Sự ra đời của thị trường chứng khoán là nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường khi nền kinh tế thị trường phát triển đến một giai đoạn nhất định .Hơn nữa sự ra đời của thị trường chứng khoán còn biểu hiện xu hướng quốc tế hoá trong hoạt động kinh tế cũng như trong sự hội nhập tất yếu của thị trường tài chính trong phạm vi khu vực cũng như trong phạm vi toàn cầu. Hàng hoá lưu thông trên thị trường chứng khoán là cổ phiếu và trái phiếu do các công ty cổ phần phát hành. Công ty cổ phần là loại hình công ty đặc thù mà một trong những điểm khác biệt nổi bật của công ty cổ phần là công ty phải công khai thông tin về tình hình tài chính , tình hình hoạt động của công ty theo đúng quy định của pháp luât về thị trường chứng khoán qua đó các cổ đông có thể nắm bắt được tình hình đầu tư của mình cũng như có các quyết định đầu tư. Mặt khác bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo tài chính quan trọng trình bày và cung cấp thông tin về thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng khác nhau đặc biệt đối với loại hình công ty cổ phần là các nhà đầu tư trong hiện tại và tiềm tàng. Tuy nhiên, theo em nhận thấy bảng cân đối kế toán mà các công ty cổ phần tại Việt Nam áp dụng vẫn còn một số hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của các đối tượng quan tâm. Do đó em mạnh dạn chọn đề tài “Bàn về chế độ lập bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần theo yêu cầu của thị trường chứng khoán”. Kết cấu đề tài gồm hai chương : Chương 1 : Tổng quan về bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần theo quy định của chế độ kế toán hiện hành . Chương 2 : Một số kiến nghị hoàn thiện bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần .
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sự ra đời của thị trường chứng khoán là nhu cầu khách quan của nềnkinh tế thị trường khi nền kinh tế thị trường phát triển đến một giai đoạn nhấtđịnh Hơn nữa sự ra đời của thị trường chứng khoán còn biểu hiện xu hướngquốc tế hoá trong hoạt động kinh tế cũng như trong sự hội nhập tất yếu của thịtrường tài chính trong phạm vi khu vực cũng như trong phạm vi toàn cầu Hàng hoá lưu thông trên thị trường chứng khoán là cổ phiếu và tráiphiếu do các công ty cổ phần phát hành Công ty cổ phần là loại hình công tyđặc thù mà một trong những điểm khác biệt nổi bật của công ty cổ phần làcông ty phải công khai thông tin về tình hình tài chính , tình hình hoạt độngcủa công ty theo đúng quy định của pháp luât về thị trường chứng khoán qua
đó các cổ đông có thể nắm bắt được tình hình đầu tư của mình cũng như cócác quyết định đầu tư
Mặt khác bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo tài chính quantrọng trình bày và cung cấp thông tin về thực trạng tài chính của doanh nghiệpcho các đối tượng khác nhau đặc biệt đối với loại hình công ty cổ phần là cácnhà đầu tư trong hiện tại và tiềm tàng Tuy nhiên, theo em nhận thấy bảng cânđối kế toán mà các công ty cổ phần tại Việt Nam áp dụng vẫn còn một số hạnchế chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của các đối tượng quan tâm Do đó
em mạnh dạn chọn đề tài “Bàn về chế độ lập bảng cân đối kế toán của công ty
cổ phần theo yêu cầu của thị trường chứng khoán”
Kết cấu đề tài gồm hai chương :
Chương 1 : Tổng quan về bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần theoquy định của chế độ kế toán hiện hành
Chương 2 : Một số kiến nghị hoàn thiện bảng cân đối kế toán của công
ty cổ phần
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA CHẾ
ĐỘ HIỆN HÀNH
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỂ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ BẢNG CÂNĐỐI KẾ TOÁN
1 Công ty cổ phần
1.1 Khái niệm công ty cổ phần
Công ty cổ phần ra đời vào thế kỉ thứ 17 ở Châu Âu Đây là thời kì màcác thương gia bắt đầu chuyển hướng và mở rộng kinh doanh sang các thịtrường mới, các lãnh địa mới được phát hiện Việc khám phá các thị trường mới
ở Châu lục và các vùng đất mới đòi hỏi khối lượng vốn lớn vượt xa khả năng tàichính của một cá nhân hay một thương gia Điều này đã thúc đẩy sự ra đời củamột loạt các công ty được góp vốn bởi nhiều nhà đầu tư với mức vốn và hìnhthức góp vốn khác nhau
