Nghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng BìnhNghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây diêm mạch vụ xuân hè 2018 tại Quảng Bình
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan, nghiêm túc và chưa được công bố trong các công trình khác Những tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng
Quảng Bình, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoài Thương
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
Ths Nguyễn Thị Hương Bình
Trang 2Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực nghiệm trồng trọt cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, thầy cô đã luôn luôn giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi cả về vật chất và tinh thần
Cuối cùng, một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ và động viên quý báu đó
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Quảng Bình, tháng 5 năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI viii
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.5 THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 2
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 2
1.6.3 Các chỉ tiêu theo dõi 4
1.6.4 Phương pháp xử lý số liệu 6
Phần II NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY DIÊM MẠCH 7
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố 7
2.1.2 Đặc điểm của cây Diêm Mạch 7
2.1.3 Giá trị cây Diêm mạch 9
2.1.4 Lịch sử nghiên cứu cây Quinoa 11
2.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ ĐẤT ĐAI VÙNG NGHIÊN CỨU 13
2.2.1 Vị trí địa lí 13
2.2.2 Đặc điểm khí hậu 13
Chương II KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15
3.1 Theo dõi thời gian các giai đoạn sinh trưởng của cây 15
3.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chiều cao thân chính 15
3.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá cây diêm mạch 17
3.4 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái phân cành 19
3.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khối lượng tươi của cây diêm mạch 20
Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23
4.1 KẾT LUẬN 23
4.2 KIẾN NGHỊ 23
Trang 4PHỤ LỤC I: HÌNH ẢNH BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 24 PHỤ LỤC II: KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Ký hiệu công thức thí nghiệm 3 Bảng 1.2: Bố trí thí nghiệm 3 Bảng 1.3: Đánh giá mức độ về sâu, bệnh hại thường gặp ở cây Diêm mạch 5 Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của Diêm mạch so với các thực phẩm thiết yếu khác: 9 Bảng 2.2 Thành phần các axit amin thiết yếu có trong hạt Diêm mạch so với các thực phẩm khác: 10 Bảng 2.3: Nhiệt độ bình quân các tháng 1, 2, 3, 4, 5 năm 2018 (0C) 14 Bảng 2.4: Tổng lượng mưa các tháng 1, 2, 3, 4, 5 năm 2018 (mm) 14 Bảng 3.1: Thời gian và tỷ lệ nảy mầm, thời gian xuất hiện lá thật và cành, ra hoa 15 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây diêm mạch 16 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá của cây diêm mạch 17 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái phân cành của cây Diêm mạch 19 Bảng 3.5: Khối lượng tươi trung bình của cây diêm mạch 5 tuần sau trồng 20 Bảng 3.6: Mức độ nhiễm các loại sâu bệnh hại của cây Diêm Mạch 21
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây diêm mạch 16 Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá của cây diêm mạch 18 Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái phân cành của cây Diêm mạch 19 Hình 3.4: Đồ thị biểu diễn khối lượng tươi trung bình của cây diêm mạch 5 tuần sau trồng 21
Trang 8TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Cây Diêm mạch (Chenopodium quinoa Willd), thuộc họ Chenopodiaceae là
cây cho hạt và có hàm lượng dinh dưỡng rất phong phú và bổ dưỡng
Nhằm xác định ảnh hưởng của phân bón cho loại cây trồng mới nhập nội này tại tỉnh Quảng Bình, cũng như đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây Diêm mạch trên các mức bón đạm khác nhau ở điều kiện khí hậu của tỉnh, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây Diêm mạch
(Chenopodium quinoa Willd) vụ Xuân Hè năm 2018 tại Quảng Bình”
Thí nghiệm gồm 4 công thức tương ứng với 4 mức đạm bón (công thức 1: 0
