Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)Tổ chức dạy học bài tập chương Các lực cơ học (Vật lý 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Houngsavang KEOMIXAY
TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG "CÁC LỰC
CƠ HỌC" (VẬT LÍ 10) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH (CHDCND LÀO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Houngsavang KEOMIXAY
TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG "CÁC LỰC
CƠ HỌC" (VẬT LÍ 10) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH (CHDCND LÀO)
Ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn vật lí
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Khải
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công
bố trong bất kỳ một công trình của các tác giả nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Houngsavang KEOMIXAY
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh của trường THPT nước CHDCND Lào đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu của những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên, góp ý và tiếp thêm động lực để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Houngsavang KEOMIXAY
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Giả thuyết khoa học 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
7 Đóng góp của đề tài 3
8 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÍ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 4
1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Các nghiên cứu về phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 4
1.1.2 Các nghiên cứu về dạy học bài tập vật lí chương "Các lực cơ học" (vật lí 10) 7
1.2 Tư duy sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí 8
1.2.1 Khái niệm tư duy sáng tạo 8
1.2.2 Các biểu hiện của tư duy sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí 9
1.2.2 Các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí 9
1.3 Bài tập vật lí 11
1.3.1 Khái niệm bài tập vật lí 11
1.3.2 Vai trò và vị trí của bài tập vật lí trong dạy học vật lí ở trường phổ thông 12
Trang 61.3.3 Phân loại bài tập vật lí 14
1.4 Một số biện pháp sử dụng bài tập vật lí để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh CHDCND Lào 23
1.4.1 Biện pháp 1: Sử dụng bài tập trong tiến trình xây dựng kiến thức mới phù hợp với logic phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 23
1.4.2 Biện pháp 2: Tổ chức dạy học bài tập trong tiến trình ôn luyện, hệ thống hóa kiến thức 27
1.4.3 Tổ chức dạy học và sử dụng bài tập kiểm tra, đánh giá 28
1.5 Cơ sở thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng dạy học bài tập vật lí nói chung và tổ chức dạy học bài tập khi dạy học chương “Các lực cơ học” (Vật lí 10) ở trường phổ thông theo quan điểm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 29
1.5.1 Mục đích nghiên cứu khảo sát 29
1.5.2 Đối tượng, Phương pháp khảo sát 29
1.5.3 Đối tượng khảo sát 32
1.5.4 Phương pháp khảo sát 32
1.5.5 Kết quả khảo sát 32
Kết luận chương 1 32
Chương 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG "CÁC LỰC CƠ HỌC" (VẬT LÍ 10) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH (CHDCND LÀO) 34
2.1 Mục tiêu, nội dung dạy học chương “các lực cơ học” 34
2.1.1 Mục tiêu 34
2.1.2 Nội dung cơ bản của chương động lực học chất điểm 34
2.1.3 Các nguyên tắc soạn thảo và lựa chọn bài tập 36
2.1.4 Hệ thống bài tập được sử dụng theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 39
2.2 Thiết kế tiến trình sử dụng bài tập trong dạy học một số kiến thức chương "Các lực cơ học" (Vật lí 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND Lào) 40
Trang 72.2.1 Sử dụng bài tập trong dạy học kiến thức mới 40
2.2.2 Đề kiểm tra 81
Kết luận chương 2 87
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
3.1 Mục đích và nghiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 88
3.2 Đối tượng và thời gian tiến hành thực nghiệm sư phạm 88
3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm 88
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 89
3.4.1 Đánh giá định tính 89
3.4.2 Đánh giá định lượng 89
3.5 Kết quả và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 91
3.5.1 Kết quả bài kiểm tra 15 phút 91
3.5.2 Kết quả bài kiểm tra 45 phút (1 tiết) 95
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Dạy học giải quyết vấn đề các loại kiến thức vật lí đặc thù 24
Bảng 1.2 Bảng số liệu xin ý kiến của giáo viên 30
Bảng 1.3 Bảng số liệu lấy ý kiến của học sinh 31
Bảng 3.1 Bảng tần số kết quả bài kiểm tra 15 phút 92
Bảng 3.2 Bảng tần suất kết quả bài kiểm tra 15 phút 92
Bảng 3.3 Bảng tần suất lũy tích kết quả kiểm tra 15 phút 93
Bảng 3.4 Bảng tính kết quả các tham số thống kê bài kiểm tra 15 phút 94
Bảng 3.5 Bảng tần số kết quả bài kiểm tra 45 phút (1 tiết) 95
Bảng 3.6 Bảng tần suất kết quả bài kiểm tra 45 phút (1 tiết) 96
Bảng 3.7 Bảng tần suất lũy tích kết quả kiểm tra 45 phút 97
Bảng 3.8 Bảng tính kết quả các tham số thống kê bài kiểm tra 45 phút 98
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ chu trình sáng tạo khoa học của V.G Razumôpxki 10
Hình 1.2: Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu dạy học PH & GQVĐ 24
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất kết quả bài kiểm tra 15 phút 92
Hình 3.2 Đồ thị tần suất điểm bài kiểm tra 15 phút 93
Hình 3.3 Đồ thị tần suất lũy tích kết quả bài kiểm tra 15 phút 93
Hình 3.4 Tần suất kết quả bài kiểm tra 45 phút 96
Hình 3.5 Đồ thị tần suất điểm bài kiểm tra 45 phút 97
Hình 3.6 Đồ thị tần suất lũy tích kết quả bài kiểm tra 45 phút 97
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước Lào đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh phát triển, đòi hỏi xã hội phải tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao Điều đó đồng nghĩa với ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải có sự đổi mới về mọi mặt, nhằm đào tạo người lao động có đủ kiến thức, năng lực sáng tạo, trí tuệ và phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng được yêu cầu nhân lực của đất nước và phù hợp với bốn trụ cột giáo dục của UNESCO trong thế kỷ XXI (Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để khẳng định mình)
Với mong muốn trên, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào
đã đề ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực từ 2006- 2015 có 4 hướng: Một là tăng cường nội dung dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông ở CHDCND Lào, giáo dục phổ thông kéo dài 12 năm; hai là khuyến khích và mở rộng cơ hội cho mọi người được học tập, cải thiện chất lượng và liên kết giáo dục; ba là tổ chức nghiên cứu khoa học giáo dục và có kế hoạch phát triển khoa học giáo dục; bốn là chú ý mở rộng các trường kỹ thuật và đạo tạo dạy nghề
Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học công nghệ có những bước tiến nhảy vọt, việc đào tạo những con người không chỉ nắm vững kiến thức mà còn có năng lực sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng đối với tiềm lực khoa học kĩ thuật của đất nước
Với mục tiêu và định hướng về đổi mới phương pháp dạy học như vậy thì một trong những điều quan trọng trong việc trang bị tri thức trong nhà trường phổ thông là phải phát triển kỹ năng thực nghiệm cho học sinh, đặc biệt là với học sinh học trong các trường năng khiếu
Ở trường trung học phổ thông của đất nước Lào, tổ chức dạy học một số kiến thức về các định luật bảo toàn cho học sinh theo hướng phát triển kỹ năng thực nghiệm vật lí có một vị trí quan trọng trong chương trình học và dạy vật lí Nội dung bồi dưỡng
về kiến thức này rất cần thiết để giảng dạy cho học sinh Lào, vì vậy các kỹ năng thí nghiệm vật lí thường xuyên có mặt trong các kỳ thi trung học THPT và trong các kỳ thi học sinh giỏi Nội dung kiến thức về các định luật bảo toàn, kỹ năng thí nghiệm vật
lí còn là tiền đề, bước chuẩn bị giúp học sinh học tập tốt nội dung chương trình vật lý THPT
Trang 12Trong quá trình giảng dạy ở trường trung học phổ thông tôi nhận thấy chương trình dạy học một số kiến thức về các định luật bảo toàn theo hướng phát triển kỹ năng thí nghiệm vật lí còn nhiều hạn chế, các tài liệu về phương pháp giảng dạy vật lí còn ít, nội dung chưa phong phú, các tài liệu chủ yếu là tiếng nước ngoài nên rất khó khăn trong việc nghiên cứu để giảng dạy và học tập
Nhằm góp phần khắc phục khó khăn nói trên và để nâng cao hiệu quả dạy học,
đáp ứng nhu cẩu đổi mới trong giáo dục, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG "CÁC LỰC CƠ HỌC" (VẬT LÍ 10) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH (CHDCND LÀO)
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tôi chọn đề tài này với mục đích nghiên cứu tìm hiểu phương pháp phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh ở trường THPT nói chung và phương pháp phát huy tính tích cực trong dạy học môn vật lý nói riêng Qua đó thấy được những mặt tích cực cũng như những hạn chế của học sinh trong việc học tập phương pháp mới, những thuận lợi ưu điểm hay khó khăn của giáo viên và học sinh khi áp dụng phương pháp này vào dạy học
Từ đó rút ra những kinh nghiệm trong việc giảng dạy sau, này đồng thời đề xuất những ý kiến về những khó khăn khi dạy và học môn vật lý ngày càng đạt chất lượng cao hơn
Nghiên cứu lựa chọn và tổ chức dạy học bài tập chương "Các lực cơ học"
(vật lí 10) theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh (CHDCND LÀO)
3 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học các bài tập vật lí phù hợp cho tiến trình dạy học chương
“Các lực cơ học” (Vật lí 10) thì sẽ góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở
các trường Trung học phổ thông (CHDCND Lào)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng: các phương pháp dạy học tích cực
- Khách thể: giáo viên và học sinh trường THPT
Trang 135 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu vạch ra là:
- Tìm hiểu bản chất của các phương pháp dạy học theo hướng tích cực sử dụng trong trường THPT
- Vận dụng các phương pháp dạy học trong tình huống cụ thể
- Đề ra những biện pháp để học sinh học theo phương pháp này đạt hiệu quả cao hơn
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học và các tài liệu liên quan đến lý thuyết
bài tập Vật lý
- Nghiên cứu các chương trình sách giáo khoa và sách bài tập, các tài liệu tham khảo
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước cùng với các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Thể thao về vấn đề đổi mới phương pháp DH hiện nay ở trường Trung học phổ thông của CHDCND Lào
6.2 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá kết quả kiểm tra của học sinh
7 Đóng góp của đề tài
- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc sử dụng bài tập trong dạy học vật
lí ở trường Trung học phổ thông (CHDCND Lào)
- Đề xuất được một số biện pháp để tăng cường tổ chức dạy học bài tập chương
“Các lực cơ học” (Vật lí 10) trong dạy học vật lí ở trường Trung học phổ thông (CHDCND Lào)
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho GV dạy bộ môn Vật lí ở các trường Trung học phổ thông trong cả nước CHDCND Lào
8 Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu, 03 chương và phần kết luận, tài liệu
tham khảo và phần phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÍ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Trong lịch sử giáo dục, vấn đề phát triển tư duy sáng tạo và năng lực sáng tạo được quan tâm từ cổ xưa Việc phát triển tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo có tác dụng thiết thực để học sinh chủ động xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào thực hành, từ đó những kiến thức của học sinh trở nên vững chắc và sinh động
Từ những năm 90 của thế kỉ 20, dạy học và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế và là một trong những phương pháp dạy học quan trọng của mỗi quốc gia Các quốc gia phát triển ở Châu Âu, Bắc Mĩ đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các nhà khoa học, các nhà giáo dục và đầu tư nguồn lực lớn cho việc nghiên cứu, phát triển giáo dục định hướng năng lực
Các lĩnh vực được xem là công cụ hỗ trợ cho việc giáo dục định hướng năng lực bao gồm: Tâm lý học, giáo dục học, logic học, giải phẫu học, và các tiến bộ về y học trong lĩnh vực nghiên cứu não Một số lý thuyết nổi tiếng được xây dựng và ứng dụng trong phát triển giáo dục định hướng năng lực nói chung và dạy học theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo nói riêng có thể kể đến như:
1, Thuyết phát sinh nhận thức của Jean Piaget (1896 - 1980) theo đó trí tuệ trẻ em trải qua 4 giai đoạn phát triển: giai đoạn cảm giác - vận động, giai đoạn tiền thao tác cụ thể; giai đoạn thao tác cụ thể, và giai đoạn thao tác hình thức
2, Thuyết lịch sử - văn hóa về sự phát triển của chức năng tâm lý cao cấp của Vưgôtxki (1896 - 1934)
3, Thuyết hoạt động của A.N Leochiev (1903 - 1979) Theo đó thực chất hoạt động dạy học là tổ chức hoạt động nhận thức cho người học, biến hình thức hoạt động bên ngoài thành hoạt động bên trong Ý thức, nhân cách là sản phẩm của hoạt động dạy học
Trang 15Dạy học vật lí theo hướng phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Ở nước ngoài và ở Việt nam):
Môn học Vật lí là một môn khoa học được giảng dạy ở trường phổ thông của tất
cả các nước trên thế giới, mặc dù được đánh giá là một môn học khó nhưng các kiến thức vật lí lại rất gần gũi với đời sống thực tiễn và nó có thể được học sinh vận dụng ngay vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng ngày Giữa các nước và khu vực trên thế giới, kết quả nghiên cứu và thực tiễn dạy học vật lí trong nhà trường có những đặc điểm chung và những điểm khác nhau về phương pháp, chiến lược dạy học
- Dạy học vật lí theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo ở nước ngoài
Các nước Tây Âu và Mỹ
Để việc dạy học có hiệu quả thì các phương pháp dạy học cần phải chú trọng quan tâm đến hệ hình học tập (hoạt động học tích cực, chất lượng, hiệu quả) Từ những năm 1970 cho đến nay, tư duy phản biện (critical thinking) được đề cao và chúng ta có
thể định nghĩa theo R.H Ennis thì “Tư duy phản biện là sự suy nghĩ sâu sắc, nhạy cảm, thực tế và hữu ích để quyết định niềm tin hay hành động” [1] hay “Tư duy phản biện
là loại tư duy bảo vệ ta không bị ai lừa phỉnh và ta không tự lừa phỉnh mình” [17]
Trải qua quá trình nghiên cứu và thực hành Tư duy phản biện, các nhà nghiên cứu đã xây dựng và áp dụng chương trình dạy học tư duy phản biện với những người
đề xuất đứng đầu của trường phái này là Matthew Lipman, Robert Sternberg, và Robert Ennis
Năm 1995, K.B Beyer đã đưa ra các nguyên tắc của tư duy phản biện Thứ nhất
là không định kiến Thứ hai, tư duy phản biện phải có tiêu chí, tiêu chuẩn rõ ràng và không mập mờ Thứ ba là sự thành thục tư duy logic và tư duy biện chứng của người
sử dụng tư duy phản biện [8]
Liên xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa trước năm 1990
Xuất phát từ tính chất chung của các nguyên tắc xây dựng xã hội chủ nghĩa nên các nước trong khối xã hội chủ nghĩa có sự giống nhau về nền giáo dục trong đó có phương pháp giảng dạy môn vật lí
Trang 16Trong chương trình giáo dục phổ thông ở các nước xã hội chủ nghĩa, vật lí là môn học bắt buộc Phương pháp dạy và học môn vật lí chú trọng bồi dưỡng tư duy logic và tư duy biện chứng cho học sinh
Việc phát triển năng khiếu và năng lực của học sinh trong nhà trường xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất Ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa có nhiều con đường khác nhau để phát triển năng khiếu và năng lực của học sinh trong dạy học vật lí
Ngoài việc dạy học vật lí theo chương trình phổ thông, người ta còn tổ chức các bài học tự chọn, hình thành các trường, khoa, lớp học chuyên sâu về nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm vật lí
Thường xuyên đổi mới, phát triển phương pháp dạy học vật lí theo hướng tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, dạy học nêu vấn đề, phát hiện và giải quyết vấn đề, bài tập sáng tạo, thí nghiệm thực hành trong các giờ học vật lí, các buổi ngoại khóa và giờ học tự chọn
Sau năm 1990 hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa có sự thay đổi căn bản nhưng những vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục phát triển năng lực sáng tạo vẫn giữ nguyên những giá trị to lớn với nhận loại và đang tiếp tục được nghiên cứu và phát triển
- Nghiên cứu phát triển tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lí ở Việt Nam
Chịu ảnh hưởng tích cực từ nền giáo dục của các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa, từ những năm 1945, các nhà giáo dục Việt Nam đã tiếp thu văn hóa giáo dục từ các nền văn minh khác nhau và từ đó xây dựng nền giáo dục hiện đại Các mô hình giáo dục, mô hình dạy học trong nhà trường Việt Nam qua từng thời kì đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ trong đó có dạy học môn vật lí
Từ những năm 1970, việc phát huy tính tích cực của HS đã được quan tâm, dạy học nêu vấn đề đã được vận dụng trong dạy học vật lí Việc vận dụng chu trình sáng tạo khoa học trong lý luận dạy học vật lí, trong xây dựng nội dung và phương pháp dạy học vật lí đã triển khai góp phần phát triển tư duy sáng tạo và năng lực sáng tạo cho
HS
Trang 17Các kiểu dạy học hiện đại trong dạy học vật lí có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt vật lí có thể nêu ra ở đây là các phương pháp như: dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên tìm tòi khám phá
Dạy học tích cực và đổi mới kiểm tra đánh giá năng lực của HS trong giờ dạy vật lí đang là một xu hướng tất yếu góp phần thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, từ chỗ quan tâm đến việc
HS đạt được cái gì đến chỗ qua tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học
1.1.2 Các nghiên cứu về dạy học bài tập vật lí chương "Các lực cơ học" (vật lí 10)
Việc dạy học bài tập vật lí trong nhà trường không chỉ giúp học sinh hiểu được một cách sâu sắc và đầy đủ những kiến thức quy định trong chương trình mà còn giúp các em vận dụng những kiến thức đó đề giải quyết những nhiệm vụ của học tập và những vấn đề mà thực tiễn đã đặt ra Việc sử dụng các bài tập vật lí đã được nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực lí luận dạy học vật lí
Trong dạy học vật lí phải thường xuyên rèn luyện cho học sinh những kĩ năng,
kỹ xảo vận dụng kiến thức vào cuộc sống hằng ngày Kỹ năng vận dụng kiến thức trong bài tập và trong thực tiễn đời sống chính là thước đo mức độ sâu sắc và vững vàng của những kiến thức mà học sinh đã thu nhận được Với vai trò là một cách thức vận dụng, bài tập vật lí có một vị trí đặc biệt trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
Trước hết, vật lí là một môn khoa học giúp học sinh nắm được qui luật vận động của thế giới vật chất và bài tập vật lí giúp học sinh hiểu rõ những qui luật ấy, biết phân tích và vận dụng những qui luật ấy vào thực tiễn Trong nhiều trường hợp mặc dù người giáo viên có trình bày tài liệu một cách mạch lạc, hợp logic, phát biểu định luật chính xác, làm thí nghiệm đúng yêu cầu, qui tắc và nắm vững kiến thức Chỉ thông qua việc giải các bài tập vật lí dưới hình thức này hay hình thức khác nhằm tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải guyết các tình huống cụ thể thì kiến thức thức đó mới trở nên sâu sắc và hoàn thiện Vì vậy, đã có nhiều luận văn, luận án khoa học giáo dục nghiên cứu về dạy học bài tập vật lí
Có thể nêu lên một số luận văn về "Các lực cơ học" ở trường phổ thông theo hướng phát triển tư duy sáng tạo của học sinh Luận văn thạc sĩ của Cao Tiến Khoa về
Trang 18"Các định luật và tư tưởng bảo toàn trong việc nâng cao hiệu quả phát triển tư duy Vật
lý ở học sinh Trung học phổ thông" (Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 1999); Luận văn của tác giả Phạm Thị Phương (Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2010) về "Lựa chọn và xây dựng tiến trình dạy học bài tập Vật Lý chương “Các lực cơ học” (Vật Lý
10 - Cơ bản) nhằm phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh trường dân tộc nội trú THPT", Trương Hùng Phác (Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2011) về "Định hướng tìm tòi giải quyết vấn đề khi dạy bài tập định lượng chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 - Cơ bản nhằm phát huy tính tích cực của học sinh miền núi", Nguyễn Thành Quê (Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2011) về "Xây dựng và sử dụng bài tập vật lý trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 nâng cao", Tạ Đức Trọng (Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2012)
về "Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trường chuyên khi dạy chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 nâng cao", Nguyễn Thanh Loan (Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2013) về "Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh", Symesai Chanthavong (Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2014" về "Tổ chức dạy học một số kiến thức về "Các định luật bảo toàn" (Vật
lý - THPT) nhằm phát triển kỹ năng vận dụng phương pháp thực nghiệm Vật lý cho học sinh trường Năng Khiếu (CHDCND Lào)", Sitthisome Bounsou (Trường ĐHSP -
ĐH Thái Nguyên, 2016) về "Sử dụng bài tập trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” (vật lí 10) góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh (CHDCND LÀO)
1.2 Tư duy sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí
1.2.1 Khái niệm tư duy sáng tạo
Theo Từ điển giáo dục học (Bùi Hiển (Chủ biên), 2013 [7], tr 459): "kiểu tư duy dựa trên logic và tưởng tượng để tạo ra những hình ảnh, ý tưởng và sự vật mới, chưa có từ trước đến nay Tư duy sáng tạo bắt đầu từ sự quan sát, phân tích, đánh giá
sự vật khách quan, tìm ra vấn đề, rồi đạt thành giả thuyết và nêu ra các phương án giải quyết Tư duy sáng tạo bắt nguồn từ những kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc các vấn
đề lí thuyết cũng như thực tiễn, công với mức độ thành thực các thao tác tư duy logic"
Tư duy sáng tạo thường phải kết hợp với trí tưởng tượng cao độ
Ở các trường trung học của các nước phát triển, một số phương pháp quan trọng
Trang 19như tập kích não, giản đồ ý cũng đã được áp dụng cho học sinh biết cách áp dụng dưới dạng thô sơ; đồng thời cũng đã có nhiều cơ sở giáo dục tư thục giảng dạy các chuyên
đề về phương pháp tư duy sáng tạo cho học viên mọi lứa tuổi
1.2.2 Các biểu hiện của tư duy sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí
Theo định nghĩa nêu trên và theo các đặc điểm học tập vật lí ở trường phổ thông,
có thể nêu lên một số biểu hiện của tư duy sáng tạo của học sinh như sau [2]:
1 Khả năng quan sát và phát hiện vấn đề mới: Trong học tập và nghiên cứu khoa học vật lí nói chung, khả năng quan sát và đặt câu hỏi khoa học là một biểu hiện của tư duy sáng tạo Vì vậy, trong dạy học vật lí phải quan tâm rèn luyện khả năng quan sát, phát hiện vấn đề và đặt câu hỏi khoa học cho học sinh
2 Khả năng vận dụng tư duy logic như phân tích, so sánh, tổng hợp, trìu tượng hoá và khái quát hoá trong học tập vật lí Nhờ khả năng tư duy logic, học sinh có thể phát hiện các vấn đề mới của khoa học vật lí, có thể vận dụng kiến thức đã học một cách sáng tạo vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn
3 Học sinh có thể đưa ra các phỏng đoán, dự đoán và xây dựng giải thuyết
4 Học sinh có khả năng đề xuất phương án kiểm tra giả thuyết
1.2.2 Các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí
Các biện pháp phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh có thể nêu lên như sau [2]:
Biện pháp 1 Tổ chức nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo
Tổ chức nhận thức vật lý theo chu trình sáng tạo sẽ giúp học sinh trên con đường hoạt động sáng tạo dễ nhận biết được chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới Việc tập trung sức lực vào chỗ mới
sẽ giúp học sinh hoạt động sáng tạo có hiệu quả, rèn luyện tư duy trực giác nhạy bén, phong phú
Hoạt động nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức sáng tạo, có tính chu trình V.G Razumôpxki trên cơ sở khái quát những phát biểu giống nhau của những nhà vật lí nối tiếng như Einstein, M Plank, M Borner, P.L Kapica… đã trình bày những khía cạnh chính của quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình, gồm 4 giai đoạn:
Trang 20V.G.Razumôpxki khái quát hoá và trình bày những khía cạnh chính của quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình gồm các giai đoạn chính sau: Từ việc khái quát hoá những sự kiện xuất phát, đi đến xây dựng mô hình giả định của hiện tượng;
từ mô hình dẫn đến việc rút ra các hệ quả lí thuyết; rồi từ hệ quả lí thuyết đến kiểm tra bằng thực nghiệm Nếu những sự kiện thực nghiệm phù hợp với hệ quả dự đoán thì giả thuyết đó được xác nhận là đúng đắn và trở thành chân lí khoa học, nếu những sự kiện thực nghiệm không phù hợp với những dự đoán lí thuyết, thì phải chỉnh lí lại hoặc thay đổi Trong diễn biến của chu trình, những hệ quả lí thuyết ngày một nhiều, mở rộng phạm vi ứng dụng của các kết luận đã thu được, cho đến khi xuất hiện những sự kiện thực nghiệm mới không phù hợp với thực nghiệm thì điều đó dẫn đến phải xem lại lí thuyết cũ, chỉnh lí lại hoặc phải thay đổi và như thế là lại bắt đầu một chu trình mới, xây dựng những kiến thức mới, thiết kế những máy móc mới để kiểm tra; bằng cách
đó làm kiến thức khoa học ngày một phong phú thêm
Hình 1.1 Sơ đồ chu trình sáng tạo khoa học của V.G Razumôpxki [2]
Chu trình sáng tạo khoa học do V.G Razumôpxki đề ra không phải là chu trình khép kín mà mở rộng dần Trong sơ đồ 2, sự mở rộng dần được thể hiện bằng phần nét đứt Có thể mô tả quá trình nhận thức vật lí chi tiết hơn, gồm các giai đoạn điển hình sau:
Thực tiễn Vấn đề Giả thuyết Hệ quả Định luật Lý thuyết Thực tiễn
Chu trình và sơ đồ nói trên mô tả toàn bộ quá trình nhận thức vật lí
Biện pháp 2 Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết
Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dự đoán chủ yếu dựa vào trực giác, kinh nghiệm và kiến thức sâu sắc về một lĩnh vực nào đó
Có thể có các cách dự đoán sau trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức:
Mô hình giả định
kiểm chứng
Trang 21+ Dự đoán dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có;
+ Dự đoán dựa trên sự tương tự;
+ Dự đoán dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có quan hệ nhân quả;
+ Dự đoán dựa trên nhận xét thấy hai hiện tượng luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hay cùng giảm mà dự đoán về mối quan hệ nhân quả giữa chúng;
+ Dự đoán dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình;
+ Dự đoán dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác;
+ Dự đoán về mối quan hệ định lượng
Biện pháp 3 Luyện tập đề xuất phương án để kiểm tra dự đoán
Để kiểm tra dự đoán, giả thuyết có phù hợp với thực tế không, phải suy luận ra
hệ quả có thể quan sát trong thực tế và tiến hành thí nghiệm kiểm chứng Quá trình rút
ra hệ quả thường áp dụng suy luận logic hay suy luận toán học Sự suy luận này phải đảm bảo đúng quy tắc, quy luật, không phạm sai lầm Những quy tắc và quy luật đó đều đã biết nên không đòi hỏi sự sáng tạo thật sự Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là
đề xuất được phương án kiểm tra hệ quả đã rút ra được
Ngoài ra theo tôi để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh chúng ta cũng có thể
áp dụng các cách sau:
• Tạo điều kiện về tinh thần
• Tạo điều kiện về vật chất
• Tạo điều kiện về quy luật vận động khách quan của đối tượng
1.3 Bài tập vật lí
1.3.1 Khái niệm bài tập vật lí
"Bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suy lí logic, những phép toán và thí nghiệm trên cơ sở các định luật và thí nghiệm dựa
trên cơ sở các định luật và các phương pháp vật lí" [9],
Các bài tập vật lý có thể hiện diện ở tất cả các giai đoạn của quá trình lĩnh hội môn học này, tức là từ bước đặt vấn đề để bắt đầu nghiên cứu một đề mục, cho đến bước nghiên cứu giải quyết vấn đề, bước vận dụng để củng cố, luyện tập, ôn tập hoặc
mở rộng, đào sâu tri thức và thực hành Tuỳ theo mục đích sử dựng, các bài tập vật
lý có thể xây dựng với nội dung thích hợp và cách giải tương ứng Có lúc các bài tập
Trang 22vật lý xuất hiện tường minh dưới dạng những đề toán quen thuộc như chúng ta vẫn thường gặp trong các giờ học hoặc các kì thi, nhưng cũng có lúc chúng ta còn phải phát hiện ra chúng và tự mình nêu thành lời để trở nên một bài tập vật lý quen thuộc và phải
tự mình cung cấp cả số liệu và yêu cầu cần tìm cho bài tập trước khi có thể giải để đi tới kết quả cuối cùng
Cũng như việc học tập môn vật lý nói chung, việc giải bài tập vật lý ở nhà trường nói riêng không thể chỉ dừng lại ở sự tìm cách vận dụng các công thức vật lý để giải cho xong các phương trình và đi đến những đáp số Quan trọng hơn là giải bài tập vật
lý phải giúp HS hiểu sâu hơn các hiện tượng vật lý xảy ra trong thế giới tự nhiên xung quanh ta, trong các đối tượng của nền công nghệ văn minh mà ta đang sử dụng,và từ
sự hiểu biết sâu sắc đó mà thúc đẩy HS học giải quyết những vấn đề khác nhau của đời sống và công nghệ sau này
Các bài tập giáo khoa của chúng ta thường rất khác xa với những bài toán mà
HS sẽ gặp trong cuộc sống Nếu không hiểu thấu đáo vật lý học và nhất là không quen với việc giải bài tập vật lý một cách thông minh sáng tạo thì HS sẽ khó lòng giải quyết
tốt những bài toán thực của cuộc sống
1.3.2 Vai trò và vị trí của bài tập vật lí trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
1.3.2.1 Vai trò của bài tập vật lí
Trong quá trình dạy học vật lý, các bài tập vật lý có tầm quan trọng đặc biệt Chúng được sử dụng theo các mục đích khác nhau [2], [9],
Việc sử dụng bài tập trong dạy học vật lí có các tác dụng sau:
- Giúp cho việc ôn tập củng cố và mở rộng kiến thức, kĩ năng cho học sinh;
- Bài tập có thể là khởi đầu kiến thức mới;
- Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, phát triển thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát;
- Phát triển năng lực tự lực làm việc của học sinh;
- Phát triển tư duy sáng tạo của học sinh;
- Dùng để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh
Giải các bài toàn vật lí được xem như mục đích, là phương pháp dạy học
Ngày nay trong thực tiễn dạy học vật lý người ta ngày càng chú ý tăng cường các bài toán vật lí vì chúng đóng vai trò quan trọng trong dạy học và giáo dục học sinh, đặc biệt trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp
Trang 23Trong thực tế dạy học, người ta thường gọi một vấn đề (hay là một câu hỏi) cần được giải đáp nhờ lập luận logic, suy luận toán học hay thực nghiệm vật lí trên cơ sở sử dụng các định luật và các phương pháp của vật lí học là bài toán vật lí
Bài toán vật lí, hay đơn giản gọi là các bài tập vật lí, là một phần hữu cơ của quá trình dạy học vật lí vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm vật lý, phát triển tư duy vật lí và thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào thực tế
Các bài tập vật lí được sử dụng trong các trường hợp sau:
- Đề xuất vấn đề học tập hay tạo ra tình huống có vấn đề,
- Thống báo kiến thức mới (mà trong giờ lý thuyết chưa có điều kiện đề cập đầy đủ )
- Hình thành kĩ năng và thói quen thực hành
- Kiểm tra kiến thức học sinh
- Củng cố, khái quát hoá và ôn tập kiến thức
- Thực hiện các nguyên tắc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, làm quen học sinh với các thành tựu khoa học kỹ thuật và các phương hướng phát triển kinh tế, khoa học của đất nước
- Phát triển năng lực sáng tạo ở học sinh
Về phương diện giáo dục, giải các bài tập vật lí sẽ giúp hình thành các phẩm chất cá nhân của học sinh như tình yêu lao động, trí tò mò, sự khéo léo, khả năng tự lực, hứng thú đối với học tập, ý chí và sự kiên trì đạt tới mục đích đặt ra (lời giải của bài toán)
1.3.2.2 Vị trí của bài tập trong dạy học vật lí
Bài tập có thể được sử dụng ở nhiều giai đoạn của quá trình dạy học vật lí với các chức năng khác nhau để thực hiện các nhiệm vụ và mục đích dạy học vật lí
Cụ thể:
- Tổ chức dạy học bài tập khi mở đầu bài học, xây dựng tình huống dạy học;
- Tổ chức dạy học bài tập khi dạy học kiến thức mới;
- Tổ chức dạy học bài tập khi ôn luyện;
- Tổ chức dạy học bài tập khi kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
Trang 241.3.3 Phân loại bài tập vật lí
1.3.3.1 Phân loại bài tập vật lí theo quan điểm truyền thống
A.) Phân loại theo phương thức giải
a) Bài tập định tính
Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải HS không cần thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được Muốn giải những bài tập định tính, HS phải thực hiện phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật vật lí, nhận biết được những biểu hiện của chúng trong trường hợp cụ thể Đa số cá bài tập định tính yêu cầu HS giải thích hoặc suy đoán một hiện tượng xảy ra trong những điều kiện cụ thể
Bài tập định tính làm tăng sự hứng thú của HS đối với môn học, tạo điều kiện phát triển trí óc quan sát ở HS, là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy của HS và dạy cho HS biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn
b) Bài tập định lượng
Bài tập định lượng là loại bài tập mà khi giải HS phải thực hiện một loạt các phép tính để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giũa các đại lượng và kết quả thu được là một đáp án định lượng Có thể chia bài tập định lượng làm hai loại:
- Bài tập tính toán tập dượt: là loại bài tập tính toán đơn giản, trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản nhằm củng cố kiến thức cơ bản vừa mới học, làm học sinh hiểu rõ ý nghĩa các định luật và các công thức biểu diễn chúng
- Bài tập tính toán tổng hợp: là loại bài tập mà khi giải thì phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, nhiều công thức Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ các mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí Ngoài ra bài tập tính toán tổng hợp cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ nội dung vật lí của các định luật, quy tắc biểu hiện dưới các công thức Vì vậy, giáo viên cần lưu ý HS chú ý đến ý nghĩa vật lí của chúng trước khi đi vào lựa chọn các công thức và thực hiện phép tính
c) Bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải BT Những TN này thường là những TN đơn giản BT TN cũng có thể có dạng định lượng hoặc định tính
Trang 25BT TN có nhiều tác dụng về cả mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ lý thuyết và thực tiễn
Lưu ý, trong các BT TN thì TN chỉ cho các số liệu để giải BT, chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế Cho nên phần vận dụng các định luật vật lý giải thích các hiện tượng mới là nội dung chính của bài TN
d) Bài tập đồ thị
BT đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong BT bằng đồ thị
BT đồ thị có tác dụng rèn luyên kĩ năng đọc, vẽ đồ thị và mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng mô tả trong đồ thị
B.) Phân loại theo nội dung
Người ta dựa vào nội dung chia các BT theo các đề tài của tài liệu vật lí Sự
phân chia như vậy có tính quy ước vì BT có thể đề cập tới những kiến thức của những phần khác nhau trong chương trình vật lí Theo nội dung, người ta phân biệt các BT có nội dung trừu tượng, BT có nội dung cụ thể, BT có nội dung thực tế, BT vui
- BT có nội dung trừu tượng là trong điều kiện của bài toán, bản chất vật lí được nêu bậc lên, những chi tiết không bản chất đã được bỏ bớt
- BT có nội dung cụ thể có tác dụng tập dợt cho HS phân tích các hiện tượng vật
lí cụ thể để làm rõ bản chất vật lí
- BT có nội dung thực tế là loại BT có liên quan trực tiếp đến đời sống, kĩ thuật, sản xuất và đặc biệt là thực tế lao động của HS, có tác dụng rất lớn về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp
- BT vui là BT có tác dụng làm giảm bớt sự khô khan, mệt mỏi, ức chế ở HS,
nó tạo sự hứng thú đồng thời mang lại trí tuệ cao
C.) Phân loại theo yêu cầu rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy học sinh trong quá trình dạy học
- BT luyện tập: là loại BT mà việc giải chúng không đòi hỏi tư duy sáng tạo HS, chủ yếu chỉ yêu cầu HS nắm vững cách giải đối với một loại BT nhất định đã được chỉ dẫn
Trang 26- BT sáng tạo: trong BT này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học,
HS bắt buộc phải có những kiến thức độc lập, mới mẻ, không thể suy ra một cách logic
từ những kiến thức đã học
- BT nghiên cứu: là dạng BT trả lời câu hỏi “tại sao?”
- BT thiết kế: là dạng BT trả lời cho những câu hỏi “phải làm như thế nào?”
D.) Phân loại theo cách thể hiện bài tập
BT lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu trả lời cho sẵn (test) Loại BT này có hạn chế là không kiểm tra được con đường suy nghĩ của người giải nhưng vẫn
có hiệu quả nhất định trong việc kiểm tra trình độ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS
E.) Phân loại theo hình thức làm bài
a) Bài tập tự luận
BT tự luận là những bài tập yêu cầu HS giải thích, tính toán và hoàn thành theo một logic cụ thể Nó bao gồm những loại bài đã trình bày ở trên
b) Bài tập trắc nghiệm khách quan
BT trắc nghiệm khách quan là loại BT cho câu hỏi và đáp án Các đáp án có thể đúng hoặc sai Nhiệm vụ của HS là tìm ra câu trả lời đúng nhất, cũng có khi đó là những câu bỏ lửng yêu cầu điền vào những chỗ trống đề có câu trả lời đúng Bìa tập này gồm:
- Câu đúng - sai: câu hỏi là một phát biểu, câu trả lời là một trong hai lựa chọn
- Câu nhiều lựa chọn: một câu hỏi, nhiều phương án lựa chọn, yêu cầu HS tìm câu trả lời đúng nhất
- Câu điền khuyết: nội dung trong câu bị bỏ lửng, yêu cầu HS điền từ hoặc điền công thức đúng vào chỗ bị bỏ trống
- Câu ghép hình thức: nội dung của các câu được chia thành hai phần, HS phải tìm các phần phù hợp để ghép thành câu đúng
1.3.3.2 Phân loại bài tập vật lí theo quan điểm dạy học phát triển năng lực
1 Khái niệm bài tập phát triển năng lực
Bài tập phát triển năng lực là dạng bài tập phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề
Trang 27nghiệp Trong đó, nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức [4,6]
2 Những đặc điểm của bài tập theo định hướng phát triển năng lực
Các thành tố quan trọng trong việc đánh giá việc đổi mới xây dựng bài tập là:
Sự đa dạng của bài tập, chất lượng bài tập, sự lồng ghép bài tập vào giờ học và sự liên kết với nhau của các bài tập
Những đặc điểm của bài tập định hướng năng lực:
a) Yêu cầu của bài tập
- Có mức độ khó khác nhau
- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu
- Định hướng theo kết quả
b) Hỗ trợ học tích lũy
- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học
- Nhận biết được sự gia tăng của năng lực
- Vận dụng thường xuyên cái đã học
c) Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập
- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân
- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân
- Sử dụng sai lầm như là cơ hội
d) Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn
- Bài tập luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở
- Thay đổi bài tập đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây dựng tri thức thông minh)
- Thử các hình thức luyện tập khác nhau
đ) Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp
- Tăng cường năng lực xã hội thông qua làm việc nhóm
- Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức
e) Tích cực hóa hoạt động nhận thức
- Bài tập giải quyết vấn đề và vận dụng
- Kết nối với kinh nghiệm đời sống
- Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề
Trang 28g) Có những con đường và giải pháp khác nhau
- Nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp
- Đặt vấn đề mở
- Độc lập tìm hiểu
- Không gian cho các ý tưởng khác thường
- Diễn biến mở của giờ học
h) Phân hóa nội tại
- Con đường tiếp cận khác nhau
- Phân hóa bên trong
- Gắn với các tình huống và bối cảnh
3 Phân loại bài tập theo định hướng năng lực
Đối với giáo viên, bài tập là yếu tố điều khiển quá trình giáo dục Đối với học
sinh, bài tập là một nhiệm vụ cần thực hiện, là một phần nội dung học tập Các bài tập
có nhiều hình thức khác nhau, có thể là bài tập làm miệng, bài tập viết, bài tập ngắn hạn hay dài hạn, bài tập theo nhóm hay cá nhân, bài tập trắc nghiệm đóng hay tự luận
mở Bài tập có thể đưa ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi
Những yêu cầu chung đối với các bài tập là:
- Được trình bày rõ ràng
- Có ít nhất một lời giải
- Với những dữ kiện cho trước, học sinh có thể tự lực giải được
- Không giải qua đoán mò được
Theo chức năng lý luận dạy học, bài tập có thể bao gồm: bài tập học và bài tập đánh giá (thi, kiểm tra)
- Bài tập học: bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức mới,
chẳng hạn các bài tập về một tình huống mới, giải quyết bài tập này để rút ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học
- Bài tập đánh giá: là các bài kiểm tra ở lớp do giáo viên ra đề hay các đề tập trung
như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển
Thực tế hiện nay, các bài tập chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểm tra Bài tập học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập học tập dưới dạng
Trang 29học khám phá có thể giúp học sinh nhiều hơn trong làm quen với việc tự lực tìm tòi và mở rộng tri thức
Theo dạng câu trả lời của bài tập “mở” hay “đóng”, có các dạng bài tập sau:
- Bài tập đóng: Là các bài tập mà người học (người làm bài) không cần tự trình
bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trong loại bài tập này, giáo viên đã biết câu trả lời, học sinh được cho trước các phương án có thể lựa chọn
- Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả giáo viên
và học sinh (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là “mở” Bài tập
mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của cá nhân và không có một lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho sự tự quyết định của người học Nó được sử dụng trong việc luyện tập hoặc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề Tính độc lập và sáng tạo của học sinh được chú trọng trong việc làm dạng bài tập này Tuy nhiên, bài tập mở cũng có những giới hạn như có thể khó khăn trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, mất nhiều công sức hơn khi xây dựng và đánh giá, có thể không phù hợp với mọi nội dung dạy học Trong việc đánh giá bài tập mở, chú trọng việc người làm bài biết lập luận thích hợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của mình
Trong thực tiễn giáo dục trung học hiện nay, các bài tập mở gắn với thực tiễn còn ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập mở là hình thức bài tập có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực học sinh Trong dạy học và kiểm tra đánh giá giai đoạn tới, giáo viên cần kết hợp một cách thích hợp các loại bài tập để đảm bảo giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản và năng lực vận dụng trong các tình huống phức hợp gắn với thực tiễn
4 Các bậc trình độ trong bài tập theo định hướng phát triển năng lực
Về phương diện nhận thức, người ta chia các mức quá trình nhận thức và các bậc trình độ nhận thức tương ứng như sau:
Trang 30- Nhận biết lại cái gì đã học theo cách thức không thay đổi
- Tái tạo lại cái đã học theo cách thức không thay đổi
2 Xử lý
thông tin
Hiểu và vận dụng
Nắm bắt ý nghĩa Vận dụng
- Phản ánh theo ý nghĩa cái đã học
- Vận dụng các cấu trúc đã học trong tình huống tương tự
- Đánh giá một hoàn cảnh, tình huống thông qua những tiêu chí riêng
Dựa trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc điểm của học tập định hướng năng lực, có thể xây dựng bài tập theo các dạng:
- Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức Bài tập tái
hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng năng lực
- Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình
huống không thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng
cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo
- Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp,
đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn đề Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học
- Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập vận dụng
và giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với bối cảnh và tình huống thực tiễn Những bài tập này là những bài tập mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải
quyết khác nhau
Trang 31Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi đi sâu về bài tập giúp HS phát triển năng lực tính toán và năng lực phát hiện - giải quyết vấn đề Vì đây là hai dạng năng
lực phù hợp với vai trò của bài tập vật
1.3.3.3 Bài tập sáng tạo
1.) Khái niệm bài tập sáng tạo
Bài tập sáng tạo là bài tập mà giả thuyết không có thông tin đầy đủ liên quan đến hiện tượng vật lý; có những đại lượng vật lý được ẩn giấu; điều kiện bài tập không chứa đựng chỉ dẫn trực tiếp và gián tiếp về angôrit giải hay kiến thức vật lý cần sử dụng Giải BTST đòi hỏi HS phải nhạy bén trong tư duy, độc đáo và sáng tạo trong cách giải quyết vấn đề với những tình huống mới để phát hiện điều mới về kiến thức,
kĩ năng hoặc thái độ ứng xử mới, về những điều chưa biết, chưa có Đặc biệt BTST yêu cầu khả năng đề xuất, đánh giá theo ý kiến riêng của bản thân HS
Như vậy sử dụng BTST về vật lý trong việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho HS
là rất cần thiết, đặc biệt trong việc phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi về vật lý thì hiệu quả của BTST là rất lớn Theo Ra-zu-mốp-xki, BTST được chia thành hai loại: Bài tập nghiên cứu: (Trả lời câu hỏi “tại sao”?) và bài tập thiết kế (trả lời câu hỏi: “làm thế nào?”) Trong bài tập thiết kế đòi hỏi HS phải đề xuất một thiết bị để thỏa mãn yêu cầu tạo ra một hiện tượng vật lý nào đó Trong BT nghiên cứu để giải thích một hiện tượng mới gặp nào đó
2.) Phân loại bài tập sáng tạo
Nếu phân loại theo yêu cầu luyện tập kĩ năng và phát triển tư duy học sinh, bài tập vật lý bao gồm: Bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo
Áp dụng các kiến thức xác định đã biết để
giải
Vận dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức cũ
Dạng bài tập theo khuôn mẫu nhất định Không theo khuôn mẫu
Không yêu cầu khả năng đề xuất, đánh giá Yêu cầu khả năng đề xuất, đánh giá
Trang 323.) Các dấu hiệu nhận biết bài tập sáng tạo về vật lí
- Bài tập vật lí sáng tạo: là bài tập mà giả thuyết cho trong đầu bài không chỉ
dẫn trực tiếp hay gián tiếp cách giải bài tập, với các BTST học sinh phải vận dụng kiến thức linh hoạt trong những tình huống mới, phát hiện điều mới BTST là một phương tiện giúp học sinh bồi dưỡng các phẩm chất tư duy sáng tạo (tính linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo, nhạy cảm)
- Các dấu hiệu nhận biết BTST về vật lí
Có thể nhận biết các BTST dựa trên các dấu hiệu sau [18]:
Bài tập có nhiều các giải
Dạng bài tập này sẽ tạo cho học sinh thói quen nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc
độ, kích thích tính sáng tạo của HS
Bài tập có hình thức tương tự nhưng nội dung biến đổi
Loại bài này thường có nhiều câu hỏi, câu hỏi một là bài tập luyện tập, các câu hỏi tiếp theo có hình thức tương tự, nếu vẫn áp dụng phương pháp giải như trên sẽ dẫn đến bế tắc vì nội dung câu hỏi đã có sự biến đổi về chất
Bài tập làm thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm vật lí gồm bài tập thí nghiệm định tính, bài tập thí nghiệm định lượng Bài tập thí nghiệm định tính yêu cầu thiết kế thí nghiệm theo một mục đích cho trước, thiết kế dụng cụ vật lí hoặc yêu cầu làm thí nghiệm theo chỉ dẫn quan sát và giải thích hiện tượng xảy ra Bài tập thí nghiệm định lượng gồm bài tập đo đạc các đại lượng vật lí, minh họa quy luật vật lí bằng thí nghiệm
Bài tập cho thiếu hoặc thừa dữ liệu
Việc nhìn nhận các vấn đề trong loại bài tập này có tác dụng rèn luyện tư duy phản biện, tư duy sáng tạo cho HS, HS cần phải có sự phát hiện ra những điều chưa hợp lí và có
sự suy luận, lí giải cần thiết, tự cung cấp số liệu cho bài toán thiếu dữ kiện
Bài tập nghịch lý, ngụy biện
Đây là dạng bài tập chứa đựng một sự ngụy biện nên dẫn đến nghịch lí: kết luận rút ra mâu thuẫn với thực tiễn hay mâu thuẫn với nguyên tắc, định luật vật lí đã biết Các bài tập này có tác dụng bồi dưỡng tư duy phản biện và tư duy logic cho HS
Bài toán “hộp đen”
Theo Bunxơman, bài toán hộp đen gắn liên với việc nghiên cứu đối tượng mà cấu trúc bên trong là đối tượng nhận thức mới (chưa biết) nhưng có thể đưa ra mô hình
Trang 33cấu trúc đói tượng nếu cho các dữ kiện “đầu vào”, “đầu ra” Để giải bài toán hộp đen,
HS cần phải có kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh sắc bén, khả năng tưởng tượng phong phú
1.4 Một số biện pháp sử dụng bài tập vật lí để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh CHDCND Lào
1.4.1 Biện pháp 1: Sử dụng bài tập trong tiến trình xây dựng kiến thức mới phù hợp với logic phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Theo lí luận dạy học hiện đại, việc dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định
hướng phát triển tư duy sáng tạo cho HS phải phỏng theo chu trình sáng tạo khoa học vật lí do V.G Razumovxki đề xuất như đã nêu ở trên Ngoài ra, căn cứ vào nội dung dạy học, GV cần lựa theo phương pháp dạy học thích hợp, trong đó, các phương pháp dạy học cần quan tâm rèn luyện các kĩ năng tư duy sáng tạo như quan sát, phát hiện vấn đề, đặt câu hỏi khoa học, đưa ra giả thuyết khoa học, suy luận đưa ra hệ quả, thiết
kế và xây dựng phương án thí nghiệm kiểm tra hệ quả, suy luận logic để rút ra kết luận
Có nhiều mô hình dạy học có khả năng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn mô hình dạy học phát hiện vừa giải quyết vấn đề vì đây là
mô hình dạy học phổ biến nhất và phù hợp với thực tiễn dạy học hiện nay
Trong mô hình dạy học này, GV cần đưa HS vào các tình huống có vấn đề, tạo động cơ hứng thú, nhu cầu tìm tòi kiến thức mới từ đó yêu cầu HS phát hiện vấn đề và GQVĐ, dạy HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, giúp HS chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo của HS Sự sáng tạo chỉ có thể xây dựng trong khi GQVĐ Để tổ chức được hoạt động sáng tạo trong bài học xây dựng kiến thức mới, GV phải tổ chức quá trình học theo kiểu phát hiện vài giải quyết vấn đề
Trang 34Hình 1.2: Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu dạy học PH & GQVĐ [16]
Với những kiến thức vật lí đặc thù, phương pháp dạy học phát hiện và GQVĐ có thể được tổ chức theo các pha/bước được trình bày như sau [1]:
Bảng 1.1: Dạy học giải quyết vấn đề các loại kiến thức vật lí đặc thù
Các pha/ bước của dạy
học phát hiện và giải
quyết vấn đề
Hiện tượng vật lí Định luật vật lí
Ứng dụng kĩ thuật của vật lí
1 Làm nảy sinh VĐ cần
giải quyết từ tình huống
(điều kiện) xuất phát: từ
kiến thức cũ, kinh
nghiệm, TN, bài tập,
truyện kể lịch sử…
Xây dựng biểu tượng về hiện tượng: Thông qua tái hiện kinh nghiệm, thí nghiệm, clips, ảnh…
Dùng thí nghiệm, kinh nghiệm sơ bộ chỉ ra mối quan hệ giữa các đại lượng
Đưa ra một nhu cầu, nhiệm vụ cần thực hiện mà những thiết bị
kĩ thuật (TBKT) đã biết chưa thể thực hiện
1 Làm nảy sinh VĐ cần giải quyết từ tình huống (điều kiện) xuất phát: từ kiến
thức cũ, kinh nghiệm, TN, bài tập, truyện kể lịch sử…
2 Phát biểu VĐ cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời)
3 Giải quyết VĐ
- Suy đoán giải pháp GQVĐ: nhờ khảo sát lí thuyết và/hoặc khảo sát
thực nghiệm
- Thực hiện giải pháp đã suy đoán
4 Rút ra kết luận (kiến thức mới)
5 Vận dụng kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra tiếp theo
Trang 35Các pha/ bước của dạy
học phát hiện và giải
quyết vấn đề
Hiện tượng vật lí Định luật vật lí
Ứng dụng kĩ thuật của vật lí
được hoặc thực hiện chưa tốt
Tại sao lại xảy ra hiện tượng ?
Mối quan hệ giữa các đại lượng A,B
Máy (TBKT)
nguyên tắc cấu tạo và hoạt động như thế nào để thực hiện được chức năng ?
Kiểm tra kết luận:
Đưa ra giả thuyết Dùng thí nghiệm kiểm tra (VD: hiện tượng tán sắc, khúc xạ )
Hoặc suy luận lí thuyết để rút ra hệ quả rồi dùng TN kiểm tra (VD: hiện tượng sóng dừng, hiện tượng giao thoa)
- Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thí nghiệm kiểm tra giả thuyết
- Sử dụng các kiến thức lí thuyết
đã có để suy luận
lô gic rút ra câu trả lời rồi dùng thí nghiệm kiểm nghiệm lại kết quả
Mở máy ra và xác định các
chính, các quy luật cơ bản chi phối Xây dựng mô hình
(MHHV) và tiến hành thí nghiệm kiểm
thực hiện
Trang 36Các pha/ bước của dạy
học phát hiện và giải
quyết vấn đề
Hiện tượng vật lí Định luật vật lí
Ứng dụng kĩ thuật của vật lí
được đúng các chức năng của TBKT không
Thiết kế một TBKT để đáp ứng được yêu cầu đặt ra Lựa chọn thiết
kế tối ưu và xây dựng mô hình vật chất chức năng (VC -CN) theo thiết
kế và vận hành thử
4 Rút ra kết luận (kiến
thức mới)
Định nghĩa khái niệm về hiện tượng
Phát biểu định luật
và phạm vi áp dụng định luật
Rút ra nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của TBKT
5 Vận dụng kiến thức
mới để giải quyết những
nhiệm vụ đặt ra tiếp theo
Nhận biết các biểu hiện của hiện tượng
đã học trong tự nhiên
Vận dụng định luật trong các hiện tượng vật lí khác
TBKT đã xây dựng với các TBKT trong đời sống để bổ sung các yếu
tố khác
Trang 37Theo tiến trình dạy học GQVĐ, trong pha thứ hai: HS hành động độc lập, tự chủ, tìm tòi GQVĐ Có thể GQVĐ bằng phương pháp thực nghiệm hoặc GQVĐ bằng lí thuyết, phương pháp mô hình Đi theo một trong hai con đường đó, trong mỗi còn đường đó GV cần phải tổ chức hai hoạt động sáng tạo cho HS thực hiện: hoạt động từ đề xuất/giả thuyết
và hoạt động đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán giả thuyết
Trong tiến trình dạy học PH&GQVĐ có thể sử dụng bài tập ở các giai đoạn như xây dựng tình huống có vấn đề, xây dựng giả thuyết, giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức Tuy nhiên, do thời gian cho tiến trình dạy học thường ít, hơn nữa, việc phát triển tư duy sáng tạo quan tâm phát triển các thao tác tư duy, do vậy, loại bài tập được sử dụng hợp lí ở đây
sẽ là các bài định tính
1.4.2 Biện pháp 2: Tổ chức dạy học bài tập trong tiến trình ôn luyện, hệ thống hóa kiến thức
- Bài luyện tập, củng cố kiến thức:
+ Mục đích: làm cho học sinh hiểu sâu hơn những kiến thức đã học, rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, sản xuất Thông thường là bài học diễn ra dưới dạng luyện giải bài tập vật lí
+ Quá trình luyện tập củng cố kiến thức: tái hiện kiến thức cơ bản và uốn nắn những chỗ học sinh sai lệch; vận dụng vào tình huống quen thuộc, luyện tập theo mẫu
để rèn luyện kĩ năng cơ bản và ghi nhớ; vận dụng vào tình huống mới để rèn luyện khả năng sử dụng linh hoạt, sáng tạo và mở rộng, đào sâu nghiên cứu
- Bài tập vật lí sáng tạo: là bài tập mà giả thuyết cho trong đầu bài không chỉ
dẫn trực tiếp hay gián tiếp cách giải bài tập, với các BTST học sinh phải vận dụng kiến thức linh hoạt trong những tình huống mới, phát hiện điều mới BTST là một phương tiện giúp học sinh bồi dưỡng các phẩm chất tư duy sáng tạo (tính linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo, nhạy cảm)
Tổ chức dạy học những bài tập tổng hợp nhiều kiến thức sau khi học xong chương vào các giờ luyện tập Những bài tập này yêu cầu học sinh cần nắm vững các kiến thức để biến đổi linh hoạt công thức đồng thời kết hợp nhiều công thức cũng như kiến thức để giải quyết vấn đề được đặt ra
Qua trình giải một bài tập vật lí, đặc biệt là giải một bài tập phức tạp, có thể chia
ra thành các bước sau:
Trang 38b Phân tích hiện tượng:
- Phân tích nội dung bài tập với mục đích làm rõ bản chất vật lí của các hiện tượng được mô tả trong bài, gợi lại trong đầu óc của học sinh những` khái niệm, định luật có liên quan, cần thiết cho việc giải bài tập
b Giải bài tập:
- Ở bước này cần hình thành một kế hoạch giải bài toán, bổ sung các điều kiện bằng các hằng số vật lí hoặc các bảng số liệu, phân tích các đồ thị nếu có
- Chuyển đơn vị đo các đại lượng vật lý sang hệ số SI
- Tìm quy luật liên hệ các đại lượng phải tìm với các đại lượng đã cho viết ra các công thức tương ứng
- Lập các phương trình dưới dạng tổng quát hoặc lắp ráp các thí nghiệm cần thiết cho việc giải toán (bài toán thí nghiệm)
- Giải phương trình để tìm ẩn số (hoặc phân tích các số liệu thực nghiệm)
d Biện luận:
- Phân tích lời giải hoặc đáp số (biện luận) đánh giá ảnh hưởng của các số gần đúng trong điều kiện của bài toán
- Thảo luận, tìm kiếm cách giải khác, lựa chọn cách giải hợp lý
Đó là sơ đồ tổng quát để giải các loại bài tập vật lí, tuy nhiên tuỳ từng bài cụ thể, một số bước có thể bỏ qua
Trong các bước nêu trên, các bước đọc, làm rõ ý nghĩa của các điều kiện, thuật ngữ, ghi vắn tắt điều kiện, vẽ hình, sơ đồ, Các bước phân tích làm rõ bản chất vật lí các hiện tượng là rất quan trọng, quyết định phương pháp giải các bài tập
1.4.3 Tổ chức dạy học và sử dụng bài tập kiểm tra, đánh giá
Tùy theo năng lực của học sinh để đưa ra các bài tập trong bài kiểm tra để đánh giá Có thể đánh giá học sinh dựa vào hoạt động nhóm trong giờ luyện tập hay dựa vào các bài kiểm tra 15 phút hay 45 phút Đề bài kiểm tra bao gồm những bài khó và dễ
Trang 39theo một tỉ lệ nhất định nào đó tùy thuộc vào mỗi giáo viên đánh giá học sinh của mình như thế nào
1.5 Cơ sở thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng dạy học bài tập vật lí nói chung và tổ chức dạy học bài tập khi dạy học chương “Các lực cơ học” (Vật lí 10) ở trường phổ thông theo quan điểm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
1.5.1 Mục đích nghiên cứu khảo sát
Nghiên cứu thực trạng dạy học bài tập vật lí trường phổ thông ở nước CHDCND Lào, căn cứ sự thay đổi về kết quả học tập, chất lượng học tập của các em học sinh, từ
đó xây dựng các phương án, các tiến trình sử dụng bài tập vật lí trong quá trình dạy học nâng cao hiệu quả trong việc học tập của học sinh từ đó góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh
1.5.2 Đối tượng, Phương pháp khảo sát
1.5.2.1 Đối tượng khảo sát
- Khảo sát giáo viên:
+ Phát phiếu điều tra tiến hành khảo sát về việc sử dụng bài tập trong dạy học vật lí, các phương pháp đã được áp dụng
+ Tiến hành dự giờ, thăm lớp, đánh giá, họp rút kinh nghiệm về chất lượng và hiệu quả của giờ dạy vật lí có sử dụng bài tập
- Khảo sát học sinh
+ Đánh giá hiệu quả, chất lượng giờ dạy thông qua mức độ hiểu bài và mức độ vận dụng giải bài tập thông qua các bài kiểm tra, đánh giá nhanh sau giờ dạy và các bài kiểm tra định kì như kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15’, kiểm tra 45’, kiểm tra học kì…
+ So sánh sự chuyển biến kết quả học tập của các em học sinh sau mỗi kì học, năm học
1.5.2.2 Phương pháp khảo sát
- Sử dụng phiếu điều tra
- Căn cứ kết quả kiểm tra đánh giá quá trình học tập của học sinh sau khi vận dụng việc sử dụng bài tập trong dạy học vật lí
Trang 40Bảng 1.2 Bảng số liệu xin ý kiến của giáo viên
1 Trong quá trình dạy môn Vật lí, Thầy (cô) thấy
học sinh có yêu thích giải bài tập môn vật lí không?
2 10%
13 65%
5 25%
0 0%
0 0%
2 Theo thày (cô), bài tập vật lí có vai trò như thế
nào trong việc giáo dục học sinh?
4 20%
6 30%
4 20%
6 30%
0
%
3 Trong quá trình dạy môn Vật lí, Thầy (cô) có
thường xuyên cho học sinh giải bài tập vật lí không?
4 20%
16 80%
0 0%
0 0%
0 0%
0%
18 90%
2 10%
0 0%
0 0%
0%
5 25%
15 75%
0 0%
0 0% 3.3 Bài tập rèn luyện tư duy sáng tạo 0
0%
4 20%
10 50%
0 0%
6 30%
0%
16 80%
4 20%
0 0%
0 0%
0%
0 0%
12 60%
0 0%
8 40%
Theo kết quả điều tra, tôi rút ra một số nhận xét sau đây:
- Trong quá trình dạy môn Vật lí, giáo viên thấy ít học sinh rất yêu thích giải bài tập môn Vật lí chỉ có 10%, thích môn Vật lí chiếm 65%, bình thường chiếm 25% Không học sinh nào không thích môn Vật lí
- Trong quá trình dạy môn Vật lí, bài tập có vai trò trong việc giáo dục như: Phát triển năng lực vận dụng và kích tích hứng thú học tập của học sinh chiếm 20%, phát triển tư duy sáng tạo và giúp học sinh hiểu và nhớ kiến thức tốt hơn chiếm 30%, không giáo viên nào nghĩ rằng sẽ làm cho học sinh không thích học môn vật lý
- Trong quá trình dạy môn Vật lí, giáo viên chủ yếu là thường xuyên cho học sinh giải bài tập vật lí chiếm 80%, rất thường xuyên chiếm 20% Không giáo viên nào không cho học sinh giải bài