Khả năng tương tác giữa Meloxicam và bài thuốc PT5 trên thực nghiệm. Nghiên cứu thực nghiệm trên chuột nhắc trắng với phương pháp gây viêm cấp bằng carrageenan, phương pháp gây viêm mạn bằng viêm cotton, phương pháp gây đau quặn bằng acid acetic.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tương tác thuốc luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của các chuyên gia y
tế trong thực hành lâm sàng và là nguyên nhân hàng đầu gây ra biến cố bất lợi của thuốc [9], góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong và gánh nặng tài chính đáng kể trên bệnh nhân nội trú [43] Theo một khảo sát trên các đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất TP.Hồ Chí Minh, trung bình một lần kê đơn phối hợp 6,29 ± 2,06 thuốc [20] điều này làm tăng nguy cơ tương tác thuốc, tần suất xuất hiện tương tác thuốc tỉ lệ thuận với số lượng thuốc người bệnh sử dụng đồng thời, từ 3 – 5% ở người bệnh dùng vài thuốc đến 20% người bệnh đang dùng 10 – 20 thuốc [9]
Hiện nay, việc sử dụng thuốc có nguồn gốc từ dược liệu để điều trị bệnh ngày càng được phổ biến, dược liệu được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, như dạng thuốc thang, chè thuốc, cao thuốc ….và nhiều dạng chế biến hiện đại khác Điều
đó làm cho khả năng thuốc có nguồn gốc từ dược liệu được sử dụng đồng thời với một thuốc YHHĐ tăng cao Một khảo sát tại Mỹ năm 1997 cho thấy có đến 15 triệu người trưởng thành sử dụng dược liệu đồng thời với thuốc kê đơn [46] Tình trạng này tiềm tàng nguy cơ xảy ra tương tác thuốc – thảo dược vốn còn nhiều vấn đề chưa
rõ ràng Với tình hình phát triển YHCT của nước ta hiện tại; hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có bệnh viện YHCT, trên 90% các bệnh viện YHHĐ
có khoa YHCT [30], và lượt khám chữa bệnh bằng YHCT ở TTYT trên tổng số lượt đến khám tại Hà Tĩnh 16,6%, Thừa Thiên Huế 22,2% và Bình Định 16,1% [34]
Tuổi thọ trung bình của con người được nâng cao đi kèm theo đó là tăng tỉ lệ các bệnh mạn tính, trong đó bệnh lí cơ xương khớp chiếm tỉ lệ khá cao, gây nhiều đau đớn và tàn phế cho nhiều người Ở nước ta do điều kiện khí hậu nóng ẩm, điều kiện kinh tế xã hội nên tần suất mắc bệnh xương khớp lên đến 47,6% số người trên
60 tuổi; tại bệnh viện Bạch Mai từ năm 1991 – 2000 số bệnh nhân mắc bệnh CXK đến khám chiếm 4,5% để lại di chứng nặng nề, giảm khả năng sinh hoạt, lao động, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [1][31] Trong điều trị bệnh lí cơ xương khớp theo YHHĐ, nhóm thuốc chống viêm không steroid được xếp vào thuốc
Trang 2điều trị triệu chứng [31]; thuốc có hiệu quả tốt trong việc kháng viêm, giảm đau cho bệnh nhân nhưng mặt khác nó cũng gây ra nhiều tác dụng phụ [8] và chiếm tỉ lệ không nhỏ trong các báo cáo về tương tác thuốc theo như một nghiên cứu tại bệnh viện Thanh Nhàn [16]; ngoài ra NSAID cũng được ghi nhận nhiều tương tác thuốc với các loại thảo dược [52] Trong các loại NSAID hiện nay, Meloxicam được sử dụng rộng rãi, chiếm 43% trên tổng số bệnh nhân được điều trị bằng NSAID tại bệnh viện YHCT Đồng Nai năm 2013 [38] và 51% trên tổng số bệnh nhân điều trị bệnh cơ xương khớp tại bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng Thái Nguyên [32]
YHCT với các phương pháp như uống thuốc, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt có nhiều thành công trong điều trị và hỗ trợ bệnh nhân cơ xương khớp [4];
vì vậy, bệnh lí CXK là nhóm bệnh đang sử dụng các phương pháp điều trị bằng YHCT
có tỉ lệ cao, chiếm 28,4% số bệnh nhân đến khám và điều trị ở các tỉnh phía Bắc [30] Riêng tại bệnh viện YHCT Đồng Nai, tỉ lệ bệnh nhân đang được điều trị phối hợp giữa YHHĐ và YHCT chiếm 61% trong năm 2013 [38] Thuốc YHCT với nhiều dược liệu đã và đang được sử dụng trong nhóm bệnh lí cơ xương khớp nhưng chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc; theo một thống kê từ Cục quản lí dược Việt Nam mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 75.000 tấn dược liệu, trong đó dược liệu nhập từ Trung Quốc lên đến 85% Vì vậy, nhu cầu nghiên cứu tạo bằng chứng khoa học trong
sử dụng và phát triển nguồn dược liệu trong nước trở nên thiết yếu [6] Bài thuốc PT5 gồm các vị thuốc nam phổ biến, dễ tìm và theo lí luận dược lí YHHĐ và YHCT bài thuốc phù hợp sử dụng cho bệnh cơ xương khớp [10][33], có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh bài thuốc này có tác dụng kháng viêm giảm đau trên thực nghiệm [13], hiệu quả đối với bệnh nhân thoái hóa khớp gối, viêm khớp dạng thấp, các bệnh viêm do thấp khác [2],[3] và được khuyến cáo sử dụng điều trị cho bệnh thoái hóa khớp [1],[11] Trong thực tế lâm sàng bài thuốc được sử dụng kết hợp với Meloxicam
để điều trị Thoái hóa khớp, Viêm khớp dạng thấp nhưng chưa có nghiên cứu ghi nhận hiệu quả của việc phối hợp này
Nhằm mục đích cung cấp cơ sở khoa học cho việc kết hợp bài thuốc PT5 và Meloxicam nhằm tăng cường sử dụng bài thuốc PT5 nói riêng và nguồn thuốc nam
Trang 3nói chung trong điều trị bệnh lí cơ xương khớp bằng YHCT Đồng thời bắt kịp xu hướng kết hợp YHCT – YHHĐ trong điều trị và nhu cầu sử dụng YHCT của bệnh
nhân, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khả năng tương tác giữa Meloxicam và bài
thuốc PT5 trên thực nghiệm” để trả lời cho câu hỏi “ Việc kết hợp bài thuốc PT5
và Meloxicam mang lại hiệu quả kháng viêm giảm đau và tác dụng phụ của thuốc lên dạ dày như thế nào trên thực nghiệm ?”
