1.Nghiên cứu tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida trong quý II, quý III thai kỳ ở các trường hợp tiết dịch âm đạo bất thường và một số yếu tố liên quan.2.Đánh giá kết quả điều trị ở những trường hợp này.3. Nghiên cứu tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG VIÊM ÂM ĐẠO
DO NẤM CANDIDA TRONG THAI KỲ, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Chuyên ngành: SẢN PHỤ KHOA
Mã số: NT 62 72 13 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA BÁC SĨ NỘI TRÚ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
HUẾ- 2017
Trang 2Lời Cảm Ơn
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Dược Huế, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Y Dược Huế
- Ban Chủ nhiệm Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Trung Ương Huế
- Ban chủ nhiệm Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
- Ban chủ nhiệm và quý thầy cô Bộ môn Phụ Sản, Trường Đại học Y Dược Huế
- Phòng khám khoa Phụ Sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
- Ban Chủ nhiệm Khoa và Bộ môn Ký Sinh Trùng, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Huế
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc:
- GS TS Cao Ngọc Thành- Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Huế, PGS TS Trương Quang Vinh, Ths Bạch Ngõ, Ths Trần Thế Bình, TS
Võ Văn Đức, PGS TS Lê Minh Tâm đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
- Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Vũ Quốc Huy Người Thầy đã tận tình truyền thụ cho em nhiều kiến thức kinh nghiệm, hướng dẫn cho em thực hiện và hoàn thiện luận văn này
- Xin gửi lời tri ân đến các bệnh nhân đã cho tôi thu thập số liệu để hoàn thành luận văn
- Quý Thầy Cô trong hội đồng bộ môn Phụ Sản đã góp ý và chỉnh sửa cho em để em có thể hoàn chỉnh luận văn
- Con xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến Ba Mẹ, những người đã hết sức vất vả nuôi dạy con đến ngày hôm nay
- Xin cảm ơn các Anh, Chị, Em đã luôn động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Huế, tháng 10 năm 2017
Nguyễn Nguyên Phương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này do tôi tự nghiên cứu Tất
cả các số liệu, kết quả trong luận văn đều trung thực và chưa được ai báo cáo trên bất cứ công trình nào
Huế, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Nguyên Phương
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ
Khoảng tin cậy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh lý của âm đạo 3
1.2 Viêm âm đạo do nấm 5
1.3 Chẩn đoán viêm âm đạo do nấm 12
1.4 Điều trị viêm âm đạo do nấm Candida 14
1.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về viêm âm đạo do nấm Candida trên thai phụ 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯÚ 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3 Xử lý số liệu 28
2.4 Đạo đức nghiên cứu 29
2.5 Sơ đồ nghiên cứu 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm chung 31
3.2 Tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida và một số yếu tố liên quan 33
3.3 Kết quả điều trị viêm đạo do nấm Candida 40
Chương 4: BÀN LUẬN 43
4.1 Đặc điểm chung 43
4.2 Tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida và một số yếu tố liên quan 44
4.3 Kết quả điều trị viêm đạo do nấm Candida 54
KẾT LUẬN 57
KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.2 Phân bố theo trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở 31
Bảng 3.3 Tuổi thai của đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.4 Tiền sử viêm âm đạo do nấm trong thai kỳ 33
Bảng 3.5 Triệu chứng lâm sàng thường gặp của viêm âm đạo do nấm 34
Bảng 3.6 Kết quả soi tươi dịch âm đạo 35
Bảng 3.7 Liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và các triệu chứng lâm sàng thường gặp 35
Bảng 3.8 Liên quan giữa các triệu chứng lâm sàng thường gặp và các hình thái của nấm trên tiêu bản soi tươi 36
Bảng 3.9 Liên quan giữa viêm nấm âm đạo và tuổi của đối tượng 37
Bảng 3.10 Liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và tuổi thai 37
Bảng 3.11 Liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và tiền sử viêm âm đạo do nấm trong thai kỳ 38
Bảng 3.12 Liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và sử dụng kháng sinh trong thai kỳ 38
Bảng 3.13 Liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và thói quen giữ âm đạo khỏi ẩm 39
Bảng 3.14 Phân tích hồi quy logistic 39
Bảng 3.15 Kết quả sau điều trị đợt 1 40
Bảng 3.16 Sự cải thiện triệu chứng lâm sàng sau điều trị đợt 1 40
Bảng 3.17 Liên quan giữa kết quả điều trị và tiền sử viêm âm đạo do nấm trong thai kỳ 41
Bảng 3.18 Liên quan giữa kết quả điều trị và sử dụng kháng sinh trong thai kỳ 41
Bảng 3.19 Liên quan giữa kết quả điều trị và viêm âm đạo do nấm đơn thuần hay phối hợp vi khuẩn 42
Bảng 3.20 Kết quả sau điều trị đợt 2 42
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Trực khuẩn Lactobacilli với chiều dài khác nhau 4
Hình 1.2 Hạt men nấm Candida trên kính hiển vi đảo ngược 9
Hình 1.3 Sợi tơ nấm Candida trên kính hiển vi đảo ngược 9
Hình 2.1 Dụng cụ lấy bệnh phẩm khí hư âm đạo tại phòng khám 23
Hình 2.2 Các phương tiện, dụng cụ xét nghiệm soi tươi khí hư âm đạo 23
Hình 2.3 Nấm men nảy búp và sợi tơ nấm giả khi soi tươi khí hư âm đạo với nước muối sinh lý, vật kính 40 26
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh lý phụ khoa phổ biến, thường
biểu hiện với các triệu chứng như ngứa, viêm âm hộ, âm đạo kèm với khí hư màu trắng đặc sệt, tạo thành từng mảng như sữa chua bám vào thành âm đạo
