1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

08 ban dich chi tiet 12 bai doc CAM 13

74 352 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm cho người ta có thể có những kỳ nghỉ được lên kế hoạch đi du lịch dễ dàng hơn, trang web đã lên kế hoạch những tuyến đường lái xe phổ biến nhất ở nước này, làm nổi bật lên những

Trang 2

Lời mở đầu

Các bạn sĩ tử đang ôn thi IELTS thân mến,

Có thể nói Cambridge Practice Test for IELTS là bộ sách “thần thánh” mà bất cứ ai

đang ôn thi IELTS cũng không thể bỏ qua Cuốn Cambridge Practice Test 13 là cuốn

mới nhất trong bộ sách nên các đề thi mang tính cập nhật và có độ khó khá sát với đề thi thật Tuy nhiên, Etrain nhận thấy rất nhiều bạn chưa biết cách tận dụng tối đa nguồn

đề thi trong cuốn sách này để ôn luyện, đặc biệt là với các đề thi Reading bởi hai lí do

Thứ nhất, các bạn không có nhiều thời gian để dịch tỉ mỉ từng bài đọc dẫn đến việc chỉ

biết mình sai bao nhiêu đáp án mà không biết vì sao lại sai những câu đó đồng nghĩa

với việc không rút được kinh nghiệm cho lần sau Thứ hai, trong bài đọc có một lượng

từ vựng khá lớn, bạn vừa có thể học từ mới, vừa có chọn ra những từ đồng nghĩa hay

để cải thiện kỹ năng paraphrase trong bài thi viết Vì thế, Etrain đã biên soạn và tổng hợp tất bản dịch chi tiết nhất cho tất cả 12 bài đọc trong để giúp các bạn khắc phục cả hai điều trên trong quá trình ôn thi

Tài liệu này được chia sẻ hoàn toàn MIỄN PHÍ, vậy nên chúng tôi rất mong nhận được

sự ủng hộ của các bạn trong cộng đồng IELTS rộng lớn Đừng quên bỏ ra 1-2 giây

comment CẢM ƠN hay LIKE, SHARE bài chia sẻ của Etrain để tiếp thêm động lực

cho chúng tôi và cũng giúp kiến thức được lan truyền sâu hơn, rộng hơn

Để cập nhật những bài chia sẻ tiếp theo, bạn hãy follow các trang như sau:

Trang 3

Table of Contents

TEST 1 – Passage 1 3

TEST 1 – Passage 2 8

TEST 1 – Passage 3 14

TEST 2 – Passage 1 20

TEST 2 – Passage 2 25

TEST 2 – Passage 3 31

TEST 3 – Passage 1 38

TEST 3 – Passage 2 43

TEST 3 – Passage 3 49

TEST 4 – Passage 1 55

TEST 4 – Passage 2 61

TEST 4 – Passage 3 67

Trang 4

TEST 1 – Passage 1 CASE STUDY: TOURISM ZEALAND WEBSITE

New Zealand is a small country of four million inhabitants, a long-haul flight from all the major tourist-generating markets of the world Tourism currently makes up 9% of the country’s gross

domestic product, and is the country’s largest export sector Unlike other export sectors, which make products and then sell them overseas, tourism brings its customers to New Zealand The product is the country itself - the people, the places and the experiences In 1999, Tourism New

Zealand launched a campaign to communicate a new brand position to the world The

campaign focused on New Zealand’s scenic beauty, exhilarating outdoor activities and

authentic Maori culture, and it made New Zealand one of the strongest national brands in the

world

New Zealand là một quốc gia nhỏ có 4 triệu dân, cách xa tất cả các thị trường du lịch lớn trên

thế giới Gần đây du lịch chiếm 9% tổng sản phẩm quốc nội và là lịch vực xuất khẩu lớn nhất quốc gia Không giống như các lĩnh vực xuất khẩu khác mà sản xuất sản phẩm và bán ra nước ngoài, du lịch mang khách hàng đến New Zealand Sản phẩm chính là đất nước này – con

người, các địa danh và trải nghiệm Vào năm 1999, ngành Du lịch New Zealand phát động một

chiến dịch để giới thiệu một vị trí thương hiệu mới với thế giới Chiến dịch tập trung vào vẻ đẹp

cảnh quan ở New Zealand, các hoạt động ngoài trời hấp dẫn và văn hóa Maori chính thống,

và điều này đã làm cho New Zealand trở thành một trong những thương hiệu quốc gia mạnh nhất thế giới

A key feature of the campaign was the website www.newzealand.com, which provided

potential visitors to New Zealand with a single gateway to everything the destination had to offer The heart of the website was a database of tourism services operators, both those based

in New Zealand and those based abroad which offered tourism services to the country Any

Trang 5

tourism-related business could be listed by filling in a simple form This meant that even the smallest bed and breakfast address or specialist activity provider could gain a web presence

with access to an audience of long-haul visitors In addition, because participating businesses

were able to update the details they gave on a regular basis, the information provided remained accurate And to maintain and improve standards, Tourism New Zealand organised a scheme whereby organisations appearing on the website underwent an independent evaluation against

a set of agreed national standards of quality As part of this, the effect of each business on the environment was considered

Một yếu tố chủ chốt trong chiến dịch là website www.newzealand.com, nơi cung cấp cho những

khách hàng tiềm năng đến New Zealand một cửa ngõ đến tất cả mọi thứ mà nơi này có thể phục vụ Trung tâm của website là nguồn dữ liệu của các nhà khai thác dịch vụ du lịch, cả hai

đều có trụ sở ở New Zealand và nước ngoài và đều cung cấp dịch vụ du lịch cho đất nước này Bất cứ một công việc kinh doanh nào liên quan đến du lịch đều được liệt kê ra bằng cách hoàn thành một bản mẫu đơn giản Điều này có nghĩa rằng thậm chí một chiếc giường ngủ hay bữa sáng nhỏ nhất hay các nhà cung cấp hoạt động đặc biệt đều có thể hiện diện trên web với cách

tiếp cận với khách du lịch phương xa Thêm vào đó, bởi các doanh nghiệp tham gia đều có thể

cập nhật các chi tiết họ đã cung cấp một cách thường xuyên nên thông tin được cung cấp vẫn chính xác Và để duy trì cũng như cải thiện các tiêu chuẩn, ngành Du lịch New Zealand tổ chức một chương trình theo dõi các tổ chức xuất hiện trên Website đã trải qua một sự đánh giá độc lập trái ngược lại một loạt các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia đã được thống nhất Và như một phần của chương trình này, ảnh hưởng của mỗi doanh nghiệp đến môi trường cũng được xem xét

To communicate the New Zealand experience, the site also carried features relating to famous people and places One of the most popular was an interview with former New Zealand All

Blacks rugby captain Tana Umaga Another feature that attracted a lot of attention was an

interactive journey through a number of the locations chosen for blockbuster films which had

Trang 6

made use of New Zealand’s stunning scenery as a backdrop As the site developed, additional features were added to help independent travellers devise their own customised itineraries To

make it easier to plan motoring holidays, the site catalogued the most popular driving routes in the country, highlighting different routes according to the season and indicating distances and times

Để giới thiệu trải nghiệm ở New Zealand, trang web cũng có những yếu tố liên quan đến những con người và đia danh nổi tiếng Một trong những yếu tố phổ biến nhất là cuộc phỏng vấn với

cựu đội trưởng bóng bầu dục đội Zew Zealand All Blacks Tana Umaga Một yếu tố khác thu hút rất nhiều sự chú ý là một hành trình tương tác qua rất nhiều địa điểm được lựa chọn bởi những bộ phim bom tấn đã sử dụng phong cảnh tuyệt đẹp ở New Zealand để làm bối cảnh Bởi

trang web này phát triển nên các yếu tố khác cũng được thêm vào để giúp cho những người đi

du lịch tự túc có thể đặt ra những lịch trình theo ý họ Để làm cho người ta có thể có những kỳ

nghỉ được lên kế hoạch đi du lịch dễ dàng hơn, trang web đã lên kế hoạch những tuyến đường lái xe phổ biến nhất ở nước này, làm nổi bật lên những tuyến đường khác nhau theo thời tiết, cũng như chỉ ra khoảng cách và thời gian

Later a Travel Planner feature was added, which allowed visitors to click and ‘bookmark’ places

or attractions they were interested in, and then view the results on a map The Travel Planner offered suggested routes and public transport options between the chosen locations There were also links to accommodation in the area By registering with the website, users could save their Travel Plan and return to it later, or print it out take on the visit The website also had a ‘Your Words’ section where anyone could submit a blog of their New Zealand travels for possible inclusion on the website

Sau đó tính năng Travel Planner được thêm vào, cho phép khách du lịch truy cập và đánh dấu những địa điểm hay điểm du lịch và họ quan tâm, sau đó xem kết quả trên bản đồ Travel Planner cung cấp các tuyến đường và các sự lựa chọn các phương tiện cộng cộng giữa những nơi đã được chọn Những thứ này cũng gắn với nơi ở của từng khu vực Bằng việc đăng ký vào