Trang 4MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 5Kết quả của tương tác thuốc là làm thay đổi tác dụng của thuốc ở mức độ khác nhau, có thể tăng hoặc giảm tác dụng của thuốc, thậm chí gây độc hoặc mất hiệu lực điều trị [9],[26]
1.1.1.2 Dịch tễ
Trên thực tế lâm sàng hiện nay, tình trạng bệnh nhân đa bệnh lí, đa triệu chứng ngày càng nhiều nên người thầy thuốc phải phối hợp điều trị nhiều loại thuốc, với mong muốn tăng tác dụng điều trị, giảm nhanh các triệu chứng cũng như giảm tác dụng phụ của thuốc nhưng điều này cũng mang đến một thách thức lớn là làm tăng nguy cơ gây phản ứng có hại do tương tác thuốc
Theo một khảo sát trên các đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất TP.Hồ Chí Minh, trung bình một lần kê đơn phối hợp 6,29 ± 2,06 thuốc, ít nhất là 2 thuốc nhiều nhất là 15 thuốc [20],[39] Và việc sử dụng phối hợp nhiều loại thuốc làm cho tỷ lệ phản ứng có hại (ADR) khi kết hợp nhiều loại thuốc tăng theo cấp số nhân Ước tính tần suất tương tác thuốc trong lâm sàng khoảng 3 – 5% ở số người bệnh dùng vài loại thuốc và tới 20% ở người bệnh đang dùng 10 – 20 loại thuốc [26]
Theo một nghiên cứu tại Việt Nam tỉ lệ tương tác thuốc xuất hiện trong báo cáo ADR tự nguyện được gởi về Cục quản lí dược từ năm 2008 – 2009 và Trung tâm
Trang 6Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc năm 2010 là 37,1% Báo cáo có tương tác chiếm tỷ lệ tăng dần từ báo cáo có 2 thuốc lên báo cáo
có 6 thuốc, tỷ lệ phần trăm báo cáo xuất hiện tương tác trong báo cáo có 5 thuốc là cao nhất 56,99%, báo cáo có 6 thuốc là 49,77% [25]
1.1.1.3 Phân loại
Hiện nay có hai cách phân loại tương tác thuốc, phân loại theo kết quả và phân loại theo cơ chế tác động [9][18]
Theo kết quả tương tác
Tương tác có lợi, tương tác có hại và tương tác vừa lợi vừa hại
Theo cơ chế tác động của thuốc
Tương tác dược động học và dược lực học
1.1.1.4 Cơ chế tương tác thuốc
Hấp thu: Thuốc từ nơi tiếp nhận (uống, tiêm dưới da, tiêm bắp, đặt trực tràng
….) được chuyển vào đại tuần hoàn
Phân bố: Trong máu thuốc được kết hợp với protein - huyết tương, phần không
kết hợp sẽ chuyển vào các mô, rồi gắn với thụ thể đặc hiệu, vào vị trí đích và phát huy hoạt tính
Chuyển hóa và đào thải: Thuốc được chuyển hóa, chất chuyển hóa sẽ được
đào thải qua thận, qua mật hoặc các cơ quan khác
Trong mỗi giai đoạn trên trong cơ thể con người, các thuốc sẽ gặp nhau và tương tác lẫn nhau, để cho kết quả lâm sàng có lợi hoặc có hại
Trang 7- Thay đổi sự hấp thu của thuốc
Sự tương tác thuốc có thể làm thay đổi tốc độ hấp thu hay thay đổi số lượng thuốc được hấp thu
Do thay đổi độ pH của dạ dày và ruột: Sự hấp thu qua màng ruột chủ yếu theo
cách khuếch tán thụ động nên đòi hỏi thuốc phải tan trong lipid và không ion hóa vì vậy sự hấp thu của thuốc phụ thuộc vào hằng số pKa của thuốc và pH của dạ dày – ruột Sự thay đổi pH của dạ dày – ruột do các thuốc dùng kèm hay do thức ăn hoặc
nước uống dùng để uống thuốc có thể ảnh hưởng đến hấp thu của thuốc
Tương tác do tạo phức giữa các thuốc phối hợp: Than hoạt có tính hấp phụ nên
được dùng để giải độc các chất độc ở ruột Vì thế than hoạt hấp phụ những thuốc
dùng đồng thời làm giảm sinh khả dụng của những thuốc này
Tetracyclin tạo phức rất khó hấp thu với các ion kim loại hóa trị 2 và 3 (Ca2+, Al3+,
Fe2+ và Fe3+), làm giảm tác dụng kháng khuẩn của tetracyclin Các ion này có trong sản phẩm từ sữa nên tránh dùng chung tetracyclin với các sản phẩm từ sữa
Tương tác do thay đổi nhu động đường tiêu hóa: Hầu hết các thuốc được hấp
thu chủ yếu ở phần trên ruột non, do đó thuốc nào làm thay độ tốc độ làm rỗng dạ dày đều ảnh hưởng đến sự hấp thu thuốc Ví dụ, propanthelin gây chậm sự làm rỗng
dạ dày nên làm giảm hấp thu paracetamol, còn metoclopramid thì có tác dụng ngược
lại
Sự giảm hấp thu do thuốc: Neomycin gây hội chứng giảm hấp thu tương tự như bệnh Sprue không nhiệt đới, nên làm rối loạn hấp thu của thuốc khác
- Thay đổi quá trình phân phối
Do gắn vào protein huyết tương: Protein huyết tương được xem như kho dự trữ
thuốc vì bổ sung dạng thuốc tự do có hoạt tính trong tuần hoàn Sự gắn giữa thuốc – protein có tính thuận nghịch, các thuốc có ái lực cao với protein huyết tương sẽ đẩy thuốc có ai lực thấp ra khỏi protein huyết tương Sự tương tác này chỉ có ý nghĩa khi thuốc bị đẩy có Vd thấp
Các dạng thay đổi phân phối khác: Quinidin làm tăng nồng độ digoxin huyết
do đẩy digoxin ra khỏi mô
Trang 8Thuốc lợi tiểu làm giảm thể tích dịch cơ thể nên tăng nồng độ aminoglycosid huyết gây độc tai
- Thay đổi quá trình chuyển hóa
Cảm ứng và ức chế enzym: Các chất gây cảm ứng hoặc ức chế enzym gan sẽ
làm thay đổi sinh khả dụng của các thuốc dùng chung nên ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc này, đặc biệt là thuốc có hệ số ly trích ở gan nhỏ (E < 0,3) rất nhạy
cảm với cảm ứng hoặc ức chế enzym gan
Hệ Cyt P450 là một gia đình gồm nhiều isoenzym, trong đó đồng dạng CYP P2D6
và CYP P3A4 chuyển hóa hầu hết các thuốc (90%) CYP P2D6 có tính đa hình di truyền, trong đó dân số được chia thành hai nhóm, nhóm đa số đều chuyển hóa nhanh, nhóm còn lại bị chuyển hóa chậm, chính nhóm chuyển hóa chậm mới cần giảm liều hơn nhóm chuyển hóa nhanh bởi vì nó mất hoạt tính chậm hơn Điều đó cho thấy sự thay đổi về đáp ứng với thuốc do khác biệt về chuyển hóa, có người biểu hiện độc tính có người thì không dù dùng cùng liều
Thay đổi lưu lượng máu qua gan: Đối với các thuốc có tỷ lệ ly trích cao, tức là
thuốc bị chuyển hóa qua gan lần đầu cao thì tốc độ loại trừ các thuốc này không dựa vào các tiến trình trong gan mà phụ thuộc vào tốc độ vận chuyển từ máu tới gan Ví
dụ, cimetidin làm giảm lưu lượng máu qua gan nên làm tăng sinh khả dụng của
propranolol
Thay đổi quá trình đào thải: Ngoại trừ thuốc mê đường hô hấp, đa số thuốc