Viêm âm đạo do nấm Candida ảnh hưởng đến 75% phụ nữ trong độ tuổi sinh
đẻ [25]
Nguyên nhân là do sự tăng sinh quá mức vi nấm Candida, vốn là một
loài nấm men tồn tại trong hệ khuẩn chí bình thường của âm đạo với số lượng
rất ít, kết quả gây nên viêm âm đạo Họ nấm Candida có rất nhiều chủng,
trong đó thường gặp nhất và là nguyên nhân gây viêm âm đạo phổ biến nhất
là Candida albicans, gặp trong 90% các trường hợp viêm âm đạo do nấm Ngoài ra một số chủng Candida khác cũng gây viêm âm đạo ở người như
Candida krusei, Candida glabrata, Candida tropicalis [24]
Một số yếu tố làm tăng nguy cơ viêm âm đạo do nấm Candida bao gồm
mang thai, sử dụng kháng sinh phổ rộng kéo dài, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, sử dụng thuốc tránh thai phối hợp đường uống kéo dài Trong đó, mang thai và đái tháo đường là hai yếu tố làm dễ cho việc xuất hiện viêm âm
đạo do nấm Candida với cùng cơ chế do giảm miễn dịch qua trung gian tế bào, làm tỷ lệ viêm âm đạo do Candida ở phụ nữ mang thai có thể cao gấp
nhiều lần so với phụ nữ bình thường [25], [58] Ngoài ra, tình trạng mang thai với sự gia tăng nồng độ các nội tiết tố estrogen và progesteron trong thai kỳ
cũng là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ
nữ mang thai [23] Viêm âm đạo do nấm Candida thường gặp hơn ở các thai
phụ ở quý II và quý III của thai kỳ [64]
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu về viêm
âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, tuy vậy, phần lớn các nghiên cứu này
Trang 10được tiến hành trên các thai phụ ở quý III của thai kỳ, chưa có nhiều nghiên cứu ở các thai phụ quý II
Do đó, với mong muốn tiến hành nghiên cứu trên nhóm đối tượng là các thai phụ ở quý II và III, nhằm góp phần làm rõ hơn tình trạng viêm âm đạo do
nấm Candida trong thai kỳ, đặc biệt là ở các thai phụ đến khám vì ra khí hư
âm đạo, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị”, với hai mục tiêu:
1 Nghiên cứu tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida trong quý II, quý III thai kỳ ở các trường hợp tiết dịch âm đạo bất thường và một số yếu tố liên quan
2 Đánh giá kết quả điều trị ở những trường hợp này
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA ÂM ĐẠO
1.1.1 Sự tiết dịch âm đạo
Dịch tiết âm đạo bình thường bao gồm các chất tiết từ tuyến bã, tuyến
mồ hôi, tuyến Bartholin, tuyến Skene, dịch thấm qua thành âm đạo, dịch nhầy
từ cổ tử cung, niêm mạc âm đạo, vòi trứng và các vi sinh vật, các tế bào thượng bì tróc ra Số lượng các tế bào thượng bì tróc ra và dịch nhầy cổ tử cung thay đổi tùy theo nồng độ nội tiết trong chu kỳ kinh nguyệt [1]
Bình thường dịch tiết âm đạo (khí hư) là một chất dịch trắng trong hơi đặc, hoặc như lòng trắng trứng, lượng ít, không chảy ra bên ngoài, không làm cho người phụ nữ để ý, thường đọng lại ở túi cùng sau âm đạo Phết âm đạo bình thường gồm các tế bào thượng bì, vài bạch cầu (< 1 bạch cầu/ tế bào
thượng bì) và các Lactobacilli (các trực trùng hình que, bắt màu gram
dương) Khi âm đạo bị viêm nhiễm, chất dịch tiết ra nhiều làm cho người phụ
nữ lo lắng, trong trường hợp này dù màu sắc thế nào, trắng hay vàng, có mùi hay không đều là bệnh lý [3], [25]
1.1.2 Hệ khuẩn chí bình thường của âm đạo
Hệ khuẩn chí bình thường của âm đạo bao gồm chủ yếu các vi khuẩn hiếu khí, các tác nhân gây bệnh cơ hội và vi khuẩn kỵ khí, cùng chung sống trong mối quan hệ cộng sinh với cơ thể vật chủ Trong đó, phần lớn là các
Lactobacilli, có khả năng tạo ra các hydrogen peroxide Có khoảng 7 chủng Lactobacilli có thể được tìm thấy trong hệ khuẩn chí bình thường của âm đạo
ở những người phụ nữ khỏe mạnh Các Lactobacilli là các trực khuẩn gram
dương, với chiều dài thay đổi, có khả năng tạo ra acid lactic, đóng vai trò bảo
vệ cho âm đạo Bởi vì chỉ có Lactobacilli có thể sống được trong môi trường
Trang 12có pH như vậy, do đó, chúng sẽ ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn có hại [42], [53]
Hình 1.1 Trực khuẩn Lactobacilli với chiều dài khác nhau [53]
Hệ khuẩn chí âm đạo là tạm thời và có thể bị thay thế tùy thuộc vào các điều kiện tại chỗ của môi trường âm đạo Vi sinh vật trong âm đạo được quyết định bởi các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của các vi khuẩn trong âm đạo Các yếu tố này bao gồm pH âm đạo và nguồn glucose cần cho quá trình chuyển hóa của vi khuẩn pH âm đạo bình thường < 4,5, được duy trì ổn định
bởi acid lactic, tạo bởi quá trình chuyển hóa glycogen của các Lactobacilli
[35] Các tế bào biểu mô âm đạo dưới tác dụng của estrogen sẽ tăng tích lũy glycogen Các tế bào biểu mô âm đạo này sẽ phân cắt glycogen thành các monosaccharide, sau đó các monosaccharide sẽ được chính các tế bào này và
Lactobacilli, chuyển hóa thành acid lactic [25]
Bình thường âm đạo dễ dàng tự vệ chống lại vi khuẩn gây bệnh bằng nhiều cơ chế pH âm đạo được duy trì < 4,5 nhờ quá trình chuyển hóa tạo acid
lactic của các trực khuẩn Lactobacilli Mặt khác, ở niêm mạc âm đạo có dịch
thấm từ mạng tĩnh mạch, bạch mạch có đặc điểm kháng khuẩn [6]
Trang 131.1.3 Những thay đổi của cơ thể khi mang thai
1.1.3.1 Một số thay đổi ở âm hộ- âm đạo khi mang thai
Khi mang thai, có sự tăng sinh mạch máu, sung huyết trong da và cơ của vùng tầng sinh môn và âm hộ Các mô liên kết mềm hơn Do hiện tượng sung huyết, niêm mạc âm đạo có màu tím nhạt và tăng tiết dịch [2]
1.1.3.2 Thay đổi về nội tiết khi mang thai
