có nhiều quỹ đầu tư cảnh báo

Trang 15

không được đã đi đến hành động, họ đã đánh cược là giá nhà sẽ giảm, tuy nhiên họ thấtbại và phải chịu những khoản lỗ nặng, lý do là “bong bóng” vẫn chưa đủ lớn để có thể

vỡ, các quỹ đầu tư này đã không đủ mạnh để chống lại đám đông thị trường Trongtrường hợp này, lý thyết tài chính hành vi giải thích rằng thị trường đang bị chi phối bởitâm lý bầy đàn, hành động đổ xô đi mua nhà của số rất đông các nhà đầu tư đã đẩy giánhà tăng cao và tạo ra bong bóng Một phần trong số họ nhận thức được nhưng vẫn đitheo đám đông để kiếm những khoản lãi nhất định, đa số nghĩ rằng giá nhà sẽ tăng mãi.Nếu bất cân xứng thông tin và hành vi “bầy đàn” của thị trường đã đưa mọi việc lên đếnđỉnh điểm như thế nào thì cũng chính chúng đã kéo mọi thứ xuống tới đáy theo tương tự,thậm chí còn với một tốc độ cực nhanh Giá nhà sụt giảm đã kéo theo nhiều hệ lụynghiêm trọng, hàng loạt các con nợ không có khả năng trả nợ cho ngân hàng; Hệ thốngcác công cụ phái sinh CDO, CDS dựa trên tài sản cơ sở là bất động sản theo đó cũng hỗnloạn và nhanh chóng bộc lộ sự không thực vốn có dẫn đến mất dần giá trị; Tiếp theo đó

là tình trạng mất tính thanh khoản của hàng loạt các công ty bảo hiểm do không bồithường nổi số lượng quá lớn các vụ vỡ nợ trong cùng một lúc, thậm chí công ty bảohiểm có tầm ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ AIG cũng phải cần đến sự trợ giúp của chínhphủ Mỹ mới không bị phá sản; Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác cũngrơi vào tình trạng khủng hoảng tín dụng, mất tính thanh khoản và đứng trước nguy cơphá sản Một sự sụp đổ của toàn hệ thống tài chính Mỹ Điển hình có các vụ sau: Ngânhàng đầu tư Lehman Brothers, lớn thứ tư ở Mỹ đã phải tuyên bố phá sản sau khi bị FED

từ chối giúp đỡ; Ngân hàng Washington Mutual Bank bị Ngân hàng đầu tư JP MorganChase mua lại; Hai tổ chức tài chính lớn nhất của Mỹ Fannie Mae và Freddie Mac saukhi tiếp nhận cứu trợ từ Chính phủ Mỹ đã được đặt dưới sự quản lý của Chính phủ…

2.3 DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008

2.3.1 Khủng hoảng tài chính tại Mỹ và sự ảnh hưởng đến các quốc gia khác

Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ "hàng trăm năm mới có một lần", theolời ông Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED), đã được dự báo từ

Trang 16

năm 2006 Tuy nhiên, dự đoán cũng như phân tích của nhiều nhà kinh tế đã không đủsức thuyết phục để các cơ quan tài chính quyền lực nhất tại Mỹ và châu Âu có biệnpháp đề phòng Nguyên nhân trực tiếp của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủnghoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đãđặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âuvào thế nguy hiểm Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tạithị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tớikhả năng chi trả của khách hàng Dư nợ trong lĩnh vực này tăng mạnh từ 160 tỷ USDnăm 2001 lên 540 tỷ USD vào năm 2004 và bùng nổ thành 1.300 tỷ USD vào năm

2007 Theo ước tính vào cuối quý III năm 2008, hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất

Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là nợ khó đòi Trước đó, để đối phóvới lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm 2004 lên 5,25% vàogiữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá lớn với người mua nhà Họkhông thể trả được nợ vay và nhà thì bị tịch biên Thị trường bất động sản bắt đầu đóngbăng và giá nhà đất sụt giảm mạnh Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất độngsản sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ và trànsang nhiều nước châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản

Nạn nhân đầu tiên của cơn bão tài chính là Countrywide Financial, tập đoàn tàichính từng nắm giữ 20% thị trường cho vay bất động sản Mỹ, chỉ trong vài tháng, đã bịđẩy đến sát bờ vực phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2007 Đến tháng 1/2008, ngânhàng lớn nhất nước Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank of America, đã mua lạiCountry Financial với giá 4 tỷ USD Sau đó một tháng, đến lượt Northern Rock, ngânhàng lớn thứ năm tại Anh, sau khi mất thanh khoản nghiêm trọng do thua lỗ từ cho vaythế chấp bất động sản, đã phải cầu cứu Ngân hàng Trung ương Anh Nhà đầu tư ùn ùnkéo đến rút tiền khiến Chính phủ buộc phải tiếp quản tập đoàn ngân hàng này; và đếnngày 17/2/2008, Nothern Rock chính thức bị quốc hữu hóa Sự kiện Country Financial

và Nothern Rock là dấu hiệu báo trước cơn bão sắp đổ xuống thị trường tài chính toàncầu cũng như làn sóng sáp nhập, phá sản, và bị Chính phủ tiếp quản của các định chế tàichính

Trang 17

Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra vào ngày 7/9/2008 khi hai Tập đoàn chuyêncho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được Chínhphủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơ phá sản Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ đổ

vỡ với những tên tuổi lớn khác Ngày 15/9/2008, Ngân hàng đầu tư lớn thứ tư nước MỹLehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản Đúng 10 ngày sau,Washington Mutual Inc., một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ, đã tạo nên vụ phásản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng giá trị tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ USD.Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, Ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynch

bị thâu tóm bởi Bank of America Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ USD vào AIG,Tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh cho thị trường tài chính nước này một kếtcục tồi tệ hơn

Tháng 9 và 10/2008 trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số DowJones sụt tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9/2008 Biến động tại phốWall trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong hàng chụcnăm đã bị phá Không chỉ ở phố Wall, tuần lễ từ 15 đến 21/9/2008 thị trường chứngkhoán của cả thế giới chao đảo, từ Tôkyô đến Thượng Hải, Seoul và Hồng Kông, cácchỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh Tại châu Âu, các thị trường chứng khoán Paris,Luân Đôn, Franfurt, Amsterdam cùng chung số phận Thị trường chứng khoánMatxcơva cũng lâm vào tình trạng hoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ chocơn bão đi qua

Xen giữa những sự kiện trên, 9 tháng đầu năm 2008 chứng kiến các cơn sốt giádầu, lương thực, và lạm phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu Đặc biệt là giá dầu,

từ mức 90 USD một thùng vào đầu năm 2008 đã leo lên trên 100 USD vào 20/2/2008

và lập kỷ lục trên 147 USD một thùng vào 11/7/2008 Giá dầu leo thang kéo giá hànghóa cơ bản và lương thực lên theo Trong đó, vàng lập kỷ lục trên 1.000 USD mộtounce vào ngày 17/3/2008 Còn giá lương thực đắt đỏ lại tạo ra căng thẳng thực sự tạinhiều nơi, thậm chí cả ở các quốc gia xuất khẩu lương thực Nạn lạm phát từ đó cũngxảy ra tràn lan tại nhiều quốc gia Tuy nhiên, sau khi đạt đỉnh vào tháng 7/2008, giá dầu

Ngày đăng: 09/09/2018, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Ngãi, tháng 12/2008, Khủng Hoảng Kinh Tế Thế Giới: Ảnh Hưởng Và Chính Sách Vĩ Mô Của Việt Nam. Kỷ yếu tọa đàm “Khủng hoảng tài chính và giải pháp phát triển bền vững thị trường tài chính Việt Nam”- Vụ Kinh Tế - Văn phòng Trung Ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng Hoảng Kinh Tế Thế Giới: Ảnh Hưởng VàChính Sách Vĩ Mô Của Việt Nam". Kỷ yếu tọa đàm “Khủng hoảng tài chính và giảipháp phát triển bền vững thị trường tài chính Việt Nam
5. “Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và việc chủ động ứng phó của Việt Nam” – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, trung tâm thông tin – tư liệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và việc chủ động ứng phó củaViệt Nam
6. Ghi chú bài giảng 23: “Những bài học từ Khủng hoảng tài chính toàn cầu” – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright – niên khóa 2012-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học từ Khủng hoảng tài chính toàn cầu
8. Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Website: http://www.sbv.gov.vn/ Link
1. Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ - NXB Thống kê – Năm 2003 Khác
4. Trương Quang Hùng, Góc khuất trong kinh tế vĩ mô: Sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng, tháng 3/2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w