được đào thải qua mật hoặc qua nước tiểu Các thuốc có phân tử nhỏ được lọc qua cầu thận (nước, muối và một số thuốc), các thuốc có phân tử lớn được vận chuyển hoạt động qua ống thận Ngoài ra ở ống thận còn có quá trình tái hấp thu thụ động thuốc Vậy các thuốc làm thay đổi sự đào thải các thuốc ở thận thông qua thay đổi
pH, hệ thống vận chuyển hoạt động ở ống thận và lưu lượng máu đến thận
Tương tác thông qua sự thay đổi pH nước tiểu: Màng tế bào chỉ cho thuốc dạng
không ion hóa đi qua bằng cách khuếch tán qua lớp lipid Vì vậy, sự thay đổi pH nước tiểu sẽ làm tăng tỉ lệ thuốc ion hóa sẽ làm tăng đào thải thuốc qua thận Ý nghĩa lâm sàng của sự tương tác này không lớn mặc dù có một số lượng lớn thuốc là acid yếu hoặc base yếu nhưng hầu hết các thuốc này bị chuyển hóa ở gan thành các hợp chất
Trang 9mất hoạt tính và chỉ có một ít thuốc đào thải nguyên vẹn Trong trường hợp quá liều
cũng áp dụng cách thay đổi pH nước tiểu để giải độc một số thuốc
Tương tác thông qua thay đổi lưu lượng thận: Lưu lượng thận được kiểm soát
một phần do sản xuất prostaglandin Vì vậy các thuốc ức chế sản xuất prostaglandin
sẽ làm giảm đào thải thuốc dùng kèm
Tương tác do thay đổi bài tiết chủ động qua ống thận: Các thuốc sử dụng cùng
hệ thống vận chuyển hoạt động ở ống thận có thể cạnh tranh lẫn nhau để đào thải Tương tác do thay đổi bài tiết mật và chu kỳ gan ruột: Một số thuốc dạng liên
hợp tan trong nước bài tiết qua mật thường có chu kỳ gan ruột nên tác dụng kéo dài Nếu sử dụng kháng sinh dẫn đến tiêu diệt hệ vi khuẩn ruột nên các thuốc có chu kỳ
gan ruột không được tái hấp thu rồi đào thải qua phân
Tương tác dược lực học
Loại tương tác này thường gặp trong sử dụng thuốc, có liên quan đến sự gắn thuốc vào receptor Nếu đối nghịch tại receptor tương tác đó là đối kháng, nếu cùng là chất chủ vận tại receptor thì tương tác đó là hiệp lực
Là sự hiệp lực khi hoạt tính phối hợp của hai dược phẩm bằng tổng hoạt tính của mỗi dược phẩm khi dùng riêng lẻ Sự hiệp lực này cảy ra khi các thuốc tác động trên cùng receptor
Sự hiệp lực bội tăng: Khi hoạt tính phối hợp của hai dược phẩm lớn hơn tổng
số hoạt tính của mỗi dược phẩm khi dùng riêng lẻ Sự hiệp lực này thường do thuốc
tác động trên các receptor khác nhau
Sự tăng tiềm lực: Một thuốc tự bản thân ít hoặc hoạt tính kém nhưng nếu dùng chung với thuốc khác, nó làm tăng hoạt tính của thuốc dùng chung
Trang 10Tương tác do rối loạn cân bằng dịch và chất điện giải
Cơ tim tăng nhạy cảm với digitalis do giảm nồng độ K+ máu khi sử dụng chung với thuốc lợi tiểu mất K+ như furosemid
1.1.1.5 Hậu quả
Tương tác thuốc bất lợi gây thiệt hại nhiều mặt Xét về hậu quả trong điều trị, tương tác thuốc có thể làm giảm hiệu quả điều trị, không cải thiện triệu chứng lâm sàng hay gây ra những phản ứng có hại, độc tính trên bệnh nhân Nghiêm trọng hơn, tương tác thuốc có thể gây ra các tai biến nguy hiểm thậm chí có thể gây tử vong cho bệnh nhân Ước tính có khoảng 2,8% biến cố có hại ở bệnh nhân nằm viện gây ra bởi tương tác thuốc Ngoài ra Bác sỹ, các cơ sở y tế cũng phải đối diện với trách nhiệm
y khoa nếu hiệu quả điều trị thấp hoặc một tương tác thuốc bất lợi cho bệnh nhân được chứng minh trên toa thuốc Xét về hậu quả kinh tế, một bệnh nhân bị tương tác thuốc phải nằm viện dài ngày hơn và tốn nhiều chi phí điều trị hơn Nghành công nghiệp dược phẩm cũng chịu nhiều thiệt hại nếu một thuốc được chứng minh gây ra những tương tác bất lợi
1.1.1.6 Yếu tố nguy cơ
Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng: Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng càng nhiều thì tỷ lệ gặp phải tương tác thuốc bất lợi càng tăng
Số bác sỹ kê toa: Nếu bệnh nhân được điều trị bởi nhiều bác sỹ cùng lúc, mỗi
bác sỹ có thể không nắm đầy đủ thông tin về những thuốc bệnh nhân đang sử dụng Điều này có thể dẫn đến những tương tác thuốc nghiêm trọng không thể kiểm soát
được
Trang 11Yếu tố di truyền: Yếu tố di truyền quyết định tốc độ chuyển hóa của enzym Các
bệnh nhân có cơ địa chuyển hóa chậm có nguy cơ cao bị tương tác thuốc do lượng
thuốc bị tích lại trong có thể hơn các bệnh nhân có tốc độ chuyển hóa nhanh
Tình trạng bệnh lí: Một số tình trạng bệnh lí của bệnh nhân làm tăng nguy cơ
xảy ra tương tác thuốc: bệnh tim mạch (loạn nhịp, suy tim sung huyết), đái tháo đường, động kinh, bệnh lí đường tiêu hóa (loét đường tiêu hóa, chứng khó tiêu), bệnh
về gan, tăng lipid máu, suy chức năng tuyến giáp, bệnh HIV, nhiễm nấm, bệnh tâm thần, suy giảm chức năng thận, bệnh hô hấp (hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) Nhiều bệnh đòi hỏi bệnh nhân phải sử dụng nhiều thuốc để đạt được hiệu quả điều trị Một số bệnh lý khác bắt buộc phải điều trị bằng những thuốc có khoảng điều trị
hẹp
Đối tượng bệnh nhân đặc biệt: Người lớn tuổi có nguy cơ tương tác thuốc cao
hơn, do bệnh nhân cao tuổi thường mắc bệnh mạn tính hoặc mắc kèm nhiều bệnh, làm cho phải sử dụng nhiều thuốc cùng lúc ngoài ra ở nhóm đối tượng này có nhiều
thay đổi chức năng sinh lý do quá trình lão hóa
Phụ nữ có nguy cơ bị tương tác thuốc cao hơn nam giới
Bệnh nhân béo phì hay suy dinh dưỡng thường có thay đổi mức chuyển hóa của các enzym nên đối tượng này nhạy cảm hơn và dễ bị ảnh hưởng bởi tương tác thuốc hơn
Những đối tượng có nguy cơ cao nhất là nhóm bệnh nhân bệnh nặng, bệnh nhân mắc bệnh tự miễn, hay bệnh nhân ghép cơ quan
Thuốc có khoảng điều trị hẹp:
Các thuốc thường gặp là: Kháng sinh aminoglycosid, cyslosporin, digoxin, những thuốc điều trị HIV, thuốc chống đông, thuốc điều trị loạn nhịp, thuốc điều trị động kinh và thuốc điều trị đái tháo đường
Liều dùng và tính chất dược động học của thuốc : Nhiều tương tác thuốc xảy ra
phụ thộc vào nồng độ của thuốc trong máu, do đó, liều dùng và tính chất dược động lực học của thuốc quyết định xảy ra tương tác và hậu quả của tương tác đó
Trang 121.1.1.7 Ý nghĩa lâm sàng