Trong khi mang thai, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu, sinh lý và sinh hóa Những thay đổi này xảy ra từ rất sớm, từ sau khi thụ tinh và kéo dài trong suốt thời kỳ thai nghén Nguyên nhân của sự thay đổi này là do những thay đổi về nội tiết và thần kinh gây ra Hai loại nội tiết
tố thay đổi nhiều khi có thai là hCG và các steroid Trong đó, hai steroid quan trọng nhất là progesteron và estrogen, tăng đều đặn trong quá trình mang thai và đạt mức cao nhất vào các tháng cuối của thai kỳ Nồng độ estrogen tăng cao khi có thai, kích thích các tế bào biểu mô âm đạo tăng tích lũy
glycogen, làm tăng nguồn thức ăn cho nấm Candida phát triển, ngoài ra, estrogen còn có tác dụng làm tăng khả năng kết dính của nấm Candida với tế
bào biểu mô âm đạo cùng với tình trạng giảm miễn dịch khi mang thai là các yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm ở phụ nữ mang thai Tỷ lệ
nhiễm nấm Candida và xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở phụ nữ có thai cũng
cao hơn so với phụ nữ bình thường Viêm âm đạo do nấm tái phát cũng phổ biến hơn ở phụ nữ có thai và đáp ứng điều trị cũng giảm hơn so với các phụ
nữ không có thai [2], [57]
1.2 VIÊM ÂM ĐẠO DO NẤM CANDIDA
1.2.1 Dịch tễ học
Nấm Candida có thể gặp trong hệ khuẩn chí bình thường ở ruột, miệng
và âm đạo ở người Vi nấm Candida là vi sinh vật có mặt trong khuẩn chí
bình thường của âm đạo với số lượng nhỏ, do sự phát triển vượt trội về số
Trang 14lượng của các vi khuẩn trong âm đạo, mà chủ yếu là các Lactobacilli Bình thường luôn có sự cân bằng giữa nấm Candida và các cơ chế bảo vệ của âm đạo, giữ cho nấm Candida ở trạng thái hoại sinh với các vi sinh vật khác
trong âm đạo và không gây bệnh Nhưng khi có sự thay đổi môi trường âm đạo trong cơ thể vật chủ, sẽ dẫn đến sự tăng sinh quá mức của vi nấm và gây
viêm âm đạo do nấm Candida [24], [38]
Viêm âm đạo do nấm là bệnh do nhiễm nấm Candida, chiếm khoảng
20% viêm âm đạo nói chung [3] Các nhà khoa học đã phân lập được hơn
400 chủng Candida, tuy nhiên, chỉ một số chủng Candida gây viêm âm hộ âm đạo ở người, trong đó, Candida albicans là tác nhân chủ yếu, chiếm 80- 92%, còn lại là các Candida khác như Candida glabrata, Candida tropicalis,
Candida krusei, [35], [39], [41], [47], [69] Trong đó, Candida glabrata
đóng vai trò quan trọng nhất trong các tác nhân còn lại, sau đó là Candida
krusei, Candida tropicalis [35] Mặc dù Candida glabrata và các Candida non- albicans khác được tìm thấy trong 10- 20% các trường hợp viêm âm đạo
do nấm tái phát, Candida glabrata không tạo sợi giả và sợi tơ nấm, do đó,
không dễ nhận ra dưới kính hiển vi Liệu trình kháng nấm thông thường cũng
không có hiệu quả với chủng này như đối với Candida alibicans [34]
Candida krusei tồn tại ở dạng bào tử chồi và dạng sợi, hiếm gặp nhưng là
nguyên nhân quan trọng gây viêm âm đạo dai dẳng và là chủng duy nhất có khả năng kháng fluconazole nội sinh [56], [65] Ở Việt Nam, nghiên cứu của
Lương Thị Trang trên bệnh nhân viêm âm đạo do nấm, Candida albicans
chiếm chủ yếu với tỷ lệ 90,85% Một nghiên cứu khác của Nhữ Thị Hoa cũng
cho thấy tỷ lệ viêm đạo do nấm Candida là 31,52%, trong đó Candida
albicans chiếm 61,78% Tỷ lệ phân lập được Candida albicans ở nghiên cứu
của Ahmad và nghiên cứu của Konate từ dịch âm đạo của các bệnh nhân viêm
âm đạo do nấm lần lượt là 46,9% và 82,5% Một nghiên cứu khác của Mucci
Trang 15trên 70 phụ nữ mang thai cũng cho thấy Candida albicans chiếm chủ yếu với 72,8%, còn lại là các Candida non- albicans [12], [15], [22], [44], [48]
1.2.2 Sinh bệnh học
Nấm Candida có mặt trong hệ khuẩn chí bình thường của âm đạo, nhờ hiệu quả của cơ chế bảo vệ chống Candida của âm đạo mà nấm Candida tồn
tại trong âm đạo với vai trò hoại sinh với các vi sinh vật khác Tuy nhiên, khi
có các yếu tố dẫn đến sự thay đổi của môi trường âm đạo thuận lợi cho sự
phát triển của nấm Candida, chúng sẽ tăng sinh quá mức và gây bệnh cho vật
chủ Các yếu tố như mang thai, sử dụng thuốc tránh thai dạng uống nồng độ estrogen cao, đái tháo đường, sử dụng kháng sinh kéo dài, làm tăng nguy cơ
mắc viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ [57]
Candida albicans chiếm 85- 95% các chủng Candida phân lập được từ
âm đạo ở các bệnh nhân viêm âm đạo do nấm, còn lại là các Candida
non-albicans Viêm âm đạo do các Candida non- albicans có triệu chứng không
khác so với viêm âm đạo do Candida albicans, thậm chí có thể ít hoặc không
biểu hiện triệu chứng lâm sàng và thường đề kháng với các thuốc kháng nấm
hơn, đặc biệt là Candida glabrata Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy
tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida non- albicans ngày càng tăng, mà việc sử
dụng các thuốc kháng nấm azole liều thấp kéo dài và việc tự sử dụng các thuốc kháng nấm được cho là nguyên nhân của tình trạng này Trong các
Candida non- albicans, chiếm tỷ lệ cao nhất và thường gặp trong nhóm này
chính là Candida glabrata, có liên quan với viêm âm đạo do nấm tái phát và
có khuynh hướng ít nhạy cảm với các thuốc kháng nấm thông thường hơn
Trang 16tăng khả năng gắn của nấm vào tế bào biểu mô Candida albicans có khả năng gắn vào các tế bào biểu mô âm đạo cao hơn các Candida non- albicans
Nấm gây bệnh bằng nhiều yếu tố, bao gồm các enzym tiêu protein có khả năng phá hủy protein bao quanh tế bào để chống lại sự xâm nhập của nấm, các độc tố do nấm tạo ra gây ức chế hoạt động của các đại thực bào, làm giảm miễn dịch tại chỗ và các phospholipase do nấm tiết ra [57]
Quá trình xâm nhập của nấm diễn ra qua 3 giai đoạn: gắn vào tế bào biểu mô, nảy mầm của các bào tử chồi, phát triển sợi nấm, xâm nhập vào biểu