kg N/ha (Công thức đối chứng); công thức 2: 60 kg N/ha; công thức 3: 90 kg N/ha; công thức 4: 120 kg N/ha), từ đó so sánh, đánh giá sự sinh trưởng của cây Diêm mạch ở 4 công thức
Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Diêm mạch giai đoạn vườn ươm trong điều kiện khí hậu ở vùng nghiên cứu So sánh, đánh giá được khả năng sinh trưởng và khả năng chống chịu sâu bệnh hại của cây Diêm mạch qua các công thức thí nghiệm khác nhau Xác định được lượng đạm bón phù hợp cho sự sinh trưởng của cây
Trang 9Phần I MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cây Diêm mạch (Chenopodium quinoa Willd) hay còn gọi là cây Hạt Vàng
được con người thuần hóa cách đây từ 3000 đến 4000 năm trước; có nguồn gốc từ vùng Andes của Peru, Bolivia, Ecuador và Colombia Mặc dù đã có từ rất lâu nhưng Diêm mạch mới được giao dịch với khối lượng lớn trên thị trường quốc tế hơn 10 năm trở lại đây sau khi thế giới phát hiện những đặc điểm nổi trội của loại hạt này
[7]
Hạt Diêm mạch có nhiều màu (nâu, đỏ, vàng hoặc trắng) tùy theo mỗi giống
Sở dĩ cây được gọi là Hạt Vàng bởi vì hạt có hàm lượng protein cao nhất trong các loại hạt, đồng thời cũng là hạt có hàm lượng chất dinh dưỡng tổng thể rất phong phú; ngoài ra lá cây cũng có thể ăn tươi hay nấu ăn như ăn rau, hoặc được dùng để nuôi súc vật [5]
Cây Diêm mạch có thể trồng trong điều kiện khí hậu khô và nóng, có độ ẩm từ 40% đến 88%, có khả năng sống sót trong khoảng nhiệt độ từ -40C đến 380C Với khả năng thích ứng rộng, cây này có thể trồng trên nhiều loại đất và khí hậu khác nhau (FAO, 2013) [12] Vì vậy, Diêm mạch luôn là loại cây trồng đầy hứa hẹn ở nhiều nước trên Thế Giới
Hiện nay trên thế giới hai nước sản xuất Diêm mạch nhiều nhất là Peru và Bolivia Các nước như Hoa Kỳ, Brasil, Canada cũng bắt đầu trồng Diêm mạch Tại Việt Nam, cây Diêm mạch là cây trồng mới, được trồng thí điểm ở một số tỉnh miền Bắc như Hà Giang, Gia Lâm-Hà Nội Do là cây trồng mới nên việc nghiên cứu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Diêm mạch ở nước ta còn nhiều hạn chế [2]
Cây trồng hấp thu các chất dinh dưỡng thiết yếu từ đất, nhưng khả năng cung cấp của đất có hạn, việc thâm canh qua nhiều năm khiến đất đai bị suy kiệt, giảm độ phì nhiêu, đất bạc màu và dần dần mất đi khả năng cung cấp chất dinh dưỡng đầy
đủ cho cây trồng Vì thế, phân bón có vai trò rất quan trọng để cung cấp các dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh và đạt năng suất cao
Sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây trồng chịu tác động của rất nhiều yếu tố như đất đai, thời tiết, chế độ nước tưới, sâu bệnh, giống, … trong đó phân bón là một yếu tố quan trọng và mang tính quyết định Để đảm bảo cây trồng sinh trưởng, phát triển xanh tốt khỏe mạnh cần sử dụng phân bón hợp lý, đầy đủ giúp cung cấp đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cho cây
Tỉnh Quảng Bình là vùng đất có điều kiện đất đai, khí hậu khắc nghiệt, đang bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng lớn đến kinh tế và xã hội, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Để có thể đưa cây Diêm mạch trở thành cây trồng phổ biến ở nước ta nói chung cũng như tỉnh Quảng Bình nói riêng, việc xác định
Trang 10ảnh hưởng của phân bón đối với cây Diêm mạch trong điều kiện của tỉnh ta là hết sức cần thiết
Chính vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng lượng
đạm bón đến sinh trưởng cây Diêm mạch (Chenopodium quinoa Willd) vụ
Xuân Hè năm 2018 tại Quảng Bình”, bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng,
phát triển của cây Diêm mạch qua các công thức bón đạm khác nhau ở điều kiện khí hậu tại tỉnh Quảng Bình Góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc xác định công thức thích hợp để trồng cây Diêm mạch, đồng thời kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu cho sinh viên bộ môn Sinh học, nông nghiệp và những ai quan tâm đến loại cây trồng này
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xác định lượng đạm bón thích hợp cho cây Diêm mạch vụ Xuân Hè năm 2018 tại Quảng Bình
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng của cây Diêm mạch vụ Xuân
Hè năm 2018
- Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến tình hình sâu bệnh hại của cây Diêm mạch vụ Xuân Hè năm 2018