Nhờ có sự tương tác thuốc nên trên lâm sàng thầy thuốc phối hợp thuốc với mục đích:
Làm tăng tác dụng của thuốc chính
Làm giảm tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị
Giải độc
Làm giảm sự quen thuốc và kháng thuốc
Tuy nhiên tương tác thuốc cũng có thể gây nên hậu quả trên bệnh nhân ở nhiều mức độ khác nhau, từ mức nhẹ không cần can thiệp đến mức nặng như bệnh mắc kèm hay tử vong Tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng là tương tác làm thay đổi tác dụng điều trị hay độc tính của thuốc, cần phải có những can thiệp y khoa hoặc chỉnh liều
Do đó, theo kết quả nghiên cứu in vitro hoặc in vivo một tương tác có thể xảy ra
nhưng chưa chắc tương tác đó có ý nghĩa trên lâm sàng Các yếu tố quan trọng để đánh giá ý nghĩa lâm sàng của một tương tác là : Mức độ nghiêm trọng của tương tác, phạm vi điều trị của thuốc và khả năng kết hợp hai thuốc trên lâm sàng
Đối với những thuốc có khoảng điều trị hẹp, một thay đổi nhỏ về nồng độ cũng
có thể gây ra một tác động lớn trên lâm sàng Ngược lại, một thuốc có khoảng điều trị rộng, việc nồng độ tăng lên gấp đôi hoặc gấp ba cũng không để lại hậu quả trên lâm sàng Vì vậy, hậu quả tương tác và hiệu quả điều trị quyết định ý nghĩa lâm sàng của một tương tác thuốc
Trang 13cần đến những cơ sở dữ liệu (CSDL) để tra cứu Trên nhu cầu đó nhiều CSDL chuyên
về tra cứu tương tác thuốc được ra đời
Ghi nhớ kiến thức cơ bản về tương tác thuốc
Đánh giá nguy cơ (tuổi, thay đổi sinh lý, tình trạng bệnh lý, uống rượu, hút thuốc, chế độ ăn, yếu tố thuộc về môi trường) trên từng đối tượng bệnh nhân cụ thể
Sử dụng CSDL tra cứu tương tác thuốc như một công cụ tra cứu, tham khảo nên tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
Ghi nhớ và thường xuyên cập nhật danh sách những thuốc dễ có khả năng gây tương tác như những chất cảm ứng hay ức chế enzym, cũng như những thuốc có khoảng điều trị hẹp
Hỏi bệnh nhân về tất cả những thuốc bệnh nhân đang sử dụng bao gồm cả thuốc
có nguồn gốc dược liệu – dược cổ truyển, thực phẩm chức năng trước khi kê đơn.Điều đây là vô cùng quan trọng vì nhiều bệnh nhân nghĩ rằng thực phẩm chức năng có tác dụng “nhẹ”, không tương tác với những thuốc thông thường hay thực phẩm chức năng không gây ra những phản ứng có hại vì chúng có nguồn gốc tự nhiên hay đơn giản họ nghĩ rằng thực phẩm chức năng không phải là thuốc
Sử dụng một thuốc thay thế không gây tương tác
Nếu thuốc thay thế không sẵn có, nên uống thuốc khác có khả năng gây tương tác thấp hơn hoặc được chuyển hóa theo một con đường khác
Trang 14Nếu hai thuốc tương tác buộc phải sử dụng đồng thời, sử dụng những phương pháp để giảm thiểu tương tác như thay đổi dạng bào chế, thời gian uống thuốc hợp
Hướng dẫn cho bác sỹ và bệnh nhân về nguy cơ xảy ra tương tác và các biểu hiện, triệu chứng có thể xuất hiện nếu tương tác xảy ra
1.1.2 Tương tác thuốc theo YHCT [28]
Trong sử dụng thuốc YHCT, do diễn biến bệnh tật thường phức tạp và thay đổi với biểu hiện hội chứng hư hay thực là đồng thời, hàn nhiệt xen kẽ nên khi điều trị những triệu chứng khác nhau với chỉ một loại thuốc trở nên khó khăn Vì vậy, cần phải có sự phối hợp hai vị thuốc trở lên theo yêu cầu điều trị, nó là cơ sở cho việc tạo thành các bài thuốc trên lâm sàng Phối ngũ một mặt là để phát huy hiệu lực chữa bệnh, hạn chế tác dụng xấu của các vị thuốc, mặt khác để thích ứng với những chứng hậu bao gồm nhiều triệu chứng phức tạp trong quá trình bệnh tật
Thường có các loại hình phối ngũ sau đây
Tương tu: Hai loại thuốc có tác dụng tương tự nhau khi phối ngũ sẽ làm tăng
tác dụng chữa bệnh (tác dụng hiệp đồng)
Tương sử: Khi một vị thuốc có tác dụng chính phối ngũ với một vị thuốc có tác
dụng bổ trợ thì vị thuốc phối hợp làm nâng cao hiệu quả chữa bệnh của vị thuốc chính Hai phép tương tu và tương sử là hai cách phối ngũ thông dụng nhất trong điều trị nhằm tăng hiệu quả điều trị của thuốc
Tương úy: Khi hai vị thuốc phối hợp với nhau, vị này có tác dụng chế ngự tính
xấu của vị kia
Trang 15Tương sát: Vị thuốc có độc dùng chung với vị thuốc khác để tiêu trừ độc tính
và làm cho vị thuốc trở nên không độc
Tương úy và tương sát là hai loại phối ngũ đối với thuốc có độc tính
Tương ố: Hai vị thuốc có tính vị khác nhau khi dùng phối hợp sẽ làm giảm hoặc
làm mất hiệu lực của nhau
Tương phản: Một số ít thuốc khi phối ngũ sẽ gây tác dụng độc thêm
Tương ố và tương phản nói lên sự cấm kỵ trong khi uống thuốc
Dùng đơn độc một vị thuốc: mà có tác dụng như Độc sâm thang
Bảy loại phối ngũ này Y học cổ truyền gọi là thất tình hòa hợp
Ngoài việc cẩn thận trong phối các dược liệu với nhau, một số thuốc và thức ăn có ảnh hưởng lẫn nhau khi dùng chung Vì vậy, cần có những kiêng kỵ khi uống thuốc
để phát huy tác dụng của thuốc
1.1.3 Tương tác giữa thuốc YHHĐ và thuốc YHCT
Trong những năm gần đây việc sử dụng phối hợp thuốc YHCT với các thuốc YHHĐ với mong muốn tăng hiệu quả điều trị ngày càng phổ biến [52] Nhưng việc phối hợp thuốc YHCT và YHHĐ vẫn còn nhiều hạn chế trong nhận thức của cả bác
sĩ lẫn bệnh nhân, việc chủ quan trong quan điểm uống thuốc YHCT dẫn đến bệnh nhân tự ý sử dụng đi kèm nó với một thuốc có kê toa mà không có sự hướng dẫn của bác sĩ điều trị Điều này làm tăng tần suất tương tác giữa các thuốc YHHĐ và YHCT Bài thuốc YHCT là hỗn hợp nhiều thành phần dược liệu, mỗi dược liệu lại có nhiều thành phần hoạt chất khác nhau Các hoạt chất này có hoạt tính rõ ràng và có rất nhiều khả năng tương tác với nhau Đồng thời khi sử dụng chung nó với một loại thuốc YHHĐ với hoạt chất được tổng hợp và hoạt tính mạnh thì tiềm tàng nguy cơ cao tương tác thuốc giữa chúng [46] Cho tới nay, các nhà nghiên cứu chủ yếu đề cập tới vai trò của hệ thống enzym CYP 450 và protein vận chuyển thuốc trong tương tác thuốc – dược liệu theo cơ chế dược động học Đối với cơ chế tương tác dược lực học, tương tác thuốc – dược liệu khó phân loại chặt chẽ [46],[47] Tương tác này có thể