mô âm đạo Giai đoạn đầu tiên, vi nấm Candida phải nhận dạng và gắn được
vào receptor trên bề mặt tế bào biểu mô âm đạo, khả này được thực hiện nhờ mannoprotein trên màng tế bào nấm Khả năng gắn vào màng tế bào biểu mô
âm đạo bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: estrogen làm tăng khả năng gắn và các
Lactobacilli ngăn chặn, loại trừ quá trình gắn của bào tử nấm lên màng tế bào
biểu mô âm đạo Candida alibicans có khả năng bám dính mức độ cao hơn các Candida non- albicans [43] Sau đó, các bào tử chồi nảy mầm và phát
triển thành các sợi nấm Nấm ở dạng bào tử chồi không có khả năng xâm nhập vào tế bào biểu mô âm đạo Dưới tác động của estrogen, các bào tử sẽ phát triển thành các sợi nấm, đây là dạng có thể xâm nhập vào biểu mô âm đạo và gây bệnh Giai đoạn cuối cùng chính là sự xâm nhập vào biểu mô âm đạo của nấm dạng sợi Sự xâm nhập của nấm vào tế bào biểu mô liên quan đến sự tạo thành một vài loại enzym tiêu protein do nấm tạo ra Quá trình lan tràn của nấm trong biểu mô âm đạo cũng giải phóng nhiều chất (prostaglandin, bradykinin) gây viêm trong mô và biểu hiện các triệu chứng lâm sàng Yếu tố khác liên quan đến sự lan tràn của nấm trong biểu mô âm đạo chính là lượng bào tử chồi trong môi trường âm đạo Sự gia tăng lượng bào tử chồi trong môi trường âm đạo sẽ làm tăng quá trình lan tràn và xâm nhập của nấm vào tế bào biểu mô để gây bệnh [33]
Trang 17Hình 1.2 Hạt men nấm Candida trên kính hiển vi đảo ngược [53]
Hình 1.3 Sợi tơ nấm Candida trên kính hiển vi đảo ngược [53]
1.2.3 Các yếu tố thuận lợi
Các yếu tố thuận lợi là các yếu tố làm tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm
Candida Người ta có thể chia các yếu tố này làm hai nhóm bao gồm các yếu
tố tự thân và các yếu tố gây nhiễm từ bên ngoài
1.2.3.1 Các yếu tố tự thân
- Có thai: Phụ nữ mang thai có tỷ lệ viêm âm hộ âm đạo do nấm
Candida cao hơn so với phụ nữ bình thường Nguyên nhân gây nên tình trạng
này là do khi mang thai có sự tăng cao nồng độ hormon thai nghén, đặc biệt là
Trang 18estrogen và tình trạng giảm miễn dịch qua trung gian tế bào khi mang thai Ở phụ nữ mang thai có tình trạng giảm miễn dịch qua trung gian tế bào, có sự giảm đáng kể các lympho T Đồng thời, nồng độ estrogen tăng cao làm gia tăng tích lũy glycogen ở biểu mô âm đạo, tăng nguồn thức ăn cho sự phát triển của nấm, sự gia tăng chuyển hóa carbonhydrate thành acid lactic làm thay đổi pH tại chỗ < 3,6, đây là yếu tố thuận lợi cho nấm phát triển Ngoài ra,
sự tăng nồng độ estrogen còn làm tăng khả năng gắn của nấm vào tế bào biểu
mô âm đạo, tăng sự phát triển thành sợi nấm Đây là các yếu tố làm tăng tỷ lệ
mắc viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai [6], [21], [33]
- Đái tháo đường: Các bệnh nhân đái tháo đường có tỷ lệ mắc viêm âm đạo do nấm cao hơn so với người bình thường, thường gặp ở các bệnh nhân đái tháo đường không kiểm soát tốt đường máu, đặc biệt viêm âm đạo do
nấm Candida ở các bệnh nhân đái tháo đường type 2 thường do Candida
glabrata Nguyên nhân là do bệnh nhân đái tháo đường có nồng độ
glucose máu cao, làm tăng nguồn thức ăn cho nấm và tăng quá trình chuyển hóa thành acid lactic làm pH âm đạo toan nhiều, thuận lợi cho sự phát triển của nấm Đồng thời, khi mắc đái tháo đường, đây là một bệnh lý toàn thân, có tình trạng giảm miễn dịch cơ thể, là yếu tố thuận lợi cho
viêm âm đạo do nấm Candida [18], [29], [57]
- Các bệnh lý toàn thân: Hệ thống miễn dịch là hàng rào bảo vệ chống lại sự phát triển và gây bệnh của các tác nhân có hại, đồng thời ngăn ngừa sự phát triển của các tác nhân đang ký sinh Một khi hàng rào này suy yếu nấm
sẽ bùng phát và gây bệnh Khi mắc các bệnh lý toàn thân (lao, ung thư, bệnh
lý máu, HIV), hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, thuận lợi cho sự phát triển và gây bệnh của nấm [10], [38]
Trang 191.2.3.2 Các yếu tố gây nhiễm từ bên ngoài
- Kháng sinh: Sử dụng kháng sinh dài ngày trong điều trị bệnh, cũng như
sử dụng các kháng sinh phổ rộng, sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có vai trò bảo vệ
trong âm đạo, đặc biệt là các Lactobacilli, thay đổi hệ khuẩn chí âm đạo, làm
nấm sinh sôi nhanh và gây bệnh [57]
- Thuốc ức chế miễn dịch: Việc sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch như corticoides, thuốc chống ung thư làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện cho nấm phát triển mạnh [38]
- Thuốc nội tiết tránh thai: Việc sử dụng các thuốc tránh thai có hàm lượng estrogen cao, cũng như điều trị hormone thay thế đều có nguy cơ dẫn đến nhiễm nấm Nguyên nhân là do sự gia tăng nồng độ estrogen trong máu làm tăng tích lũy glycogen trong tế bào biểu mô âm đạo, tăng nguồn thức ăn cho nấm và sự thay đổi pH tại chỗ của âm đạo do acid lactic Đồng thời estrogen làm tăng gắn kết của nấm vào tế bào biểu mô âm đạo và tăng quá trình phát triển thành sợi nấm Các yếu tố này tạo thuận lợi cho sự phát triển
+ Sử dụng thuốc diệt tinh trùng, bao cao su
+ Thói quen mặc quần áo bó chật, sử dụng quần lót không phải chất liệu cotton [38]
- Môi trường nóng ẩm của âm đạo thuận lợi cho sự phát triển của nấm [5]
Trang 201.3 CHẨN ĐOÁN VIÊM ÂM ĐẠO DO NẤM
Các triệu chứng lâm sàng của viêm âm đạo do nấm Candida không đặc
hiệu, do có nhiều tình trạng bệnh lý nhiễm trùng và không do nhiễm trùng có thể có các triệu chứng tương tự Do đó, không thể chẩn đoán viêm âm đạo do
nấm Candida chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, mà cần phải kết hợp với các
xét nghiệm cận lâm sàng (soi tươi khí hư âm đạo, cấy nấm) [51], [57]