Một điểm mốc quan trọng cho lịch sử hình thành công ty cổ phần là cuộccách mạng công nghiệp vào đầu thế kỉ XIX và sự phát triển của hệ thống giaothông đường sắt Chính điều này đã tạo ra sự thúc đẩy cho sự hình thành cáccông ty bởi trong xu thế này một thương vụ hay một khoản đầu tư đều đòi hỏimột số lượng vốn lớn.Hơn nữa, mô hình công ty này đã chính thức có được sựthừa nhận của pháp luật và xã hội của từng nước Bên cạnh đó, một vấn đề quantrọng về mặt pháp lí trong quá trình hình thành công ty cổ phần được luật phápghi nhận đó là: trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư Trách nhiệm của cácnhà đầu tư được giới hạn trong phạm vi số vốn góp vào công ty Do đó mô hìnhcông ty cổ phần hoàn chỉnh đã xuất hiện từ chính yếu tố pháp lí này
Trang 3Kể từ khi công ty cổ phần đầu tiên được thành lập cách đây hơn 400 năm,loại hình công ty này đang ngày càng phát triển và chứng tỏ được những ưu thếcủa nó so với các hình thức doanh nghiệp khác.
Vậy, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng gópvốn cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chiụtrách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trongphạm vi vốn góp của mình
Theo điều 77 Luật doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần là doanh nghiệptrong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông có thể là tổ chức cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 vàkhông hạn chế tối đa cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ và nghĩa vụ tàisản khác của doanh nghiệp trong phạm vị số vốn đã góp vào trong doanhnghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho ngườikhác trừ trường hợp pháp luật có qui định khác
1.2 Những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần
Công ty cổ phần có những đặc điểm sau đây:
- Là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, tồn tại độclập với chủ
sở hữu của nó Công ty cổ phần thành lập theo pháp luật, được nhà nước ơhêduyệt điều lệ hoạt động, có con dấu riêng, có quyền ký kết các hợp đồng kinh tếvới các tổ chức cá nhân khác trong ngoài nước, chịu trách nhiện trước pháp luật
về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
- Trong nền kinh tế thị trường, công ty cổ phần được tự ấn định mục tiên
và xác định các phương tiện sử dụng để thực hiện các mục tiêu đó, tự xác định
Trang 4tính chất sản phẩm công ty sảnt xuất ra, lựa chọn nhà cung cấp nguyên vật liệu
và klhách hàng, tự thương lượng về giá cả mà công ty sẽ trả hoặc nhận, tự tìmkiếm vốn mà công ty tự huy động, các công ty này được tự do phát triển mọihoạt động sản xuất kinh doanh theo ơháp luật quy đinh, đa dạng hoá hay thayđổi thậm chí đình chỉ hoạt động theo ý của công ty mà không phải tham khảobất cứ một thẩm quyền nào
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 vàkhông hạn chế số lượng tối đa cổ đông của công ty cổ phần chỉ chịu tráchnhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác ccủa doanh nghiệp trong phạm vi sốvốn đã góp vàp doanh nghiệp cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phầncho người khác theo quy định của pháp luật cổ đông có quyền biểu quyết cácvấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đông cổ đông, mỗi cổ phần phổ thông cómột phiếu biểu quyết, cổ đông được nhận cổ tức với mức theo quy định của đạihội đồng cổ đông và được ưu tiên mua cổ phần mới, chào bán tương ứng với tỷ
lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty
- Về vốn (tài sản) trong các công ty cổ phần được hình thành từ nhiềunguồn vốn khác nhau mang đặc điểm riêng biệt, bao gồm:
+ Vốn điều lệ: vốn điều lệ trong các công ty cổ phần được chia thànhnhiều phần bằng nhau gọi là cổ phiếu cổ đông dùng tiền hoặc tài sản của mình
để góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu vốn góp cổ phần khôngphải là một khản nợ của công ty Công ty được toàn quyềh sử dụng vốn góp này.vốn góp cổ phần của các cổ đông là căn cứ để công ty chia lợi nhuận cho mỗi cổđông
Để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty, các cổ đông của công ty cổphần có trách nhiệm góp vốn vào công ty nhưng không được quyền rút vốn khỏicông ty trong thời gian công ty đang hoạt động tuy nhiên các cổ đông có quyềnbán lại cổ phần của mình cho người khác mọi hoạt động chuyển nhượng cổ
Trang 5phần này diễn ra với tư cách là các giao dịch cá nhân nên không ảnh hưởng đếnvốn điều lệ và hoạt động của công ty trong phạm vi luật định.