có lợi như làm tăng tác dụng điều trị, giảm tác phụ nhưng nó cũng có thể gây ra nhiều tác dụng có hại cho bệnh nhân Có rất nhiều thuốc YHCT khi dùng chung với các
Trang 16thuốc YHHĐ làm tăng hoặc giảm tác dụng của nhau, hay có thể sinh ra độc tố gây nhiều tác dụng phụ nguy hiểm [51]
Một số tương tác giữa thuốc YHHĐ và thuốc YHCT đã được nghiên cứu, theo thống kê của Dược sĩ Hoàng Nguyễn Kim Thoa năm 2013 [37]:
Bảng 1.1 Một số tương tác giữa thuốc YHHĐ và YHCT
Trang 17Dùng đồng thời với flupenthixol gây chứng nằm ngồi không yên, run, cứng cơ
Ý kiến trái chiều trên dược động học:
+ Liều khuyến cáo tới 240 mg/ngày không tác dụng đáng kể trên hoạt động của các enzym CYP1A2, 2C9, 2D6, 2B6, 2E1, 3A4 + Cảm ứng CYP 3A4 bởi liều cao G biloba
+ Ức chế CYP 3A4
+ Không có tác dụng đáng kể trên CYP 1A2, 2D6, 2E1, 3A
- Cảm ứng CYP 2C19 mức trung bình (xuất hiện ở liều cao nhất được khuyến cáo, 240 mg/ngày) Báo cáo ca động kinh nguy hiểm tính mạng do tương tác với acid valproic và phenytoin, giảm Cp của omeprazol đáng kể (với acid valproic, phenytoin và omeprazol đều là cơ chất CYP 2C19)
- Ý kiến trái chiều trên chức năng tiểu cầu và đông máu:
+ Tăng cường tác dụng của thuốc chống đông như warfarin, thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin, ticlopidin, ibuprofen + Các thử nghiệm không xác nhận tác dụng này:
Tăng tác dụng trên thời gian chảy máu của cilostazo l nhưng không có mối tương quan đáng kể giữa kéo dài thời gian chảy máu và ức chế kết tập tiểu
Không ảnh hưởng trên thời gian chảy máu, các thông số đông máu hay sự kết tập tiểu cầu khi dùng đồng thời aspirin trong 7 ngày hay 4 tuần, khi dùng đồng thời warfarin trong 14 ngày
Liều 120 mg và 240 mg/ngày không tăng tác dụng ức chế tiểu cầu hay thời gian hình thành cục máu đông của cilostazol và clopidogrel
- Tăng tác dụng của thuốc chống trầm cảm phenelzin, trazadon, gây hôn mê ở một bệnh nhân Alzheimer dùng liều thấp trazadon đồng thời với G.biloba, tăng tác dụng của các dẫn chất
Trang 18benzodiazepin (alprazolam, diazepam), các thuốc chống nấm (econazol, ketoconazol), theophylin, ciclosporin
- Ức chế tác dụng của lợi tiểu thiazid nhưng không quan sát thấy trên lâm sàng, làm tăng huyết áp ở một phụ nữ lớn tuổi tăng huyết
áp sử dụng lợi tiểu thiazid nhưng không đánh giá được mối quan
hệ nhân quả
- G.biloba thể hiện ảnh hưởng khác nhau trên cơ chất của P-gp: + Tăng AUC của talinolol
+ Không thay đổi dược động học của digoxin
+ Không ảnh hưởng đến dược động học của fexofenadin
C.A.Mey (Nhân
sâm)
- Tăng Cp của nifedipin
- Tăng tác dụng của phenelzin Báo cáo ca về tình trạng mất ngủ, đau đầu, run, hưng cảm khi sử dụng đồng thời nhân sâm và phenelzin (IMAO)
- Giảm INR ở bệnh nhân đang điều trị ổn định bằng warfarin
- Không ảnh hưởng CYP 3A4, 2E1, 1A2 Ức chế CYP 2D6, mức
độ nhẹ ở người lớn tuổi hoặc không có ý nghĩa lâm sàng
Trong nhóm thuốc NSAID, Meloxicam có tần suất sử dụng cao, tần suất này
là 51% tại bệnh viện Bạch Mai năm 2000 [23], bệnh viện YHCT Đồng Nai năm
2013 là 43% [32]
1.2.2 Dược lí và cơ chế tác dụng
Meloxicam là dẫn xuất của oxicam có tác dụng chống viêm, giảm đau, hạ sốt Cũng giống như một số thuốc chống viêm không steroid khác, Meloxicam ức chế
Trang 19cyclooxygenas (COX) làm giảm tổng hợp prostaglandin, chất trung gian có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của viêm, sốt và đau
Do Meloxicam ức chế COX-2 chỉ gấp 10 lần COX-1 nên được xếp vào loại ưu tiên ức chế trên COX-2, không xếp vào loại ức chế chọn lọc COX-2 Mức độ ức chế COX-1 của Meloxicam phụ thuộc vào liều dùng và sự khác nhau của các cá thể người bệnh Mặc dù có tác dụng ức chế COX-1 nhưng Meloxicam có ít tác dụng phụ trên tiêu hóa hơn so với các thuốc ức chế không chọn lọc COX-1
1.2.3 Dược lực học
Meloxicam hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, sinh khả dụng đường uống đạt 89%
so với tiêm tĩnh mạch, thức ăn rất ít ảnh hưởng đến sự hấp thu Sự hấp thu đối với dạng viên nén, viên nang và đạn đặt trực tràng là tương đương nhau và đạt được nồng
độ tối đa trong máu sau 6 giờ Trong máu, Meloxicam chủ yếu gắn vào albumin với
tỉ lệ trên 99% Thuốc khuếch tán tốt vào dịc khớp, nồng độ trong dịch khớp đạt tương
đương 50% nồng độ trong huyết tương, nhưng dạng thuốc tự do của khớp cao gấp
2,5 lần trong huyết tương vì trong khớp có ít protein hơn Một lượng nhỏ thuốc chưa chuyển hóa đào thải qua nước tiểu (0,2%) và phân (1,6%)
Nửa đời thải trừ của thuốc trung bình 20 giờ Ở người giảm nhẹ hoặc vừa chức năng gan, hoặc thận (Clcr > 20 mL/phút) không cần điều chỉnh liều Meloxicam Meloxicam có thể tích phân bố khoảng 10 lít và không thẩm tách được
Trang 20chứng hen phế quản, polyp mũi, phù mạch thần kinh hoặc phù Quincke, mày đay xuất hiện khi dùng aspirin hoặc các thuốc chống viêm không steroid khác
Loét dạ dày tá tràng tiến triển
Chảy máu dạ dày, chảy máu não
Điều trị đau sau phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành
Không uống thuốc đặt trực tràng cho những người có tiền sử viêm trực tràng hoặc chảy máu trực tràng
Suy gan nặng hoạc suy thận nặng không lọc máu
Phụ nữ có thai và cho con bú
1.2.6 Thận trọng
Mặc dù thuốc ức chế ưu tiên COX-2 nhưng cũng có thể gặp một số tác dụng không mong muốn như các thuốc chống viêm không steroid khác nên khi dùng Meloxicam phải hết sức thận trọng ở những người có tiền sử loét dạ dày – tá tràng, người bệnh đang uống thuốc chống đông máu vì thuốc có thể gây loét dạ dày tá tràng, gây chảy máu Để giảm thiểu tác dụng không mong muốn của Meloxicam nên dùng
liều thấp nhất có tác dụng trong thời gian ngắn nhất có thể
Trong quá trình uống thuốc có biểu hiện bất thường trên da, niêm mạc hoặc có
dấu hiệu loét hay chảy máu đường tiêu hóa phải ngưng ngay