1.3.1 Triệu chứng lâm sàng
- Bệnh nhân thường ngứa nhiều
- Có thể kèm theo tiểu khó, đau khi giao hợp
- Khí hư: không hôi, nhiều hoặc ít, trắng đục như váng sữa
- Khám: âm hộ có thể bị xây xước nhiễm khuẩn do gãi, trường hợp nặng
có thể viêm cả vùng tầng sinh môn và đùi bẹn
- Khám mỏ vịt: âm đạo viêm đỏ, khí hư thường nhiều màu trắng như váng sữa, tạo thành mảng dày dính vào thành âm đạo, ở dưới có vết trợt đỏ [3]
1.3.2 Cận lâm sàng
1.3.2.1 Đo pH âm đạo
Đo pH âm đạo bằng giấy quỳ, môi trường âm đạo bình thường pH < 4,5 Trong viêm âm đạo do nấm, pH âm đạo có giá trị bình thường Tuy nhiên, đo
pH âm đạo sẽ giúp loại trừ nguyên nhân viêm âm đạo do vi khuẩn và
Trichomonas [51]
1.3.2.2 Soi tươi khí hư âm đạo
Khí hư âm đạo được soi tươi với nước muối sinh lý hoặc dung dịch KOH 10% để tìm bào tử chồi và sợi tơ nấm giả Xét nghiệm soi tươi với dung dịch KOH sẽ giúp quan sát tốt hơn bào tử chồi (nấm men nảy búp) và sợi tơ nấm giả Kết quả soi tươi là một trong các yếu tố chính để chẩn đoán với độ nhạy 50% Soi tươi khí hư âm đạo nên được thực hiện thường quy trên tất cả các bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng để xác định sự hiện diện của bào tử
Trang 21chồi và sợi tơ nấm giả và nếu kết quả dương tính (có sự hiện diện của bào tử chồi hoặc sợi tơ nấm giả) thì cần được điều trị [34], [51], [57]
1.3.2.3 Test Whiff
Khi nhỏ 1 giọt KOH 10% lên khí hư của bệnh nhân viêm âm đạo do
nấm Candida đơn thuần không có mùi cá ươn, test Whiff âm tính
âm đạo do nấm (nấm âm đạo) tái phát cũng cần được thực hiện cấy nấm
nhằm xác định chủng Candida, giúp hướng dẫn cho việc lựa chọn thuốc
kháng nấm điều trị [34], [51]
1.3.2.5 Các xét nghiệm khác
- Test huyết thanh, kháng nguyên: Mặc dù hiện nay có thể có một số test
huyết thanh có thể giúp xác định được chủng Candida, nhưng theo các nghiên
cứu thì không có test huyết thanh hay kháng nguyên nào đáng tin cậy để xác
định chẩn đoán viêm âm đạo do nấm Candida
- PCR: Xét nghiệm sinh học phân tử ngày càng phổ biến và có độ chính xác cao Trong đó, xét nghiệm PCR cũng có thể sử dụng để chẩn
Trang 22đoán các bệnh lý do nấm Candida chính xác Nhưng xét nghiệm này không
thể được sử dụng làm test chẩn đoán, cũng như không hữu dụng, chỉ có lợi ích giới hạn do cần phải thu thập kết quả PCR của tất cả các vi sinh vật và giá thành cao [51], [57]
1.4 ĐIỀU TRỊ VIÊM ÂM ĐẠO DO NẤM CANDIDA
Sau khi chẩn đoán được viêm âm đạo do nấm Candida dựa trên sự biểu
hiện các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm có bào tử chồi (nấm men nảy búp) và hoặc sợi tơ nấm giả trong dịch âm đạo, các bệnh nhân này sẽ được tiến hành điều trị Đối với các bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng nhưng xét nghiệm có bào tử chồi (nấm men nảy búp) hoặc sợi tơ nấm giả, điều trị kháng nấm ở các bệnh nhân này không được khuyến cáo [57]
1.4.1 Phân loại viêm âm đạo do nấm
Trước khi tiến hành điều trị, cần phân loại được viêm âm đạo do nấm
Candida Việc này sẽ giúp ích cho quá trình điều trị, giúp lựa chọn loại thuốc
kháng nấm và quyết định thời gian cần điều trị để đạt được hiệu quả tốt nhất [57] Dựa trên lâm sàng, xét nghiệm, yếu tố của vật chủ và đáp ứng điều trị,
CDC đã phân loại viêm âm đạo do nấm Candida thành 2 nhóm: viêm âm đạo
do nấm biến chứng và viêm âm đạo do nấm không biến chứng Khoảng 10- 20% phụ nữ bị viêm âm đạo do nấm biến chứng cần được chẩn đoán và điều trị [34]
- Viêm âm đạo do nấm không biến chứng: khi viêm âm đạo do nấm xuất hiện thỉnh thoảng, không thường xuyên và viêm âm đạo mức độ nhẹ, trung
bình và do Candida albicans trên phụ nữ không có suy giảm miễn dịch
- Viêm âm đạo do nấm biến chứng: khi viêm âm đạo do nấm tái phát
hoặc viêm âm đạo mức độ nặng hoặc do Candida non- albicans trên phụ nữ
bị đái tháo đường, tình trạng ức chế miễn dịch (nhiễm HIV) hoặc đang điều trị
ức chế miễn dịch (điều trị Corticosteroid)
Trang 23Viêm âm đạo do nấm không biến chứng đáp ứng tốt với các thuốc kháng nấm thông thường (kháng nấm azole, nystatin) Trong khi viêm âm đạo do nấm biến chứng lại thường đáp ứng kém với các thuốc kháng nấm thông thường [51] 1.4.2 Điều trị viêm âm đạo do nấm
Điều trị viêm âm đạo do nấm bao gồm việc thay đổi thói quen sinh hoạt
và sử dụng các thuốc, chủ yếu là các thuốc kháng nấm Clotrimazole, fluconazole, nystatin là các thuốc kháng nấm có hiệu quả trong điều trị viêm
âm đạo do nấm Candida, kể cả viêm âm đạo do nấm tái phát [16] Một số
trường hợp, để điều trị viêm âm đạo do nấm có thể sử dụng chất sát khuẩn (acid boric) khi viêm âm đạo do nấm không đáp ứng hoặc có chống chỉ định với các kháng nấm azole Ngoài ra, có thể sử dụng corticoids tại chỗ để giảm các triệu chứng ngứa và viêm âm hộ âm đạo trong các trường hợp viêm âm đạo do nấm nặng [51]
1.4.2.1 Thay đổi thói quen sinh hoạt
- Không sử dụng các dung dịch vệ sinh có tính acid, dung dịch sát khuẩn
để vệ sinh âm đạo
- Quần áo lót sạch, sử dụng quần lót bằng chất liệu cotton, phải được phơi nắng hoặc là trước khi dùng
- Không thụt rửa âm đạo
- Không giao hợp trong thời gian điều trị [3]
1.4.2.2 Thuốc kháng nấm
Các thuốc kháng nấm bao gồm 3 nhóm
- Các imidazole: butoconazole, clotrimazole, miconazole
- Các triazole: fluconazole, terconazole
- Polyene: nystatin
Các thuốc thuộc nhóm imidazole và triazole thường được gộp chung thành một nhóm và được gọi là các thuốc kháng nấm nhóm azole Tỷ lệ khỏi
Trang 24bệnh sau điều trị của các kháng nấm azole là 80% Các thuốc kháng nấm đều
có dạng uống và đặt âm đạo [46], [58]