+ Vốn tự có: đây là phần vốn góp của công ty tự tạo ra Trong quá trìnhsản xuất kinh doanh dưới hình thức lợi nhuận không chia hết cho các cổ đônggiữ lại trong công ty
+ Vốn vay: là số vốn của các đơn vị khác của công ty được quyền sử dụngtrong thời gian nhất định sau đó trả lại cho chủ nợ công ty không có quyền màchỉ có quyền sử dụng và phải trả cho quyền sử dụng đó một khoản lơịu nhuậngọi là lợi tức khoản vốn vay này bao gồm:
Vốn vay trung và dài hạn: đây là số vốn công ty vay trên 1 năm mới phảitrả được thực hiện bằng hai hình thức chính một mặt, công ty có thể phát hànhtrái phiếu trên thị trường vốn, mọi cá nhân đơn vị có thể mua Nghía là cho vaytrung hạn hoặc dàn hạn (như là các doanh nghiệp khác, ngân hàng, cá nhân) mặtkhác công ty có thể vay trực tiếp ngân hàng hoặc các tổ chức tín thông qua cáchợp đồng vay dài hạn
Nợ ngắn hạn: vốn vay công ty phái trả trong thời gian 1 năm, có thể công
ty nợ các nhà cung cấp (mua chịu), tín dụng, ngân hàng, hoặc là nợ nhà nướccác khoản phải nộp (chịu thuế chưa nộp)
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác trong phạm vi số vốn đã định Trong trường hợp công ty không đủ tìa sản
để thanh toán các khoản nợ cho khách hàng thì cổ đông không chịu trách nhiệm
về các khoản nợ này
- Chức năng kinh tế của công ty cổ phần:
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng kinh tế của các ccông ty cổ phần là sảnxuất sản phẩm hàng hoá, dịch vụ để bán trên thị trường bằng cách sử dụng cácphương tiện vật chất, tài chính nhân sự để nhằm mục đích thu lợi nhuận
Trang 6- Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan thẩm quyền quyết định cao nhấtcủa công ty mà đại biểu bao gồm tất cả các cổ đông
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty được đại hội cổ đôngbầu ra nhằm thực hiện nhiệm vụ chủ yếu đại hội cổ đông biểu quyết
Chủ tịch hội đồng quản trị
Ban giám đốc: hội đồng quản trị bổ nhiệm giám đốc và các phógiám đốc để điều hành công việc hàng ngày và tuân thủ chỉ thị và ý chícủa cổ đông và hội đồng quản trị
Ban kiểm soát ( nếu công ty cổ phần có từ 12 cổ đông trở lên )
1.3 Những lợi thế và hạn chế của công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình thức công ty được ưa chuộng trên thế giới Sovới các loại hình công ty khác như công ty TNHH, công ty hợp danh, công ty tưnhân, thì hình thức công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn
Những lợi thế cơ bản của loại hình công ty cổ phần bao gồm:
- Giống như các thành viên góp vốn của công ty TNHH, các cổ dông củacông ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty Ưuđiểm này làm cho các nhà đầu tư khi lựa chọn đầu tư và công ty cổ phần vớiTNHH như vậy sẽ ít rủi ro hơn là đầu tư vào công ty TNHH
- Công ty cổ phần dễ huy động vốn trong công chúng bằng cách phát hành
cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường Đây là hình thức huy động vốn mà cáccông ty TNHH và công ty hợp danh không được nhà nước cho phép Nhờ ưuđiểm này, các công ty cổ phần ít bị hạn chế về vốn kinh doanh, do vậy công ty
Trang 7có thể thực hiện được các dự án kinh doanh đòi hỏi nhiều vốn đầu tư Chính ưuđiểm này giúp các công ty cổ phần nhanh chóng hoàn tất các thủ tục tham giavào sàn chứng khoán làm cho thị trường thu hút được nhiều sự quan tâm củacông chúng.
