1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy hoạch cải tạo và nâng cấp hệ thống tiêu Đại Áng – Thanh Trì – Hà Nội

103 292 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,51 MB
File đính kèm full bộ thuyết minh và CAD.rar (10 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy hoạch cải tạo và nâng cấp hệ thống tiêu Đại Áng – Thanh Trì – Hà Nội full file CAD cải tạo và nâng cấp kênh tiêu Quy hoạch và cải tạo đồ án luận văn đồ án tốt nghiệp thủy lợi Đại Áng – Thanh Trì – Hà Nội đại học thủy lợi thiết kế kênh tiêu thiết kế kênh mương nội đồng

Trang 2

CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HỆ THỐNG1.1 Vị trí địa lý:

Trang 3

Thanh Trì là một trong những huyện nằm trên địa bàn của thủ đô Hà nội, và

nó nằm ven phía nam và đông nam của thành phố Hà Nội

Vị trí của huyện:

+ Phía bắc giáp quận Hoàng Mai và quận Thanh Xuân của thành phố Hà nội.+ Phía nam giáp huyện Thanh Oai và Thường Tín

+ Phía đông giáp sông Hồng

+ Phía tây giáp huyện Hà Đông, Từ Liêm

Tổng diện tích của toàn huyện là 10.080 ha, trong đó diện tích đất nôngnghiệp là 4.500 ha

Huyện nằm ở kinh độ từ 58.2000 đến 59.4000, vĩ độ từ 231.2000 đến232.2000

Xã Đại Áng nằm ở phía Tây Nam huyện Thanh Trì với tổng diện tích tựnhiên là 504,7ha

- Phía Bắc giáp xã Vĩnh Quỳnh

- Phía Tây giáp xã Tả Thanh Oai

- Phía Đông giáp xã Ngọc Hồi

- Phía Nam đê tả sông Nhuệ

Công trình đầu mối trạm bơm Đại áng dự kiến xây dựng trên bờ tả sông Nhuệ

Có tọa độ địa lý 20054’11” vĩ độ Bắc, 105048’55” kinh độ Đông

1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo:

Địa hình của huyện Thanh Trì tương đối thấp so với các quận nội thànhcủa thành phố Hà Nội, cao độ phổ biến từ +4,0 đến +5,0 m,các xã trọng điểm nôngnghiệp bao gồm: xã Như Quỳnh, Đại Áng, Tả Thanh Oai Và cây nông nghiệp chủ

Trang 4

yếu của các xã là cây lúa nước,với các cao độ tương ứng từ +2,5 đến +3,5 m vàđây cũng là nơi thấp nhất huyện Mặt khác địa hình mặt đất huyện Thanh Trì hếtsức lồi lõm, có nhưng nơi địa hình có cao độ từ +7,5 đến +10,0 m, những nơi nàytập trung ở các xã nằm ngoài sông Hồng như Yên Mỹ, Duyên Hà Do dặc điểm địahình như vậy ta thấy có những nơi tạo thành vùng lòng chảo, và hình thành cácđầm chứa nước, ao, hồ cụ thể đó là khu vực Pháp Vân, Linh Đàm và dọc theo đêsông Hồng thuận tiện cho việc nuôi trồng thuỷ sản.

Xã Đại Áng nằm ở phía nam của huyện có vị trí tương đối thấp so với cáckhu vực trong địa bàn của huyện Cụ thể địa hình của xã được phân bố như sau:Địa hình không bằng phẳng, cao độ trung bình từ +4,5 xuống đến +2,9.Hướng dốc chủ yếu là từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông

Địa hình đặc trưng của đồng châu thổ trong đê, có nhiều thùng đấu, vùng mặtnước trũng xen lẫn các khu dân cư

Vùng dự án là vùng đất thấp phía Tây Nam huyện Thanh Trì có nhiều đồngtrũng bị ngập úng về mùa mưa, điển hình là đồng Hạ, Chuôm Cà , vùng này nhiềunăm nay đã chuyển đổi sang chuyên nuôi trồng thuỷ sản hoặc canh tác theo môhình một lúa cộng một cá Các khu chuyển đổi này chiếm một phần diện tích đángkể

Vùng còn là nơi đổ về của các con sông là sông Hoà Bình và sông Nhuệ nên

về mùa mưa thường xuyên xảy ra hiện tượng úng ngập trên phần lớn diện tích đất,không thuận lợi cho việc trồng lúa

1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng và địa chất, địa chất thuỷ văn:

1.3.1 Đặc điểm thổ nhưỡng:

Do đặc điểm huyện Thanh Trì nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồngnên phần lớn đất trên địa bàn huyện là đất đồng bằng phân bố tương đối bằng

Trang 5

phẳng Đất trên địa bàn huyện tương đối đa dạng nhưng chủ yếu là đất phù sađược bồi hàng năm và không được bồi hàng năm do hệ thống sông Hồng và sôngNhuệ bồi đắp.Quá trình bồi tụ, hình thành và phát triển của các nhóm đất ở từngkhu vực có khác nhau đã tạo nên sự đa dạng về các loại hình đất trong hệ thống.Song nhìn chung chúng đều là loại đất ít chua và chua, có hàm lượng mùn và cácchất dinh dưỡng ở mức trung bình đến nghèo Ở những vùng cao ven sông Hồngđất có thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là loại đất cát và cát pha, khá chua vànghèo chất dinh dưỡng.Đất đai vùng quy hoạch thuộc loại đất bồi tích, chiều dàylớp đất canh tác lớn, độ pH từ 6,5 ÷7,5 rất phù hợp cho việc canh tác nông nghiệp,

cây trồng đa dạng và đạt năng suất cao.Do có chế độ tiêu không chủ động , thờigian ngập úng nhiều, mực nước ngầm tầng nông đã tạo ra tình trạng đất bị yếm khíthường xuyên Đất có phản ứng chua, hàm lượng mùn, đạm và kali tổng số caotrong khi lân tổng số thấp Các chất dễ tiêu như lân rất nghèo, kali ở mức trungbình Trong thành phần có các cation trao đổi, hàm lượng canxi ở mức trung bình,magiê thấp Đây là một vùng chuyên trồng 2 vụ lúa một năm.Ở những khu đất caothâm canh trồng thêm được 1 vụ rau hoặc vụ màu đông

1.3.2 Đặc điểm địa chất, địa chất thuỷ văn:

Hệ thống Sông Nhuệ nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đượctạo thành do quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nôngcùng với các dòng chảy của sông ra biển Do quá trình chuyển động kiến tạo đãtrải qua các kỷ Permier, Trias, Đệ Tam, Đệ tứ cùng với tác động mạnh của các điềukiện tự nhiên (nhiệt độ, nóng ẩm, mưa…) làm cho đất đá bị phong hóa mạnh tạonên nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất Với các lớp bồi tích , trầmtích, phù sa khá dày thể hiện một bồn địa mới được hình thành Trải qua thời kỳbiển lấn lần 1, lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyểnsang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một vùng đồng bằng rộng lớn và ngậpnước Nhìn chung cấu trúc địa chất của khu vực này có dạng sau:

Trang 6

+ Trầm tích Pleixtoxen: Nằm dưới đáy địa tầng là cát thạch anh hạt nhỏ đến

hạt trung thuộc bồi tích cổ (alQIII), có bề dày 20 đến 30cm hoặc lớn hơn, nằm khásâu dưới mặt đất đất từ 20 đến trên 30cm

+ Trầm tích Tholoxen : Nằm trên trầm tích Pleixtoxen, dạng phổ biến là bùn

sét kiểu đầm lầy ven biển (bmQIV) Trên tầng bùn sét là trầm tích sét biển(mQIV), trên nữa là tầng á sét có chứa vỏ sò, chất hữu cơ thực vật Trên cùng làtầng bồi tích sông (alQIV)

Nhìn chung nền địa chất rất yếu, khi khảo sát thiết kế và thi công các côngtrình thủy lợi cần có biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn, cát chảy

Qua khảo sát thì địa chất của vùng Đại Áng có cấu trúc địa chất được phân bốtheo từng lớp :

Lớp 1: Đất đắp và đất đắp hỗn hợp, thành phần là đất sét, sét pha và cát phamàu xám nâu, xám xanh, xám vàng, kết cấu chặt đến chặt vừa, trạng thái dẻo cứngđến nửa cứng, càng xuống sâu dẻo mềm, bề dày trung bình lớp khoảng 1,1m đến2,2m

Lớp 2: Đất sét màu xám xanh, xám nâu, kết cấu chặt vừa đến chặt, trạng tháidẻo cứng đến dẻo mềm, bề dày lớp từ 0,4m đến 0,8m