1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Cây Diêm mạch (Chenopodium quinoa Willd)
- Đạm bón: gồm 4 mức đạm bón (0 kg N/ha, 60 kg N/ha, 90 kg N/ha, 120 kg N/ha)
1.5 THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi thời gian: từ tháng 2/2018 đến tháng 5/2018
- Phạm vi không gian: hộ gia đình của sinh viên tại thành phố Đồng Hới, tỉnh
Quảng Bình
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Cây Diêm mạch và ảnh hưởng các mức đạm
bón đến sự sinh trưởng của cây
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Tổng quan tài liệu: Thu thập tài liệu liên quan đến phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón đến sinh trưởng cây Diêm mạch
- Nghiên cứu và xử lý các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
a Vật liệu thí nghiệm
- Cây Diêm mạch được mua ở trung tâm hạt giống Little Gardens (Địa chỉ 793/4 Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, T.p Hồ Chí Minh) Giống được nhập từ nước Anh
Trang 11Bảng 1.1: Ký hiệu công thức thí nghiệm
Tổng số cây trên 1 công thức
(cây)
c Biện pháp kĩ thuật thực hiện thí nghiệm
- Mật độ trồng:
+ Cây cách cây 25 cm
+ Hàng cách hàng 25 cm
+ Mật độ trồng được: 16 cây/m2
- Thời vụ trồng: vụ Xuân Hè năm 2018
- Kĩ thuật gieo ươm cây, trồng cây diêm mạch: gieo hạt vào túi bầu
+ Ngày gieo hạt: 25/2/2018
+ Ngày trồng cây: 12/3/2018 (15 ngày sau gieo hạt)
Trang 12- Phương pháp bón phân:
+ Bón lót: trên nền đất theo tỷ lệ : 50 kg P2O5/ha + 50 kg K2O/ha; kết hợp với bón phân chuồng hoai (1 tấn/ha)
+ Bón thúc 2 lần:
Bón thúc lần 1 sau trồng 10 ngày: 50% Lượng N của mỗi công thức
Bón thúc lần 2 sau trồng 25 ngày: số N của mỗi công thức còn lại
- Một số công việc trong quá trình tiến hành thí nghiệm:
+ Chuẩn bị bầu đất gieo hạt: làm đất nhỏ, tơi, đất phải đủ ẩm, hạt giống sau khi gieo được phủ một lớp đất mịn lên hạt (không dày quá 0,5 cm) Hạt sẽ nảy mầm sau 24h khi gặp điều kiện ẩm thích hợp và vươn lên khỏi mặt đất sau 3-4 ngày gieo + Chuẩn bị đất trồng: đất được cày bừa kĩ, lên luống cao 30 cm, rãnh rộng 30cm
+ Làm cỏ thường xuyên trong khoảng 1 tháng đầu sau trồng mỗi tuần 1 lần + Phòng trừ sâu bệnh
1.6.3 Các chỉ tiêu theo dõi
- Sau khi gieo hạt tiến hành theo dõi các chỉ tiêu sau:
+ Thời gian nảy mầm (ngày): Thời gian nảy mầm được xác định bằng thời gian từ khi gieo hạt đến thời điểm mầm nhú ra khỏi hạt
+ Tỷ lệ nảy mầm (%): Kiểm tra tỉ lệ nảy mầm là số cây con/ tổng số hạt đã gieo
+ Thời gian ra lá đầu tiên (ngày): Thời gian ra lá đầu tiên được xác định bằng thời gian từ khi gieo hạt đến thời điểm lá mầm nhú ra khỏi vỏ hạt
+ Thời gian phân cành (ngày): Được tính từ khi gieo hạt đến khi ra cành đầu tiên
+ Chiều cao cây (cm): Được đo từ sát mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của thân chính, đo bằng thước chia vạch mm
+ Số lượng lá trên cây (lá/cây): Được tính bằng tổng số lá trên một cây
+ Số lượng cành trên cây (cành/cây): Được tính bằng tổng số cành trên một cây
+ Khối lượng tươi trung bình của cây (g/cây): cây ở thời điểm 5 tuần sau trồng được nhổ lên, rửa sạch đất, để ráo nước và cân Mỗi ô thí nghiệm lấy 5 cây ngẫu nhiên để cân, xác định khối lượng trung bình của mỗi cây
+ Chỉ tiêu về sâu, bệnh hại cây: đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh hại thông qua bảng 1.3 sau:
Trang 13Bảng 1.3: Đánh giá mức độ về sâu, bệnh hại thường gặp ở cây Diêm mạch
TT Tên sâu bệnh hại cây Thời điểm đánh giá Mức độ
1 Sâu hại: Sâu xanh
- Vết sâu ăn lớn hơn, lỗ thủng
do sâu ăn trên lá lớn hơn với các hình dạng khác nhau
- Các vết sâu ăn lớn hơn nhiều
và xuất hiện dày đặc trên các
2 Ốc sên (Achatina fulica) Đánh giá giai đoạn sinh
trưởng của cây :
- Rất nhẹ, có từ một đến một quần tụ ốc sên xung quanh gốc
1
- Nhẹ, xuất hiện một vài quần tụ ốc sên quanh gốc
2
Trang 14- Trung bình, số lượng ốc vừa
3
- Nặng, số lượng quần tụ ốc lớn, dày đặc
< 0,05
Trang 15Phần II NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY DIÊM MẠCH
và Argentina vào khoảng đầu công nguyên Theo Jacobsen (2003) cây Diêm mạch
là một trong những cây trồng lâu đời nhất ở vùng Andes, khoảng 7000 năm trước được người dân Inca và Tiahuanacu thuần hóa và bảo tồn [2]
Cây Diêm mạch được trồng rộng rãi ở các vùng Andes và hạt của nó được sử dụng trong chế độ ăn uống của người dân tại thung lũng và các khu vực xung quanh
đó Hiện nay ở các nước phát triển đang có xu hướng tìm kiếm những loại thực phẩm mới, điều này cũng có nghĩa là cây Diêm mạch không chỉ được trồng ở vùng bản địa mà còn được trồng xuất khẩu tại nhiều nước trên thế giới
2.1.2 Đặc điểm của cây Diêm Mạch
+ Thân:
Thân do nhiều đốt hợp thành, phần gốc có hình tròn, có góc cạnh ở những nơi
lá và nhánh xuất hiện Thân có chiều dài từ 0,5 – 2 m phụ thuộc vào giống và môi trường Thân thảo mềm và trương nước khi còn non, lúc chín khô và xốp (rỗng ruột), thân Diêm mạch có nhiều màu sắc: xanh, vàng, đỏ, hồng, da cam hoặc có thể
Trang 16màu xanh với nhiều sọc có màu khác nhau Khi chín thân có màu vàng nhạt hoặc màu đỏ ở một số giống
+ Lá:
Cuống lá Diêm mạch dài và hẹp nối liền phiến lá và thân Cuống của lá mọc từ thân dài hơn cuống lá mọc từ nhánh Phiến lá mỏng, trên bề mặt có hệ thống gân lá nối liền với cuống Hệ thống gân lá trên bề mặt phiến thường có nhiều dạng Những
lá mọc trên thân thường có hệ thống gân lá phân chia đến nhánh cấp 3 Những lá mọc trên nhánh thường có hệ thống gân lá phân chia đến cấp 2 Trên bề mặt lá non thường có nhiều lông tơ nhỏ Đa số các giống Diêm mạch có lá màu xanh, có một
số giống lá có màu tía, tía hồng… Một số giống không có lông tơ trên bề mặt phiến
lá Các giống Diêm mạch lá thường có 320 răng cưa ở rìa phiến lá Số răng cưa trên rìa phiến lá là đặc tính của giống Khi chín lá chuyển màu vàng, đỏ hoặc hồng
và hoa cái, tỷ lệ hoa đực và hoa cái phụ thuộc vào giống
+ Hạt:
Hạt có cấu tạo ngoài cùng là lớp vỏ, vỏ hạt có thể trắng, vàng, da cam, hồng,
đỏ, nâu, nâu đen Phôi chứa 60% ngoại nhũ và 40% nội nhũ về mặt khối lượng Tỷ
lệ tương đối cân đối giữa ngoại nhũ và nội nhũ theo nhiều tác giả là nguyên nhân làm hạt có hàm lượng protein cao so với các loại ngũ cốc (Cardozo and Tapia, 1979) Hạt có thể có hình nón, hình trụ, hình elip Đường kính hạt từ 1,826 mm Vỏ hạt và phần ngoại nhũ chứa saponin gây vị đắng Saponin trong hạt chủ yếu nằm ở
vỏ (80%) và có một tỷ lệ nhỏ nằm ở ngoại nhũ (khoảng 10%) Vì thế, hạt thường được ngâm nước và đãi sạch trước khi nấu ăn hoặc chế biến
* Đặc điểm sinh thái
Mức độ tăng trưởng của diêm mạch là khác nhau do độ phức tạp cao của các phân loài, giống và các giống địa phương (thực vật hoặc động vật đã thuần hóa và thích nghi với môi trường mà chúng có nguồn gốc) khác nhau
Tuy nhiên, nhìn chung diêm mạch không đòi hỏi quá trình chăm sóc phức tạp
và chịu được độ cao Diêm mạch được trồng từ vùng ven biển đến hơn 4.000 m ở dãy Andes gần xích đạo, với hầu hết các giống được trồng khoảng 2.500 m tới 4.000 m Tùy thuộc vào giống, điều kiện phát triển tối ưu là ở vùng khí hậu mát mẻ với nhiệt độ có dao động trong khoảng từ -4 °C (25 °F) vào ban đêm tới gần 35 °C (95 °F) vào ban ngày
Trang 17Một số giống cây trồng có thể chịu được nhiệt độ thấp rất tốt Sương giá nhẹ thường không ảnh hưởng đến Diêm mạch tại bất kỳ giai đoạn phát triển nào, ngoại trừ giai đoạn ra hoa Sương giá giữa mùa hè trong giai đoạn ra hoa, thường xảy ra ở vùng Andes, có thể dẫn tới sự vô sinh của phấn hoa
Điều kiện lượng mưa cũng khác nhau đối với các giống diêm mạch khác nhau, dao động từ 300 đến 1.000 mm (12–39 in) trong suốt mùa sinh trưởng Sự phát triển
là tối ưu với sự phân bố tốt của lượng mưa trong giai đoạn đầu của sự tăng phát triển và các điều kiện khô ráo trong mùa hạt chín và thu hoạch Diêm mạch từng được trồng tại Hoa Kỳ, chủ yếu tại vùng cao San Luis Valley (SLV) ở Colorado, nơi loài cây này được du nhập vào năm 1982 [4]
trưởng-2.1.3 Giá trị cây Diêm mạch
a Giá trị dinh dưỡng của cây Diêm mạch
Những năm gần đây, ở các nước phát triển có mức sống cao, xu hướng quay trở lại sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thực vật hoặc sử dụng trực tiếp thức ăn thực vật ngày càng phát triển Chính vì lẽ đó mà cây Diêm mạch được đặc biệt chú
ý vì giá trị dinh dưỡng cao của nó Hàm lượng protein của Diêm mạch dao động trong khoảng 13,81 – 21,9% phụ thuộc vào từng loại giống Do có hàm lượng cao các axit amin thiết yếu trong protein của nó thì cây Diêm mạch được coi là thức ăn thực vật duy nhất cung cấp tất cả các axit amin thiết yếu, phù hợp với tiêu chuẩn dinh dưỡng của con người (FAO, 2011) [11]
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của hạt Diêm mạch so với các thực
lý tưởng để giải độc cho cơ thể, loại bỏ độc tố và các sản phẩm chất thải có thể gây hại cho cơ thể
Trang 18Bảng 2.2 Thành phần các axit amin thiết yếu có trong hạt Diêm mạch so
với các thực phẩm khác:
Amino Acid
Amino Acid (g/100g protein)
b Giá trị sử dụng của cây Diêm mạch
Ẩm thực từ hạt Diêm mạch: Hạt Diêm mạch có thể được kết hợp với hạt cây
họ đậu như đậu tằm để cải thiện chất lượng bữa ăn, đặc biệt là bữa sáng cho trẻ sơ sinh và trẻ em Ngoài ra, hạt Diêm mạch cũng có thể kết hợp với các nguyên liệu khác để tạo ra các món ăn đầy hương vị như món súp, salad, bánh ngọt…
Sản phẩm ăn uống từ hạt Diêm mạch:
Công dụng của hạt: ở dạng ngũ cốc ăn liền hay cũng có thể được dùng làm mì ống, đồ ăn nhẹ hoặc bánh mì, rượu mạnh, socola
Sản phẩm làm đẹp từ hạt Diêm mạch: dầu gội, xà phòng, và mỹ phẩm
Hạt có hàm lượng protein cao và mang 8 loại axit amin thiết yếu cho con người Bao gồm chất khoáng và các loại vitamin như là C, B1, B2, B3, B9, canxi, sắt, và phốt pho Giúp thúc đẩy sự hình thành và tăng cường sự phát triển các tế bào
da
Tác dụng y học của hạt Diêm mạch:
Diêm mạch là thực phẩm duy nhất trên thế giới tự cân bằng được các chất như protein, đường, xơ nhưng không chứa gluten (1 loại protein gây khó tiêu), và rất giàu các nguyên tố vi lượng, vitamin Ngoài ra, Diêm mạch là loại thực vật duy nhất
Trang 19có chứa Acid Amin thiết yếu mà cơ thể không thể tự tổng hợp đươc, tương đương với Acid Amin có trong sữa [9]
Có giá trị dinh dưỡng cao, chứa các axit amin thiết yếu, nguyên tố vi lượng và vitamin mà con người cần
Nguồn cung cấp protein, chất xơ và khoáng chất Diêm mạch chứa hàm lượng chất xơ nhiều gấp 2 lần so với những loại hạt khác, giúp ngăn ngừa bệnh tim bằng cách giảm chứng cao huyết áp và tiểu đường hay giúp giảm cân
Hàm lượng chất sắt trong hạt giúp các tế bào máu phát triển khỏe mạnh Giàu magnesium, giúp xoa dịu các cơn đau nửa đầu, tăng cường khả năng kiểm soát đường huyết (rất tốt cho người bị tiểu đường loại 2), cung cấp và sản xuất năng lượng, hỗ trợ xương và răng khỏe mạnh
Diêm mạch có chứa lysine, rất cần thiết cho sự phát triển và hồi phục của các
mô Diêm mạch rất giàu Riboflavin, giúp giảm những cơn đau đầu thường xuyên và giúp thúc đẩy quá trình tạo năng lượng
Quinoa được sử dụng chủ yếu dưới dạng bột Bột Quinoa được phối hợp với một số bột khác dùng để chế biến bột dinh dưỡng…và dùng để điều trị cho trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng, người già có hệ tiêu hóa suy yếu
Lizin một trong những axit amin thiết yếu, rất dễ tiêu với người và động vật,
có mặt trong thành phần protein của hạt quinoa với hàm lượng cao nhất khi so với lúa mì, lúa mạch, ngô và đậu tương Một số khoáng, vitamin cần thiết như: Caxi, sắt, Caroten, Thiamin … cũng có trong thành phần của hạt Quinoa
Lá, thân và hạt Diêm mạch được sử dụng cho mục đích y học như chữa lành vết thương, giảm sưng, làm dịu đau (đau răng) và khử trùng đường tiết niệu hay làm thuốc chống côn trùng Ngoài ra, thân và lá Diêm mạch, nhất là bộ phận non trên cây chứa lượng dinh dưỡng cao ( lượng protein chứa trong lá non cao hơn hàm lượng protein chứa trong hạt – tính theo tỷ lệ phần trăm chất khô) Trong lá non hàm lượng protein chiếm từ 19-22% trọng lượng chất khô Do vậy, thân lá non Diêm mạch có thể sử dụng làm rau xanh cho người rất tốt
2.1.4 Lịch sử nghiên cứu cây Quinoa
a Tình hình nghiên cứu sử dụng lượng phân bón cho cây Diêm mạch
Đối với các loại cây trồng thì việc sử dụng phân bón đạm mang lại hiệu quả tốt, nhưng nếu bón không hợp lý thì đôi khi lại có tác dụng ngược so với những gì
ta mong đợi Với liều lượng đạm bón cao thì có khả năng làm giảm năng suất và kéo dài thời gian sinh trưởng Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây (Berti et al, 2000) lại chỉ ra rằng việc tăng lượng đạm bón làm tăng năng suất của cây Diêm mạch với mức bón từ 40 – 160 kg N/ha Việc bón phân đạm được biết đến như là một biện pháp làm tăng năng suất hạt cũng như hàm lượng protein có trong hạt, để tăng 0,1% protein trong hạt thì cần đến 1 kg phân đạm amon (Johnson and Ward, 1993) [1]