- Cổ phiếu trong các công ty cổ phần đặc biệt là các công ty lớn có tỷ suấtlợi nhuận cao có thể dễ dàng chuyển nhượng quyền sở hữu qua việc mua bán cổphiếu trên thị trường mà không cần thay đổi tổ chức công ty Cổ phiếu của cáccông ty có niêm yết trên thị trường chứng khoán thường có thể dễ dàng chuyểnđổi thành tiền.Sự dễ dàng chuyển đổi chủ sở hữu của các cổ phần này cho phépcácc công ty cổ phần tồn tại và phát triển lâu dài
- Một đặc điểm nổi bật của công ty cổ phần là sự tách biệt giữa chủ sởhữu và những người điều hành công ty Do vậy họ thường phải lựac chọn nhữngngười có năng lực và kinh nghiệm thay mình quản lý sản xuất kinh doanh
- Đảm bảo sự minh bạch và công khai trong tình hình tài chính của công
ty do thường được kiểm toán theo yêu cầu của luật pháp cũng như theo yêu cầucủa các cổ đông, các nhà đầu tư và các đối tác khác
Hạn chế
Chi phí thành lập và tổ chứ hoạt động, chi phí điều hành công ty lớn
Quá trình thành lập phải qua các thủ tục pháp lý phức tạp hơn với công tyđối nhân
Việc huy động vốn trong công chúng phải tốn nhiều chi phí, thủ tục pháp
lý phức tạp
Khả năng bảo mật thông tin trong kinh doanh không cao do phải côngkhai báo cáo tài chính cho các cổ đông và nhà đầu tư
Trang 8 Số lượng cổ đông (thành viên) lớn, lại không biết lần nhaunên dễ dẫn đếnphân nhóm theo quyền lực, mâu thuẩn với nhau.
Những người trực tiếp điều hành không nhất thiết là chủ sở hữu công tynên có thể không tập trung trong công việc, ảnh hưởng đến kết quả hoạt độngchung của công ty
1.4 Yêu cầu thông tin đối với các công ty cổ phần
Trong quá tr ình sản xuất kinh doanh của bất kỳ một loại hình doanhnghiệp nào, vốn luôn là một yếu tố đầu vào then chốt.Tuy nhiên thực tế chothấy rằng thị trường vốn tuy hoạt động sôi động nhưng chưa thực sự đáp ứngđược nhu cầu vốn ngày càng cao của các doanh nghiệp.Một trong những kênhhuy động được một lượng vốn lớn đó chính là thị trường chứngkhoán.Tuy nhiên để có được lượng vốn này đoì hỏi c ác công ty cổ phầnphải tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư Khi thị trường chứng khoánphát triển thì các công ty phải thực sự xây dựng được niềm tin vững chắccủa công chúng và thông tin ra bê n ngoài ph ải thực sự chính xác và cậpnhật và đầy đủ trên các báo cáo tài chính mà trước tiên là Bảng cân đối kếtoán
Hệ thống chỉ tiêu thông tin kế toán phân tích tình hình tài chính của công
ty cổ phần theo yêu cầu của thị trường chứng khoán tính toán qua Bảng cân đối
kế toán
- Các chỉ tiêu phản ánh quy mô tài sản và nguồn vốn của công ty
- Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty
- Các chỉ tiêu phản ánh tình hình và khả năng thanh toán của công ty
- Các chỉ tiêu phản ánh tình hinh đầu tư của công ty
- Các chỉ tiêu phản ánh tình hình cung cấp vốn cho sản xuất kinh doanh
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản và nguồn vốn của côngty
Trang 9- Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro về tài chính.