Trang 7

website, người sử dụng có thể lưu lại Lịch trình du lịch của họ và quay trở lại nơi đó sau đó hoặc in ra để mang theo khi đi chơi Website cũng có phần “Văn bản của bạn” nơi bất cứ ai

có thể đưa ra một bài blog về chuyến đi của họ đến New Zealand để đưa vào trang web

The Tourism New Zealand website won two Webby awards for online achievement and innovation More importantly perhaps, the growth of tourism to New Zealand was impressive

Overall tourism expenditure increased by an average of 6.9% per year between 1999 and 2004 From Britain, visits to New Zealand grew at an average annual rate of 13% between 2002 and

2006, compared to a rate of 4% overall for British visits abroad

Trang web Du Lịch New Zealand thắng được hai giải thưởng Webby cho thành tựu và sự đổi

mới trực tuyển Có thể còn quan trọng hơn đó là sự phát triển của ngành du lịch đến New

Zealand thực sự ấn tượng Tổng quan thì tiền chi tiêu cho du lịch tăng trung bình 6.9% mỗi

năm giữa năm 1999 và 2004 Du lịch từ Anh đến New Zealand tăng với mức độ xấp xỉ hàng năm là 13% trong các năm từ 2002 đến 2006, so sánh với tỷ lệ 4% cho các chuyến du lịch nước ngoài của người Anh

The website was set up to allow both individuals and travel organisations to create itineraries and travel packages to suit their own needs and interests On the website, visitors can search for activities not solely by geographical location, but also by the particular nature of the activity This is important as research shows that activities are the key driver of visitor satisfaction,

contributing 74% to visitor satisfaction, while transport and accommodation account for the

remaining 26% The more activities that visitors undertake, the more satisfied they will be It

has also been found that visitors enjoy cultural activities most when they are interactive, such

as visiting a marae (meeting ground) to learn about traditional Maori life Many long-haul travellers enjoy such earning experiences, which provide them with stories to take home to their friends and family In addition, it appears that visitors to New Zealand don’t want to be ‘one of

the crowd’ and find activities that involve only a few people more special and meaningful

Trang web được thành lập cho phép cả cá nhân lẫn các tổ chức du lịch có thể tạo nên lịch trình

Trang 8

cũng như các gói du lịch để phù hợp với nhu cầu và sở thích của họ Trên web, khách du lịch

có thể tìm kiếm các hoạt động không chỉ bằng vị trí địa lý mà con bởi bản chất đặc thù của các hoạt động Điều này rất quan trọng bởi nghiên cứu chỉ ra rằng các hoạt động là yếu tố chính khiến khách du lịch hài lòng, đóng góp đến 74% mức độ hài lòng của khác du lịch, trong khi

việc đi lại và chỗ ở chiếm 26% còn lại Khách du lịch làm được càng nhiều hoạt động thì họ sẽ càng hài lòng Điều này cũng cho thấy rằng khách du lịch thích các hoạt động văn hóa nhất

khi họ tương tác, ví dụ như đến thăm marea (khu họp mặt) để hiểu thêm về cuộc sống của người Maori truyền thống Nhiều khách du lịch phương xa thích những trải nghiệm như thế này, những thứ họ có thể kể lại khi trở về với gia đình và bạn bè Thêm vào đó, có vẻ như khách du lịch đến New Zealand không muốn là “một trong số đám đông” và tìm kiếm những hoạt động chỉ liên quan đến một số người vì nó vừa đặc biệt và có ý nghĩa hơn

It could be argued that New Zealand is not a typical destination New Zealand is a small country with a visitor economy composed mainly of small businesses It is generally perceived as a safe English-speaking country with a reliable transport infrastructure Because of the long-haul flight, most visitors stay for longer (average 20 days) and want to see as much of the country as possible on what is often seen as a once-in-a-lifetime visit However, the underlying lessons apply anywhere-the effectiveness of a strong brand, a strategy based on unique experiences and

a comprehensive and user-friendly website

Có thể nói rằng New Zealand không phải là một điểm đến điển hình New Zealand là

một quốc gia nhỏ với nền kinh tế du lịch chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ Nó cũng

thường được coi là một quốc gia nói Tiếng Anh an toàn với cơ sở hạ tầng giao thông

đáng tin cậy Do các chuyến bay đường dài, hầu hết các khách du lịch ở dài ngày (thường

20 ngày) và muốn tham quan đất nước này nhiều nhất có thể, điều được xem như là

chuyến đi một lần trong đời vậy Tuy nhiên, những bài học sau đó được áp dụng mọi

nơi, đó là sự hiệu quả của thương hiệu lớn mạnh, một chiến lược dựa trên những trải

nghiệm độc đáo và một trang web toàn diện, thân thiện với người dùng

Trang 9

TEST 1 – Passage 2 WHY BEING BORED IS STIMULATING – AND USEFUL, TOO

We all know how it feels - it’s impossible to keep your mind on anything, time stretches out, and all the things you could do seem equally unlikely to make you feel better But defining boredom so that it can be studied in the lab has proved difficult For a start, it can include a

lot of other mental states, such as frustration, apathy, depression and indifference There

isn’t even agreement over whether boredom is always a low-energy, flat kind of emotion or whether feeling agitated and restless counts as boredom, too In his book, Boredom: A Lively

History, Peter Toohey at the University of Calgary, Canada, compares it to disgust - an emotion that motivates us to stay away from certain situations ‘If disgust protects humans

from infection, boredom may protect them from “infectious" social situations,’ he suggests

Chúng ta đều biết cảm giác đó như thế nào – tâm trí chúng ta không thể tập trung vào bất

cứ điều gì, thời gian dài đằng đẵng, và tất cả những gì chúng ta làm đều có vẻ không khiến chúng ta cảm thấy tốt hơn Thế nhưng định nghĩa sự buồn chán để nghiên cứu nó trong phòng thí nghiệm lại khá khó khăn Ban đầu, sự buồn chán có thể bao gồm nhiều trạng thái

tinh thần, ví dụ như sự thất vọng, sự lãnh đạm, trầm cảm hay thờ ơ Thậm chí còn không

có sư thống nhất về việc sự buồn chán là tình trạng luôn thiếu năng lượng, vô cảm hay cảm giác lo âu bồn chồn cũng được coi là tình trạng buồn chán Trong cuốn sách của mình là

“Boredom: A lively History”, Peter Toohey ở trường đại học Calgary, Canada so sánh nó

với sự chán ghét – một cảm xúc làm cho chúng ta tránh xa một số trường hợp Ông ấy nêu

ra: “Nếu sự chán ghét bảo vệ con người bởi sự ảnh hưởng thì sự buồn chán có thể bảo vệ

họ bởi những tình huống xã hội nhất định”

By asking people about their experiences of boredom, Thomas Goetz and his team at the

Trang 10

University of Konstanz in Germany have recently identified five distinct types: indifferent,

calibrating, searching, reactant and apathetic These can be plotted on two axes - one running left to right, which measures low to high arousal, and the other from top to bottom, which

measures how positive or negative the feeling is Intriguingly, Goetz has found that while people experience all kinds of boredom, they tend to specialise in one Of the five types, the most damaging is ‘reactant’ boredom with its explosive combination of high arousal and negative emotion The most useful is what Goetz calls ‘indifferent’ boredom: someone isn’t engaged in anything satisfying but still feels relaxed and calm However, it remains to be seen whether there are any character traits that predict the kind of boredom each of us might

gì gọi là thỏa mãn cả nhưng họ vẫn cảm thấy thư giãn và bình tĩnh Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên nhìn nhận liệu có những nét tính cách nào báo trước loại buồn chán mà mỗi chúng ta

có thể nghiêng về

Psychologist Sandi Mann at the University of Central Lancashire, UK, goes further All emotions are there for a reason, including boredom,’ she says Mann has found that being bored makes us more creative ‘We're all afraid of being bored but in actual fact it can lead

Trang 11

to all kinds of amazing things,’ she says In experiments published last year, Mann found that people who had been made to feel bored by copying numbers out of the phone book for 15

minutes came up with more creative ideas about how to use a polystyrene cup than a

control group Mann concluded that a passive, boring activity is best for creativity because it allows the mind to wander In fact, she goes so far as to suggest that we should seek out more boredom in our lives

Nhà tâm lý học Sandi Mann ở trường đại học Central Lancashire, UK nghiên cứu sâu hơn

Cô ấy nói: “Tất cả các cảm xúc tồn tại đều có lý do, bao gồm cả sự buồn chán” Cô ấy thấy rằng buồn chán làm cho chúng ta sáng tạo hơn “Chúng ta đều sợ buồn chán nhưng sự thật

là nó có thể dẫn đến tất cả những điều tuyệt vời” Trong những thí nghiệm được công bố năm ngoái, Mann thấy rằng những người bị làm cho buồn chán bởi việc sao chép số điện

thoại ra khỏi danh bạ trong vòng 15 phút nảy ra nhiều ý tưởng sáng tạo về việc sử dụng

một cái cốc nhựa hơn là một nhóm bị kiểm soát Mann kết luận rằng một hoạt động thụ động, buồn chán là tốt nhất cho sự sáng tạo bởi nó cho phép đầu óc người ta đi lang thang Thực

ra, cô ấy đi xa như vậy để cho chúng ta thấy chúng ta nên tìm thêm nhiều sự buồn chán trong cuộc sống này