Meloxicam ức chế tổng hợp prostaglandin ở thận dẫn đến giảm tưới máu thận Những người bệnh có giảm dòng máu tới thận hoặc giảm thể tích máu như suy tim, hội chứng thận hư, xơ gan, bệnh thận nặng, đang dùng thuốc lợi niệu hoặc đang tiến hành các phẫu thuật lớn cần phải kiểm tra thể tích nước tiểu và chức năng thận khi
dùng Meloxicam
Meloxicam có thể gây tăng huyết áp hoặc làm nặng hơn bệnh tăng huyết áp, do
đó khi uống thuốc cần phải thường xuyên theo dõi huyết áp Meloxicam có thể gây tăng nhẹ hoặc thoáng qua transamin hoặc các thông số đánh giá chức năng gan khác
Trang 21nhau Khi các thông số này tăng cao vượt quá giới hạn bình thường ở mức có ý nghĩa
là tăng kéo dài thì phải ngừng dùng Meloxicam
Ở những người bệnh bị xơ gan giai đoạn ổn định khi uống thuốc không cần phải giảm liều
Thuốc không ảnh hưởng đến lái tàu xe, vận hành máy nhưng có thể gây ra tác dụng không mong muốn như chóng mặt, buồn ngủ nên tốt nhất không dùng Meloxicam khi đang tham gia các hoạt động này
Người cao tuổi có chức năng tim, gan, thận kém không nên dùng Meloxicam
1.2.7 Thời kì mang thai
Nghiên cứu thực nghiệm không có bằng chứng gây quái thai của Meloxicam Tuy nhiên, Meloxicam được khuyến cáo không dùng cho phụ nữ có thai, nhất là trong
3 tháng cuối thai kì vì lo ngại ống động mạch đóng sớm hoặc các tai biến khác cho thai nhi
1.2.8 Thời kì cho con bú
Không nên dùng Meloxicam trong thời kì cho con bú
Nếu cần uống thuốc cho mẹ thì không nên cho con bú
1.2.9 Tác dụng không mong muốn
Cũng giống như các thuốc chống viêm không steroid khác Meloxicam thường gây ra tác dụng không mong muốn ở nhiều cơ quan đặc biệt trên đường tiêu hóa, máu thận và ngoài da
Thường gặp, ADR > 1/100
Rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, nôn, táo bón, đau bụng, chướng bụng, tiêu chảy, thiếu máu, ngứa, phát ban trên da, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, hội chứng giống cúm, ho, viêm hầu họng, đau cơ, đau lưng, đau đầu, phù, thiếu máu khi dùng kéo dài
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
Tăng nhẹ transaminase, bilirubin, ợ hơi, viêm thực quản, loét dạ dày – tá tràng, chảy máu đường tiêu hóa tiềm tàng
Trang 22 Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu
Viêm miệng, mày đay
Tăng huyết áp, đánh trống ngực, đỏ bừng mặt
Tăng nồng độ creatinin và ure máu, đau tại chỗ tiêm
Chóng mặt ù tai buồn ngủ
Hiếm gặp, ADR < 1/1000
Viêm đại tràng, loét thủng dạ dày – tá tràng, viêm gan, viêm dạ dày
Tăng nhạy cảm của da với ánh sáng, ban hồng đa dạng, hội chứng Stevens Johnson, hội chứng Lyell, cơn hen phế quản
Phù mạch thần kinh, choáng phản vệ
Liều lượng và cách dùng
1.2.10 Cách dùng
Thuốc có thể uống, tiêm bắp, đặt trực tràng ngày 1 lần
Uống vào lúc no hoặc bất kì lúc nào, có dùng thuốc kháng acid hay không Tiêm bắp sâu, vào phần tư trên của mông, trước khi bơm thuốc, phải hút xem
có máu hay không (tránh tiêm vào mạch máu) Nếu lúc tiêm người bệnh đau nhiều phải ngừng ngay
Không vượt quá liều 15 mg/ngày
Đợt cấp của thoái hóa khớp: 7,5 mg/lần/ngày Khi cần có thể tăng tới 15 mg/lần/ngày Nếu dùng tiêm bắp không vượt quá liều 15 mg/ngày Đối với
Trang 23người có nguy cơ tai biến cao, liều khởi đầu là 7,5 mg/ngày Thời gian điều trị
2 – 3 ngày (thời gian này cho phép, nếu cần, chuyển sang đường uống hoặc
trực tràng)
Người cao tuổi: Liều dùng khuyến cáo 7,5 mg/1 lần/ngày
Suy gan, thận: Nhẹ và vừa, không cần thiết điều chỉnh liều; nếu suy nặng không dùng
Suy thận nặng chạy thận nhân tạo: Liều không vượt quá 7,5 mg/ngày
Trẻ em dưới 2 tuổi: Độ an toàn và hiệu quả chưa được xác định
Trẻ em trên 2 tuổi: Liều dùng 0,125 mg/kg/ngày, tối đa không vượt quá 15 mg/ngày 1.2.11.Tương tác thuốc
Thuốc có tác dụng hiệp đồng tăng trên mức ức chế cyclooxygenas với các thuốc chống viêm không steroid khác ở liều cao làm tăng nguy cơ loét dạ dày – tá tràng và chảy máu, cho nên không dùng Meloxicam cùng với các thuốc chống viêm không steroid khác
Thuốc chống đông máu dạng uống, ticlopidin, heparin, thuốc làm tan huyết khối: Meloxicam làm tăng nguy cơ chảy máu, do vậy tránh phối hợp Trong quá trình điều trị cần theo dõi chặt chẽ tác dụng chống đông máu
Lithi: Meloxicam làm tăng nồng độ lithi trong máu, do vậy cần phải theo dõi nồng độ lithi trong máu trong quá trình kết hợp hai thuốc này với nhau
Methotrexat: Meloxicam làm tăng độc tính của methotrexat trên hệ thống huyết học do đó phải đếm tế bào máu định kì
Vòng tránh thai: Thuốc làm giảm hiệu quả tránh thai của vòng tránh thai trong
tử cung
Thuốc lợi niệu: Meloxicam có thể làm tăng nguy cơ suy thận cấp ở những người bị bệnh mất nước Trong trường hợp phải dùng phối hợp thì phải bù hồi nước cho người bệnh và theo dõi chức năng thận cẩn thận
Thuốc chống tăng huyết áp như: Thuốc ức chế alpha-adrenergic, thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin, các thuốc giãn mạch: Do Meloxicam ức chế tổng
Trang 24hợp prostaglandin nên làm giảm tác dụng giãn mạch, hạ huyết áp của các thuốc phối hợp
Cholestyramin: Cholestyramin gắn với Meloxicam ở đường tiêu hóa làm giảm hấp thu, tăng thải trừ Meloxicam
Cyclosporin: Meloxicam làm tăng độc tính trên thận do vậy khi phối hợp cần theo dõi chức năng thận
Warfarin: Meloxicam có thể làm tăng quá trình chảy máu, do vậy cần theo dõi thời gian chảy máu khi dùng kèm
Furosemid và thiazid: Thuốc làm giảm tác dụng lợi niệu của furosemid, nhóm thiazid
1.2.12 Tương kị: Không trộn Meloxicam với các thuốc khác trong một bơm tiêm 1.2.13.Quá liều và cách xử trí
Hiện nay chưa có thuốc đối kháng đặc hiệu Meloxicam nên trong trường hợp quá liều, ngoài biện pháp điều trị triệu chứng, hồi sức cần phải dùng biện pháp tăng thải trừ và giảm hấp thu thuốc như rửa dạ dày, uống cholestyramin
1.3 Bài thuốc PT5
1.3.1 Xuất xứ: Từ “Dược lí trị liệu thuốc nam” của GS Bùi Chí Hiếu [21]
1.3.2 Thành phần
Bảng 1.2 Thành phần cấu tạo bài thuốc PT5 [2]
Tên dược liệu Thành phần Vai trò Tên dược liệu Thành phần Vai trò
Trang 25Bảng 1.3 Các công trình nghiên cứu về bài thuốc PT5
ngày
Dmax = 300 gDL/kg
Thuốc an toàn, không biểu hiện độc tính cấp
Độc tính bán trường diễn
25 gDL/kg Thuốc không ảnh hưởng lên trọng lượng, Hồng cầu, Bạch cầu,
Tim cô lập, Huyết áp và hô hấp của súc vật
Mô hình viêm khớp
4 gDL/con/ngày Tác dụng giảm sưng trong mô hình bệnh lí viêm khớp và giảm
viêm trên giải phẫu bệnh khớp chuột
BN Viêm khớp dạng thấp
Can thiệp Cao lỏng 60 g/người /ngày Hiệu quả giảm viêm và chống viêm trên bệnh nhân đạt 79%
2005 Nguyễn Thị
Minh Tâm [3]
BN thoái khớp gối
Can thiệp Cao lỏng 110 g/người
Thuốc an toàn, không biểu hiện độc tính cấp
Độc tính bán trường diễn
0,78g bột thuốc/kg
Thuốc không ảnh hưởng lên trọng lượng, Hồng cầu, Bạch cầu, Tim cô lập, Huyết áp và hô hấp của súc vật
Viêm cấp/carrageenan
0,78g bột thuốc/kg
Ức chế phản ứng phù lên đến 66,8% so với lô bệnh lí
Nhúng đuôi chuột/nước nóng
0,78 g bột thuốc/kg
Thay đổi tiềm thời chuột giật mạnh đuôi sau 90 phút lớn hơn
và khác biệt có ý nghĩa thống kê só với lô bệnh lí
Trang 261.3.4 Phân tích thành phần bài thuốc
1.3.4.1 Cỏ xước [10.1],[33.1]
Còn có tên là nam ngưu tất
Tên khoa học Achyranthes aspera Blume
Thuộc họ Giền (Amaranthaceae)
Ta dùng rễ phơi hay sấy khô – Radix Achyranthes aspera – của cây Cỏ xước
Mô tả cây:
Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1 m, có khi cao đến 2 m Lá mọc đối, có cuống, dài 5-12 cm, rộng 2-4 cm, phiến lấ hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá
Hình 1.1 Cỏ xước [53]
Phân bố, thu hái và chế biến:
Rễ đào về, giũ sạch đất cát, phơi hay sấy khô
Trang 27Đối với động vật đã gây mê, Cỏ xước có tác dụng giảm huyết áp tạm thời, sau
vài phút trở lại bình thường nhưng sau đó lại hơi tăng
Cỏ xước có tác dụng là yếu sức co bóp của cơ tim ếch
Cỏ xước có tác dụng lợi tiểu
Liều cao, Cỏ xước có tác dụng kích thích sự vận động của tử cung
Chất saponin trong Cỏ xước có tác dụng phá huyết, làm vón albumin
Công dụng và liều dùng: Rễ cây được dùng trị cảm mạo, phát sốt, sốt rét, thấp
khớp tạng khớp, viêm thận phù thũng, tiểu tiện không lợi, đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều
Tính vị theo đông y: Vị chua, đắng, bình, không độc, vào hai kinh Can và Thận
Có tác dụng phá huyết, hành ứ, bổ can thận, mạnh gân cốt
Trong nhân gian Cỏ xước được dùng trong bệnh lí viêm khớp, đau bụng, kinh nguyệt khó khăn
Ngày dùng 3 -9g dưới dạng thuốc sắc
Không sử dụng cho phụ nữ có thai
1.3.4.2 Hà thủ ô [10.2],[33.2]
Còn gọi là thủ ô, giao đằng, dạ hợp, địa tinh
Tên khoa học Polygonum multiflorum Thumb Fallopia multiflora
Thuộc họ Rau răm (Polygonaceae)
Hà thủ ô đỏ là rễ củ phơi khô của cây Hà thủ ô
Trang 28 Mô tả cây
Dây leo, sống nhiều năm, thân xoắn vào nhau Mặt ngoài thân có màu xanh tía, không lông Lá mọc so le, cuống dài, phiến lá hình tim hẹp Hoa mọc thành chùm nhiều nhánh, cánh hoa màu trắng
Hình 1.2 Hà thủ ô [53]
Phân bố, thu hái và chế biến:
Mọc hoang ở các vùng núi phía bắc
Thu hoạch vào mùa xuân hay mùa thu Đào về rửa sạch đất, bổ hai hay tư, đồ rồi phơi hay sấy khô
Thành phần anthraglucosid có tác dụng xúc tiến sự co bóp của ruột, xúc tiến sự
tiêu hóa và cải thiện dinh dưỡng
Trang 29Hà thủ ô có tác dụng hạ cholesterol huyết thanh
Công dụng và liều dùng
Bổ máu, chống viêm Chữa thận suy, yếu gan; thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém; sốt rét mạn tính, thiếu máu, ít sữa; các bệnh của phụ nữ sau khi đẻ, xích bạch đới; đau lưng, thấp khớp, di tinh, khí hư, đại tiện ra máu; đái buốt, đái dắt, đái ra máu (lao lâm); mẩn ngứa, bệnh ngoài da
Uống lâu ngày chữa người già xơ cứng mạch máu não, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con; chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, hồi hộp chóng mặt, ù tai hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón; điều kinh bổ huyết
Hình 1.3 Lá lốt [53]
Trang 30 Phân bố, thu hài và chế biến
Mọc hoang nhiều nơi trên nước ta, thu hái quanh năm Hái về rửa sạch dùng tươi hay khô
Nước sắc toàn cây trị đau xương, thấp khớp, tê thấp, đầy bụng, nôn mửa vì bị hàn Nước sắc rễ chữa tê thấp vì bị khí hàn Cành lá sắc đặc ngậm chữa đau răng Lá tươi giã nát, phối hợp với lá khế, lá đậu ván trắng, mỗi thứ 50g thêm nước gạn uống giải độc, chữa say nắng
Lá lốt còn được dùng để nấu nước ngâm tay chân cho người bị bệnh tê thấp, hay đổ mồ hôi tay, mồ hôi chân
1.3.4.4 Mắc cỡ [10.4],[33.4]
Còn có tên là cây mắc cỡ, cây thẹn, cây trinh nữ, tu hàm thảo
Tên khoa học Mimosa pudica L
Thuộc họ Đậu (Fabaceae)
Bộ phận dùng: Toàn cây, hoặc lá và rễ của cây Mắc cỡ
Mô tả cây
Cây nhỏ mọc hoang, thân có gai hình móc Lá hai lần khép lông chim, nhưng cuống phụ xếp theo hình chân vịt Cuống chung gầy, mang nhiều lông, dài 4 cm, cuống phụ 2 đôi, có lông cứng trắng Hoa màu tím đỏ, tụ thành hình đầu trái xoan Quả giáp dài 2 cm, rộng 3 cm Hạt hình trái xoan, dài 2 mm, rộng, 1,5 mm
Trang 31Hình 1.4 Mắc cỡ [53]
Phân bố thu hái, chế biến
Mọc hoang khắp nơi trên cả nước Đào rễ vào quanh năm rửa sạch đất cát, thái mỏng, phôi hay sấy khô
Thành phần hóa học
Từ cây Mắc cỡ người ta phân lập được một chất alkaloid gọi là mimosin và crocentin
Tác dụng dược lý
Tác dụng ức chế thần kinh trung ương
Tác dụng chấn kinh: Mắc cỡ tác dụng làm chậm thời gian xuất hiện co giật của cacdiazol
Tác dụng giảm đau
Tác dụng giải độc acid asenic
Công dụng và liều dùng
Lá cây Mắc cỡ được dùng làm thuốc ngủ, êm dịu thần kinh Rễ cây được dùng
chữa bệnh đau xương khớp
1.3.4.5 Quế chi [10.5],[33.5]
Tên khoa học Cinnamomum cassia Presl
Họ Long não (Lauraceae)
Bộ phận dùng cành non của cây quế, phơi hay sấy khô
Trang 32 Mô tả cây
Cây cao 20-25cm, có cành non hình 4 cạnh, trên mặt cành có nhiều lông ngắn