Lớp 3a: Phân bố toàn khu vực khảo sát, thành phần là đất sét pha màu xámnâu, xám vàng, kết cấu kém chặt, trạng thái dẻo mềm đến dẻo chảy, lớp này có bềdày từ 1,0m đến 3,0m

Lớp 3b: Thành phần là cát hạt mịn đến hạt vừa, màu xám xanh, kết cấu chặt,rời rạc, riêng chỉ có gặp ở 2 hố khoan là HK5 và HK7 là lớp có bề dày từ 1,1m đến1,5m

Lớp 3: Là lớp đất sét pha nhẹ, màu xám nâu, xám đen, kết cấu kém chặt, trạngthái dẻo chảy đến chảy, chứa mùn hữu cơ đã và đang phân huỷ Lớp này có bề dày

từ 3,5m đến 8,5m

Trang 7

Lớp 4: Thành phần là sét pha vừa đến nặng, màu nâu hồng, nâu gụ, kết cấu

chặt, trạng thái dẻo mềm đến dẻo cứng, càng xuống sâu khoan càng chặt tay, lớp 4 phân bố trên toàn bộ khu vực khảo sát, lớp này chưa xác định hết bề dày

1.4 Đặc điểm khí tượng, thuỷ văn:

1.4.1 Đặc điểm khí tượng:

a Lượng mưa:

Mưa là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến yêu cầu tưới và tiêunước Lượng mưa khu vưc tương đối lớn nhưng phân bố không đều trong năm, vìvậy trong năm được chia làm hai mùa rõ rệt

+ Mùa mưa: Bắt đầu từ tháng V đến tháng X hàng năm, đồng thời cũng làmùa lũ bão có tổng lượng chiếm 80-90% lượng mưa cả năm, thường tập trung vàocác tháng V, VI, VII, VIII

Lượng mưa gây úng hàng năm (mưa rào) các các đặc điểm:

- Mưa rào thường xảy ra trong mùa mưa (đặc biệt chủ yếu xảy ra vào cáctháng VII, VIII, IX là những tháng gieo cấy vụ mùa)

- Mưa rào lớn, dài ngày thường xảy ra do có bão, hoặc ảnh hưởng của áp thấpnhiệt đới

- Nhìn chung theo số liệu thống kê, các trận mưa lớn nhất thường kéo dài từ 3đến 7 ngày

+ Mùa khô:

Từ tháng XI đến tháng V năm sau Lương mưa mùa khô chiếm từ 10-20%lương mưa cả năm thường tập trung vào các tháng đầu và cuối lũ

Bảng 1.1 Lượng mưa trung bình tháng của hệ thống.

Trang 8

b Nhiệt độ:

160C Mùa hè, nhiệt độ trung bình từ tháng V đến tháng IX là: 250C, tháng VII là

tháng nóng nhất có nhiệt độ trung bình trên dưới 290C

Bảng 1.2 Nhiệt độ trung bình tháng của hệ thống

oC 16,

9

17,8

9

26,8

28,9

29,1

28,4

c Độ ẩm:

Đông là thời kỳ khô lạnh, độ ẩm trung bình xuống tới dưới 80%, độ ẩm cao nhất

năm có ngày lên tới 98% và thấp nhất có ngày xuống tới 64%

Bảng 1.3 Độ ẩm tương đối của không khí trung bình của hệ thống

Độ

d Bốc hơi:

Theo số liệu thống kê của khu vực nhiều năm lượng bốc hơi bình quân đạt xấp

sỉ 900 mm Các tháng đầu mùa mưa (V, VI, VII) lại là những tháng có lượng bốc

hơi lớn nhất trong năm Lượng bốc hơi trong tháng VI,VII đạt trên 100 mm, các

Trang 9

tháng mùa Xuân (tháng II ÷IV) có lượng bốc hơi nhỏ nhất, là những tháng có mưa

phùn và độ ẩm tương đối cao

Bảng 1.4 Tổng lượng bốc hơi trung bình nhiều năm của hệ thống.

tốc độ gió bão lớn nhất đạt cấp 10÷11 (khoảng từ 30÷40 m/s)

Bảng 1.5 Tốc độ gió trung bình nhiều năm của hệ thống.

mV

1.4.2 Đặc điểm thuỷ văn:

Trong địa bàn huyện Thanh Trì:Sông ngòi của huyện Thanh Trì bao gồm 6con sông lớn, nhỏ chảy qua địa phận huyện, trong đó 4 con sông nội địa và hai con

sông ngoại địa (sông Hồng, sông Nhuệ) Các con sông trên ngoài nhiệm vụ cung

cấp nước tuới còn có nhiệm vụ tiêu lượng nước thải và nước mưa rất lớn cho khu

vực nội thành Dọc hai bờ của các con sông có nhiều trạm bơm lấy nước tưới cho

các khu canh tác thấp ven các con sông

Trang 10

Sông Hồng và sông Nhuệ : là hai con sông ngoại địa chảy qua địa phận huyệnThanh Trì Chế độ nước của hai con sông trong năm cũng như trong nhiều nămbiến động rất lớn Theo tài liệu thống kê 70 năm qua tại trạm Hà Nội thì thấy mựcnước chênh lệch nhau từ 9 đến 10 lần Qmax = 23.500 m3/s, Qmin = 380 m3/s,chênh lệch 61 lần.

Sông Tô Lịch: Bắt đầu từ cống Bưởi (Hồ Tây) dài 16 km, tiếp nhận nước thảicủa quận Ba Đình chảy qua huyện Từ Liêm về Cầu mới - quận Đống Đa, sau đóchảy qua xã Khương Đình, Đại Kim, Thanh Liệt đổ vào sông Nhuệ

Sông Nam Đồng dài 5,5 km bắt nguồn từ hồ Giảng Võ chảy qua khu ThànhCông, Trung Tự, Kim Liên, đổ vào sông Tô Lịch ở phía thượng lưu cầu Dậu.Sông Kim Ngưu: dài 11,4 km bắt nguồn từ cống Lò Đúc chảy qua khu vực dệt8/3, khu cơ khí Mai Động, chảy qua Hoàng Văn Thụ,Yên Sở, Hoàng Liệt, TứHiệp, nhập lưu với sông Tô Lịch tại phía thượng lưu cống Thanh Liệt

Riêng đối với xã Đại Áng: Toàn xã có hai con sông chảy qua, lớn nhất là sôngNhuệ chạy dọc ranh giới phía Nam, sông Hoà Bình ở phía Tây Lưu lượng các consông này chủ yếu thay đổi theo mùa mưa và mùa khô

Khu vực nằm ngay sát sông Nhuệ và sông Hoà Bình, đây là nguồn cungcấp nước tưới và cũng là nguồn nhận nước tiêu của khu vực Hệ thống thuỷ lợitrong xã nối liền với sông Hoà Bình, sông Nhuệ nên thuận lợi cho việc cấp vàthoát nước trong địa bàn xã Tuy nhiên khi có mưa lớn kéo dài việc thoát nước gặpnhiều khó khăn vì thời điểm này mực nước các con sông cao hơn mực nước trong

Trang 11

vực khác nên lượng nước dự trữ trên các ao, hồ tạo điều kiện thuận lợi cho việctưới, tiêu cho diện tích nông nghiệp trong mùa kiệt Cụ thể trên địa bàn huyện cócác bán đảo như Linh Đàm là nơi có nhiều ao hồ cũng thuận lợi cho việc nuôitrồng thuỷ hải sản.

Ngoài ra tròng địa bàn của huyện Thanh Trì có hai con sông lớn chảy qua lưulượng dòng chảy trên hai con sông tương đối lớn lượng phù sa bồi dắp của nómang lại dẫn đến điều kiện thổ nhưỡng, đất đai và khí hậu của vùng đồng bằngchâu thổ sông Hồng là vùng có những điều kiện tương đối thuận lợivà phù hợpcho các loại cây trồng hoa màu phát triển nhằm đảm bảo cung cấp lương thực,thực phẩm cho nhân dân trong vùng và cung cấp cho thành phố Hà Nội

1.5.2 Những khó khăn:

Là một vùng có địa hình trũng cho nên về mùa mưa thường xuyên sảy ra hiệntượng lũ lụt trên địa bàn của vùng đặc biệt là nhũng tháng như tháng VII, VIII đâycũng là bài toán cho các nhà quản lý thuỷ lợi nhằm giải quyết kịp thời để khắcphục được tình trạng ngập úng trên địa bàn của huyện giảm bớt thiên tai cho cáckhu vực trồng cây hoa màu

Trang 12

CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN DÂN SINH - KINH TẾ - XÃ HỘI2.1 Dân số và lao động:

Hệ thống huyện Thanh Trì bao gồm 1 thị trấn Văn Điển và 15 xã, 70 thôn, 106

tổ dân phố, khu tập thể với 40.250 hộ gia đình, có 165 trang trại, 41 Hợp Tác XãDịch Vụ Nông Nghiệp