2 Một số vấn đề chung về bảng cân đối kế toán
2.1 Khái niệm
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo kế toán tài chính chủ yếu nhằm phảnánh khái quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồnhình thành tài sản tại một thời điểm nhất định Như vậy bảng cân đối kế toánphản ánh mối quan hệ cân đối tổng thể về tài sản và nguồn vốn của doanhnghiệp thể hiện ở đẳng thức:
Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữuBảng cân đối kế toán phản ánh giá trị tài sản và nguồn vốn tại một thờiđiểm thờng là ngày cuối cùng của kỳ hạch toán
2.2 Nguyên tắc lập bảng cân đối kế toán
Theo quy định tại Chuẩn mực số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính” từđoạn 15 đến đoạn 32, khi lập và trình bày Bảng cân đối kế toán phải tuân thủ cácnguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính, nhưng không được ápdụng “Nguyên tắc bù trừ”
- Nguyên tắc hoạt động liên tục
Khi lập và trình bày bảng cân đối kế toán, Giám đốc (hoặc ngườiđứng đầu) doanh nghiệp cần phải đánh giá về khả năng hoạt động liên tục củadoanh nghiệp bảng cân đối kế toán phải được lập trên cơ sở giả định là doanhnghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thườngtrong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý định cũng như buộc phải ngừnghoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động của mình Khi đánh giá,nếu Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp biết được có những điềukhông chắc chắn liên quan đến các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra sựnghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp thì những điều
Trang 10không chắc chắn đó cần được nêu rõ Nếu bảng cân đối kế toán không được lậptrên cơ sở hoạt động liên tục, thì sự kiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sởdùng để bảng cân đối kế toán và lý do khiến cho doanh nghiệp không được coi
là đang hoạt động liên tục
Để đánh giá khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, Giám đốc (hoặcngười đứng đầu) doanh nghiệp cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dựđoán được tối thiểu trong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán
b) Một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việctrình bày
Doanh nghiệp có thể trình bày bảng cân đối kế toán theo một cách kháckhi mua sắm hoặc thanh lý lớn các tài sản, hoặc khi xem xét lại cách trình bảng
Trang 11cân đối kế toán Việc thay đổi cách bảng cân đối kế toán chỉ được thực hiện khicấu trúc trình bày mới sẽ được duy trì lâu dài trong tương lai hoặc nếu lợi íchcủa cách trình bày mới được xác định rõ ràng Khi có thay đổi, thì doanh nghiệpphải phân loại lại các thông tin mang tính so sánh cho phù hợp với các quy địnhcủa đoạn 30 và phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phầnthuyết minh báo cáo tài chính
- Nguyên tắc trọng yếu và tập hợp
Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong bảng cânđối kế toán Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ
mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng
Khi trình bảng cân đối kế toán, một thông tin được coi là trọng yếu nếukhông trình bày hoặc trình bày thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sailệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người
sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chấtcủa các khoản mục được đánh giá trong các tình huống cụ thể nếu các khoảnmục này không được trình bày riêng biệt Để xác định một khoản mục hay mộttập hợp các khoản mục là trọng yếu phải đánh giá tính chất và quy mô củachúng Tuỳ theo các tình huống cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoảnmục có thể là nhân tố quyết định tính trọng yếu Ví dụ, các tài sản riêng lẻ cócùng tính chất và chức năng được tập hợp vào một khoản mục, kể cả khi giá trịcủa khoản mục là rất lớn Tuy nhiên, các khoản mục quan trọng có tính chấthoặc chức năng khác nhau phải được trình bày một cách riêng rẽ
Nếu một khoản mục không mang tính trọng yếu, thì nó được tập hợp vớicác khoản đầu mục khác có cùng tính chất hoặc chức năng trong báo cáo tàichính hoặc trình bày trong phần thuyết minh báo cáo tài chính Tuy nhiên, cónhững khoản mục không được coi là trọng yếu để có thể được trình bày riêngbiệt trên báo cáo tài chính, nhưng lại được coi là trọng yếu để phải trình bàyriêng biệt trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 12Theo nguyên tắc trọng yếu, doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủcác quy định về trình bày báo cáo tài chính của các chuẩn mực kế toán cụ thểnếu các thông tin đó không có tính trọng yếu.