- Viêm âm đạo do nấm chưa biến chứng
Viêm âm đạo do nấm chưa biến chứng thường đáp ứng tốt với các thuốc kháng nấm azole dùng tại chỗ (đặt âm đạo) liệu trình ngắn Các thuốc kháng nấm azole dùng tại chỗ hiệu quả hơn so với nystatin trong điều trị viêm âm đạo do nấm Điều trị với các thuốc kháng nấm azole sẽ giúp giảm triệu chứng
và cấy nấm âm tính sau khi hoàn thành liệu trình [34]
- Viêm âm đạo do nấm biến chứng
Viêm âm đạo do nấm biến chứng bao gồm viêm âm đạo do nấm tái
phát, viêm âm đạo do nấm nặng, viêm âm đạo do nấm Candida non- albicans
+ Viêm âm đạo do nấm tái phát
Từng đợt viêm âm đạo do nấm tái phát bởi Candida albicans thường
đáp ứng tốt với liệu trình sử dụng các kháng nấm azole đường uống hoặc tại chỗ Tuy nhiên, để duy trì sự kiểm soát các triệu chứng lâm sàng thì các chuyên gia khuyên thời gian điều trị phải dài hơn khi bắt đầu liệu trình điều trị
để ngăn ngừa tái phát trước khi chuyển sang điều trị duy trì [34]
+ Viêm âm đạo do nấm nặng
Viêm âm đạo do nấm nặng thường liên quan đến các bệnh nhân đáp ứng lâm sàng kém với liệu trình kháng nấm thời gian ngắn với thuốc kháng nấm đường uống hoặc tại chỗ Điều trị với kháng nấm azole tại chỗ trong 7-
14 ngày hoặc fluconazole đường uống lặp lại liệu trình sau 72h được khuyến cáo [34]
+ Viêm âm đạo do nấm Candida non- albicans
Liệu trình điều trị tối ưu cho viêm âm đạo do nấm Candida non-
albicans hiện nay chưa có Các lựa chọn trong điều trị bao gồm liệu trình điều
trị dài hơn với các thuốc kháng nấm không phải các thuốc kháng nấm azole đường uống hoặc đường tại chỗ là điều trị ưu tiên Nếu các đợt tái phát xuất
Trang 25hiện, 600 mg acid boric trong viên bọc gelatin đặt âm đạo 1 lần/ ngày trong 2 tuần được khuyến cáo sử dụng Liệu trình này có hiệu quả 70% [34]
Điều trị viêm âm đạo được đánh giá là hiệu quả khi sau khi kết thúc liệu trình, các bệnh nhân hết triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm nấm âm tính (soi tươi khí hư âm đạo, cấy nấm) Tỷ lệ khỏi bệnh sau điều trị viêm âm đạo
do nấm Candida không biến chứng 80- 90% Hiệu quả điều trị khỏi của các
kháng nấm azole đường uống và đường đặt âm đạo là tương đương [66], tuy nhiên, các kháng nấm đường uống cải thiện triệu chứng lâm sàng chậm hơn
so với kháng nấm đặt âm đạo Các chuyên gia cũng khuyến cáo chỉ nên sử dụng kháng nấm tác dụng tại chỗ (đặt âm đạo, bôi) khi điều trị viêm âm do
nấm Candida ở phụ nữ có thai [51] Ngoài ra, có thể sử dụng kháng nấm
azole đường đặt âm đạo liều duy nhất tiện lợi và cũng hiệu quả trong điều trị viêm âm đạo do nấm [64]
1.4.3 Điều trị viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai
Mang thai là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của nấm Candida, vì vậy,
tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ có thai cao hơn so với phụ nữ
không có thai, đặc biệt là quý II, III của thai kỳ, theo một số nghiên cứu tỷ lệ viêm âm đạo tái phát cao nhất ở quý III của thai kỳ [32] Trong thai kỳ, viêm
âm đạo do nấm Candida khó điều trị triệt căn Thuốc kháng nấm azole chỉ
được sử dụng từ quý II của thai kỳ Nghiên cứu của Young về hiệu quả điều trị của thuốc kháng nấm trên phụ nữ có thai cho thấy clotrimazole dùng tại chỗ có hiệu quả hơn nystatin trong điều trị viêm âm đạo do nấm [70] Nhiều nghiên cứu đã khẳng định tính an toàn của việc sử dụng nystatin trong điều trị viêm âm đạo do nấm trong thai kỳ, kể cả việc điều trị với phụ nữ mang thai trong quý I của thai kỳ [24]
Trang 261.4.3.1 Thuốc kháng nấm
- Các kháng nấm azole dùng tại chỗ được lựa chọn để điều trị viêm âm đạo do nấm khi mang thai do lượng thuốc hấp thu đường toàn thân rất nhỏ, nhằm giảm nguy cơ cho thai (theo các dữ liệu an toàn đã được nghiên cứu trên người và động vật) Các nghiên cứu theo dõi cũng cho thấy chưa có sự gia tăng nguy cơ khiếm khuyết của thai khi mẹ sử dụng các thuốc này ở bất
kỳ tuổi thai nào và cần điều trị với liệu trình ít nhất là 7 ngày
- Fluconazole đường uống là một trong các thuốc kháng nấm phổ biến cho
nhiễm khuẩn do Candida, là ưu tiên thứ 2 khi điều trị viêm âm đạo do nấm
Candida, có hiệu quả điều trị tốt [45], [61] Tuy nhiên, có một vài nghiên cứu
cho thấy có sự gia tăng khiếm khuyết ở thai nhi khi sử dụng liều cao fluconazole trong thai kỳ, do đó, hiện nay hầu như không sử dụng fluconazole
để điều trị viêm âm đạo do nấm ở phụ nữ mang thai
- Kháng nấm nystatin là liệu pháp thay thế an toàn cho các kháng nấm azole và đã được nghiên cứu về việc sử dụng trong quý I của thai kỳ Nystatin
có lượng thuốc hấp thu đường toàn thân thấp, ít liên quan đến khiếm khuyết của thai nhi đã được quan sát trên một số lượng lớn thử nghiệm, có thể sử dụng liều 100.000 đơn vị/ ngày đặt âm đạo trong 14 ngày [58]
1.4.3.2 Chất sát khuẩn
Acid boric có thể được sử dụng với liều 600 mg/ viên gelatin đặt âm đạo
và dùng trong 14 ngày Tuy nhiên, chưa có nhiều thông tin về độ an toàn của việc sử dụng acid boric trong thai kỳ [58]
Trang 271.5 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ VIÊM ÂM ĐẠO DO NẤM CANDIDA TRÊN THAI PHỤ
Viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh lý phụ khoa phổ biến ở phụ nữ,
đặc biệt là các phụ nữ trong độ tuổi hoạt động sinh dục, 75% phụ nữ sẽ bị
viêm âm đạo do nấm Candida ít nhất một lần trong đời, 50% sẽ bị tái phát ít nhất 1 lần, 5- 8% mắc viêm âm đạo do nấm Candida tái phát [1], [24], [41]
1.5.1 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, đã có các nghiên cứu về viêm âm đạo do nấm Candida Tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Luyện trên 594