Psychologist John Eastwood at York University in Toronto, Canada isn’t convinced ‘If you are in a state of mind-wandering you are not bored,’ he says ‘In my view, by definition

boredom is an undesirable state.’ That doesn't necessarily mean that it isn’t adaptive, he

adds 'Pain is adaptive - if we didn’t have physical pain, bad things would happen to us Does that mean that we should actively cause pain? No But even if boredom has evolved to help

us survive, it can still be toxic if allowed to fester’ For Eastwood, the central feature of boredom is a failure to put our ‘attention system’ into gear This causes an inability to focus

on anything, which makes time seem to go painfully slowly What's more, your efforts to improve the situation can end up making you feel worse ‘People try to connect with

the world and if they are not successful there’s that frustration and irritability,’ he

Trang 12

says Perhaps most worryingly, says Eastwood, repeatedly failing to engage attention can

lead to a state where we don’t know what to do any more, and no longer care

Nhà tâm lý học John Eastwood ở trường đại học York ở Toronto, Canada không bị thuyết phục Ông ấy nói: “Nếu đầu óc bạn đang đi lang thang thì bạn không phải đang buồn chán Theo quan điểm của tôi, định nghĩa buồn chán là một trạng thái không mong muốn” Ông

ấy nói thêm rằng điều đó không nhất thiết có nghĩa rằng nó không có tính thích nghi “Nỗi

đau mang tính thích ứng – nếu chúng ta không có nỗi đau về thể chất thì những điều tồi tệ

sẽ xảy ra với chúng ta Liệu điều này có nghĩa rằng chúng ta nên chủ động gây ra nỗi đau không? Không Nhưng thậm chí nếu sự buồn chán đã phát triển để giúp chúng ta tồn tại thì

nó vẫn là độc hại nếu nó được cho phép bùng phát” Với Eastwood, tính chất đặc trưng của

sự buồn chán là sự thất bại khi đặt “hệ thống tập trung” của chúng ta vào một guồng quay Điều này dẫn đến việc người ta không thể tập trung vào bất cứ cái gì, và điều này dần dần

sẽ dẫn đến việc tổn thương một cách từ từ Hơn nữa, nỗ lực của bạn để cải thiện tình hình

có thể kết thúc bằng việc làm cho bạn cảm thấy tệ hơn Ông nói tiếp: “Người ta cố gắng kết

nối với thể giới và nếu không thành công thì sẽ dẫn đến sự thất vọng và tức giận” Có lẽ đáng lo ngại nhất là việc liên tục thất bại trong việc gây sự chú ý có thể dẫn đến một trạng

thái mà chúng ta không biết phải làm gì nữa hay cũng chẳng còn quan tâm đến mọi thứ xung quanh nữa

Eastwood’s team is now trying to explore why the attention system fails It’s early days but

they think that at least some of it comes down to personality Boredom proneness has been

linked with a variety of traits People who are motivated by pleasure seem to suffer particularly badly Other personality traits, such as curiosity, are associated with a high

boredom threshold More evidence that boredom has detrimental effects comes from studies

of people who are more or less prone to boredom It seems those who bore easily face poorer prospects in education, their career and even life in general But of course, boredom itself cannot kill -it’s the things we do to deal with it that may put us in danger What can we do

Trang 13

to alleviate it before it comes to that? Goetz’s group has one suggestion Working with

teenagers, they found that those who ‘approach’ a boring situation - in other words, see that

it’s boring and get stuck in anyway - report less boredom than those who try to avoid it by using snacks, TV or social media for distraction

Nhóm của Eastwood giờ đây đang cố gắng khám phá xem tại sao hệ thống tập trung lại thất bại Đó mới chỉ là những ngày đầu nhưng họ nghĩ ít nhất một trong số đó là do tính cách

Thiên hướng buồn chán kết nối với nhiều đặc điểm khác nhau Những người mà được thúc

đẩy bằng sự hài lòng có vẻ như phải chịu đựng sự buồn chán một cách tồi tệ Những đặc điểm tính cách khác như tò mò thì lại quen với mức độ buồn chán cao Nhiều chứng cứ cho

thấy rằng sự buồn chán có ảnh hưởng tiêu cực đến từ những nghiên cứu về những người ít

nhiều có thiên hướng nhàm chán hơn Điều này có nghĩa rằng những người chán nản thường

dễ phải đối mặt với những triển vọng kém trong học hành, công việc hay thậm chí trong cuộc sống nói chung Tuy nhiên, sự buồn chán không thể mất đi – đó là những điều mà chúng ta làm để giải quyết nó có thể đưa chúng ta vào chỗ nguy hiểm Vậy chúng ta cần làm gì để

giảm được nó trước khi nó bị đến mức như vậy? Nhóm của Goetz có một gợi ý Khi nghiên

cứu trẻ vị thành niên, họ thấy rằng những ai tiếp cận đến tình huống gây nhàm chán – nói

theo cách khác thì là những ai thấy rằng điều đó thật nhàm chán và kiểu gì cũng bị mắc kẹt

trong đó – đều cho thấy rằng họ ít buồn chán hơn những ai cố gắng tránh sự buồn chán bằng

cách ăn vặt, xem TV hay dùng phương tiện xã hội để phân tán

Psychologist Francoise Wemelsfelder speculates that our over-connected lifestyles might

even be a new source of boredom ‘In modern human society there is a lot of overstimulation

but still a lot of problems finding meaning,’ she says So instead of seeking yet more mental

stimulation, perhaps we should leave our phones alone, and use boredom to motivate us to

engage with the world in a more meaningful way

Nhà tâm lý học Francoise Wemelsfelder suy đoán rằng lối sống quá kết nối của chúng ta có

Trang 14

thể là một nguồn cơn mới cho sự buồn chán Bà nói: “Trong xã hội hiện đại của loài người

có rất nhiều sự kích thích quá mức nhưng vẫn có nhiều vấn đề đang cần được tìm ra ý

nghĩa” Vì thế thay vì tìm sự thúc đẩy về mặt tinh thần, chúng ta nên để điện thoại sang một

bên và sử dụng sự buồn chán để tạo động lực cho chúng ta hòa nhập với thể giới một cách

có ý nghĩa hơn

Trang 15

TEST 1 – Passage 3 ARTIFICAL ARTISTS

The Painting Fool is one of a growing number of computer programs which, so their

makers claim, possess creative talents Classical music by an artificial composer has had audiences enraptured, and even tricked them into believing a human was behind the score Artworks painted by a robot have sold for thousands of dollars and been hung

in prestigious galleries And software has been built which creates art that could not

have been imagined by the programmer

Painting Fool là một trong những chương trình máy tính được những người sáng lập

ra nhận định rằng chúng sở hữu tài năng sáng tạo Những bản nhạc cổ điển được một nhà soạn nhạc nhân tạo làm cho khán giả thích thú, và thậm chí khiến cho họ tin rằng con người mới là chủ nhân thật sự sau những bản nhạc kia Những tác phẩm nghệ

thuật được vẽ bởi robot được bán với giá hàng nghìn dollar và được treo trong các

phòng triển lãm danh giá Và phần mềm được xây dựng nên để tạo ra nghệ thuật thì

cũng vượt quá cả sự tưởng tượng của nhà lập trình

Human beings are the only species to perform sophisticated creative acts regularly If

we can break this process down into computer code, where does that leave human

creativity? ‘This is a question at the very core of humanity,’ says Geraint Wiggins, a computational creativity researcher at Goldsmiths, University of London ‘It scares a

lot of people They are worried that it is taking something special away from what it means to be human.’

Loài người là loài duy nhất thường xuyên thực hiện các trình diễn nghệ thuật phức tạp

và giàu tính sáng tạo Geraint Wiggins, một nhà nghiên cứu vế trí tuệ máy tính (sự sáng tạo của máy tính) tại Goldsmiths, trường đại học Luân Đôn đặt ra câu hỏi: “Nếu chúng

ta phá vỡ quy trình này thành đoạn mã máy tính thì sự sáng tạo của con người sẽ đi về

đâu? Đây là câu hỏi về phần vô cùng cốt lõi của con người Nó làm cho nhiều người

Trang 16

cảm thấy sợ hãi Họ lo lắng rằng robot đang dần có được những thứ rất đặc biệt mà

chỉ con người mới có”

To some extent, we are all familiar with computerised art The question is: where does

the work of the artist stop and the creativity of the computer begin? Consider one of the oldest machine artists, Aaron, a robot that has had paintings exhibited in London's Tate Modern and the San Francisco Museum of Modern Art Aaron can pick up a paintbrush

and paint on canvas on its own Impressive perhaps, but it is still little more than a tool

to realise the programmer’s own creative ideas

Theo khía cạnh nào đó, chúng ta đều quen thuộc với hoạt động nghệ thuật được “máy tính hóa” Câu hỏi ở đây là: vậy đâu sẽ là nơi công việc của một người nghệ sĩ sẽ dừng

lại và sức sáng tạo của máy tính được bắt đầu? Quan sát một trong những nghệ sĩ máy móc lão làng nhất, Aaron, một con robot đã có được những bức họa được triển lãm tại London's Tate Modern và Bảo tàng nghệ thuật hiện đại San Francisco Aaron có thể tự

mình cầm cọ và vẽ nên một bức tranh sơn dầu Có thể rất ấn tượng, nhưng nó vẫn chỉ

nhỉnh hơn một công cụ vì bức tranh mà nó thể hiện chính là ý tưởng của sáng tạo của người lập trình ra nó