Theo thống kê Dân số của vùng la vào khoảng 245.000 người

Trong đó: Nam 134.750 người (chiếm khoảng 55%)

Nữ 110.250 người (chiếm khoảng 45%)

Qua số liệu trên ta nhận thấy đây là một vùng dân cư tương đối đông đúc, laođộng dồi dào, kinh tế phát triển Đại bộ phận nhân dân trong vùng sống chủ yếubằng sản xuất nông nghiệp, có kinh nghiệm lâu đời về thâm canh cây lúa nước.Lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn chiếm hơn 70%, trong đó hầu hết

số dân làm nghề trồng trọt, nghề phụ chưa phát triển, chỉ có một số ít hộ làm nghềphụ như đan nón, chế biến nông sản và nghề thủ công Tuy vậy, lao động nôngnghiệp đang giảm dần do chuyển sang làm các ngành nghề khác và dịch vụ, ướctính đến năm 2010, lao động nông nghiệp giảm xuống chỉ chiếm gần 60%, có mộtphần sẽ được chuyển sang lao động ở các khu công nghiệp và dịch vụ

Tỷ lệ phát triển dân số bình quân trên địa bàn của huyện hiện nay là 1,09%

2.2 Tình hình kinh tế - xã hội:

a Kinh tế nông nghiệp:

Do trên hệ thống huyện Thanh Trì có sông Hồng, sông Nhuệ và sông TôLịch chảy qua địa bàn huyện cho nên tận dụng triệt nguồn cung cấp nước của

Trang 13

những nguồn nước mà các con sông này cung cấp cho hệ thống Chính nhờ ưu thế

đó mà kinh tế nông nghiệp trong vùng tương đối phát triển Trong đó có trồng trọtrau màu, cây lương thực như: cây lúa nước, ngô, đậu tương… Ngoài ra còn códiên tích đất nuôi trồng thuỷ sản, đây cũng là một trong những nghành chiếm tỷ lệcao trong địa bàn của huyện nó đóng góp một phần lớn trong thu nhập của ngườidân trong huyện Tuy nhiên trong những năm gần đây các công trình thuỷ lợi đã cóphần xuống cấp nhiều, chính vì vậy mà việc tiêu nước và cung cấp nước cho diệntích đất nông nghiệp hạn chế nhiều

b.Các nghành kinh tế khác:

Ngoài sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi trồng thuỷ sản ra trên địa bàn củahuyện còn có các ngành kinh tế khác, cụ thể là công nghiệp, dịch vụ và thươngmại, sản xuất tiểu thủ công nghiệp…

Tình hình phát triển công nghiệp_ dịch vụ trong những năm qua

Tổng giá trị sản xuất đạt 906.550 triệu đồng tăng 14,75% so với năm 2007.Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp đạt 612.614 triệu đồng tăng 19,8%, giá trịngành dịch vụ đạt 174.297 triệu đồng tăng 19,5% Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp60,3%- Dịch vụ 19,7% - Nông nghiệp 17,2%

Thu nhập bình quân đầu người đạt 8,7 triệu đồng/người/năm

Tổng thu ngân sách thực hiện 235.765 triệu đồng đạt 132,3% kế hoạch, tăng28,4% so với cùng kỳ năm ngoái, tổng chi ngân sách thực hiện 361,553 triệu đồngđạt 117,4% so với dự toán, tăng 64,3% so với cùng kỳ

Trên địa bàn huyện có 28 doanh nghiệp hoạt động trong đó có 07 doanhnghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài

Các khu công nghiệp Trung ương trên địa bàn huyện tập trung vào hai bênđường Phan Trọng Tuệ - Câu Bươu, đường Ngọc Hồi gồm các ngành cơ khí, hoáchất, phân bón, chế biến nông sản Sản xuất ngành cơ khí chiếm tỷ trọng 60% vềgiá trị và sản xuất và 23% lực lượng lao động

Trang 14

Ngoài các khu công nghiệp Trung ương còn có các khu công nghiệp của địaphương Trên địa bàn huyện có 274 doanh nghiệp do huyện quản lý hoạt độngtrong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tạo việc làm cho trên 12.000 lao động.Trong đó có162/274 doanh nghiệp hoạt động ổn định, chiếm 27,6% ( hiện nay đã

có 24/62 doanh nghiệp nhỏ ngừng hoạt động chiếm 10,7%), có 6.200 hộ sản xuất.Hiện nay,huyện có 1 khu công nghiệp Ngọc Hồi đã xây dựng xong, 21/34 đơn

vị được giao đất đã xây dựng nhà xưởng và đi vào sản xuất, năm 2009 tiến hành

mở rộng giai đoạn 2 là 18ha Phần lớn các doanh nghiệp di rời từ nội thành ra hoặc

mở rộng qui mô sản xuất, các doanh nghiệp đã chủ động đầu tư vốn để sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm, lao động đã qua đào tạo và có tay nghề, khu công nghiệp có hệthống xử lý nước thải tiên tiến đảm bảo vệ sinh môi trường

Huyện Thanh Trì còn có những làng nghề truyền thống như: Dệt Triều Khúc

xã Tân Triều, miến dong, bánh đa xã Hữu Hoà, mây tre đan Vạn Phúc, bánh trưngbánh dày xã Duyên Hà Một số làng nghề sản xuất không phát triển hoặc đã maimột như nghề làm nón xã Đại Áng, nghề sơn mài xã Đông Mỹ, một số ngành nghềmới đã phát triển tại các địa phương như cơ khí, cơ kim khí, bao bì xã Tam Hiệp,nghề may xã Đại Áng

UBND huyện đã xây dựng đề án khôi phục và phát triển làng nghề truyềnthống, đã có những chính sách quan tâm đầu tư để khôi phục và phát triển các làngnghề như đầu tư xây dựng khu làng nghề tập trung xã Tân Triều 10,5 ha, đã tổchức đấu thầu quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất Đầu tư kinhphí giai đoạn 2 xây dựng thương hiệu sản phẩm bánh thôn Tranh Khúc xã Duyên

Hà, cùng chi cục HTX & PTNT hỗ trợ kinh phí mua máy móc cho nghề mây tređan xã Vạn Phúc, cùng trung tâm khuyến công &PTCN - Sở công thương Hà Nội

mở các lớp dạy nghề, nâng cao tay nghề cho lao động tại một số doanh nghiệp trênđịa bàn huyện Huyện đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham dự hội chợ tạicác địa phương Đầu năm 2008, huyện đã tổ chức hội chợ giới thiệu sản phẩmTTCN, làng nghề truyền thống tại các trung tâm thương mại huyện

Trang 15

Tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn cho thấy:

+ Tuy diện tích ao nuôi tăng nhưng hình thức nuôi là quảng canh, nhân dânnuôi dựa vào việc tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên thông qua cấy lúa một vụ, việcđầu tư thức ăn có chất lượng để nuôi cá còn hạn chế

+ Việc chăm sóc cá còn dựa vào kinh nghiệm là chính, chưa được đầu tư hợp

lý về trình độ khoa học kỹ thuật mới

+ Vốn đầu tư cho chăm nuôi còn quá thấp, dưới 10 triệu đồng/ha/năm nênchưa đáp ứng được yêu cầu và nhu cầu cung cấp cá thịt trên thị trường

+ Năng suất cá thịt còn ở mức thấp từ 1,2÷ 1,5 tấn/ha, hiệu quả kinh tế chưacao

+ Cơ sở vật chất phục vụ cho các ao nuôi chưa đầy đủ, một số công trình quantrọng trong việc phục vụ diện tích nuôi trồng chưa có, cụ thể như: hệ thống đườnggiao thông vào khu nuôi trồng, hệ thống tiêu thoát, xử lý nước thải ao nuôi Đặcbiệt nguồn nước luôn thiếu trầm trọng nhất là về mùa khô do các sông kênh đềucạn kiệt Chất lượng nước không bảo đảm làm suy giảm năng suất và chất lượngsản phẩm

Các hạn chế trên đã làm cho nguồn đầu tư kém thu hút, khả năng thâm canh

và nuôi trồng thuỷ sản theo hướng công nghiệp khó khăn, năng suất và chất lượngsản phẩm thấp

2.3 Phương hướng phát triển kinh tế xã hội:

Do tình hình kinh tế của nước ta vẫn là nước đi lên từ nông nghiệp cho nên sựphát triển kinh tế xã hội vẫn phải dựa vào nông nghiệp là chủ yếu Phương hướngphát triển vẫn lấy nông nghiệp làm gốc, phát triển các cây nông nghiệp hoa màu

lại cũng thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ hải sản cũng góp phần làm tăng thunhập cho nhân dân trong vùng