Trang 20Ở miền Trung và Bắc Altiplanos sử dụng 80 kg N/ha và được chia ra 2 lần bón, 50% lượng đạm bón vào thời gian khi mới xuất hiện bông hoa và 50% bón trước khi hoa nở (Rojas et al, 2004) Ở Nam Mỹ được khuyến cáo sử dụng 120 kg ure/ha (Johnson and Ward, 1993) [1]
Một thí nghiệm được thực hiện ở Ai Cập vào 2 vụ đông 2008/2009 và 2009/2010 trên đất cát có tưới với các mức phân bón lần lượt là 0; 90; 180; 270 và
360 kg N/ha Kết quả thu được là trong mùa đầu tiên và thứ hai, mức đạm bón 360
kg N/ha cho chiều cao cây tối đa lần lượt là 52,73 và 51,78 cm, năng suất cá thể thu được là 10,07 và 8,177 g/cây, năng suất thực thu là 1203 và 1088 kg/ha [2]
Etchevers and Avila (1979) cho rằng việc bón lân và kali làm tăng trưởng thực vật mà không làm tăng năng suất hạt Nhưng điều này cũng có thể lý giải rằng
ở đất nhiệt đới vùng Andes có dư thừa kali Gandarillas (1982) cũng chỉ ra rằng cây Diêm mạch không có phản ứng đối với việc bón thêm lân và kali [2]
Một thí nghiệm về phân bón cho cây Diêm mạch của Trịnh Ngọc Đức 1992) được thực hiện trên nền đất thịt, nghèo dinh dưỡng với cơ cấu cây trồng trong năm: Lúa mùa – HV1 – Lúa xuân cho thấy việc gieo trồng không bón phân HV1 cho năng suất thực thu thấp chỉ đạt 20-25 kg/sào ( 5,3-6,2 tạ/ha); mức phân bón hợp
(1990-lý nhất cho giống HV1 gieo trồng trên 1 ha theo phương pháp gieo 2 hàng trên luống là: phân chuồng 10 tấn, N: P2O5: K2O = 60-80 kg: 60-80 kg: 30-40 kg cho
cả hai vụ đông và xuân tại đồng bằng Bắc bộ (năng suất khoảng 12,5-15,6 tạ/ha) [1]
Đối với thí nghiệm gieo vãi trên toàn bộ bề mặt luống, các công thức đều được bón lót trên nền phân chuồng 10 tấn/ha, mật độ 60 cây/m2 Trịnh Ngọc Đức kết luận rằng lượng phân vô cơ sử dụng thích hợp nhất là: N: P2O5: K2O = 100: 100: 50 kg/ha (năng suất đạt 18,8 tạ/ha) [1]
b Tình hình sản xuất và phân bố cây Quinoa:
Vào những năm cuối thập kỷ 70, diện tích Quinoa vào khoảng 40.000 ha Tập trung chủ yếu ở các nước sau: Peru (25.000ha), Bolivia (12.000ha) Năng suất biến động từ 6,5 tạ/ha tới 35 tạ/ha Trên thế giới một số nước sử dụng nhiều hạt vàng:
Mỹ, Canada, Peru, Nhật, Anh, Hà Lan, Đan Mạch… [5]
Tình hình nghiên cứu, gieo trồng và sử dụng cây hạt vàng tại Việt Nam: Được tiến hành chủ yếu tại Viện Cây lương thực và cây thực phẩm từ 1986 tới nay Nhìn chung, việc nghiên cứu mới chỉ là bước đầu, chưa thành hệ thống và khép kín từ nghiên cứu cơ bản đến kỹ thuật thâm canh, chế biến, sử dụng và tạo thị trường
Do là cây trồng mới nên những nghiên cứu về cây Diêm mạch ở nước ta còn chưa nhiều, những nghiên cứu về cây trồng này chủ yếu được thực hiện tại một số viện nghiên cứu và trường đại học Trong một nghiên cứu luận án tiến sĩ Trịnh
Trang 21thích hợp cho giống HV1 trong vụ đông tại đồng bằng Bắc bộ là 111.111-166.666 cây/ha (khoảng cách hàng cách hàng 60 cm; cây cách cây từ 10-15 cm), năng suất thu được từ 13-14 tạ/ha Ngoài ra, cũng với thí nghiệm như trên Trịnh Ngọc Đức cũng đã tiến hành tại trường Trung học Nông Nghiệp Việt Yên – Bắc Giang trong
vụ đông xuân 1990-1992 cho thấy với mật độ 83.333 cây/ha, tức khoảng cách cây cách cây bằng 20 cm theo phương thức gieo hai hàng trên luống thì năng suất đạt cao nhất là 12 tạ/ha Đối với phương pháp gieo vãi trên toàn bộ bề mặt luống Trịnh Ngọc Đức đã tiến hành ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc bộ thu được kết quả như sau: với mật độ 60 cây/m2 cho năng suất cao nhất là 15,4 tạ/ha Trịnh Ngọc Đức cũng chỉ ra rằng các thí nghiệm về mật độ theo phương pháp gieo vãi tại Viện nghiên cứu cho phép khẳng định một cách chắc chắn tính ưu việt, hơn hẳn của phương thức gieo vãi trên toàn bộ mặt luống so với phương thức theo 2 hàng/luống Tại Việt Nam, cây Quinoa đã được trồng và phát triển trong giai đoạn 1986 –
2000 với giống HV1 tại nhiều tỉnh thành trong cả nước, năng suất 1,40 – 2,06 tấn/ha (Trịnh Ngọc Đức, 2001) Bertero và cs (2004) cũng cho biết cây Quinoa thích nghi khá tốt với điều kiện Việt Nam, thậm chí năng suất còn cao hơn so với một số vùng nguyên sản Kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy tại đồng bằng Bắc bộ có thể trồng Quinoa trong vụ đông và vụ xuân (Trịnh Ngọc Đức, 2001)
2.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ ĐẤT ĐAI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Vị trí địa lí
Thành phố Đồng Hới nằm gần cửa sông Nhật Lệ, thuộc tỉnh Quảng Bình nằm trên quốc lộ 1A, đường sắt thống nhất Bắc Nam và đường Hồ Chí Minh, có vị trí địa lý 17028’60”, vĩ độ bắc và 106035’60” kinh độ đông
Phạm vi hành chính:
- Phía Bắc giáp huyện Bố Trạch
- Phía Nam giáp huyện Quảng Ninh
- Phía Đông giáp biển
- Phía Tây giáp huyện Bố Trạch, huyện Quảng Ninh
2.2.2 Đặc điểm khí hậu
- Đồng Hới nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của
phía Bắc và phía Nam và được chia thành làm hai mùa rõ rệt
+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm
2.000 – 2.300 mm/năm Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11
+ Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 240C – 250C Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8
- Nhiệt độ trung bình năm 24,40C
Trang 22- Lượng mưa trung bình từ 1.300 đến 4.000 mm, tổng giờ nắng 1.786 giờ/năm,
độ ẩm trung bình trong năm khoảng 84% và thuộc chế độ gió mùa: gió Đông Nam (gió nồm), gió Tây Nam (gió nam), gió Đông Bắc
Thành phố Đồng Hới nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với thời tiết khắc nghiệt bậc nhất, có mùa đông khá lạnh Vào mùa hè thời tiết khá nóng, oi bức gió lào khô nóng thổi liên tục, với nền nhiệt luôn trên 350C, có lúc trên
400C Mùa đông lạnh, ẩm với nền nhiệt dưới 180C, có nhiều ngày nhiệt độ dưới
100C, nhiệt độ tối thấp là 40C Bão thường xuất hiện trong năm với tần suất 1 – 2 cơn mỗi năm, tập trung vào các tháng 9, 10, 11, bão xuất hiện với cường độ mạnh với sức tàn phá dữ dội
Bảng 2.3: Nhiệt độ bình quân các tháng 1, 2, 3, 4, 5 năm 2018 ( o C)
Cao nhất 22 23 25 29 32 Thấp nhất 16 18 20 23 25
Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn thành phố Đồng Hới.
Bảng 2.4: Tổng lượng mưa các tháng 1, 2, 3, 4, 5 năm 2018 (mm)
Mm 48,9 40,5 45,5 73,1 146,5
Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn thành phố Đồng Hới
Cây Quinoa có thể trồng trong điều kiện khí hậu khô và nóng, có độ ẩm từ 40% đến 88%, có khả năng sống sót trong khoảng nhiệt độ từ -40C đến 380C, trong khi đó thành phố Đồng Hới nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa đông khá lạnh Vào mùa hè thời tiết nóng, oi bức gió lào khô nóng thổi liên tục, nền nhiệt luôn cao Nhìn chung, điều kiện khí hậu Đồng Hới có thể thích hợp cho sự phát triển của Diêm mạch
Trang 23Chương II KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Theo dõi thời gian các giai đoạn sinh trưởng của cây
Qua thực nghiệm, tỷ lệ nảy mầm, thời gian nảy mầm, xuất hiện lá thật, xuất hiện cành đầu tiên, ra hoa của cây cây diêm mạch ở các công thức thí nghiệm được thể hiện trong bảng 3.1:
Bảng 3.1: Thời gian và tỷ lệ nảy mầm, thời gian xuất hiện lá thật và cành, ra
hoa
Công thức Gieo- nảy
mầm (ngày)
Tỷ lệ nảy mầm (%)
Gieo – Xuất hiện lá thật (ngày)
Gieo – Ra hoa (ngày)
Trong quá trình thí nghiệm, chúng tôi theo dõi thấy tình hình thời tiết vụ Xuân Hè năm 2018 có nhiều biến đổi, nhiệt độ cao thấp thất thường, tại thời điểm gieo hạt nhiệt độ khá thấp, có lúc rét đậm vào giữa cuối tháng 2/2018 đến hết tháng 3/2018, đôi khi nhiệt độ có tăng lên vài ngày rồi lạnh trở lại Vào thời điểm tháng 3/2018, tại Đồng Hới có mưa nhiều (Lượng mưa phổ biến 30-50 mm – nguồn Khí tượng thủy văn Quảng Bình) đã làm cho thời gian ra hoa kéo dài Thời gian ra hoa giữa các công thức dao động từ 37-40 ngày, trong đó công thức N1 ra hoa sớm nhất (37 ngày sau gieo) Kết quả này muộn hơn so với nghiên cứu của Phan Thị Phương Nhi trong vụ Đông Xuân 2015-2016 ở Quảng Trị (dao động từ 34-37 ngày)
3.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chiều cao thân chính
Thân chính là bộ khung nâng đỡ các bộ phận của cây trên mặt đất, đồng thời
là nơi diễn ra quá trình vận chuyển, trao đổi chất giữa các bộ phận trên mặt đất và
bộ phận dưới mặt đất Chiều cao thân chính là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Chiều cao thân chính được qui định bởi đặc
Trang 24tính di truyền của giống, nhưng đồng thời nó cũng chịu tác động không nhỏ của các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, dinh dưỡng…
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây diêm mạch được thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao
cây diêm mạch Công