Simon Colton, the designer of the Painting Fool, is keen to make sure his creation doesn’t attract the same criticism Unlike earlier ‘artists’ such as Aaron, the Painting

Fool only needs minimal direction and can come up with its own concepts by going online for material The software runs its own web searches and trawls through social

media sites It is now beginning to display a kind of imagination too, creating pictures

from scratch One of its original works is a series of fuzzy landscapes, depicting trees

and sky While some might say they have a mechanical look, Colton argues that such

reactions arise from people’s double standards towards software-produced and

human-produced art After all, he says, consider that the Painting Fool painted the landscapes without referring to a photo ‘If a child painted a new scene from its head, you’d say it has a certain level of imagination,’ he points out The same should be true

Trang 17

of a machine.’ Software bugs can also lead to unexpected results Some of the Painting

Fool’s paintings of a chair came out in black and white, thanks to a technical glitch This gives the work an eerie, ghostlike quality Human artists like the renowned Ellsworth Kelly are lauded for limiting their colour palette - so why should computers

be any different?

Simon Colton, nhà thiết kế của chương trình Painting Fool kiến quyết khẳng định rằng, sản phẩm của anh ấy sẽ không chỉ nhận những lời phê bình tương tự Không giống như những “nghệ sĩ” đời trước như Aaron, chương trình Paiting Fool chỉ cần những chỉ

dẫn đơn giản và có thể tự mình tạo ra một ý tưởng riêng từ các dữ liệu trên Internet Chương trình này được chạy trên các trang web tìm kiếm riêng của nó và chọn lọc

thông tin cả trên các mạng xã hội Và rồi đây, nó cũng sẽ cho thấy khả năng của sự tưởng tượng bằng việc tạo nên những bức tranh mà không cần đến bất cứ một sự chuẩn

bị hay ý niệm nào có từ trước Một trong những tác phẩm đầu tiên của phần mềm này

là một loạt những bức tranh phong cảnh mờ ảo phác họa lại những hàng cây và bầu trời Trong khi có một số người sẽ cho rằng những bức tranh này chỉ có được cái nhìn

của những cỗ máy, nhưng Colton đã phản biện rằng những phản ứng này nổi lên từ chuẩn mực khắt khe của con người đối với những tác phẩm nghệ thuật được tạo ra

bởi các phần mềm và các nghệ sĩ Sau cùng ông nói, hãy xem xét việc phần mềm Painting Fool đã vẽ nên những bức tranh phong cảnh mà không dựa trên bất cứ một bức ảnh nào Ông ấy cũng chỉ ra rằng “Nếu là một đứa trẻ tự mình vẽ ra một hình ảnh mới, hẳn là bạn sẽ cho rằng đứa bé đang sở hữu một mức độ nhất định của trí tưởng tượng Và điều tương tự như vậy rất có thể cũng đúng với một chiếc máy Những lỗi của một phần mềm cũng có thể dẫn đến những kết quả không thể ngờ đoán trước được Một vài bức vẽ của Painting Fool về một chiếc ghế được hoàn thành với chỉ 2 màu

trắng và đen nhờ có một vài lỗi kĩ thuật nhỏ đã xảy ra Điều này đã mang đến một hiệu

ứng ma mị cho cả bức tranh Các nghệ sĩ nổi tiếng như Ellsworth Kelly đã từng được

ca ngợi vì đã sử dụng những bảng màu rất giới hạn để tạo nên tác phẩm, vậy tại sao

Trang 18

đối với những chiếc máy tính lại không?

Researchers like Colton don't believe it is right to measure machine creativity directly

to that of humans who have had millennia to develop our skills' Others, though, are

fascinated by the prospect that a computer might create something as original and subtle

as our best artists So far, only one has come close Composer David Cope invented a program called Experiments in Musical Intelligence, or EMI Not only did EMI create

compositions in Cope’s style, but also that of the most revered classical composers,

including Bach, Chopin and Mozart Audiences were moved to tears, and EMI even

fooled classical music experts into thinking they were hearing genuine Bach Not everyone was impressed however Some, such as Wiggins, have blasted Cope's work

as pseudoscience, and condemned him for his deliberately vague explanation of how

the software worked Meanwhile Douglas Hofstadter of Indiana University said EMI

created replicas which still rely completely on the original artist’s creative impulses When audiences found out the truth they were often outraged with Cope, and one music

lover even tried to punch him Amid such controversy, Cope destroyed EMI's vital databases

Những nhà nghiên cứu như Colton không cho rằng việc so sánh khả năng sáng tạo của những chiếc máy một cách trực tiếp với khả năng này của con người là đúng đắn vì chúng ta đã có hàng thiên niên kỉ để có thể phát triển những kĩ năng này Mặc dù vậy, những nhà nghiên cứu khác cũng bị cuốn theo triển vọng của máy có thể tạo nên những

tác phẩm nghệ thuật nguyên bản và tài tình như những nghệ sĩ tuyệt vời nhất Nhưng

cho đến này chỉ có một người đã làm được Nhà soạn nhạc David Cope đã phát minh

ra một phần mềm mang tên “Experiments in musical inteligence – Thí nghiệm trong trí thông minh âm nhạc” hoặc viết tắt là EMI EMI không chỉ có thể tạo ra những đoạn nhạc theo phong cách của Cope mà còn có thể chơi những bản nhạc của những nhạc

sĩ cổ điển nổi tiếng như Bach, Chopin hay Mozart Khán giả đã xúc động và cả những

chuyên gia về âm nhạc cổ điển cùng bị EMI thôi miên trong suy nghĩ rằng họ đang

Trang 19

được lắng nghe thần đồng âm nhạc Bach Tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều cảm thấy ấn tượng với những gì Cope đã làm, như Wiggins, ông coi công trình của

Cope như một sự giả khoa học và quy kết Cope bởi sự giải thích xem cái phần mềm

này hoạt động như thế nào còn khá mờ nhạt Trong khi đó, Douglas Hofstadter của

trường Đại Học Indiana nói rằng những phiên bản sao chép do EMI tạo ra vẫn dựa hoàn toàn trên những sự sáng tạo bất chợt trong bản gốc của các nghệ sĩ Khi những khán giả biết được sự thật, họ thường rất giận dữ với Cope, và một người yêu nhạc

thậm chí đã cố gắng đánh Cope Giữa luồng tranh luận đó, Cope đã phá đi hệ thống

dữ liệu quan trọng của EMI

But why did so many people love the music, yet recoil when they discovered how it

was composed? A study by computer scientist David Moffat of Glasgow Caledonian

University provides a clue He asked both expert musicians and non-experts to assess

six compositions The participants weren't told beforehand whether the tunes were composed by humans or computers, but were asked to guess, and then rate how much they liked each one People who thought the composer was a computer tended to dislike the piece more than those who believed it was human This was true even among the experts, who might have been expected to be more objective in their analyses

Nhưng tại sao nhiều người yêu âm nhạc lại ruồng bỏ nó khi biết nó được sinh ra như

thế nào? Một nghiên cứu của nhà khoa học máy tính David Moffat của Trường Đại học Glasgow Caledonian đưa ra bằng chứng Ông ta đã yêu cầu những nhà soạn nhạc

chuyên nghiệp và cả những người không chuyên đánh giá sáu tác phẩm Những người

tham gia không được biết trước các đoạn nhạc họ nghe là do con người hay máy tính tạo ra, mà họ được yêu cầu đoán và đánh giác mức độ yêu thích của họ đối với những đoạn nhạc này Những người nghĩ rằng người soạn nhạc là một chiếc máy tính thường

có xu hướng không thích những bản nhạc này hơn là những người tin rằng chúng được sáng tác bởi con người Điều này thậm chí đúng cả với những chuyên gia, những người được kì vọng sẽ khách quan hơn trong những phân tích của họ

Trang 20

Where does this prejudice come from? Paul Bloom of Yale University has a suggestion: he reckons part of the pleasure we get from art stems from the creative process behind the work This can give it an ‘irresistible essence’, says Bloom

Meanwhile, experiments by Justin Kruger of New York University have shown that people’s enjoyment of an artwork increases if they think more time and effort was needed to create it Similarly, Colton thinks that when people experience art, they wonder what the artist might have been thinking or what the artist is trying to tell them

It seems obvious, therefore, that with computers producing art, this speculation is cut short - there's nothing to explore But as technology becomes increasingly complex,

finding those greater depths in computer art could become possible This is precisely why Colton asks the Painting Fool to tap into online social networks for its inspiration: hopefully this way it will choose themes that will already be meaningful to us