phụ nữ tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu là 25,3%, nghiên cứu của Nguyễn Khoa Nguyên trên 338 phụ nữ tại thành phố Huế là 24,3%, nghiên cứu của Trần Thị Lợi
trên 408 phụ nữ tại Cần Thơ cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida là 10%,
nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Khánh Trang trên phụ nữ ở Dak lak cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm 27,2% Một nghiên cứu khác của Lê Lam Hương trên 84
phụ nữ mang thai ở thành phố Huế cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida là
59,38%, trong khi nghiên cứu của Trịnh Thị Mỹ Ngọc trên 555 sản phụ mang thai
3 tháng cuối tỷ lệ này là 14,6% Lê Thị Hải Yến nghiên cứu viêm âm đạo do nấm
Candida trên 174 thai phụ ở quý III của thai kỳ và kết quả điều trị, với tỷ lệ viêm
âm đạo do nấm Candida là 29,3%, nghiên cứu này được tiến hành trên cùng địa
điểm nghiên cứu tại thành phố Huế, tại bệnh viện Trung ương Huế, tuy vậy, nghiên cứu này đã được thực hiện cách đây gần 10 năm Qua các nghiên cứu trên
cho thấy viêm âm đạo do nấm Candida thường gặp hơn ở phụ nữ mang thai và tỷ
lệ viêm âm đạo do nấm Candida thay đổi tùy theo từng tác giả Tình trạng mang thai là một trong các yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida
ở các phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, điều này giải thích cho tỷ lệ viêm âm đạo do
nấm Candida ở phụ nữ mang thai luôn cao hơn ở phụ nữ bình thường Do phụ nữ
mang thai có sự thay đổi lớn về mặt sinh lý, giải phẫu, đặc biệt là sự tăng cao nồng
độ estrogen và tình trạng giảm miễn dịch, đây là các yếu tố thuận lợi cho sự phát
Trang 28triển quá mức của vi nấm Candida và kết quả gây viêm âm đạo [7], [8], [13], [14],
[19], [20], [21]
1.5.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Nấm Candida là nguyên nhân gây viêm âm đạo phổ biến thứ hai, sau
viêm âm đạo do vi khuẩn ở Mỹ Trong khi ở châu Âu, viêm âm đạo do nấm
Candida vẫn là viêm âm đạo phổ biến nhất ở phụ nữ [29], [55] Nghiên cứu
của Eckert trên 774 phụ nữ ở Mỹ cho thấy tỷ lệ viêm âm hộ âm đạo do nấm
Candida là 24% Nghiên cứu của Ahmad trên 1050 phụ nữ ở Ấn Độ cho thấy
tỷ lệ viêm âm hộ âm đạo do nấm Candida là 20,47% Một nghiên cứu khác
của Olowe trên 100 phụ nữ mang thai ở Nigeria cho thấy tỷ lệ viêm âm hộ âm
đạo do nấm Candida là 36% Nghiên cứu khác của Rasti trên 150 phụ nữ có
thai ở Iran cho thấy tỷ lệ này là 32,7% Nghiên cứu của Nelson trên 104 thai phụ ở Kenya có triệu chứng viêm âm đạo cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm
Candida 42,7%, một nghiên cứu khác của Mucci trên 210 thai phụ ở
Argentina cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida là 33,33% [22], [30],
[48], [49], [52], [54]
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯÚ
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 277 sản phụ mang thai quý II, III, có ra khí hư âm đạo bất thường, đến khám tại Phòng khám Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 6/2015- 5/2017, đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Thai phụ có tuổi thai từ 14 tuần trở đi, đến khám vì lý do ra khí hư âm đạo bất thường
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Soi tươi khí hư (lần 1)
- Soi tươi khí hư (lần 2) sau kết thúc điều trị 1- 2 tuần nếu viêm âm đạo
do nấm
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Có ra máu âm đạo hay vỡ ối
- Có dấu hiệu chuyển dạ
- Nhiễm nấm đang điều trị
- Thụt rửa hay đặt thuốc âm đạo trong vòng 01 tuần trước khi khám 2.1.3 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu xác định theo công thức:
n =
n: là cỡ mẫu tối thiểu
Z= 1,96 khi khoảng tin cậy là 95%
d: sai số chấp nhận lâm sàng chọn d = 0,05
p = 15,3 % là tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở thai phụ từ 35 tuần
Z21-α.p(1-p)
d2
Trang 30đến khám tại phòng khám sản Bệnh viện Đại học Y Dược Huế năm 2016 của tác giả Lê Ly Ly [9]
Áp dụng công thức trên ta có n = 199
Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 199 đối tượng
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến cứu dọc
2.2.1 Phương tiện nghiên cứu
- Bộ câu hỏi phỏng vấn
- Kính hiển vi Nikon E300, vật kính 10 và 40
- Lam kính
- Lá kính
- Ống nghiệm có nút bông để lấy bệnh phẩm khí hư âm đạo
- Que lấy khí hư âm đạo để xét nghiệm
- Nước muối sinh lý
Trang 31Hình 2.1 Dụng cụ lấy bệnh phẩm khí hư âm đạo tại phòng khám: găng tay, ống nghiệm đựng bệnh phẩm, que lấy bệnh phẩm, mỏ vịt
Hình 2.2 Các phương tiện, dụng cụ xét nghiệm soi tươi khí hư âm đạo:
Kính hiển vi, lá kính, lam kính, nước muối sinh lý
Trang 32+ Ủi quần trong trước sử dụng
+ Phơi quần, áo trong
+ Dung dịch rửa vệ sinh âm hộ, âm đạo
+ Cách rửa vệ sinh âm hộ, âm đạo
+ Vệ sinh sau tiểu tiện
- Tiền sử nội khoa
+ Đái tháo đường
+ Bệnh lý suy giảm miễn dịch
+ Ra khí hư âm đạo, tính chất, màu sắc, mùi, số lượng
+ Ngứa âm hộ, âm đạo
+ Cảm giác rát bỏng bên trong hay xung quanh âm hộ
+ Các triệu chứng khác (tiểu khó, đau khi giao hợp)
Trang 332.2.2.2 Khám lâm sàng
Quan sát lần lượt âm đạo, âm hộ ghi nhận triệu chứng vào phiếu điều tra:
- Khám âm hộ: ban đỏ, vết trầy xước
- Khám mỏ vịt: đặt mỏ vịt và lần lượt quan sát niêm mạc âm đạo, số lượng, tính chất, màu sắc, mùi khí hư âm đạo
2.2.2.3 Lấy bệnh phẩm khí hư âm đạo
Sau khi đặt mỏ vịt bộc lộ cổ tử cung và quan sát niêm mạc âm đạo, khí
hư âm đạo, dùng que lấy bệnh phẩm (tăm bông) để lấy khí hư âm đạo từ thành sau âm đạo khảo sát Que lấy bệnh phẩm khí hư âm đạo được cho vào một lọ thủy tinh có nút bông bịt kín, dán nhãn có ghi thông tin của bệnh nhân (tên, tuổi), bệnh phẩm được gửi ngay đến phòng xét nghiệm ký sinh trùng