(TST: tuần sau trồng Các chữ cái khác nhau ở cùng 1 cột thể hiện sự sai khác có ý
nghĩa khi giá trị P < 0,05)
Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng
trưởng chiều cao cây diêm mạch
Kết quả bảng 3.2 và hình 3.1 cho thấy, ở 1 và 2 tuần sau trồng, chiều cao của cây ở các công thức thí nghiệm là tương đương nhau Sau trồng 3 tuần trở đi, sự tăng trưởng chiều cao ở các công thức đã có sự biến động theo các công thức bón đạm khác nhau Ở thời điểm 3 tuần sau trồng, chiều cao cây ở các công thức có bón đạm cao hơn hẳn so với công thức không bón đạm, Công thức N4 cho chiều cao cây cao nhất, sai khác rõ với công thức N1, N2 nhưng không sai khác nhiều với công thức N3 Chiều cao cây ở công thức N2 và N3 cũng không sai khác rõ
Trang 25Ở thời điểm 4 tuần và 5 tuần sau trồng, chiều cao cây ở công thức N3 và N4
là không có sự sai khác về mặt thống kê, nhưng sai khác có ý nghĩa thống kê đối với công thức N2 và N1 Ở thời điểm 5 tuần sau trồng, chiều cao cây của các công thức dao động từ 58,93 – 65,40 cm, thấp nhất tại N1 (0 kg N/ha) và cao nhất tại N4 (120
kg N/ha)
Chiều cao cây sau 5 tuần trồng có sự tăng trưởng rõ rệt so với ban đầu Tốc
độ tăng trưởng chiều cao của cây ở công thức N4 là cao nhất, tăng 55,03 cm, thấp nhất là ở công thức N1, tăng 48,67 cm
Kết quả thực nghiệm này cho thấy với công thức N3 và N4, chiều cao đạt được là gần tương đương nhau nhưng cao hơn hẳn so với công thức N2 và N1 Kết quả này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Ngô Thị Thu Trang trong vụ Đông Xuân 2014 tại Gia Lâm – Hà Nội (dao động từ 67,5-98,5 cm) [2]
3.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá cây diêm mạch
Lá là cơ quan dinh dưỡng làm nhiệm vụ quang hợp chủ yếu của cây, ngoài ra
lá còn có chức năng thoát hơi nước và trao đổi khí Đối với cây trồng, quang hợp là hoạt động cơ bản tạo nên năng suất, nó quyết định 90-95% năng suất cây trồng Bộ
lá phát triển cân đối, khỏe mạnh là tiền đề cho việc tăng hiệu suất quang hợp, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện bất lợi
Phân bón là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình trao đổi chất, tổng hợp protein, tạo diệp lục ở lá giúp cho quá trình quang hợp Phân bón giúp cây sinh trưởng phát triên mạnh, tạo sinh khối để tích lũy vật chất Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá được thể hiện trong bảng:
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá của cây diêm
mạch Công
(TB: trung bình; TST: tuần sau trồng; Các chữ cái khác nhau ở cùng 1 cột thể hiện
sự sai khác có ý nghĩa khi giá trị P < 0,05)
Trang 26Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá
của cây diêm mạch
Từ kết quả bảng 3.3 và hình 3.2, cho thấy tốc độ ra lá tăng dần qua các tuần theo dõi, số lá/cây tăng nhanh ở tuần thứ 4 và thứ 5
Ở thời điểm 1 tuần sau trồng số lá trung bình ở các công thức có sự sai khác không đáng kể dao động từ 8,2-8,37 lá/cây Thời điểm đang còn sớm nên chưa thấy được ảnh hưởng của các tỷ lệ đạm bón khác nhau đến động thái ra lá
Ở 2 tuần sau trồng, bắt đầu có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm, dao động từ 12,1-12,8 lá/cây và tăng dần theo lượng đạm bón tương ứng với các công thức thí nghiệm Công thức N1 cho số lá/cây là 12,1 không sai khác với công thức
N2 và công thức N3, nhưng sai khác có ý nghĩa thống kê với công thức N4 Các công thức N2, N3 và N4 không thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê Điều này cho thấy động thái ra lá ở các công thức có bón đạm đã cao hơn so với công thức không bón đạm N1 (0 kg N/ha), tuy nhiên sự chênh lệch giữa các công thức có bón đạm chưa thể hiện rõ
Ở 3 tuần sau trồng, sự sai khác giữa các công thức đã thể hiện rõ ràng hơn,
số lá trung bình ở công thức N1 đạt thấp nhất (17,40 lá/cây) và cao nhất ở công thức
N4 (18,93 lá/cây) Công thức N1 sai khác có ý nghĩa với các công thức còn lại Kết quả của công thức N3 và N4 thể hiện sự sai khác không có ý nghĩa thống kê Điều này cho thấy lượng 2 công thức N3 và N4 (lượng đạm bón 90 kg N/ha và 120 kg N/ha) cho kết quả ra lá tương đương nhau và sai khác có ý nghĩa với công thức N2
(60 kg N/ha) Sự biến động giữa các công thức thí nghiệm cũng xảy ra tương tự đối với kết quả thu được ở 4 và 5 tuần sau trồng