Trang 16

Ngoài nông nghiệp huyện Thanh Trì còn tập trung phát triển công nghiệp dịch

vụ thương mại dưới sự đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài Mở rộng diệntích đất công nghiệp các khu công nghiệp

+ Phát triển sản xuất nông nghiệp với nhịp độ tăng ổn định, từng bước cảithiện kinh tế nông thôn

+ Phát triển làng nghề truyền thống, sản xuất hàng hoá và dịch vụ

+ Đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng chuyển đổi từ chuyên canh lúasang sản xuất: rau, hoa màu phục vụ cho thị trường nội thị

Trang 17

CHƯƠNG III HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG3.1 Công trình đầu mối:

Bao gồm trạm bơm tưới, tiêu và trạm bơm tưới tiêu kết hợp; hệ thống kênhtrên địa bàn huyện: toàn huyện có 76 công trình đầu mối và hệ thống kênh tướitiêu nội đồng do UBND, các HTX.DVNN quản lý Trong đó có 62 hệ thống trạmbơm tưới, 14 trạm bơm tưới tiêu kết hợp; tổng số 105 máy bơm các loại, tổng công

120,3 km; diện tích tưới, tiêu thiết kế 3.696 ha

Theo số liệu thống kê xí nghiệp quản lý:

+ Hệ thống trạm bơm tưới: 9 trạm bơm tưới với 27 máy bơm các loại, tổngcông suất thực tế là 813 kw và tổng lưu lượng là 24.648 m3/h, tổng diện tích phục

vụ 1841 ha

+ Hệ thống trạm bơm tiêu: 10 trạm bơm tiêu với 65 máy bơm các loại, tổng

phục vụ 4399 ha

Ngoài ra trên các địa phương hầu hết các xã, thôn đều có trạm bơm loại công suất nhỏ để tưới cho các khu vực cao, tưới cạnh bờ mà các dòng sông và nguồn tưới của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Thanh Trì không tưới thẳng đượcTuy nhiên hầu hết các trạm bơm đầu mối đều được xây dựng từ lâu bây giờ đãxuống cấp hoặc bị hư hỏng nhiều, chính vì vậy đã làm giảm diện tích tưới và tiêu trong khu vực công trình đầu mối phụ trách

Trang 18

3 2 Hệ thống kênh mương và các công trình trên kênh:

Tổng diện tích được chủ động: 5.266 ha

Các tuyến kênh do xã quản lý khai thác tuy hàng năm được nạo vét, tu bổbằng các nguồn như công huy động hoặc công lao động công ích và các nguồnkinh phí của xã nhưng chưa làm được hết các tuyến mà chỉ chủ yếu tập trung vàomột vài tuyến trọng yếu Hệ thống kênh đa phần là kênh đất sử dụng nhiều nămxuống cấp nghiêm trọng khi tưới lượng nước tổn thất nhiều nhất là các xã vùng bãisông Hồng và một số xã trong đồng như Đại áng, Tả Thanh Oai, Hữu Hoà v.v làm cho khả năng chủ động hiệu quả thấp, điện năng tiêu thụ lớn, giá thành dùngnước cao

Các tuyến kênh tưới, tiêu trong địa bàn của huyện hầu như là kênh đất đều đãxuống cấp nghiêm trọng khi tưới lượng nước tổn thất nhiều nhất là các xã cùngbãi sông Hồng và một số xã trong đồng như Đại Áng, Tả Thanh Oai, Hữu Hòa…làm cho khả năng chủ động tưới, tiêu hiệu quả thấp, giá thành dùng nước cao

Trang 19

Nguyên nhân gây ra là do bồi đắp đã lâu không được cải tạo, khi dâng nước làmthất thoát rất nhiều nước, rác thải, bèo cũng là một trong những vấn đề làm cho hệthống kênh mương bị xuống cấp Chính quyền địa phương cần có những biện phápkhai thông nạo vét kênh mương, máng hàng năm để đảm bảo cung cấp nước chodiện tích đất cho cây trồng.

3.2.2 Hệ thống công trình trên kênh:

UBND huyện và các xã trong địa bàn của huyện quản lý : các cống dưới đê và

bờ sông Nhuệ: Tuyến đê hữu Hồng có 01 cống dưới đê thuộc đầu mối trạm bơmtiêu Đông Mỹ; tuyến bờ sông Nhuệ có các cống dưới bờ sông: Đại Áng, ThượngPhúc, Tả Thanh Oai…

Ngoài ra trên hệ thống kênh mương còn có các công trình trên hệ thống như:Xiphông, cầu máng dẫn nước qua những nơi có địa hình khó khăn và phức tạp.Đại bộ phận các công trên hệ thống do việc xây dựng đã lâu cho nên cũng đãxuống cấp và hư hỏng nặng, không còn khả năng cung cấp nước đúng như thiết

kế, cho nên cần có những biện pháp cải tạo và nâng cấp cho các công trình trên hệthống

Trong vùng quy hoạch xã Đại Áng:

Qua điều tra khảo sát hiện trạng và thực tế quản lý cho thấy hệ thống tiêu trạmbơm Đại áng xuống cấp rất nghiêm trọng Hiện tại có những tồn tại sau:

Trang 20

- Nhà trạm hiện đã xuống cấp nghiêm trọng, nhà trạm ẩm thấp chật hẹp khôngđảm bảo vệ sinh và an toàn cho công nhân vận hành, tường nhà bị bong tróc nứt

nẻ Các thiết bị điện đã cũ, hệ thống đường dây điện trong nhà trạm không đảmbảo an toàn cho việc cung cấp điện trong nhà trạm, nếu bị hỏng hay chập điện sẽảnh hưởng đến việc bơm tiêu chống úng kịp thời, đặc biệt trong mùa mưa, gây ảnhhưởng đến sản xuất nông nghiệp, thiệt hại về kinh tế lớn cho toàn diện tích sảnxuất của xã

- Máy bơm đã cũ, được sử dụng lâu năm nên thường xuyên bị hư hỏng, cáccánh quạt của máy bơm đã bị ăn mòn, công suất bơm bị giảm nghiêm trọng khôngđảm bảo lưu lượng thiết kế nên tổn hao lớn dẫn đến chi phí cho tiêu nước lớn.Trạm bơm bao gồm 5 máy bơm trục đứng loại 2500 m3/h do Nhà máy chế tạobơm Hải Dương chế tạo và cung cấp Trong 5 tổ máy bơm này có 2 tổ máy bịhỏng nặng không còn hoạt động từ nhiều năm nay, còn 3 tổ máy làm việc đượcnhưng không ổn định Việc vận hành bơm tiêu hết sức khó khăn trong những nămqua

- Trạm bơm khi xây dựng thiết kế cả 5 đường ống xả được nối dài tập trungvào 1 đường ống rồi tiêu ra sông Nhuệ qua cống xả dưới đê Với thiết kế này khimáy bơm hoạt động nước chảy qua ống xả sẽ gây ra rung động lớn gây hại máybơm và động cơ

Vì vậy không cần cải tạo cống này nữa

3.3 Hiện trạng về quản lý và khai thác hệ thống:

Trang 21

Hệ thống kênh tiêu được xây dựng từ những năm 1960 do sở NN và PTNTtỉnh Hà Tây tiến hành Đến nay hệ thống kênh chính và nhánh chính chưa được cảitạo đồng bộ và triệt để nên đã xuống cấp trầm trọng.

3.3.1 Hệ thống kênh tiêu chính:

Kênh chính có chiều dài khoảng 2734,7 m bắt đầu từ đoạn nối với kênh HồngVân đến cống tự chảy và trạm bơm Đại áng Dọc tuyến kênh mặt cắt kênh thay đổinhiều do bồi lắng và sạt lở bờ kênh, lòng kênh mấp mô nhiều do bồi lắng và sạt lởtạo ra độ dốc ngược tại một số đoạn kênh Hai bờ kênh cỏ dại mọc um tùm, hệ sốmái kênh thay đổi nhiều, có đoạn mái kênh thẳng đứng, thậm chí tạo nhiều hàmếch khoét sâu trong bờ Ngoài ra một số đoạn kênh còn bị lấn chiếm đắp đập tronglòng kênh, đổ đất lấn chiếm lòng kênh để trồng cây và chăn nuôi Trong lòng kênh

có rất nhiều rác thải, bèo tây trôi dạt Từ những nguyên nhân trên nên việc dẫnnước của hệ thống kênh không đáp ứng được cả về lưu lượng và mực nước

3.3.2 Các tuyến kênh nhánh chính của hệ thống:

Hệ thống có rất nhiều kênh nhánh, trong đó có 13 kênh nhánh chính như bảngthống kê dưới đây Hiện trạng mặt cắt ngang các tuyến kênh này thay đổi nhiều,chiều rộng lòng kênh mở rộng hoặc thu hẹp đột ngột gây cản trở dòng chảy, ví dụnhư đoạn đầu kênh nhánh chính T8 và T6 phụ trách 117,9 ha thuộc thôn VĩnhTrung Kênh T2 và kênh T4 đi qua khu dân cư của thôn Nguyệt áng và thôn Đạiáng trở thành vị trí tập kết rác và cỏ dại mọc chằng chịt Các tuyến kênh nhánhchính còn lại ở trong trạng thái bờ kênh sạt lở nhiều, lòng kênh bồi lấp tạo ra nhiềumấp mô uốn khúc, hệ số mái kênh nhỏ hơn 1,5 thậm chí có nhiều đoạn còn có cáchàm ếch ăn sâu trong bờ kênh Như vậy toàn bộ các tuyến kênh nhánh chính trong

hệ thống đều không đảm bảo dẫn nước theo thiết kế

Cụ thể các tuyến kênh nhánh chính được thể hiện lần lượt như trong bảng 3.1sau:

Trang 22

Bảng 3.1 Hệ thống kê các tuyến kênh nhánh chính

TT Tên kênh Chiều dài

(m)

Diện tích phụ trách

3.3.3 Hệ thống công trình trên kênh:

Hệ thống công trình trên kênh trong vùng chủ yếu là cống trên kênh Một sốcống kết hợp điều tiết nước tiêu hoặc giữ nước tưới Hiện nay hầu hết các thâncống này bị đứt gãy, tường cánh bị đổ vỡ, sân trước và sau không còn, không cònlại một cửa van nào Khi mùa mưa tới nước được chảy tràn trên toàn diện tíchcanh tác không thể tiến hành phân vùng tiêu gây ngập lụt trên diện rộng và thiệthại lớn Hệ thống công trình trên kênh đã xuống cấp trầm trọng, hầu hết các côngtrình không còn khả năng hoạt động Tại nhiều vị trí cống nhân dân đã phá bờkênh tiêu chính để nước trong kênh tiêu nhánh thoát ra

3.3.4 Hệ thống bờ vùng, bờ thửa.

Trang 23

Hệ thống bờ vùng, bờ thửa tương đối hoàn chỉnh bởi chính quyền địa phươngthôn và xã thường xuyên trích quỹ để tiến hành tu bổ thường xuyên Nhưng phầnkinh phí này rất nhỏ chỉ đủ sửa chữa những hư hỏng nhỏ trong nội đồng.

3.3.5 Hệ thống tưới:

Việc cấp nước tưới trong khu vực chủ yếu là tưới bằng động lực Một số trạmbơm tưới lấy nước từ sông Nhuệ và sông Hoà Bình như sau:

Trong vùng đã kiên cố hoá một số đoạn kênh tưới, những phần diện tích đượckiên cố hoá kênh mương đã được giải quyết tương đối tốt vấn đề tưới Phần diệntích còn lại việc tưới gặp nhiều khó khăn do hệ thống kênh và công trình kênhxuống cấp, vấn đề nguồn nước

Đặc biệt tuyến kênh tưới chính gạch xây vữa xi măng chạy dọc kênh tiêu Đạiáng với kích thước thiết kế bxh=1,0x1,4m là tuyến kênh cung cấp nước tưới chínhcho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp xã Đại áng Tuy nhiên hiện nay hệ thốngkênh này đã xuống cấp nghiêm trọng nhiều chỗ đứt gẫy ảnh hưởng đến việc cungcấp nước tưới cho vụ sau

3.4 Nhận xét chung về hệ thống:

3.4.1 Những tồn tại của hệ thống:

Hệ thống công trình thuỷ lợi còn manh mún, chưa có quy hoạch thuỷ lợi cụthể trên địa bàn huyện Thanh Trì Nhiều công trình thuỷ lợi đã bị xuống cấp chưađược đầu tư cải tạo, hệ thống máy bơm, thiết bị điện hỏng nặng, lạc hâu

Việc đầu tư cho xây dựng công trình thuỷ lợi trong những năm qua còn bộc lộnhiều hạn chế, công trình thuỷ lợi cơ bản vẫn trong tình trạng yếu kém chưa đáp

Trang 24

ứng được nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu phát triển nhanh nền kinh tế xã hội trênđịa bàn huyện Công trình tưới hiện có còn mang tính thời vụ chủ yếu là các trạmbơm dã chiến, kênh tưới cơ bản chưa hình thành hệ thống mà chủ yếu là tận dụngkênh tiêu làm kênh tưới Nguồn nước dùng để tưới vẫn là nước thải trong nộithành chảy ra, chất lựơng nước không đảm bảo và ngày một xấu đi có nguy cơ gây

ô nhiễm nặng cho nông nghiệp và môi trường Công trình tiêu cơ bản đã hìnhthành các hệ thống chính, tuy nhiên nhiều công trình đã được xây dựng từ nhữngnăm 70 của thế kỷ trước Vì vậy đã xuống cấp trầm trọng công nghệ lạc hậu hàngchục năm điển hình là hệ thống tiêu trạm bơm Siêu Quần, có hệ thống công trìnhkhông có sự kết hợp đồng bộ giữa trạm bơm và hệ thống kênh mương ví dụ trạmbơm Cầu Bươu…Đặc biệt trong những năm gần đây do ảnh hưởng của quá trình

đô thị hoá tình trạng xây dựng trái phép, lấn chiếm kênh mương, công trình thuỷlợi diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng, ý thức của người dân trong việckhai thác bảo vệ công trình thuỷ lợi chưa cao, việc vi phạm pháp lệnh khai thác vàbảo công trình thuỷ lợi vẫn còn nên làm hạn chế nhiều đến khả năng dẫn nước củakênh mương, năng lực tưói, tiêu của công trình thuỷ lợi

Như trên đã nêu, thực trạng của các công trình thuỷ lợi trên địa bàn HuyệnThanh Trì rất bức xúc về công trình tưới chưa có quy hoạch thuỷ lợi, về tiêu hệthống bị xuống cấp chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ phục vụ sự pháttriển nông nghiệp của Huyện Thanh Trì Ngoài ra, trên các công trình thuỷ lợi trênđịa bàn Huyện đã và đang bị một số người dân lấn chiếm các công trình thuỷ lợi,lén đổ đất lấn chiếm dòng sông, làm nhà trái phép, đổ rác thải xuống các côngtrình thuỷ lợi, thả rau bèo trên các dòng sông, kênh Phá hoại các công trình thuỷlợi như đào, cuốc các bờ kênh, sông, xây cống lấy nước tự do, cắm đăng, đó bắt

cá, chăn nuôi

Ngoài việc quản lý các công trình thuỷ lợi thì việc quản lý các thiết bị máymóc, nhà trạm, khu đầu mối các trạm bơm, trạm điện, cống, van điều tiết cũng cónhiều vấn đề cần phải khăc phục Hiện nay, phần lớn các trạm bơm đều được xây

Trang 25

dựng từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, nhà trạm đã bị xuống cấp, có những trạmbơm điển hình như trạm bơm Siêu Quần, khi nhận về công ty hầu hết các máybơm đều bị hỏng vì trạm này xây dựng từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, không cónhà quản lý cho công nhân vận hành, khi bị úng lụt thì nước thấm vào sàn máy,không có một cửa nào có cánh, các thiết bị điều khiển điện hầu hết bị hỏng, bể xả

và cống điều tiết đã bị hỏng hoàn toàn

Việc khai thác và bảo vệ những công trình trên gặp rất nhiều khó khăn Trướcnăm 1999, Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Thanh Trì do Uỷ ban nhân dânhuyện Thanh Trì quản lý chưa có chính sách cấp bù là một doanh nghiệp loại 4 rấtnghèo nàn về cơ sở vật chất

3.4.2 Phương hướng cải tạo:

3.4.2.1 Những biện pháp đặt ra đối với hệ thống trên địa bàn huyện Thanh Trì:

Hệ thống công trình thuỷ lợi là một bộ phận không thể thiếu trong kết cấu hạtầng, giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì ổn định đời sống dân sinh xãhội, góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi

để nâng cao hiệu quả quản lý công trình thuỷ lợi huyện Thanh Trì thì trước hết taphải nghiên cứu, xây dựng một quy hoạch thuỷ lợi về tưới tiêu cho huyện ThanhTrì

1 - Huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng có trọng điểm, cải tạo nâng cấp,từng bước hiện đại hoá hệ thống đầu mối công trình thuỷ lợi Kiên cố hoá hệ thốngkênh mương đảm bảo đáp ứng đủ nước tưới cho nông nghiệp, tiêu thoát nhanh chođịa bàn, hỗ trợ đắc lực cho quá trình, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đô thị hoá, côngnghiệp hoá nhanh của Huyện