Những thành kiến này đến từ đâu? Paul Bloom của đại học Yale gợi ý rằng: ông ta cho rằng một phần của sự thỏa mãn đối với những tác phẩm nghệ thuật đến từ quá trình sáng tạo đằng sau tác phẩm đó Điều này đưa ra một bản chất không thể chối cãi

Trong khi đó, các nghiên cứu của Jusstin Kruger của trường đại học New York chỉ ra rằng sự yêu thích của người ta với một tác phẩm nghệ thuật tăng lên nếu họ nghĩ rằng tác phẩm được tạo ra cần nhiều thời gian và nỗ lực Tương tự, Colton nghĩ rằng khi mọi người trải nghiệm nghệ thuật, họ tự hỏi xem người nghệ sĩ nghĩ gì hay người nghệ

sĩ muốn nói gì với họ Vậy nên, điều này rất rõ ràng rằng với những tác phẩm nghệ

thuật do máy tính tạo ra, mọi sự suy đoán sẽ bị hạn chế và chẳng còn điều gì để khám

phá Nhưng vì công nghệ ngày càng trở nên phức tạp, tìm kiếm những điều sâu sắc trong các tác phẩm nghệ thuật của máy tính trở thành một điều hoàn toàn có thể Đó là

lí do tại sao Colton cài đặt Painting Fool vào mạng xã hội để nuôi dưỡng cảm hứng cho nó: hi vọng rằng với cách này chương trình có thể tự chọn lọc những chủ đề có ý nghĩa đối với con người chúng ta

Trang 21

TEST 2 – Passage 1 BRINGING CINNAMON TO EUROPE

Cinnamon is a sweet, fragrant spice produced from the inner bark of trees of the genus Cinnamomum, which is native to the Indian sub-continent It was known in biblical times, and is mentioned in several books of the Bible, both as an ingredient that was

mixed with oils for anointing people’s bodies, and also as a token indicating friendship among lovers and friends In ancient Rome, mourners attending funerals burnt cinnamon to create a pleasant scent Most often, however, the spice found its primary

use as an additive to food and drink In the Middle Ages, Europeans who could afford the spice used it to flavour food, particularly meat, and to impress those around them with their ability to purchase an expensive condiment from the exotic’ East At a banquet, a host would offer guests a plate with various spices piled upon it as a sign of

the wealth at his or her disposal Cinnamon was also reported to have health benefits, and was thought to cure various ailments, such as indigestion

Quế là một gia vị ngọt, thơm được lấy từ lớp vỏ thân cành của một số loài thực vật

thuộc chi Cinnamomum, có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ Nó được biết ở thời Kinh Thánh, và được đề cập trong một số cuốn sách của Kinh Thánh như là một thành phần

trộn với dầu để xức lên cơ thể người, và cũng là một vật kỷ niệm thể hiện tình bạn và tình yêu Ở thời kỳ La Mã cổ đại, những người đi đưa ma tham dự đám tang thường đốt quế để một mùi thơm dễ chịu Tuy nhiên, thông thường, quế thường được sử dụng

như là chất phụ gia cho thức ăn và nước uống Ở thời Trung Cổ, người Châu Âu nào

đủ tiền mua gia vị đó thường được sử dụng để tạo hương vị cho thức ăn, đặc biệt là thịt,

và để gây ấn tượng với những người xung quanh rằng họ có khả năng mua loại gia vị ngoại lai đắt tiền ở Phương Đông Ở những bữa tiệc lớn, chủ tiệc thường mời khách một đĩa với nhiều đồ gia vị khác nhau và họ có thể sử dụng tùy ý như một dấu hiệu của

sự giàu có Bột quế đã được chứng mình là có lợi cho sức khoẻ, và dùng để chữa nhiều

Trang 22

bệnh khác nhau, chẳng hạn như bệnh khó tiêu

Toward the end of the Middle Ages, the European middle classes began to desire the lifestyle of the elite, including their consumption of spices This led to a growth in demand for cinnamon and other spices At that time, cinnamon was transported by Arab merchants, who closely guarded the secret of the source of the spice from potential rivals They took it from India, where it was grown, on camels via an overland route to the Mediterranean Their journey ended when they reached Alexandria European traders sailed there to purchase their supply of cinnamon, then brought it back to Venice The spice then travelled from that great trading city to markets all around Europe Because the overland trade route allowed for only small quantities of the spice to reach

Europe, and because Venice had a virtual monopoly of the trade, the Venetians could

set the price of cinnamon exorbitantly high These prices, coupled with the increasing

demand, spurred the search for new routes to Asia by Europeans eager to take part in

the spice trade

Vào cuối thời Trung cổ, những tầng lớp trung lưu Châu Âu bắt đầu thèm muốn lối sống thượng lưu, bao gồm việc tiêu dùng các đồ gia vị Điều này dẫn đến việc nhu cầu tiêu thụ quế và các đồ gia vị khác tăng cao Vào lúc đó, quế được vận chuyển bởi những nhà thương nhân Ả Rập, những người bảo vệ rất nghiêm ngặt nguồn gốc của gia vị khỏi những đối thủ hùng mạnh Họ lấy quế từ Ấn Độ, nơi nó được trồng, đặt nó trên những con lạc đà qua một con đường đất liền đến Địa Trung Hải Từ Ấn Độ, nơi mà Quế được trồng, các thương nhân này vận chuyển quế trên lạc đà thông qua một tuyến đường bộ đến Địa Trung Hải Chuyến đi của họ kết thúc khi họ đến Ai Cập Những nhà buôn Châu Âu đã xuống tàu ở đó để mua chỗ cung cấp quế, sau đó mang chúng lại Venice Sau đó quế sẽ đi từ những thành phố kinh doanh náo nhiệt đến thị trường trên khắp Châu Âu Bởi vì tuyến đường bộ chỉ cho phép mang một lượng nhỏ đồ gia vị đến Châu

Âu, và bởi vì Venice gần như đã độc quyền thương mại, cho nên những người Venice

có thể đặt giá quế rất cao Giá cùng với nhu cầu đang tăng lên, những người Châu Âu

Trang 23

mong muốn tham gia vào việc buôn bán đồ gia vị đã thúc đẩy việc tìm ra tuyến đường

mới đến Châu Á

Seeking the high profits promised by the cinnamon market, Portuguese traders arrived

on the island of Ceylon in the Indian Ocean toward the end of the 15th century Before Europeans arrived on the island, the state had organized the cultivation of cinnamon

People belonging to the ethnic group called the Salagama would peel the bark off young shoots of the cinnamon plant in the rainy season, when the wet bark was more pliable During the peeling process, they curled the bark into the ‘stick’ shape still associated

with the spice today The Salagama then gave the finished product to the king as a form

of tribute When the Portuguese arrived, they needed to increase production significantly, and so enslaved many other members of the Ceylonese native population,

forcing them to work in cinnamon harvesting In 1518, the Portuguese built a fort on Ceylon, which enabled them to protect the island, so helping them to develop a monopoly in the cinnamon trade and generate very high profits In the late 16th century, for example, they enjoyed a tenfold profit when shipping cinnamon over a journey of eight days from Ceylon to India

Thị trường buôn bán quế hứa hẹn kiếm được lợi nhuận cao, những nhà buôn Bồ Đào Nha đã đến hòn đảo Ceylon ở Ấn Độ Dương vào cuối thế kỷ 15 Trước khi người châu

Âu đến đảo, tiểu bang đã tổ chức trồng quế Những người thuộc nhóm dân tộc thiểu số

gọi là Salagama sẽ lột vỏ cây quế non vào mùa mưa, khi vỏ cây còn ướt dẻo Trong suốt quá trình tước vỏ, họ đã uốn vỏ cây thành hình ‘thanh’ trở thành đồ gia vị như ngày

hôm nay Người Salagama sau đó đưa sản phẩm hoàn chỉnh cho nhà vua như một hình

thức của sự tôn kính Khi người Bồ Đào Nha đến, họ cần tăng việc sản xuất một cách đáng kể, và vì thế đã bắt nhiều thành viên khác của dân bản địa Ceylon làm nô lệ, bắt

họ thu hoạch quế Vào năm 1518, người Bồ Đào Nha đã xây dựng một pháo đài ở Ceylon, cho phép họ bảo vệ hòn đảo của họ, cho nên đã giúp họ phát triển việc độc quyền buôn bán quế và đã sinh ra lợi nhuận cao Vào cuối thế kỷ 16, họ họ đã thu lại

Trang 24

lợi nhuận tăng gấp 10 lần khi chuyển quế từ Ceylon sang Ấn Độ trong tám ngày bằng tàu

When the Dutch arrived off the coast of southern Asia at the very beginning of the 17th century, they set their sights on displacing the Portuguese as kings of cinnamon The

Dutch allied themselves with Kandy, an inland kingdom on Ceylon In return for

payments of elephants and cinnamon, they protected the native king from the Portuguese By 1640, the Dutch broke the 150-year Portuguese monopoly when they

overran and occupied their factories By 1658, they had permanently expelled the

Portuguese from the island, thereby gaining control of the lucrative cinnamon trade

Khi người Đan Mạch rời khỏi bờ biển Nam Á vào đầu thế kỷ 17, họ đã quyết tâm thay

thế vị trí quốc vương quế của người Bồ Đào Nha Người Hà Lan liên minh với Kandy,

một vương quốc nội địa ở Ceylon Đổi lại các khoản thanh toán về voi và quế, họ đã bảo vệ quốc vương bản địa khỏi người Bồ Đào Nha.Giữa năm 1640, người Hà Lan đã

xâm phạm độc quyền 150 năm khi họ xâm nhập và chiếm đóng nhà máy Đến năm

1658, họ đã vĩnh viễn trục xuất người Bồ Đào Nha khỏi hòn đảo, từ đó nắm quyền kiểm

soát việc buôn bán quế béo bở này

In order to protect their hold on the market, the Dutch, like the Portuguese before them, treated the native inhabitants harshly Because of the need to boost production and satisfy Europe's ever-increasing appetite for cinnamon, the Dutch began to alter the harvesting practices of the Ceylonese Over time, the supply of cinnamon trees on the

island became nearly exhausted, due to systematic stripping of the bark Eventually,

the Dutch began cultivating their own cinnamon trees to supplement the diminishing number of wild trees available for use

Để bảo vệ thị trường của họ, người Hà Lan, như người Bồ Đào Nha trước đây, đã đối

xử người dân bản địa một cách nghiêm khắc Bởi vì cần đáp ứng nhu cầu sản xuất và thoả mãn việc thèm ăn quế ngày càng tăng, người Hà Lan bắt đầu thay đổi thói quen thu hoạch trước đây của họ Theo thời gian, những cây quế trên hòn đảo gần như cạn

Trang 25

kiệt, bởi vì hệ thống tước vỏ cây Cuối cùng, người Hà Lan bắt đầu trồng cây quế để

bổ sung lại số lượng cây tự nhiên hao hụt mà họ đã sử dụng

Then, in 1796, the English arrived on Ceylon, thereby displacing the Dutch from their control of the cinnamon monopoly By the middle of the 19th century, production of cinnamon reached 1,000 tons a year, after a lower grade quality of the spice became acceptable to European tastes By that time, cinnamon was being grown in other parts

of the Indian Ocean region and in the West Indies, Brazil, and Guyana Not only was a monopoly of cinnamon becoming impossible, but the spice trade overall was

diminishing in economic potential, and was eventually superseded by the rise of trade

in coffee, tea, chocolate, and sugar

Sau đó, người Anh đến Ceylon, từ đó độc quyền kinh doanh quế thay thế người Hà Lan Vào giữa thế kỷ 19, sản lượng quế đã đạt đến 1000 tấn một năm, mặc dù chất lượng của quế thấp hơn nhưng người Châu Âu vẫn chấp nhận hương vị của nó Vào thời điểm

đó, quế cũng được trồng ở những khu vực khác của vùng Ấn Độ Dương và ở Tây Ấn, Brazil, và Guyana Không chỉ không thể độc quyền quế, mà còn việc kinh doanh đồ gia

vị cũng đã giảm bớt trong tiềm lực kinh tế, và cuối cùng bị thế chỗ cho việc buôn bán

cà phê, trà, sô cô la và đường ngày càng phát triển

Trang 26

TEST 2 – Passage 2

OXYTOCIN

The positive and negative effects of the chemical known as the ‘love hormone’

Oxytocin is a chemical, a hormone produced in the pituitary gland in the brain It was

through various studies focusing on animals that scientists first became aware of the

influence of oxytocin They discovered that it helps reinforce the bonds between prairie voles, which mate for life, and triggers the motherly behaviour that sheep show towards

their newborn lambs It is also released by women in childbirth, strengthening the attachment between mother and baby Few chemicals have as positive a reputation as oxytocin, which is sometimes referred to as the ‘love hormone’ One sniff of it can, it

is claimed, make a person more trusting, empathetic, generous and cooperative It is time, however, to revise this wholly optimistic view A new wave of studies has shown that its effects vary greatly depending on the person and the circumstances, and it can impact on our social interactions for worse as well as for better

Oxytocin là một chất hóa học, một hormone được sản sinh ra ở tuyến yên trong não

Qua rất nhiều những nghiên cứu trên động vật thì các nhà khoa học mới bước đầu nhận

thức được ảnh hưởng của oxytocin Họ khám phá rằng nó giúp củng cố mối quan hệ giữa những con chuột đồng trong quá trình giao phối, và khởi nguồn những hành vi

của người mẹ trong cừu mẹ đối với những con con Nó đồng thời cũng được sản sinh

ra khi phụ nữ sinh con, tăng cường sự gắn kết giữa mẹ và con Ít chất hóa học có tác dụng tích cực như oxytoxin, thứ mà đôi khi được coi như là “hormone tình yêu” Nó được khẳng định rằng chỉ cần hít một ít chất này có thể làm cho người ta tin tưởng, đồng cảm, phóng khoáng và hợp tác hơn Tuy nhiên, đã đến lúc chỉnh sửa hoàn toàn quan điểm tích cực này Một làn sóng nghiên cứu mới chỉ ra rằng tác động của nó thay

Trang 27

đổi rất lớn phụ thuộc vào mỗi người và vào từng hoàn cảnh, và nó có thể ảnh hưởng đến sự tương tác xã hội cả xấu lẫn tốt

Oxytocin’s role in human behaviour first emerged in 2005 In a groundbreaking

experiment, Markus Heinrichs and his colleagues at the University of Freiburg, Germany, asked volunteers to do an activity in which they could invest money with an anonymous person who was not guaranteed to be honest The team found that participants who had sniffed oxytocin via a nasal spray beforehand invested more

money than those who received a placebo instead The study was the start of research

into the effects of oxytocin on human interactions ‘For eight years, it was quite a lonesome field,’ Heinrichs recalls 'Now, everyone is interested.’ These follow-up

studies have shown that after a sniff of the hormone, people become more charitable,

better at reading emotions on others’ faces and at communicating constructively in arguments Together, the results fuelled the view that oxytocin universally enhanced the positive aspects of our social nature

Vai trò của Oxytocin trong thái độ của con người được phát hiện lần đầu vào năm 2005

Trong một thí nghiệm đột phá, Markus Heinrichs và các đồng nghiệp ở trường đại học

Freiburg, Đức đã hỏi những tình nguyện viên làm một hoạt động trong đó họ có thể đầu tư tiền với một người nặc danh và không có sự đảm bảo gì về sự trung thực cả Nhóm của ông ấy nhận ra rằng những người tham gia hít phải khí oxytocin thông qua

lọ thuốc xịt mũi trước đó thì đầu tư nhiều tiền hơn so với những người hít phải thuốc

an thần Nghiên cứu này là khởi đầu cho nghiên cứu về những ảnh hưởng của oxytocin

tới sự tương tác của con người Heinrichs nhớ lại: “Trong vòng tám năm, đó thực sự

là một lĩnh vực đơn độc Bây giờ thì mọi người đều có quan tâm tới nó rồi” Các nghiên

cứu sau đó chỉ ra rằng sau khi hít phải hormone này, mọi người trở nên nhân đạo hơn,

đọc được cảm xúc trên khuôn mặt người khác và giao tiếp với những lập luận vững chắc tốt hơn Cùng với đó, kết quả cũng làm tăng quan điểm rằng oxytocin tăng cường những mặt tích cực của xã hội tự nhiên

Trang 28

Then, after a few years, contrasting findings began to emerge Simone Shamay-Tsoory

at the University of Haifa, Israel, found that when volunteers played a competitive game, those who inhaled the hormone showed more pleasure when they beat other players, and felt more envy when others won What's more, administering oxytocin also has sharply contrasting outcomes depending on a person’s disposition Jennifer Bartz from Mount Sinai School of Medicine, New York, found that it improves people’s ability to read emotions, but only if they are not very socially adept to begin with Her research also shows that oxytocin in fact reduces cooperation in subjects who are particularly anxious or sensitive to rejection

Và sau một vài năm, những nghiên cứu ngược bắt đầu được tiến hành Simone Tsoory ở trường đại học Haifa, Isarel nhận thấy rằng khi các tình nguyện viên chơi một trò chơi có tính cạnh tranh, những người hít phải hormone đó thường hài lòng hơn khi

Shamay-họ chiến thắng đối thủ, và cảm thấy ghen tỵ hơn khi những người khác thắng Bên cạnh

đó, sự cung cấp oxytocin cũng cho những kết quả trái ngược phụ thuộc vào tính tình của mỗi người Jenifer Bartz từ trường Y Mount Sinai, New York nhận thấy rằng nó cải thiện khả năng của con người trong việc đọc cảm xúc, nhưng chỉ khi họ không quá tinh thông xã hội Nghiên cứu của bà cũng chỉ ra rằng thức tế oxytocin làm giảm sự hợp tác trong các đối tượng tỏ ra đặc biệt lo lắng hay nhạy cảm đối với sự cự tuyệt

Another discovery is that oxytocin’s effects vary depending on who we are interacting with Studies conducted by Carolyn DeClerck of the University of Antwerp, Belgium, revealed that people who had received a dose of oxytocin actually became less cooperative when dealing with complete strangers Meanwhile, Carsten De Dreu at the University of Amsterdam in the Netherlands discovered that volunteers given oxytocin

showed favouritism: Dutch men became quicker to associate positive words with

Dutch names than with foreign ones, for example According to De Dreu, oxytocin drives people to care for those in their social circles and defend them from outside

Trang 29

dangers So, it appears that oxytocin strengthens biases, rather than promoting general

goodwill, as was previously thought

Một khám phá khác rằng những tác động của oxytocin thay đổi dựa vào chúng ta tương tác với ai Những nghiên cứu được thực hiện bởi Carolyn Declerck của đại học Antwerp, Bỉ, cho thấy những người dùng một liều oxytocin thực ra trở nên ít tương tác hơn khi đối diện với những người hoàn toàn xa lạ Trong khi đó, Carsten De Dreu ở trường đại học Amsterdam ở Hà Lan khám phá ra rằng những những người tình nguyện

viên được nhận oxytocin cho thấy sự thiên vị: Những người đàn ông Hà Lan trở nên

phản ứng nhanh hơn với những tên Hà Lan hơn là các tên nước ngoài khác, ví dụ là vậy Theo De Dreu, oxytocin làm cho mọi người quan tâm tới những người trong mạng lưới xã hội của họ và bảo vệ họ khỏi những mối nguy hại bên ngoài Vì thế, có vẻ như

oxytocin làm tăng những thành kiến, hơn là thúc đẩy thiện chí chung như là được nghĩ

đến trước đó

There were signs of these subtleties from the start Bartz has recently shown that in almost half of the existing research results, oxytocin influenced only certain individuals

or in certain circumstances Where once researchers took no notice of such findings,

now a more nuanced understanding of oxytocin’s effects is propelling investigations

down new lines To Bartz, the key to understanding what the hormone does lies in

pinpointing its core function rather than in cataloguing its seemingly endless effects There are several hypotheses which are not mutually exclusive Oxytocin could help to

reduce anxiety and fear Or it could simply motivate people to seek out social connections She believes that oxytocin acts as a chemical spotlight that shines on social clues - a shift in posture, a flicker of the eyes, a dip in the voice - making people more attuned to their social environment This would explain why it makes us more likely to look others in the eye and improves our ability to identify emotions But it could also make things worse for people who are overly sensitive or prone to interpreting social cues in the worst light

Trang 30

Có những dấu hiệu của sự không rõ ràng ngay từ khi bắt đầu Bartz gần đây chỉ ra rằng trong hầu hết một nửa các kết quả nghiên cứu đã có sẵn thì oxytocin chỉ ảnh hưởng đến một số cá nhân hoặc hoàn cảnh nhất định Trước đây có thời kỳ các nhà nghiên cứu

không chú ý gì đến các nghiên cứu như vậy thì nay nhiều hiểu biết rõ ràng hơn về tác dụng của oxytocin đang được thúc đẩy nghiên cứu theo các con đường mới Với Bartz,

mấu chốt để hiểu hormone là gì nằm ở việc xác định chức năng chính của nó hơn là hệ

thống các tác động dường như vô tận của nó Có một vài giả thuyết không loại trừ lẫn

nhau Oxytocin có thể giúp làm giảm sự lo lắng và sợ hãi, hoặc đơn giả chỉ thúc đẩy con người tìm ra những mối quan hệ xã hội Bà tin rằng oxytocin đóng vai trò như một chiếc đèn hóa học soi sáng những tư tưởng xã hội – một sự dịch chuyển tư thế, một ánh mắt lấp lánh, một sự xuống giọng – làm cho con người hòa hợp hơn với môi trường xã hội của họ Điều này có thể giải thích tạo sao nó làm cho chúng ta có thể hiểu ai đó hơn và cải thiện khả năng của chúng ta trong việc xác định cảm xúc Nhưng nó cũng làm cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn với những ai mà quá nhạy cảm hay thiên về liên kết với xã hội với tư duy tiêu cực

Perhaps we should not be surprised that the oxytocin story has become more

perplexing The hormone is found in everything from octopuses to sheep, and its

evolutionary roots stretch back half a billion years ‘It’s a very simple and ancient molecule that has been co-opted for many different functions,’ says Sue Carter at the University of Illinois, Chicago, USA ‘It affects primitive parts of the brain like the amygdala, so it’s going to have many effects on just about everything.’ Bartz agrees

‘Oxytocin probably does some very basic things, but once you add our higher-order thinking and social situations, these basic processes could manifest in different ways

depending on individual differences and context.’

Có thể chúng ta không bị ngạc nhiên rằng câu chuyện về oxytocin trở nên khó hiểu

hơn Hormone được tìm thấy ở trong tất cả mọi thứ từ con bạch tuộc đến con cừu, và gốc rễ sự tiến hóa của nó kéo lùi trở về trước nửa tỷ năm Sue Carter ở trường đại học

Trang 31

Illinois, Chicago, Mỹ nói: “Nó là một phân tử rất đơn giản và cổ xưa được đồng chọn cho nhiều chức năng khác nhau” Bartz cũng đồng ý rằng: “Nó ảnh hưởng đến các phần nguyên thủy của não như hạch hạnh nhân, vì thế nó sẽ có nhiều tác động lên hầu hết tất cả mọi thứ Oxytocin có thể làm được những thứ rất cơ bản, nhưng một khi bạn

thêm vào nó tư duy bậc cao và các tình huống xã hội, những quá trình cơ bản này có

thể biểu thị nhiều cách khác nhau dựa vào sự khác biệt về con người và hoàn cảnh”

Trang 32

TEST 2 – Passage 3 MAKING THE MOST OF TRENDS

Experts from Harvard Business School give advice to managers

Most managers can identify the major trends of the day But in the course of conducting

research in a number of industries and working directly with companies, we have discovered that managers often fail to recognize the less obvious but profound ways

these trends are influencing consumers' aspirations, attitudes, and behaviors This is especially true of trends that managers view as peripheral to their core markets

Hầu hết các nhà quản lý đều có thể xác định được những xu hướng chính ngày nay

Nhưng trong quá trình thực hiện nghiên cứu về số lượng ngành công nghiệp và làm

việc trực tiếp với công ty, chúng tôi khám phá ra rằng các nhà quản lý không nhận ra

những cách mà các xu thế này ảnh hưởng đến nguyện vọng, thái độ và hành vi của

khách hàng, tuy không rõ nét nhưng lại cực kỳ sâu sắc Điều này đặc biệt đúng với các

xu thế mà các nhà quản lý xem như là ngoại vi đối với các thị trường chính

Many ignore trends in their innovation strategies or adopt a wait-and-see approach and

let competitors take the lead At a minimum, such responses mean missed profit opportunities At the extreme, they can jeopardize a company by ceding to rivals the opportunity to transform the industry The purpose of this article is twofold: to spur managers to think more expansively about how trends could engender new value

propositions in their core markets, and to provide some high-level advice on how' to

make market research and product development personnel more adept at analyzing and exploiting trends

Nhiều người bỏ qua các xu hướng trong chiến lược đổi mới của mình hay chấp nhận

cách tiếp cận chờ đợi và để cho đối thủ dẫn trước Ít nhất thì những phản ứng này có nghĩa là bỏ lỡ cơ hội lợi nhuận Tệ nhất là họ có thể gây thiệt hại cho công ty bằng việc

Trang 33

nhượng cho đối thủ cơ hội để chuyển dổi ngành công nghiệp Có hai mục đich của bài viết này Thứ nhất là để kích thích các nhà quản lý suy nghĩ rộng hơn về việc các xu

thế có thể đưa ra các vấn đề mới có giá trị trong thị trường của họ, và thứ hai là để cung cấp một số lời khuyên thiết thực về cách thực hiện nghiên cứu thị trường và cách

làm cho nhân viên phát triển sản phẩm thành thạo việc phân tích và khai thác các xu

hướng

One strategy, known as ‘infuse and augment', is to design a product or service that

retains most of the attributes and functions of existing products in the category but adds

others that address the needs and desires unleashed by a major trend A case in point is

the Poppy range of handbags, which the firm Coach created in response to the economic

downturn of 2008 The Coach brand had been a symbol of opulence and luxury for

nearly 70 years, and the most obvious reaction to the downturn would have been to lower prices However, that would have risked cheapening the brand's image Instead,

they initiated a consumer-research project which revealed that customers were eager to

lift themselves and the country out of tough times Using these insights, Coach launched the lower-priced Poppy handbags, which were in vibrant colors, and looked more

youthful and playful than conventional Coach products Creating the sub-brand allowed Coach to avert an across-the-board price cut In contrast to the many

companies that responded to the recession by cutting prices, Coach saw the new

consumer mindset as an opportunity for innovation and renewal

Một chiến lược được gọi là “truyền tải và tăng cường” với mục đích để thiết kế một

sản phẩm hoặc dịch vụ giữ lại hầu hết các thuộc tính và chức năng của những sản phẩm hiện có sẵn trong danh mục nhưng bổ sung những cái khác giải quyết nhu cầu và mong

muốn gây ra bởi một xu hướng chính Một trường hợp điển hình là dòng túi xác Poppy

mà hãng Coach tạo ra để đối phó với suy thoái kinh tế vào năm 2008 Thương hiệu

Coach là một biểu tượng của sự sang trọng và xa xỉ trong khoảng 70 năm, và động thái

rõ nhất đối với suy thoái là giảm giá bán Tuy nhiên, điều đó có thể sẽ giảm giá trị của

Trang 34

thương hiệu Thay vào đó, họ khởi xướng một dự án nghiên cứu để cho khách hàng

thấy rằng chính khách hàng muốn thay đổi bản thân và đất nước thoái khỏi khó khăn

Sử dụng những hiểu biết này, Coach khởi đầu dòng túi xách Poppy giá rẻ hơn, với màu

sắc rực rỡ, trẻ trung và năng động hơn dòng sản phẩm truyền thống Việc tạo ra thương hiệu phụ giúp Coach tránh được việc cắt giảm giá một cách toàn diện Trái ngược với

các công ty khác mà phản ứng với việc suy thoái bằng cách cắt giảm giá, Coach nhận

định tư duy mới của người tiêu dùng như một cơ hội của sự khôi phục và đổi mới

A further example of this strategy was supermarket Tesco's response to consumers' growing concerns about the environment With that in mind, Tesco, one of the world's top five retailers, introduced its Greener Living program, which demonstrates the company’s commitment to protecting the environment by involving consumers in ways

that produce tangible results For example, Tesco customers can accumulate points for

such activities as reusing bags, recycling cans and printer cartridges, and buying insulation materials Like points earned on regular purchases, these green points can be

home-redeemed for cash Tesco has not abandoned its traditional retail offerings but augmented its business with these innovations, thereby infusing its value proposition

with a green streak

Một ví dụ khác cho chiến lược này là phản ứng của siêu thị Tesco để nâng cao sự quan tâm của khách hàng đến môi trường Với suy nghĩ đó, một trong năm siêu thị bán lẻ đứng đầu thế giới – Tesco đã giới thiệu chương trình Greener Living, thể hiện cam kết của công ty để bảo vệ môi trường bằng cách thu hút khách hàng theo cách tạo ra kết

quả hữu hình Ví dụ, người tiêu dùng của Tesco có thể tích lũy điểm cho các hành

động như tái sử dụng túi, tái chế đồ đóng hộp và hộp mực máy in, và mua vật liệu cách nhiệt tại nhà Giống như các điểm tích lũy được khi mua hàng thông thường, các điểm

xanh này cũng có thể quy đổi thành tiền mặt Tesco không bỏ các dịch vụ bán lẻ truyền thống mà tăng cường kinh doanh với những đổi mới này, từ đó truyền đạt đề xuất có

giá trị với một vệt màu xanh

Trang 35

A more radical strategy is 'combine and transcend' This entails combining aspects of

the product’s existing value proposition with attributes addressing changes arising from

a trend, to create a novel experience - one that may land the company in an entirely new market space

Một chiến lược cấp tiến hơn là “kết hợp và vượt qua” Điều này đòi hỏi kết hợp các

khía cạnh của các đề xuất có giá trị của các sản phẩm có sẵn với những đặc tính giải quyết các thay đổi phát sinh từ một xu hướng, để tạo ra một trải nghiệm mới lạ - cái mà

có thể đưa công ty vào một không gian thị trường hoàn toàn mới

At first glance, spending resources to incorporate elements of a seemingly irrelevant

trend into one’s core offerings sounds like it's hardly worthwhile But consider Nike's move to integrate the digital revolution into its reputation for high-performance athletic footwear In 2006, they teamed up with technology company Apple to launch Nike+, a digital sports kit comprising a sensor that attaches to the running shoe and a wireless receiver that connects to the user's iPod By combining Nike’s original value proposition for amateur athletes with one for digital consumers, the Nike sports kit and web interface moved the company from a focus on athletic apparel to a new plane of engagement with its customers

Thoạt nhìn, nguồn lực tài chính để kết hợp các yếu tố của một xu thế có vẻ không liên

quan tới các dịch vụ cốt lõi dường như không đáng giá chút nào Nhưng hãy xem xét động thái của Nike khi sáp nhập cuộc cách mạng công nghệ số với danh tiếng của nó cho giày thể thao hiệu suất cao Vào năm 2006, họ hợp tác với công ty công nghệ Apple

để tạo ra Nike+, bộ dụng cụ thể thao kỹ thuật số bao gồm cảm biến gắn với giày chạy

và bộ thu không dậy kết nối với Ipod của người dùng Bằng việc kết hợp đề xuất giá trị ban đầu cho các vận động viên nghiệp dư với một người sử dụng kỹ thuật số, bộ cung

cụ thể thao và giao diện web của Nike chuyển hướng tập trung của công ty vào trang phục thể thao sang một kế hoạch mới kết hợp với khách hàng của mình

Trang 36

A third approach, known as 'counteract and reaffirm', involves developing products

or services that stress the values traditionally associated with the category in ways that allow consumers to oppose or at least temporarily escape from the aspects of trends they view as undesirable

Các tiếp cận thứ ba được biết đến là “chống lại và tái khẳng định”, bao gồm phát

triển sản phẩm hoặc dịch vụ tập trung vào giá trị truyền thống liên quan kết hợp với những phạm trù cho phép người tiêu dùng phản đối hoặc ít nhất là tạm thời thoát khỏi các khía cạnh của xu hướng mà họ không mong muốn

A product that accomplished this is the ME2, a video game created by Canada's iToys

By reaffirming the toy category's association with physical play, the ME2 counteracted some of the widely perceived negative impacts of digital gaming devices Like other

handheld games, the device featured a host of exciting interactive games, a lull-color

LCD screen, and advanced 3D graphics What set it apart was that it incorporated the traditional physical component of children's play: it contained a pedometer, which tracked and awarded points for physical activity (walking, running, biking, skateboarding, climbing stairs) The child could use the points to enhance various

virtual skills needed for the video game The ME2, introduced in mid-2008, catered to

kids' huge desire to play video games while countering the negatives, such as associations with lack of exercise and obesity

Một sản phẩm đã hoàn thành là ME2, một trò chơi điện tử được tạo nên bởi hãng đồ

chơi Itoys Canada Bằng việc tái khẳng định sự kết hợp của các loại đồ chơi với lối chơi thể chất, ME2 chống lại một số ảnh hưởng tiêu cực được biết đến rộng rãi của các

thiết bị game kỹ thuật số Giống như những trò chơi cầm tay khác, thiết bị này có một

loạt các trò chơi tương tác thú vị, màn hình LCD nhạt màu và đồ họa 3D tiên tiến Cái làm cho nó khác biệt là nó kết hợp với các thành phần vật lý truyền thống của trò chơi trẻ em: nó chứa một thiết bị đo bước đi dùng để theo dõi và tặng điểm thưởng cho mỗi hoạt động vật lý (đi bộ, chạy, đạp xe, trượt ván hay leo cầu thang bộ) Trẻ em có thể sử

Trang 37

dụng những điểm này để nâng cao các kỹ năng ảo cần thiết khác cho trò chơi điện tử

Được ra mắt vào giữa năm 2008, ME2 thỏa mãn mong muốn lớn lao chơi điện tử của

trẻ trong khi chống lại được những mặc tiêu cực, ví dụ như có liên quan đến việc thiếu vận động hay bệnh béo phì

Once you have gained perspective on how trend-related changes in consumer opinions and behaviors impact on your category, you can determine which of our three innovation strategies to pursue When your category's basic value proposition continues

to the meaningful for consumers influenced by the trend, the infuse-and-augment

strategy will allow you to reinvigorate the category If analysis reveals an increasing

disparity between your category and consumers' new focus, your innovations need to transcend the category to integrate the two worlds Finally, if aspects of the category

clash with undesired outcomes of a trend, such as associations with unhealthy lifestyles,

there is an opportunity to counteract those changes by reaffirming the core values of your category

Một khi đã nhận thấy được quan điểm về những thay đổi liên quan đến xu hướng trong cách suy nghĩ và hành động của người tiêu dùng tác động đến các danh mục của bạn như thế nào, bạn có thể xác định một trong ba chiến lược đổi mới của chúng tôi để theo đuổi Khi đề xuất giá trị cơ bản của danh mục của bạn tiếp tục có ý nghĩa đối với người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi xu hướng thì chiến lược truyền tải và tăng cường sẽ cho

phép bạn tái tạo danh mục Nếu phân tích chỉ ra một khoảng cách tăng lên giữa danh

mục của bạn và hướng tập trung mới của khách hàng thì đổi mới của các bạn cần vượt qua danh mục đó để tích hợp hai thế giới lại Và cuối cùng, nếu các khía cạnh của danh

mục mâu thuẫn với kết quả không mong muốn của một xu hướng, ví dụ như liên quan

đến lối sống không lành mạnh chẳng hạn, thì sẽ có một cơ hội để chống lại những thay đổi đó bằng cách xác nhận lại các giá trị cốt lõi của danh mục của bạn

Ngày đăng: 09/09/2018, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w