- Nguyên tắc có thể so sánh
Các thông tin bằng số liệu trong bảng cân đối kế toán nhằm để so sánhgiữa các kỳ kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệutrong bảng cân đối kế toán của kỳ trước Các thông tin so sánh cần phải bao gồm
cả các thông tin diễn giải bằng lời nếu điều này là cần thiết giúp cho nhữngngười sử dụng hiểu rõ được bảng cân đối kế toán của kỳ hiện tại
Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trongbảng cân đối kế toán, thì phải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc nàykhông thể thực hiện được) nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại, vàphải trình bày tính chất, số liệu và lý do việc phân loại lại Nếu không thể thựchiện được việc phân loại lại các số liệu tương ứng mang tính so sánh thì doanhnghiệp cần phải nêu rõ lý do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loạilại các số liệu được thực hiện
Trường hợp không thể phân loại lại các thông tin mang tính so sánh để sosánh với kỳ hiện tại, như trường hợp mà cách thức thu thập các số liệu trongcác kỳ trước đây không cho phép thực hiện việc phân loại lại để tạo ra nhữngthông tin so sánh, thì doanh nghiệp cần phải trình bày tính chất của các điềuchỉnh lẽ ra cần phải thực hiện đối với các thông
tin số liệu mang tính so sánh
2.3 Nội dung và kết cấu bảng cân đối kế toán
Nội dung và kết cấu bảng cân đối kế toán phụ thuộc vào quy định củapháp luật Cụ thể là :
Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tưnhân có quy mô lớn ,doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), công ty TNHH nhà nước
1 thành viên, công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, áp dụng
Trang 13Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTCngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Chế độ kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa” ban hành theo áp dụng cho tất
cả các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phầnkinh tế trong cả nước, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty
cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã
Tuy nhiên nội dung Bảng cân đối kế toán phải bao gồm các khoản mục chủ yếusau đây :
1 Tiền và các khoản tương đương tiền;
2 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn;
3 Các khoản phải thu thương mại và phải thu khác;
4 Hàng tồn kho;
5 Tài sản ngắn hạn khác;
6 Tài sản cố định hữu hình;
7 Tài sản cố định vô hình;
8 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn;
9 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang;
10 Tài sản dài hạn khác;
11 Vay ngắn hạn;
12 Các khoản phải trả thương mại và phải trả ngắn hạn
khác;
13 Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước;
14 Các khoản vay dài hạn và nợ phải trả dài hạn khác;
15 Các khoản dự phòng;
16 Phần sở hữu của cổ đông thiểu số;
17 Vốn góp;
18 Các khoản dự trữ;
19 Lợi nhuận chưa phân phối
II CHẾ ĐỘ LẬP BẢNG CÂN ĐỐI KÊ TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY CỔPHẦN
Bảng cân đối kế toán của các công ty cổ phần phải tuân theo các quy địnhtrong các tài liệu kế toán sau :
i Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003
Trang 14ii Chế độ kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Quyết định số48/2006/QĐ-BTC ngày 14 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tàichính
iii Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của bộ trưởng bộ tàichính về việc ban hành và công bố 6 chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt3)
iv Thông tư 23/2005/TT-BTC ngày 30/3/2005 của bộ Tài chính về việchướng dẫn kế toán thực hiện 6 chuẩn mực kế toán ban hành theo quyếtđinh 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của bộ trưởng bộ Tài chính
2.1 Ý nghĩa bảng cân đối kế toán lập tại công ty cổ phần
- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản,nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và kết quả hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong một năm tài chính
- Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tìnhhình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá tình hình tài chính củadoanh nghiệp trong năm tài chính đã qua và những dự đoán trong tương lai.Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra những quyếtđịnh về quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào các doanhnghiệp của các chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiệntại và tương lai của doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ yêu cầuquản lý vĩ mô của Nhà nước
2.Nội dung và kết cấu bảng cân đối kế toán
(Bảng cân đối kế toán các khoản mục chủ yếu và được sắp xếp theo kếtcấu qui định tại Mẫu số B 01 – DNN)
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tàikhoản kế toán và được sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý bảng cân
Trang 15đối kế toán được chia làm hai phần (có thể kết cấu theo kiểu một bên hoặc haibên ) là phần tài sản và nguồn vốn.
Phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nguiệp đếncuối kỳ hạch toán đang tồn tại dưới các hình thái và trong tất cả các giai đoạn vàcác khâu của quá trình kinh doanh Các chỉ tiêu phản ánh trong phần tài sảnđựoc sắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản của doanh nghiệp trongquá trình tái sản xuất
Phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanhnghiệp đến cuối kỳ hạch toán Các chỉ tiêu trong phần nguồn vốn được sắp xếptheo nguồn hình thành tài sản: Nguồn vốn của bản thân doanh ngiệp, vốn chủ sởhữu, vốn đi vay, nguồn vốn chiếm dụng
Ở cả hai phần ngoài cột chỉ tiêu còn có cột phản ánh mã số các chỉ tiêucột số đầu năm và cuối kỳ
Phần tài sản bao gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ phần tài sản hiện cócủa doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo và được chia thành hai loại:
Loại A: Tài sản ngắn hạn thuộc loại này gồm các chỉ tiêu phản ánh tài sảncủa doanh nghiệp là tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phảithu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác và các khoản chi sự nghiệp
Loại B: Tài sản dài hạn thuộc loại này có các chỉ tiêu phản ánh tài sản củadoanh nghiệp là các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố đinh, bất động sản đầu tư,các khoản đầu tư tài chính dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang và cáckhoản ký quỹ ký cược
Phần nguồn vốn bao gồm các chỉ tiêu phản ánh các nguồn vốn hình thànhcác loại tài sản tại thời điểm lập báo cáo và được chia thành hai loại chỉ tiêu
Trang 16Loại A: Nợ phải trả: Các chỉ tiêu này phản ánh các khoản nợ ngắn hạn, nợdài hạn và một số khoản nợ khác mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanhtoán, thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp đối với nguồn vốn hình thànhtài sản.
Loại B vốn chủ sở hữu: Phản ánh các nguồn vốn, các quỹ của doanhnghiệp và nguồn kinh phí (nếu có) Thể hiện mức độ độc lập, tự chủ về việc sửdụng các loại nguồn vốn của doanh nghiệp
Ngoài các chỉ tiêu trong phần chính, bảng cân đối kế toán còn có các chỉtiêu ngoài bảng cân đối kế toán Bao gồm :
1- Tài sản thuê ngoài2- Vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công
- Hàng hoá nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược4- Nợ khó đòi đã xử lý
5- Ngoại tệ các loại
3 Cơ sở số liệu và phương pháp chung lập bảng cân đối kế toán.
3.1 Nguồn số liệu lập bảng cân đối kế toán bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán ngày cuối niên độ kế toán trước
- Số dư của các tài khoản loại 1,2,3, 4 trên sổ kế toán chi tiết, sổ kế toántổng hợp của kỳ lập bảng cân đối kế toán
- Số dư của các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán (loại 0)
Để đảm bảo tính kịp thời và chính xác của các chỉ tiêu trên bảng cân đối
kế toán cần thiết phải làm các công tác chuẩn bị sau:
- Kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa các tài khoản, sổ kế toán liên quan, giữa
kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, giữa sổ kế toán của đơn vị