2.2.2.4 Soi tươi
- Phết tăm bông lên lam được nhỏ 1 giọt nước muối sinh lý, ép dưới một lá kính, quan sát dưới vật kính 10 và 40 tìm nấm và sự di động của
Trichomonas Mẫu được coi là đạt tiêu chuẩn khi có hiện diện ít nhất 10 tế
bào biểu mô trên vi trường vật kính 10
- Đọc kết quả dưới kính hiển vi với vật kính 10 và 40
- Không có hoặc chỉ có một vài tế bào nấm men là (-): không nhiễm
nấm Candida
- Nếu có các hình ảnh tế bào hạt nấm men hình bầu dục có nảy búp, có
hoặc không có sợi tơ nấm giả là (+): nhiễm nấm Candida [26]
Trang 34Hình 2.3 Nấm men nảy búp và sợi tơ nấm giả khi soi tươi khí hư âm đạo
với nước muối sinh lý, vật kính 40 [26]
2.2.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm âm đạo do nấm Candida
Thai phụ đến khám có các biểu hiện
- Ngứa nhiều, cảm giác rát bỏng bên trong hay xung quanh âm hộ
- Tiểu khó, đau khi giao hợp
- Khám âm hộ, âm đạo viêm đỏ, có thể bị xây xước, nhiễm khuẩn do gãi, trường hợp nặng, có thể viêm cả vùng tầng sinh môn và đùi, bẹn
- Khám mỏ vịt: khí hư đặc, không hôi, nhiều hoặc ít, màu trắng đục như váng sữa tạo thành mảng dày dính vào thành âm đạo, bên dưới có vết trợt đỏ
- Soi tươi khí hư âm đạo thấy hình ảnh nấm men bầu dục có nảy búp và/ hoặc sợi tơ nấm giả [3], [4]
2.2.4 Điều trị viêm âm đạo do nấm Candida
Điều trị viêm âm đạo do nấm Candida theo khuyến cáo của WHO về điều trị viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai Chỉ các thuốc kháng nấm
dùng tại chỗ (đặt âm đạo) được sử dụng cho phụ nữ mang thai [67]
Trang 35- Viêm âm đạo do nấm Candida đơn thuần: điều trị với thuốc kháng nấm
đường đặt âm âm đạo
+ Nystatin viên đặt âm đạo 100.000 đơn vị, 01 viên/ngày trong 14 ngày, hoặc
+ Miconazole hoặc Clotrimazole viên đặt âm đạo 200mg, 01 viên/ngày trong 03 ngày hoặc
+ Clotrimazole 500mg, viên đặt âm đạo, đặt 01 liều duy nhất, hoặc
+ Clotrimazole 100mg (Canesten), viên đặt âm đạo, đặt âm đạo 01 viên/ ngày buổi tối trước khi đi ngủ trong 06 ngày [4], [67]
- Viêm âm đạo do nấm Candida phối hợp với vi khuẩn: điều trị với
Sau khi hoàn thành liệu trình điều trị với thuốc kháng nấm từ 1- 2 tuần, thai phụ được hẹn tái khám để đánh giá kết quả sau một đợt điều trị Nếu sau một đợt điều trị, các triệu chứng lâm sàng không cải thiện, bệnh nhân sẽ được lập lại liệu trình điều trị và đánh giá lại kết quả điều trị sau đó
2.2.5.1 Phương pháp đánh giá
- Lâm sàng
+ Các triệu chứng chủ quan: cảm giác ngứa, ra khí hư âm đạo
+ Triệu chứng thực thể: mức độ viêm âm hộ, âm đạo, số lượng, tính chất, màu sắc, mùi của khí hư âm đạo
Trang 36- Cận lâm sàng
+ Soi tươi khí hư sau điều trị
2.2.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá
- Khỏi bệnh nếu
+ Hết triệu chứng lâm sàng
+ Kết quả soi tươi khí hư nấm (-) (không có hình ảnh nấm men nảy búp, sợi tơ nấm giả)
- Không khỏi bệnh nếu
+ Các triệu chứng lâm sàng không hết hoặc giảm ít
+ Kết quả soi tươi khí hư âm đạo nấm (+) (có hình ảnh nấm men nảy búp và/ hoặc sợi tơ nấm giả) [51]
2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu thu thập từ phiếu điều tra được tổng hợp lại rút ra các đặc điểm đánh giá qua các thông số n, tỷ lệ phần trăm, các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
Dùng phép kiểm định χ2 để khảo sát mối liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và các yếu tố thói quen sinh hoạt, tiền sử sản khoa, tiền sử phụ khoa, tuổi, nghề nghiệp, Phép kiểm định có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
Dùng phép phân tích hồi quy logistic để nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đã được đánh giá khi kiểm định với phép kiểm định χ2
có ý nghĩa với nguy cơ mắc viêm âm đạo do nấm ở đối tượng Yếu tố ảnh hưởng có liên quan với mắc viêm âm đạo do nấm khi p < 0,05 và OR ≠ 1 và khoảng tin cậy không chứa 1
2.4 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trường Đại học Y Dược Huế thông qua theo quyết định ngày 18/06/2015
Trang 37Nghiên cứu thực hiện thông qua phỏng vấn người bệnh, làm các xét nghiệm cận lâm sàng trong quy định cho phép của Bộ Y tế, không ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân
Các bệnh nhân trở thành đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi chấp nhận tình nguyện tham gia nghiên cứu, đồng thời các bệnh nhân này được đảm bảo quyền lợi và bí mật về các thông tin của đối tượng nghiên cứu
2.5 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên 277 phụ nữ mang thai quý II- III, đến khám vì ra khí hư âm đạo, đến khám tại phòng khám Sản bệnh viện Đại học
Y Dược Huế từ tháng 6/2015- 5/2017
Trang 38Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Thai phụ tuổi thai > 14 tuần, khám vì lý do ra khí hư âm đạo
Khám lâm sàng + soi tươi khí hư có nấm
Nấm (+) Cluecells (-)
Kết quả soi tươi
Nấm (+) Cluecells (+)
Điều trị viêm âm đạo nấm đơn thuần
Hẹn tái khám sau hết thuốc 1-2 tuần
Điều trị viêm đạo nấm
phối hợp vi khuẩn
Khỏi bệnh Chưa khỏi bệnh
sau 1-2 tuần
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG
3.1.1 Phân bố theo tuổi của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi của đối tượng nghiên cứu
Phần lớn sản phụ trong độ tuổi từ 20 - 29 tuổi (69,7%), các nhóm tuổi
30 - 39 tuổi và < 20 tuổi lần lượt chiếm tỷ lệ 27,8% và 1,8%
3.1.2 Nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi ở của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Phân bố theo trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở