Quyền bào chữa không chỉ cần thiết cho bị can, bị cáo mà còn cần thiết và có lợi cho chính các cơ quan tiến hành tố tụng, cho nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án, xét xử đúng
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Khái niệm người bào chữa 1
2 Quyền của người bào chữa 2
3 Nghĩa vụ của người bào chữa 6
4 So sánh với quy định trong bộ luật tố tụng hình sự 2015 9
KẾT LUẬN 13
Trang 2MỞ ĐẦU
Quyền bào chữa được xem như là phương tiện pháp lý cần thiết để những chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Thừa nhận quyền bào chữa là thừa nhận tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng - điều kiện không thể thiếu được cho việc xét xử khách quan, công minh Quyền bào chữa không chỉ cần thiết cho bị can, bị cáo mà còn cần thiết và có lợi cho chính các cơ quan tiến hành tố tụng, cho nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án, xét xử đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Chính vì vậy, trong tố tụng hình sự, sự tham gia của người bào chữa là rất cần thiết, nó có cả ý nghĩa về pháp lý và ý nghĩa xã hội Vậy người bào chữa có quyền và nghĩa vụ như thế nào trong các vụ án hình
sự? Do đó em chọn đề bài: “Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa – so sánh với quy định của BLTTHS 2015”
NỘI DUNG
1 Khái niệm người bào chữa
Người bào chữa là người tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án Họ tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội Người bào chữa không phải là người tiến
hành tố tụng mà chỉ là người tham gia tố tụng Như vậy, “Người bào chữa là
người được cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Trang 3Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003, người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giam, bị can,
bị cáo; bào chữa viên nhân dân
Theo Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm an ninh quốc gia thì người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra Đặc biệt trong các trường hợp bắt người khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ
2 Quyền của người bào chữa
Tại khoản 2 điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có các quyền sau:
“a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
b) Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;
c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;
d) Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;
Trang 4đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
g) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
h) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;
i) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
k) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này.”
Thứ nhất, Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lấy khai của người
bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người
bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác và có quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa Sự có mặt của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can giúp cho người bị tạm giữ, bị can ổn định hơn về mặt tâm lý và những người tiến hành các hoạt động điều tra sẽ thận trọng hơn khi điều tra, tuân thủ pháp luật và hạn chế các hành vi vi phạm Qua đó sẽ hạn chế được Điều tra viên bức cung,
ép cung hay có hành vi đe dọa người bị tạm giữ, bị can để họ khai theo ý muốn của Điều tra viên Điều này giúp cho lời khai của người bị tạm giữ, bị can khách quan hơn và hợp pháp Ngoài ra, việc quy định quyền này cho người bào chữa giúp họ theo dõi được quá trình điều tra, thu thập chứng cứ ngay từ các hoạt động của Cơ quan điều tra để chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng sau này tại phiên tòa của họ Trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung bị can, nếu người bào chữa có những tình tiết chưa được làm rõ thì khi
Trang 5có sự đồng ý của Điều tra viên, người bào chữa cũng có quyền được lấy lời khai người bị tạm giữ và hỏi cung bị can
Thứ hai, Người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước
về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa tham gian chủ động vào hoạt động hỏi cung Cơ quan điều tra khi được yêu cầu phải cung cấp đầy đủ thông tin về thời gian và địa điểm cho người bào chữa
Thứ ba, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố
tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có các căn cứ quy định tại điều
42 và điều 46 của Bộ luật TTHS và xét thấy việc những người này tiến hành
tố tụng hoặc tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa Quy định này góp phần đảm bảo cho tính khách quan, vô tư của những người này khi tham gia tố tụng và cũng đảm bảo cho các quyết định đưa ra được chính xác
Thứ tư, Người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên
quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác Điều này giúp họ có thể tìm ra những tình tiết mới có lợi cho người
bị tạm giữ,bị can, bị cáo Quy định này cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa chủ động nắm bắt được các tình tiết của vụ án, từ đó thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Thứ năm, Người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.
Việc người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật mà mình thu thập được hoặc yêu cầu cơ quan điều tra xem xét, thu thập những chứng cứ chứng minh
sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can,
Trang 6bị cáo là việc làm cần thiết Người bào chữa cũng có quyền đưa ra những đề nghị trong quá trình tham gia tố tụng như đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa nếu bị cáo chưa nhận được bản cáo trạng, quyền đưa ra yêu cầu như triệu tập thêm nguời làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy điều đó là cần thiết và có lợi cho người được bào chữa Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bào chữa, …
Thứ sáu, Người bào chữa có quyền gặp người bị tạm giữ, gặp bị can, bị
cáo đang bị tạm giam Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu là người thực hiện tội phạm thì họ là những người hiểu rõ nhất về những tình tiết trong vụ án, còn nếu họ là người không thực hiện tội phạm thì qua việc gặp gỡ, nói chuyện, người bào chữa có thể tìm ra được những chứng cứ chứng minh họ không có tội Việc gặp gỡ này tạo điều kiện cho người bào chữa thu thập thêm những thông tin về tình tiết của vụ án, hiểu rõ được tâm tư, nguyện vọng của chính người mà mình bào chữa, ngoài ra còn giúp nắm bắt các tình tiết của vụ án hoặc các đặc điểm nhân thân của người được bào chữa Mặt khác, khi tiếp xúc, người bào chữa có thể tác động đến tâm lý, suy nghĩ của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo giúp họ hợp tác, có thái độ khai báo tốt hơn
Thứ bảy, sau khi kết thúc điều tra, người bào chữa có quyền đọc, ghi
chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến người bào chữa Qua việc đọc và ghi chép hồ sơ vụ án, người bào chữa nắm được nội dung của vụ án, nắm được những chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội đối với người được bào chữa, trên cơ sở đó người bào chữa chuẩn bị cho việc bào chữa, tham gia tranh tụng tại phiên tòa Ngoài ra, người bào chữa cũng có điều kiện để phát hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên cơ sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với
cơ quan có thẩm quyền
Thứ tám, Người bào chữa có quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên
tòa Tại phiên tòa xét xử vai trò của người bào chữa được thể hiện rõ nét nhất
Trang 7Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác về những vấn đề của vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo Khi tranh luận, người bào chữa phải phân tích, lập luận, đưa ra những lý lẽ để bảo
vệ bị cáo và bác bỏ những lời buộc tội bị cáo
Thứ chín, người bào chữa có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố
tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Khi nhận thấy có những vi phạm, sai sót của cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng, đặc biệt những sai sót đó ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa thì người bào chữa có quyền khiếu nại những quyết định, hành vi của cơ quan hoặc cá nhân đó với cơ quan có thẩm quyền Quyền này đảm bảo cho các hoạt động tố tụng được khách quan và toàn diện
Thứ mười, người bào chữa còn có quyền kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Đây là quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc ý chí của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo Kháng cáo của người bào chữa phải theo hướng có lợi cho bị cáo
3 Nghĩa vụ của người bào chữa
Tại khoản 3 điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có các nghĩa vụ sau:
“a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào
Trang 8chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này;
b) Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
c) Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng;
d) Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Toà án;
e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ
án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.”
Thứ nhất, người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp
luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa
và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này Quy định này nhằm đảm bảo người bào chữa phải làm hết sức mình bằng việc sử dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và hạn chế tình trạng người bào chữa nhận quá nhiều vụ án, công việc dẫn đến không có thời gian nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ hay tham gia phiên toà để bào chữa cho người bị buộc tội Những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án có thể là những chứng cứ Căn cứ
Trang 9vào quy định này người bào chữa không thể giữ các tài liệu, vật chứng cho riêng mình, chờ cho tới khi tiến hành tranh tụng tại phiên tòa mới đưa ra, mà ngược lại, ngay sau khi có được các tài liệu, vật chứng trong tay NBC phải kịp thời cho cơ quan chuyển giao cho cơ quan tiến hành tố tụng
Thứ hai, người bào chữa có nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Không phải bất cứ người bị buộc tội nào cũng am hiểu pháp luật Hơn nữa, họ luôn ở trong trạng thái lo sợ kể từ khi bị bắt đến khi bị kết tội Vì vậy, vai trò của người bào chữa là rất quan trọng
Thứ ba, người bào chữa không được từ chối bào chữa cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đăm nhận bào chữa, nếu không có lí do chính đáng Khi người bào chữa đã nhận lời bào chữa cho người bị buộc tội thì giữa
họ đã thành lập một mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu người bào chữa mà
từ chối bào chữa giữa chừng sẽ ảnh hưởng không chỉ đến quyền lợi của người
bị buộc tội mà còn ảnh hưởng tới tâm lý của họ
Thứ tư, người bào chữa Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được
mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật Người bào chữa ngoài vai trò nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của thân chủ mình thì còn có nghĩa vụ bảo vệ pháp luật, trong đó sự thật là không thể chối cãi Chính vì vậy, họ phải tôn trọng sự thật và pháp luật
Thứ năm, người bào chữa có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của
Toà án Phiên toà xét xử người bị buộc tội là giai đoạn quan trọng của hoạt động tố tụng, quyết định người bị buộc tội có tội hay không Việc tham gia phiên toà là quyền đồng thời là nghĩa vụ của người bào chữa
Thứ sáu, người bào chữa không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình
biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà
Trang 10nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức và cá nhân Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bào chữa, NBC có thể biết được rất nhiều bí mật như thông tin bí mật, tài liệu bí mật của Nhà nước, bí mật của bị can, bị cáo hay bí mật khác mà NBC có thể vô tình nghe thấy được Pháp luật quy định họ không được tiết lộ những thông tin bí mật này vì nó sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi ích của cá nhân, Nhà nước, xã hội, dù vô tình cũng có thể gây ra những hậu quả lớn
4 So sánh với quy định trong bộ luật tố tụng hình sự 2015
BLTTHS năm 2015 đã có những quy định bổ sung một số quyền của người bào chữa so với BLTTHS 2003
Tại khoản 1 điều 73 BLTTHS 2015 quy định quyền của người bào chữa:
“a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;
b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;
c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;