2 - Nâng cao hiệu quả của công tác đầu tư, tập trung vào những công trìnhtrọng điểm mang tính bức xúc, tránh đầu tư dàn trải, đảm bảo phát huy cao nhấttiền vốn của nhà nước đầu tư cho công trình thuỷ lợi

Trang 26

3 - Tập trung nghiên cứu, đề xuất với các cấp các ngành sớm xem xét đầu tưcho huyện Thanh Trì một hệ thống tưới có nguồn ổn định chất lượng nước sạchvới quy mô đảm bảo đủ cung cấp cho toàn bộ diện tích canh tác nông nghiệp

4 Cần đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao mở rộng diện tích tưới, tiêu vàgiảm tổn thất lượng nước từ công trình đầu mối đến mặt ruộng Nhằm đảm bảođược nhu cầu dùng nước của cây trồng, và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong

lực, trừ những khu vực có địa hình khó khăn bắt buộc phải tưới động lực thì bố trítrạm bơm có tần suất thiiết kế phù hợp nhằm đảm bảo cung cấp nước đạt hiệu quảcao

5 Tăng khả năng tiêu thoát nước cho các vùng ven sông như sông Hồng, sôngNhuệ

6 Không chỉ đáp ứng diện tích tưới cho nông nghiệp mà còn phải đảm bảođáp ứng cả nhu cầu dùng nước của các ngành khác như công nghiệp, dịch vụ, dulịch, sinh hoạt…

7 Ứng dụng các công nghệ mới trong việc tưới tiêu của hệ thống

3.4.2.2 Những biện pháp đặt ra đối cụm công trình đầu mối xã Đại Áng.

Cần nâng cấp cải tạo lại trạm bơm đầu mối Đại Áng nhằm đáp ứng được nhucầu tưới tiêu của khu vực trong địa bàn của xã

Ngoài ra cần nâng cấp cải tạo lại hệ thống kênh mương trên địa bàn của xãnhằm đáp ứng được lượng nước vận chuyển từ công trình đầu mối đến mặt ruộng

- Có những biện pháp khoa học nâng cao hiệu quả sử dụng nước trên hệ thốngkênh mương cùng các công trình trên kênh như: cống, xi phông, cầu máng cũngcần phải nâng cấp cải tạo lai sao cho phù hợp với lượng nước từ đầu mối chuyểntrên hệ thống

Trang 27

- Nạo vét và kiên cố hóa tuyến kênh tiêu chính Đại áng với chiều dài 2.520m

và các công trình đồng bộ trên kênh nhằm đảm bảo vận chuyển, điều tiết nước vàkết hợp giao thông nội đồng

CHƯƠNG IV TÍNH TOÁN CÁC YẾU TỐ KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN

4.1 Mục đích, ý nghĩa và nội dung tính toán:

4.1.1 Mục đích:

Đối với công trình thuỷ lợi phục thuộc rất nhiều vào các yếu tố khí tượng thuỷvăn như: lượng mưa, gió, các yếu tố của dòng chảy sông ngòi…Ngoài ra quá trìnhsinh trưởng và phát triển năng suất của cây trồng nông nghiệp như: lúa nước, hoamàu, rau cỏ, cây trồng lâu năm…cũng phụ thuộc rất lớn vào yếu tố khí hậu Doquá trình biến đổi của hiện tượng khí hậu là tương đối phức tạp không theo mộtquy luật nhất định nào, cho nên việc tính toán các yếu tố khí tượng thuỷ văn đượccoi là một trong những công việc hết sức quan trọng trong việc tính toán các côngtrình thuỷ lợi

Việc tính toán các yếu tố khí tượng thuỷ văn là từ các số liệu thuỷ văn thuthập được tính toán xác định quy mô kích thước công trình Hay gọi là xác địnhcác yếu tố đặc trưng thuỷ văn

Xác định các yếu tố khí tượng thuỷ văn một cách chính xác giúp ta tìm rađược lượng nước đến và lượng nước đi so với nhu cầu dùng nước của vùng nhằmđưa ra những biện pháp thuỷ lợi phù hợp đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cũng nhưnhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế quốc dân như: du lịch, dịch vụ, sinhhoạt…

4.1.2 Ý nghĩa:

Trang 28

Tính toán chính xác các yếu tố khí tượng thuỷ văn có một ý nghĩa rất quantrọng trong việc lựa chọn các đặc trưng thuỷ văn thiết kế Dựa vào nó ta có thể đưa

ra những tiêu chuẩn thiết kế, biện pháp thi công, và những phương án quy hoạchcũng như quản lý công trình một cách hiệu quả nhất, nhằm tăng tuổi thọ của côngtrình cũng như độ an toàn của công trình Tóm lại việc tính toán thuỷ văn mang lạihiệu quả của công trình không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn về mặt kinh tế

4.1.3 Nội dung tính toán:

Mô hình mưa phụ thuộc vào: Đặc điểm mưa của khu vực và đối tượng cầntiêu

Nội dung tính toán xác định mô hình mưa tiêu thiết kế bao gồm những nộidung chủ yếu sau:

- Chọn trạm đo mưa tính toán, xác định liệt tài liệu mưa ứng với thời đoạntính toán mưa tiêu có thời gian khoảng là 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày hoặc 7 ngày trongnăm

- Chọn thời đoạn tính toán mưa tiêu là 5 ngày max

- Vẽ đường tần suất thiết kế, xác định tham số thống kê X , CV, CS của cácđường tần suất và xác định lượng mưa tiêu thiết kế XP

- Chọn mô hình mưa tiêu điển hình

- Xác định mô hình mưa tiêu thiết kế

4.2 Chọn trạm, tần suất thiết kế và thời đoạn tính toán:

4.2.1 Chọn trạm tính toán:

Nguyên tắc trọn trạm đo mưa:

Trong mỗi vùng quy hoạch, thì có nhiều nguồn tài liệu khác nhau vì vậy cầnphải lựa chọn trạm tính toán sao cho phù hợp thuận tiện cho việc tính toán đượcchính xác Việc lựa chọn trạm tính toán có thể dựa vào những yếu tố sau đây:

- Trạm khí tượng được chọn phải nằm trong hoặc lân cận khu vực quy hoạch

Trang 29

- Trạm khí tượng cho ta liệt tài liệu đủ dài và đã được chỉnh biên xử lý Số liệu

có độ tin cậy cao

- Trạm phải có tài liệu mưa ngày

Trong vùng quy hoạch có những trạm đo đạc thuỷ văn như: trạm Thường Tín,trạm Hà Đông, trạm Láng Hà Nội…có đầy đủ các yếu tố thuỷ văn U, V, T, H, Q.Dựa vào những nguyên tắc trên em trọn trạm khí tượng Hà Đông để tính toán Vìtrạm này có đầy đủ những yếu tố trên tương đối gần vùng quy hoạch của khu tiêuđang quy hoạch Ngoài ra tài liệu đo đạc tương đối dài và có độ tin cậy cao

4.2.2 Chọn tần suất và thời đoạn tính toán:

a Chọn tần suất thiết kế:

Việc chọn tần suất thiết kế là một trong những công việc rất quan trọng, vìứng với mỗi tần suất thiết kế khác nhau sẽ tính toán ra được quy mô kích thướccông trình nhất định, cũng như năng lực hiệu quả kinh tế kỹ thuật của công trình.Chính vì lý do đó mà việc tính toán cần chính xác và hợp lý

Theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 285 – 2002 ta chọn tần suấtthiết kế là PTK = 10% để tính toán

b Chọn thời đoạn tính toán:

Thời đoạn tính toán là số ngày mưa của trận mưa gây úng điển hình Thờiđoạn tính toán của trận mưa tiêu điển hình của khu vực được xác định dựa vàothống kê tài liệu mưa trạm khí tượng Hà Đông trong 31 năm ( Từ năm 1974 đếnnăm 2008 )

Tại vùng quy hoạch nhiệm vụ của công trình là tiêu nước cho đất nông nghiệp

và một số khu dân cư Đồng thời lượng mưa kéo dài từ tháng 1 đến tháng 12 Vậynên thời đoạn tính toán là thời kỳ ngắn ngày: 1 ngày max, 3 ngày max, 5 ngàymax, 7 ngày max

4.3 Xác định mô hình mưa tiêu thiết kế:

4.3.1 Mục đích ý nghĩa của mô hình mưa tiêu thiết kế:

Mục đích của việc tính toán mô hình tiêu thiết kế là xác định mô hình mưa vàcác giá trị thiết kế ứng với các yếu tố khí tượng thuỷ văn tương ứng, ngoài ra còn

Trang 30

xác định các yếu tố đặc biệt để dùng kiểm tra an toàn trong quá trình tính toán nhưthiết kế tiêu.

Ý nghĩa: Tính toán chính xác các yếu tố khí tượng thuỷ văn đặc biệt là môhình mưa thiết kế là điều kiện hàng đầu đảm bảo cho công trình trong hệ thốnglàm việc an toàn đối với các giá trị thiết kế ban đầu Việc tính toán mô hình mưatiêu thiết kế cũng ảnh hưởng đến quy mô kích thước công trình Do vậy khi tínhtoán mô hình mưa tiêu thiết kế cần phải cân nhắc lựa chọn để đảm bảo giải quyếtmâu thuẫn kỹ thuật và kinh tế

Để có thể đưa ra mô hình mưa tiêu là bao nhiêu ngày phục vụ cho tính toán thìcần phải căn cứ vào điều kiện của từng khu vực, phân tích và đánh giá tài liệu mưatrong khu vực Đối với khu vực trong vùng quy hoạch thì phải căn cứ vào các đặcđiểm mưa của khu vực như số ngày mưa mỗi trận, khoảng cách giữa các trận mưa

có lượng mưa tương đối lớn, đặc điểm tiêu nước của hệ thống nhanh hay chậm,tập trung hay rải rác…

4.3.2 Xác định thời đoạn tính toán mô hình mưa tiêu thiết kế:

Trong vùng quy hoạch Đại Áng nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nênmùa mưa chủ yếu tập trung từ tháng V đến tháng X và trong những tháng này thìlượng nước đến nhiều, thường có những trận mưa kéo dài từ 5 đến 7 ngày cũng cókhi chỉ mưa trong 3 ngày cộng với khả năng tiêu nước trong vùng tương đối kém.Chính vì vậy mà trong thời gian này vấn đề tiêu nước gặp khó khăn nhất của khuvực

Từ tài liệu lượng mưa trạm đo Hà Đông từ năm 1974 đến 2008 mỗi năm lấymột trận mưa lớn nhất trong thời đoạn 1, 3 , 5 , 7 ngày Kết quả tính toán đượcthực hiện ở bảng sau:

Bảng 4.1: Bảng thống kê lượng mưa thời đoạn ngắn (1,3,5,7 ngày max)

Trang 31

Thờigian

Lượng(mm)

Thờigian

Lượng(mm)

Thờigian

Trang 32

Thờigian

Lượng(mm)

Thờigian

Lượng(mm)

Thờigian

(Trong thời đoạn 3, 5, 7 ngày max thời điểm được ghi ở trung tâm của thời đoạn)

Qua bảng tính toán ở lượng mưa ở bảng trên ta xác định được lượng mưa lớnnhất của các thời đoạn mưa 1,3,5,7 ngày max qua các năm như sau:

Bảng 4.2: Lượng mưa lớn nhất qua các năm.

Xphổ biến (mm) 70 ÷ 150 120 ÷ 220 200 ÷ 300 230 ÷ 310

Qua hai bảng trên ta thấy lượng mưa lớn nhất của các thời đoạn mưa là rấtlớn Do vậy cần có những biện pháp tiêu kịp thời để đảm bảo một chế độ ngậpnhất định thỏa mãn yêu cầu chịu ngập của cây trồng, đồng thời cũng đảm bảo yêucầu kinh tế Vì vậy việc chọn mô hình mưa tiêu hợp lý là cần thiết cho việc quyhoạch và cải tạo hệ thống tiêu Đại Áng

Số lần xuất hiện các trận mưa lớn nhất của khu vực chủ yếu rơi vào tháng 6, 7,8

Bảng 4.3 Bảng thể hiện sự xuất hiện của lượng mưa thời đoạn ngắn trong các

Trang 33

Bảng 4.4 Bảng thể hiện tính chất bao của các trận mưa thời đoạn ngắn

Mô hình mưa tiêu là sự phân bố lượng mưa theo các ngày của trận mưa, trong

đó vị trí của ngày mưa lớn nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số tiêu, đồng thờicũng có ảnh hưởng đến quy mô kích thước công trình

Để chọn mô hình mưa tiêu điển hình cho khu vực dựa vào phân tích tài liệumưa 1, 3, 5, 7 ngày max đã phân tích ở trên em chọn được mô hình tiêu điển hìnhcho khu vực là mô hình mưa tiêu 5 ngày max vì:

Tính chất bao của các nhóm ngày mưa lớn nhất là phổ biến nên các trận mưadài sẽ nguy hiểm hơn các ngày có trận mưa ngắn Mặt khác tỉ lệ trận mưa 1 ngàymax, 3 ngày max, nằm trong 5 ngày max của trạm đo tương đối cao ( Bảng 4.4 ).Theo tài liệu mưa thu thập được thì các trận mưa kéo dài liên tục 5 ngày hayxuất hiện hơn các trận mưa 7 ngày kéo dài và các trận mưa kéo dài liên tục 5 ngày

có lượng mưa lớn nên hay gây ngập úng cho vùng dự án

Để lựa chọn mô hình mưa tiêu cho lúa ta chọn mô hình mưa 1, 3, 5, 7 ngàymax của tài liệu thu thập được để tính toán Như ở phần trên đã lý giải và lựa chọn

Trang 34

mô hình tính toán mưa tiêu cho lúa là mô hình mưa 5 ngày max Việc tính toán chế

độ tiêu còn phụ thuộc vào khả năng chịu ngập của cây lúa Lúa là loại cây trồng cóđặc điểm là có khả năng chịu ngập tốt dựa vào đặc điểm này ta có thể tận dụng khảnăng trữ nước và đưa ra những biện pháp để có thể tiêu nước cho lúa một cách tốtnhất nhằm đảm bảo đạt năng suất cao nhất

Tần suất xuất hiện các trận mưa 5 ngày max liên tiếp nhau tương đối lớn

- Đặc biệt phần lớn các trận mưa 5 ngày max nằm trong mô hình mưa 7 ngàymax, và lượng mưa hiệu quả chủ yếu nằm trong trận mưa 5 ngày max, hai trậnmưa cuối của thời đoạn thường không hiệu quả

- Đỉnh mưa của các trận mưa 5 ngày max cũng là đỉnh mưa của các trận mưa

7 ngày max

4.3.3 Xác định lượng mưa 5 ngày max thiết kế (P = 10%)

Có hai phương pháp:

+ Phương pháp phân tích nguyên nhân hình thành:

- Phương pháp phân tích căn nguyên hình thành: Là phân tích quan hệ giữađặc trưng thuỷ văn với các thông số đặc trưng cho nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ

đó được biểu diễn bằng các quan hệ toán học, hoặc các biểu thức, các đồ thị…

- Phương pháp tổng hợp địa lý: Tiến hành phân vùng, nội suy, ngoại suy, bằngcách lập các bản đồ đặc trị, các bản đồ phân khu, các tham số tổng hợp và sử dụng

nó trong tính toán thuỷ văn

- Phương pháp lưu vực tương tự: Được sử dụng rộng rãi trong tính toán thuỷvăn

Nguyên lý của phương pháp này là: Các tham số và các đặc trưng thuỷ văncủa lưu vực không có tài liệu quan trắc được suy ra từ các lưu vực khác, có tài liệu

đo đạc thuỷ văn và có điều kiện hình thành dòng chảy tương tự như lưu vực cầnđược tính toán

+ Phương pháp thống kê xác suất:

Hiện tượng thuỷ văn mang tính ngẫu nhiên do đó có thể coi các đại lượng làđại lượng ngẫu nhiên Vì thế có thể áp dụng lý thuyết thống kê xác suất với các

Trang 35

chuỗi đại lượng của đặc trưng thuỷ văn bất kỳ, và từ đó có thể xác định được đặctrưng thiết kế theo một tần suất đã được quy định.

* Trình tự các bước tính toán:

Tính toán theo phương pháp thống kê xác suất

4.3.2.1 Xây dựng các đường tần suất:

Trước hết ta vẽ đường tần suất kinh nghiệm sau đó vẽ đường tần suất lý luận.Đường tần suất kinh nghiệm là đường tần suất xây dựng từ mẫu thực đo

+ Trình tự vẽ đường tần suất kinh nghiệm:

- Chọn liệt số liệu thống kê mưa tương ứng Xi ( X1ngàymax,X3ngày

đạc

- Sắp xếp chuỗi số liệu mưa thực đo Xi theo thứ tự từ lớn đến nhỏ

- Tính tần suất kinh nghiệm Tính tần suất theo chuỗi số liệu thực đo gọi là tầnsuất kinh nghiệm

Trong thực tế tính toán hiện nay người ta thường dùng một số công thức sau

để tính tần suất kinh nghiệm

3

0 ×+

n

m

(4-3)

Với m: Số thứ tự của số liệu khi sắp xếp từ lớn đến nhỏ

n : Tổng số liệu tài liệu được chọn tính toán

Lựa chọn một công thức nhất định để tính toán là một vấn đề rất quan trọngbởi mỗi một công thức sẽ cho một kết quả nhất định với độ chính xác nhất định.Trong thuỷ văn để tính toán tấn suất kinh nghiệm người ta không dùng công

Trang 36

đó là vô lý vì trong tương lai có thể có trị số nhỏ hơn xuất hiện

Công thức kỳ vọng thường cho kết quả an toàn hơn, được sử dụng tính toáncho dòng chảy lũ, mưa lũ, vì đối với mùa lũ dòng chảy lũ ít xuất hiện hơn nên tadùng công thức này

Công thức số giữa thường tính cho dòng chảy năm, mưa năm

Do đó trong đồ án này em dùng công thức kỳ vọng để tính tần suất kinhnghiệm mưa tiêu và sử dụng phần mềm TSTV2002 của cục QLN

Tiến hành xây dựng quan hệ giữa những trị số của chuỗi số liệu với xác suấtxuất hiện của chúng (các điểm có toạ độ (Xi , Pi)) rồi chấm lên giấy tần suất Tất cảcác điểm đó được gọi là các điểm tần suất kinh nghiệm

- Vẽ đường quan hệ đi qua trung bình những điểm tần suất kinh nghiệm vàđường quan hệ này chính là đường tần suất kinh nghiệm

4.3.2.2 Vẽ đường tần suất lý luận:

Đường tần suất lý luận chính là luật phân phối xác suất của tổng thể đại lượngngẫu nhiên Tuy nhiên để tìm được luật phân phối xác suất của đại lượng ngẫunhiên không phải dễ dàng do chúng ta không thể biết trước được các giá trị số cóthể của đại lượng ngẫu nhiên Vì vậy để biểu thị luật phân phối xác suất của tổngthể, trong thuỷ văn người ta tiến hành bằng cách mượn hàm phân phối xác suấtnào đó mà có tính chất phù hợp với tính chất vật lý của hiện tượng thuỷ văn Môhình phân phối xác suất đó được gọi là đường tần suất lý luận

Có 3 phương pháp vẽ đường tần suất lý luận các phương pháp được thể hiệnlần lượt như sau:

* Phương pháp mô men:

- Cơ sở của phương pháp này cho rằng các đặc trưng thống kê X , Cv, Cs tính

Trang 37

được từ chuỗi số liệu thực đo X1, X2, X3…Xn bằng các đặc trưng thống kê tươngứng của tổng thể.

- Các đặc trưng thống kê của mẫu đã hiệu chỉnh theo mức bình quân của nhiềumẫu ( do có sai số lấy mẫu ) được tính theo công thức sau:

+ Hệ số thiên lệch: Cs =

3 1

3

)

3(

)1(

v

n

i i

C n

.Với Xi là đại lượng thứ i

- Tính từ chuỗi số liệu thực đo X1, X2, X3…Xn bằng các đặc trưng thống kêcủa tổng thể Sau đó giả thiết một mô hình xác suất thường dùng nào đó Kiểm tra

sự phù hợp giữa mô hình xác suất giả thiết với chuỗi số liệu thực đo theo phươngpháp thống kê nếu đạt được các yêu cầu thì ta dùng mô hình đó để tính Xp

Xp = ( φp.C v +1).X bq

Xp : Là lượng mưa tương ứng với tần suất P

P

φ : Là hàm số chỉ phụ thuộc vào Cv và P

- Ưu điểm của phương pháp:

- Phương pháp mô men cho kết quả tính toán một cách khách quan, và tươngđối chính xác

- Nhược điểm của phương pháp:

Trang 38

Trường hợp gặp những điểm đột xuất không xử lý được và thường cho kết quảtính toán thiên về giá trị nhỏ khi tính các đặc trưng thống kê Phương pháp kiểmtra sự phù hợp của mô hình xác suất giả thiết với chuỗi số liệu thực đo bằngphương pháp thống kê thường không đủ nhậy để phản ánh sự khác nhau giữa môhình giả thiết và mô hình thiết kế.

* Phương pháp thích hợp:

,Cv , Cs ) Trong chừng mực nhất định sao cho mô hình xác suất giả thiết thích hợpnhất với mẫu số liệu thực đo

- Ưu điểm của phương pháp:

Phương pháp thích hợp cho ta khái niệm trực quan, dễ dàng nhận xét và xử lýđiểm đột xuất bằng cách thay đổi các tham số thống kê _X , Cv,Cs, để đưa ra đườngtần suất lý luận về dạng phù hợp với đường tần suất kinh nghiệm

- Nhược điểm của phương pháp:

Việc đánh giá tính phù hợp giữa đường tần suất lý luận và đường tần suất kinhnghiệm còn phụ thuộc vào chủ quan của người vẽ

* Cách giải như sau:

Bước 1 Sắp xếp số liệu

Trang 39

Bước 2 Vẽ đường tần suất kinh nghiệm: sau khi tính toán tần suất kinhnghiệm chấm các điểm tần suất kinh nghiệm lên giấy tần suất Dùng thước cong

vẽ một đường trung bình mờ bằng bút chì qua các điểm tần suất kinh nghiệm - gọi

là đường tần suất kinh nghiệm

Bước 3 Chọn 3 điểm (X1 , P1), (X2 , P2), (X3 , P3) trên đường đó Trong đó P2

= 50% còn P1 và P3 lấy đối xứng qua P2 Tuy vậy nên chọn 3 điểm có bảng tính lậpsẵn

xác suất Pearson III) ta có:

2 3 1 3

1

2 3

φφ

φφ

φ

−+

=

−+

X X

X X X

Vì φ là hàm số của P và CS nên S cũng là hàm số của P và CS nhưng P1, P2, P3

đã biết trước nên S = f(CS) Vì vậy có S ta dễ dàng xác định được CS (tra phụ lục 1giào trình Thuỷ văn công trình)

Bước 5 Tra φ1, φ2, φ3 theo CS (phụ lục 2) giáo trình Thuỷ văn công trình.Bước 6 Tính σ .

3 1

3 1

φφ

Trang 40

Tính các trị số XP theo công thức XP = (φC V +1)X vẽ đường tần xuất lý luận

kinh nghiệm là được Đường tần suất lý luận nhất thiết phải qua ba điểm đã chọn.Phương pháp 3 điểm có ưu điểm là tính toán nhanh, đơn giản

Nhược điểm của phương pháp: Tính chính xác của phương pháp phụ thuộcvào chủ quan người vẽ

Sử dụng phần mềm TSTV2002 của cục QLN để vẽ đường tần suất lý luận.Kếtquả tính toán tần suất kinh nghiệm và tần suất lý luận của mô hình mưa 5 ngàymax được trình bày ở phần phụ lục bảng 1 và bảng 2

Từ bảng 2 ta tra đường tần suất lý luận ứng với tần suất P = 10% ta tìm đượclượng mưa 5 ngày max tương ứng là: X tk5ngaymax =367,19(mm)

4.3.4 Xác định mô hình mưa tiêu thiết kế với tần suất 10%:

4.3.4.1 Chọn mô hình mưa tiêu điển hình:

Mô hình mưa tiêu là sự phân bố lượng mưa theo các ngày của trận mưa, trong

đó vị trí của ngày mưa lớn nhất có ảnh hưởng quyết định đến hệ số tiêu, đồng thờicũng ảnh hưởng đến quy mô kích thước công trình

Nguyên tắc lựa chọn mô hình mưa tiêu điển hình:

- Mô hình xảy ra trong thực tế ( có trong tài liệu thực đo )

- Có Xđh ≈ Xtk

Có ngày mưa hiệu quả xấp xỉ ngày mưa tính toán

+ Phương pháp chọn: Có 2 phương pháp chọn

Ngày đăng: 09/09/2018, 20:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Công trình thuỷ lợi. Các quy định chủ yếu về thiết kế (TCXDVN 285 – 2002) Khác
2. Quy phạm tính toán các đặc trưng thuỷ văn thiết kế Khác
3. Giáo trình thuỷ văn công trình, giáo trình tính toán thuỷ văn thíêt kế Khác
4. Giáo trình Quy hoạch và thiết kế hệ thống thuỷ lợi, nghiên cứu điển hình Khác
5. Các phương pháp quy hoạch thuỷ lợi Khác
6. Giáo trình thuỷ lực Khác
7. Quy phạm thiết kế kênh Khác
8. Giáo trình kinh tế thuỷ lợi Khác
9. Sổ tay thuỷ lực, sổ tay kỹ thuật thuỷ lợi Khác
10. Các tài liệu khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w