và thưa Lá mọc đối, dài cứng, hình trái xoan, mặt trên có lông măng Hoa màu trắng, vàng nhạt, mọc thành chùy Quả mọng, mọc thành trứng, thuôn dài, chứa 1 hạt
Hình 1.5 Quế chi [53]
Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang hay được trồng nhiều ở khắp các vùng núi của Việt Nam, nhưng chủ yếu dọc dãy núi Trường Sơn
Thành phần hóa học
Quế chi chứa dầu bay hơi, thành phần chủ yếu của nó là cinnamyl aldehyd v.v…Ngoài ra còn chứa phenols, organic acid, amylase, glycosid, coumarin và tannin v.v…
Nước sắc Quế chi và aldehyd vỏ quế có tác dụng hạ nhiệt giải độc
Nước sắc Quế chi và cồn etylic có tác dụng ức chế vi khuẩn
Dầu vỏ quế có tác dụng kiện vị, giảm co thắt dạ dày, ruột; giảm đau
Công dụng và liều dùng
Tính vị theo YHCT: Cay ngọt, ấm, không độc Quy kinh Tâm, Phế, Bàng quang
Trang 33Ôn trung hành huyết, kiện Tỳ táo Vị, tiêu thũng lợi thấp Trị chứng tay chân phát lãnh làm tê, gân rút đau nhức, và ngọai cảm hàn lương
1.3.4.6 Sài đất [10.6],[33.6]
Còn gọi là hung trám, ngổ núi, cúc giáp, hoa múc
Tên khoa học Wedelia calendulacea (L.) Less
Thuộc họ Cúc (Asteraceae)
Mô tả cây
Sài đất là một loại cỏ, sống dai, mọc bò lan, thân mọc đến đâu rễ mọc đến đó,
có khi cao đến 0,5m Thân màu xanh, long trắng nhỏ Lá không cuống, mọc đối, hình bầu dục Cụm hoa hình đầu, cuống hoa thìa lìa màu vàng tươi Quả bế, không lông
Hình 1.6 Sài đất [53]
Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang hay được trồng nhiều ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung nước ta Có thể dùng tươi hay khô, sau khi thu hái rửa sạch đất cát
Trang 34 Thành phần hóa học
Theo nghiên cứu của bộ môn dược liệu trường Đại học dược Hà Nội, trong Sài
đất có tinh dầu, rất nhiều muối vô cơ
Hoạt chất cho đến nay vẫn chưa được xác định
Tác dụng dược lý
Trên lâm sàng, Sài đất biểu hiện tác dụng rõ ràng giảm đau, hạ sốt, kháng viêm, kháng khuẩn và không độc
Công dụng và liều dùng
Một số nơi dùng Sài đất trị rôm sảy, chạy sởi, sốt rét
Từ cuối năm 1961, bệnh viên Bắc Giang dùng Sài đất điều trị viêm tấy ngoài
da, khớp xương, mụn nhọt, viêm răng…
1.3.4.7 Sinh địa [10.7],[33.7]
Còn gọi là địa hoàng
Tên khoa học Rehmannia glutinosa (Gaertin.)
Thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae)
Bộ phận dùng thân rễ phơi hay sấy khô của cây địa hoàng
Trang 35Hình 1.7 Sinh địa[53]
Phân bố, thu hái và chế biến
Trước kia sinh địa được nhập hoàn toàn từ Trung Quốc, hiện nay đã di thực về Việt Nam và được trồng nhiều nơi trên khắp cả nước Củ Sinh địa sau khi thu hái có thể bảo quản trong cát ẩm dùng tươi hoặc phơi, sấy khô
Trang 36Người ta đã chứng minh được tác dụng hạ đường huyết, tác dụng cầm máu, lợi tiểu, kháng khuẩn của Sinh địa
Công dụng
Sinh địa dùng chữa bệnh huyết hư, phát nóng, thổ huyết, băng huyết, chảy máu cam, kinh nguyệt không đều, động thai; bệnh thương hàn, ôn dịch, phát ban, huyết nhiệt, tân dịch khô
1.3.4.8 Thiên niên kiện [10.8],[33.8]
Tên gọi khác Sơn thục
Tên khoa học Homalomena occulta (Lour) Schott
Thuộc họ Ráy (Araceae)
Mô tả cây
Thiên niên kiện là cây sống lâu năm, có thân rễ rậm rạp, màu xanh đậm Lá mọc
so le, mềm, nhẵn, phía dưới cuống mở rộng thành bẹ cụm hoa mẫm, nở vào tháng
3-4 Quả mọng
Hình 1.8 Thiên niên kiện [54]
Trang 37 Phân bố, thu hái và chế biến
Thiên niên kiện mọc hoang rất nhiều ở vùng núi nước ta Cây ưa nơi ẩm ướt, cạnh suối hay dọc theo bờ suối
Củ hái về rửa sạch, bỏ rễ con, phơi hay sấy khô
Thành phần hóa học
Trong Thiên niên kiện Việt Nam có từ 0,8 - 1% tinh dầu tính theo rễ khô kiệt Tinh dầu Thiên niên kiện có màu vàng hoặc nâu nhạt, mùi thơm dễ chịu Ngoài ra còn có sabinen, limonen, tecpinen, acetaldehyd, aldehyd, aldehyd propionic
Ngày dùng 5 – 10g dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu
Thiên niên kiện là nguyên liệu chế tinh dầu, được dùng trong kĩ nghệ nước hoa
và làm nguyên liệu chiết suất linalol
1.3.4.9 Thổ phục linh [10.9],[33.9]
Tên gọi khác củ khúc khắc, củ kim cang
Tên khoa học Smilax glabra Roxb Thuộc họ Hành tỏi Liliaceae
Mô tả cây
Thổ phục linh là cây sống lâu năm, dài 4-5m, có nhiều nhánh nhỏ, không gai
Lá hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, chắc cứng Hoa mọc thành tán, quả mọng hình cầu
Trang 38Hình 1.9 Thổ phục linh [53]
Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang khắp nơi ở nước ta Thu hoạch quanh năm, đào lấy thân rễ cắt bỏ rễ nhỏ, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô
Liều dùng hằng ngày 10 – 20 g, dưới dạng thuốc sắc
Trang 391.3.5 Tác dụng dược lí YHHĐ và YHCT của bài thuốc
Bảng 1.4 Tổng hợp Tính vị quy kinh và tác dụng dược lí YHCT của bài thuốc PT5
Lá lốt Ấm Cay, thơm Tỳ - Phế Ôn trung – Tán hàn – Hạ khí – Chỉ
Thông kinh mạch, chỉ thống, trừ hàn
Bổ mệnh môn hỏa Thiên niên
Can – Thận Khu phong, trừ thấp
Thanh nhiệt giải độc, lợi niệu Thổ phục
Ngọt
Tâm – Can – Thận
Bổ âm – Thanh nhiệt – Lương huyết
Tác dụng dược lí YHCT của bài thuốc gồm:
- Tác dụng khu phong, trừ phong : 3/9
Trang 40Bảng 1.5 Tổng hợp thành phần hóa học và tác dụng dược lí theo YHHĐ của bài thuốc PT5
Cỏ xước Saponin: Acid oleanic, galactos
Rhamnos, glucos Ecdysteron, Innokosteron
Giãn mạch, giảm viêm khớp trên thực nghiệm
Lợi tiểu
Điều chỉnh rối loạn thần kinh thực vật
Hà thủ ô Anthraglycosid
Tinh bột Lecithin
Tăng bài tiết trực tràng, tăng co bóp ruột, giúp tiêu hóa, cải thiện dinh dưỡng
Tăng hoạt động tuần hoàn, mạnh tim Trợ thần kinh
Mắc cỡ Alkaloid : Mymosin Giảm đau, kháng viêm
An thần, ức chế thần kinh thực vật Giải độc Arsenic
Quế chi Tinh dầu: Aldehyd cinamic Hạ nhiệt, giải độc Ức chế vi khuẩn
Giảm co thắt dạ dày ruột Giảm đau Sinh địa Rehmanin, acid amin Hạ đường huyết, cầm máu, lợi tiểu
Kháng khuẩn Thiên niên
Nhiều loại muối vô cơ
Giảm đau, kháng viêm Kháng khuẩn, hạ sốt Thổ phục
linh
Saponin, tannin và chất nhựa Giải độc
Giảm đau, Kháng viêm
Tác dụng dược lí của bài thuốc bao gồm: