1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế kế hoạch bài học phong cách chức năng ngôn ngữ (ngữ văn 10) theo tiến trình hoạt động học của học sinh (2018)

85 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:“Thiết kế kế hoạch bài học phong cách chức năng ngôn ngữ Ngữ văn 10 theo tiến trình hoạt động học của học sinh” với mục đích góp mộ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS- Dương Thị Mỹ Hằng – người đã trực tiếp tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin chân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy, cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và các bạn sinh viên trong nhóm khóa luận đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Ngọc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này được hoàn thiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Dương Thị Mỹ Hằng Tôi xin cam đoan rằng:

- Khóa luận này là kết quả nghiên cứu, tìm hiểu của riêng tôi

- Những tư liệu được sử dụng, trích dẫn trong khóa luận là trung thực

- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng với bất kì công trình nghiên

cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Ngọc

Trang 5

NNSH Ngôn ngữ sinh hoạt

PCNNSH Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt PCNNNT Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

NNNT Ngôn ngữ nghệ thuật

KHBH Kế hoạch bài học

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Thiết kế kế hoạch bài học 7

1.1.1.1 Khái niệm 7

1.1.1.2 Vai trò 8

1.1.1.3 Thiết kế kế hoạch bài học theo quan niệm truyền thống 8

1.1.1.4 Thiết kế kế hoạch bài học theo Mô hình trường học mới 9

1.1.1.5 Tiêu chí đánh giá thiết kế bài học 9

1.1.2 Một số khái niệm về cơ sở tâm lí người học 9

1.1.2.1 Hoạt động học 10

1.1.2.2 Động cơ học tập 11

1.1.2.3 Tính tích cực của học sinh trong học tập 12

1.1.2.4 Tích cực hóa hoạt động học của học sinh 13

1.1.3 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học tiếng Việt 14

1.1.3.1 Phương pháp dạy học tích cực 14

1.1.3.2 Kĩ thuật dạy học tích cực 19

Trang 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Khảo sát tài liệu tham khảo về thiết kế kế hoạch bài học Phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) THPT. 22

1.2.2 Khảo sát tài liệu thiết kế kế hoạch bài học tiếng Việt 10 của giáo viên THPT 23

CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ(NGỮ VĂN 10) THEO TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC SINH 26

2.1 Mục tiêu dạy học bài học Phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) THPT 26

2.2 Nội dung dạy học phần Phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10 ) 26

2.2.1 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt 26

2.2.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 27

2.3 Yêu cầu chung về thiết kế bài học 28

2.3.1 Chuỗi hoạt động học của học sinh thể hiện rõ tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được áp dụng trong toàn bộ bài học 28

2.3.2 Mỗi hoạt động học tương ứng với một nhiệm vụ học tập giao cho học sinh, thể hiện rõ: mục đích, nội dung, phương thức hoạt động và sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành 29

2.3.3 Thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng trong bài học phải đảm bảo sự phù hợp với từng hoạt động học đã thiết kế 30

2.3.4 Phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học phải đảm bảo sự đồng bộ với phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng 30

2.4 Quy trình thiết kế KHBH 31

2.5 Định hướng thiết kế bài học về phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) theo 5 hoạt động cơ bản 31

2.5.1 Thiết kế Mục tiêu bài học 31

2.5.2 Thiết kế phần Chuẩn bị của giáo viên và học sinh 33

2.5.3 Thiết kế phần Tiến trình dạy học 34

2.5.3.1 Hoạt động khởi động 35

Trang 8

2.5.3.2 Hoạt động hình thành kiến thức 36

2.5.3.3 Hoạt động luyện tập 39

2.5.3.4 Hoạt động vận dụng 40

2.5.3.5 Hoạt động tìm tòi, mở rộng 40

2.5.4 Một số thiết kế minh họa 41

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 53

3.1 Mục đích thực nghiệm 53

3.2 Đối tượng thực nghiệm 53

3.3 Địa bàn thực nghiệm 54

3.4 Thời gian thực nghiệm 54

3.5 Nội dung thực nghiệm 54

3.6 Kết quả bước đầu 54

PHẦN KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Chỉ thị số 14(4/1994) của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Luật Giáo dục (12/1998),

đã nêu rõ:“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng , vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất, khắc phục được lối dạy truyền thống, thụ động, một chiều, truyền thụ lại các kiến thức có sẵn…”

Khi nhắc tới tiếp cận năng lực người học là hướng đến đổi mới căn bản và toàn diện: đó là đổi mới từ mục tiêu, phương pháp, nội dung, hình thức, kiểm tra đánh giá Trong đó không thể bỏ qua việc đổi mới kế hoạch bài học (KHBH) KHBH là một khâu quan trọng để tạo nên thành công một giờ dạy học, đòi hỏi sự đầu tư trí tuệ, kinh nghiệm và thể hiện dấu ấn sáng tạo của người giáo viên, đặc biệt

là người GV Ngữ văn KHBH là sự chuẩn bị kĩ lưỡng của GV trước khi lên lớp, giúp cho người GV chủ động trong việc tổ chức tiến trình dạy học, góp phần lớn đối với sự thành công của việc thiết kế KHBH Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Giờ học đổi mới PPDH có những yêu cầu mới

như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo

hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa

Trang 10

2

GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học) Xây dựng KHBH cũng phải thể hiện tinh thần này

Thực trạng thiết kế KHBH ở trường THPT còn tồn tại nhiều hạn chế Thiết

kế KHBH tập trung nhiều vào hoạt động của GV đi từ hoạt động dạy đến hoạt động học HS tiếp nhận thông tin từ GV hoàn toàn thụ động Sự lĩnh hội tri thức của HS đơn thuần chỉ là một chiều từ thầy sang trò, GV vẫn là người giữ vai trò chủ đạo trong giờ học, HS nghe giảng, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, ỷ lại, chậm chạp, không phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS, hạn chế năng lực tự học của các em

Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình, SGK cũng đã được biên soạn lại Phân môn Tiếng Việt được tích hợp với Làm văn để trở thành môn học có tên gọi là Ngữ văn Chính vì thế , các bài học phong các chức năng ngôn ngữ được chú trọng hơn Trong các phong cách chức năng ngôn ngữ thì: “ Phong cách ngôn ngữ

sinh hoạt” và “ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” là những nội dung phong cách

học quan trọng được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 10 Phần Phong cách chức năng ngôn ngữ là nội dung mới đối với HS HS phải có sự chủ động trong việc tiếp thu, vận dụng kiến thức mới Muốn vậy, ngay từ khâu thiết kế KHBH phải có sự thay đổi từ đó giúp cho HS phát huy tính chủ động sáng tạo trong học tập

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:“Thiết kế kế hoạch

bài học phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) theo tiến trình hoạt động học của học sinh” với mục đích góp một phần nhỏ của mình vào quá trình đổi mới

phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học các bài phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn lớp 10 nói riêng và chương trình Ngữ văn THPT nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ, cho đến nay, các nhà Ngôn ngữ học hiện đại đã đưa ra rất nhiều loại phong cách chức năng ngôn ngữ Tiêu biểu phải kể đến các hướng phân chia như sau:

Trang 11

3

Tác giả Đinh Trọng Lạc, trong cuốn “Phong cách học” [8,66] đưa ra cách phân loại Phong cách tiếng Việt ra năm phong cách Với quan điểm này phong cách khẩu ngữ được tác giả đổi thành phong cách hội thoại, và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật không được coi là phong cách chức năng ngôn ngữ mà chỉ là một kiểu chức năng ngôn ngữ Vì vậy phong cách chức năng tiếng Việt có năm phong cách

đó là: Phong cách ngôn ngữ hội hoại, Phong cách ngôn ngữ hành chính, Phong cách ngôn ngữ khoa học, Phong cách ngôn ngữ báo – công vụ, Phong cách ngôn ngữ chính luận

Tuy nhiên, không đồng nhất với quan điểm với Đinh Trọng Lạc, tác giả Cù Đình Tú [10] (trong cuốn “Tu từ học tiếng Việt hiện đại”, ĐHSP Việt Bắc 1975), lại chia ra ngôn ngữ toàn dân thành: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, thực hiện chức năng biểu hiện và phong cách ngôn ngữ trình bày thực hiện chức năng trình bày Phong cách ngôn ngữ trình bày lại được chia thành: Phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ tự do và phong cách ngôn ngữ gọt giũa (phong cách ngôn ngữ khoa học) Trong hướng phân chia này tác giả đã dựa vào chức năng và dựa vào phạm vi giao tiếp để phân loại

Nhìn chung với nhiều quan điểm phân chia khác nhau, nhưng hầu hết các kiểu phân chia đều chỉ rõ được các chức năng và phạm vi sử dụng của ngôn ngữ Theo chúng tôi hiện nay trong SGK phổ thông có sự phối hợp giữa các quan niệm trên phân chia phong cách chức năng ngôn ngữ thành sáu kiểu: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (Phong cách ngôn ngữ hội hoại), Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, Phong cách ngôn ngữ khoa học, Phong cách ngôn ngữ hành chính – công vụ, Phong cách ngôn ngữ báo chí và Phong cách ngôn ngữ chính luận là phù hợp và nó thể hiện rõ tính khoa học

Tuy nhiên do phạm vi của đề tài nên trong khóa luận này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu thiết kế KHBH hai phong cách chức năng ngôn ngữ đó là: “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” và “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”

Về việc thiết kế kế hoạch bài học phong cách chức năng ngôn ngữ chúng tôi thấy các nhà nghiên cứu đã trình bày rất rõ các quan điểm khác nhau Nhóm tác giả

Trang 12

4

Phan Trọng Luận (chủ biên) trong quyển Sách giáo viên Ngữ văn 10 (ban cơ bản)

[9] trình bày một kết cấu bài giảng bao gồm hai phần:

Phần 1: Nhóm tác giả xác định mục tiêu bài học bao gồm ba vấn đề: kiến thức, kĩ năng và thái độ

Phần 2: Nhóm tác giả xác định những điểm cần lưu ý của bài học gồm ba phần: nội dung phương pháp, tiến trình tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá

Qua phần trình bày kết cấu của nhóm tác giả chúng tôi thấy hướng cho người dạy xác định được kiến thức trọng tâm và từ đó lựa chọn phương pháp và phân bố thời gian dạy phù hợp (phần nội dung) Còn phần phương pháp và tiến trình bài dạy thì nhóm tác giả đã trình bày theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của người GV Đây là quyển sách rất cần thiết cho người dạy khi thiết kế kế hoạch bài học

Trong quyển Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10 (Bộ cơ bản) của tác giả Nguyễn Văn Đường - Hoàng Dân [3] hay quyển Giới thiệu giáo án Ngữ Văn 10 (Bộ cơ bản)

của hai tác giả Nguyễn Trọng Hoàng và Nguyễn Khắc Đàm [5] thì trình bày kết cấu

khác Trong cuốn Sách giáo viên Ngữ văn 10 của tác giả Phan Trọng Luận xác định

mục tiêu cần đạt là kiến thức, kỹ năng và thái độ thì ở hai tác giả Nguyễn Trọng Hoàng và Nguyễn Khắc Đàm xác định mục tiêu cần đạt chỉ là kiến thức và kỹ năng Trong phần tiến trình bài học thì cả hai bộ sách này trình bày theo hướng hoạt động của HS và GV, mỗi hoạt động tương đương với nội dung của bài học Vì vậy, qua việc khảo sát các tài liệu tham khảo về thiết kế kế hoạch bài học phong

cách chức năng ngôn ngữ chúng tôi nhận thấy rằng đề tài “ Thiết kế kế hoạch bài

học phong cách chức năng ngôn ngữ ( Ngữ văn 10) theo tiến trình hoạt động học của học sinh” là một đề tài khá mới mẻ và thiết thực Với nhận thức đó, chúng

tôi quyết định chọn đề tài này nhằm tìm ra những cách tổ chức dạy học nội dung kiến thức để hoạt động dạy và học đạt hiệu quả cao Từ đó phát huy được tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS trong hoạt động học môn Ngữ văn nói chung

và các bài phong cách chức năng ngôn ngữ trong nhà trường THPT nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

5

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Xây dựng kế hoạch bài học phong cách chức năng ngôn ngữ theo tiến trình hoạt động học của HS

- Góp phần nâng cao kĩ năng chuẩn bị bài cho GV

- Nâng cao hiệu quả đổi mới giáo dục

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc thiết kế kế hoạch bài học phong cách chức

năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) theo tiến trình hoạt động học của HS

- Nghiên cứu thực trạng thiết kế kế hoạch bài học ở trường THPT

- Xây dựng cách thức thiết kế kế hoạch bài học phong cách chức năng ngôn

ngữ (Ngữ văn 10) theo tiến trình hoạt động học của học sinh

- Thực nghiệm tổ chức thiết kế kế hoạch bài học ở trường THPT

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

- Xuất phát từ nội dung nghiên cứu của đề tài chúng tôi tập trung tìm hiểu KHBH hai phong cách ngôn ngữ là:“ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” và “ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”

- Thực nghiệm ở trường THPT Nguyễn Siêu – Hưng Yên Học sinh khối lớp 10

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Thiết kế kế hoạch bài học phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) theo tiến trình hoạt động học của học sinh vào tìm hiểu các bài: “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” và “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”

- Học sinh lớp 10A3, 10A5, Trường THPT Nguyễn Siêu – Hưng Yên

5 Phương pháp nghiên cứu

Đối với bất kì công trình nghiên cứu nào, lĩnh vực nào, đối tượng khám phá càng phức tạp, phong phú bao nhiêu thì lại có nhiều cách thức tiếp cận bấy nhiêu Với các phương pháp phù hợp, đúng đắn sẽ giúp người nghiên cứu nhanh chóng chiếm lĩnh được đối tượng và đạt được kết quả tốt nhất

Trang 14

5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này sử dụng khi tiến hành so sánh các ngữ liệu trong bài học nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu trong đề tài

NỘI DUNG gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Thiết kế kế hoạch bài học Phong cách chức năng ngôn ngữ ( Ngữ

văn 10) theo 5 hoạt dộng cơ bản

Chương 3: Thực nghiệm

KẾT LUẬN

Trang 15

7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Bài học:

“Bài học là hình thức tổ chức mà trong đó giáo viên trong một khoảng thời gian xác định hướng dẫn hoạt động nhận thức cho một tập thể học sinh cố định, cùng độ tuổi (một lớp) có chú ý đến đặc điểm từng học sinh trong lớp, sử dụng các phương tiện và phương pháp dạy học để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho tất cả học sinh nắm được nội dung kiến thức, kĩ năng giáo dục đạo đức và phát triển khả năng nhận thức của họ” [12]

Kế hoạch bài học:

“Kế hoạch bài học là kế hoạch của một tiết học thể hiện tinh thần cơ bản của chương trình môn học, thể hiện được mối liên hệ hữu cơ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và kết quả, được gọi là bốn thành tố cơ bản của bài học”.[ 15]

Thiết kế kế hoạch bài học là xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối tương tác giữa GV và HS Thiết kế bài học (hay còn gọi là soạn giáo án, lập kế hoạch bài dạy) là quá trình lập kế hoạch và hiện thực hoá kế hoạch bài dạy thành văn bản chi tiết theo một trình tự lôgic những dự kiến mà giáo viên mong muốn sẽ thực thi trên lớp của mình để đạt được mục tiêu bài dạy Thiết kế bài học được thể hiện bằng văn bản ghi chép hoặc soạn thảo là cơ sở để thiết kế giáo án điện tử (nếu như giáo viên có sử dụng)

Trang 16

8

1.1.1.2 Vai trò

Kế hoạch bài học có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó giúp GV quản lý thời gian dành cho mỗi đơn vị bài học được tốt hơn KHBH thể hiện tinh thần đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường

Một KHBH tốt cung cấp cho GV một hướng đi rõ ràng, một nguồn tài liệu tham khảo Kế hoạch dạy học chỉ ra nội dung của bài học đảm bảo trật tự khoa học của thông tin, đưa ra kĩ năng học tập được sử dụng trong giờ và các phương tiện hỗ trợ cần thiết theo yêu cầu Việc cung cấp thông tin theo một trật tự khoa học sẽ giúp

HS hiểu và ghi nhớ những thông tin đó một cách khoa học

Thiết kế kế hoạch bài học theo tiến trình hoạt động của HS giúp cho HS trong giờ học có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bản thân để lĩnh hội tri thức một cách tốt nhất

1.1.1.3 Thiết kế kế hoạch bài học theo quan niệm truyền thống

Theo mô hình dạy học truyền thống, GV đóng vai trò là người thông báo, giảng giải kiến thức, truyền thụ một chiều, sử dụng PP thuyết trình là chính, GV chủ yếu độc thoại còn HS thụ động tiếp thu bằng cách ghi nhớ máy móc, học thuộc lòng Được thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: Xác định mục tiêu bao gồm:

- Mục tiêu giảng dạy

- Mục tiêu chung

- Mục tiêu mong muốn đạt tới

Thứ hai: Soạn nội dung bao gồm:

- Tập trung vào hoạt động của GV

- Hoạt động dạy dẫn tới hoạt động học

Trang 17

9

1.1.1.4 Thiết kế kế hoạch bài học theo Mô hình trường học mới

Mô hình trường học mới tại Việt Nam là một kiểu mô hình nhà trường hiện đại, tiên tiến, phù hợp với mục tiêu đổi mới và đặc điểm của giáo dục Việt Nam

Mô hình trường học mới tại Việt Nam (VNEN) có nhiều nội dung từ tổ chức lớp học đến thực hiện dạy học theo quy trình mới, trong đó quan trọng nhất là biên soạn và thực hiện tài liệu Hướng dẫn học các bộ môn KHBH theo mô hình trường học mới gồm có 5 hoạt động cơ bản: Hoạt động khởi động , Hoạt động hình thành kiến thức, Hoạt động luyện tập, Hoạt động vận dụng, Hoạt động tìm tòi, mở rộng

1.1.1.5 Tiêu chí đánh giá thiết kế bài học

Quá trình dạy học được thiết kế thành các hoạt động học của HS dưới dạng các nhiệm vụ học tập, có thể thực hiện trên lớp hoặc ở nhà HS tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của GV Phân tích giờ dạy theo quan điểm đó là đó là phân tích hiệu quả hoạt động học của

HS đồng thời đánh giá việc tổ chức, kiểm tra, đánh giá hoạt động học cho HS của

GV Theo [1] [Công văn 5555] hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học /trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng Tiêu chí đánh giá thiết kế bài học bao gồm bốn tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: Mức độ phù hợp của chuỗi hoạt động học với mục tiêu, nội dung

1.1.2 Một số khái niệm về cơ sở tâm lí người học

Nhà giáo dục học Nga K.Đ.Usinxki đã từng khuyên chúng ta:“Các bạn hãy nghiên cứu những quy luật của các hiện tượng tâm lí mà các bạn muốn điều khiển,

Trang 18

Tích cực: Xã hội văn minh, khoa học công nghệ phát triển, nhất là sự bùng

nổ của công nghệ thông tin và sự hiện đại hóa các phương tiện kĩ thuật hiện đại, HS được mở rộng tầm nhìn, mở rộng giao lưu, tiếp cận với nhiều cái mới, hiện đại nên sớm hiểu biết, linh hoạt, năng động, thực tế và tự tin hơn trong cuộc sống so với các thế hệ HS trước đây Vì vậy, trong học tập, nhiều HS không thỏa mãn với vai trò người tiếp nhận thụ động, không chỉ chấp nhận với các giải pháp có sẵn được đưa

ra, mà đòi hỏi có sự tìm tòi sáng tạo ra các giải pháp khác cho riêng mình Do đó, ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu về sự lĩnh hội các tri thức một cách độc lập, phát triển kĩ năng và sở trường của bản thân

Tiêu cực: Bên cạnh ảnh hưởng tích cực từ bên ngoài, theo sự phát triển của

xã hội hiện đại, nhiều ảnh hưởng tiêu cực cũng đến với tầng lớp thanh thiếu niên nói chung, HS phổ thông nói riêng là không nhỏ Nhiều HS đến lớp 12 vẫn chưa xác định được cho mình một hướng đi cho tương lai Trong học tập, không ít HS chưa xác định cho mình một động cơ học tập đúng đắn Việc bỏ học để lao vào những trò chơi vô bổ là không hiếm trong nhà trường

Vì vậy, việc nghiên cứu tâm sinh lí HS trong nhà trường để tìm con đường hay nhất đưa HS vào quỹ đạo học tập nghiêm túc, có hiệu quả là nhiệm vụ của mọi người, trong đó vai trò chính vẫn là người GV

1.1.2.1 Hoạt động học

Hoạt động là luôn vận động Vận động không chỉ nói đến các chuyển động

về cơ bắp mà còn cả sự vận động về trí tuệ hay “sự động não” Chẳng hạn: khi GV

ra một bài tập HS không ngồi nhìn, trông chờ GV mà lấy giấy, viết ra suy nghĩ, phân tích được gì thì ghi lại vào giấy

Học là một quá trình mà đầu ra của nó được biểu hiện bằng sản phẩm là tri thức, kĩ năng, thái độ, hành vi ứng xử có thể quan sát được Theo từ điển Tiếng việt:

Trang 19

11

“Học tập là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dưới sự dạy bảo, hướng dẫn của nhà giáo và hợp thành hoạt động dạy học trong lĩnh vực sư phạm” [4; 201]

Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bằng mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định Học tập có hai phương thức là học một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hằng ngày và học theo phương thức chuyên biệt – phương thức nhà trường Tuy nhiên, hoạt động học chỉ có thể phát huy hiệu quả trong môi trường giáo dục sư phạm với phương thức nhà trường Việc hình thành hoạt động học cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi người giáo viên đứng lớp và những cán bộ quản lý trường học song chủ yếu là người giáo viên chuyên trách

“Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, những hình thức hành vi

và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị.”[6, 106]

Chúng tôi quan niệm: “ Hoạt động học bao gồm tất cả các hoạt động trong và ngoài giờ học của HS dưới sự chỉ đạo của người thầy nhằm các mục tiêu chiếm lĩnh tri thức khoa học, thông qua đó các em học được PP làm việc và suy nghĩ của các nhà khoa học, tư duy của các em được phát triển”

1.1.2.2 Động cơ học tập

Động cơ học tập của học sinh được thể hiện được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học, tức là những tri thức, kĩ năng , kĩ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực…

mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ

Vấn đề đặt ra là có những động cơ học tập nào được hiện thân vào đối tượng của hoạt động học

Những công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng có hai loại động cơ: Những động cơ hoàn thiện tri thức và những động cơ quan hệ xã hội

Thuộc về loại động cơ hoàn thiện tri thức, chúng ta thường thấy HS có lòng khao khát mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu biết, say mê với bản thân quá

Trang 20

12

trình giải quyết các nhiệm vụ học tập…Như vậy, tất cả những biểu hiện này đều do

sự hấp dẫn, lôi cuốn của bản thân tri thức, cũng như phương pháp giành lấy tri thức

đó Do đó, người ta gọi loại động cơ học tập này là “ động cơ hoàn thiện tri thức”

Thuộc về động cơ quan hệ xã hội, chúng ta cũng thấy HS say sưa học tập nhưng sự say sưa lại vì sức hấp dẫn, lôi cuốn của một “cái khác” ở ngoài mục đích trực tiếp của việc học tập Những về “ cái khác” đó là thưởng và phạt, đe dọa và yêu cầu, thi đua và áp lực, khêu gọi lòng hiếu danh, mong đợi hạnh phúc và lợi ích tương lai, cũng như sự hài lòng của cha mẹ, Do đó, ta gọi loại hoạt động cơ học tập này là động cơ quan hệ xã hội

Những lí thuyết về động cơ học tập trên đây là cơ sở tạo động lực học tập cho HS thôi thúc ở các em tính tích cực, chủ động trong hoạt động lĩnh hội tri thức Muốn phát động được động cơ học tập, trước hết cần khơi dậy sự mạnh mẽ ở các

em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập – vì nhu cầu, nơi khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực hoạt động

1.1.2.3 Tính tích cực của học sinh trong học tập

Khái niệm về tính tích cực:

Tính tích cực là sự chủ động có ý thức, có hướng đích của con người được biểu hiện trong mọi hoạt động và suy nghĩ để cuộc sống được tồn tại và ngày càng phát triển

Tính tích cực của HS trong học tập: Bản thân hoạt động học đã là một hoạt động tích cực của con người Những ai muốn làm việc tốt hơn, năng suất hơn, có khả năng tạo ra cái mới nhiều hơn, đều phải học Đó là sự tích cực hoạt động của con người Những người này tự giác học, hăng say học, coi việc học là sự nghiệp của mình Kết quả là, cuộc sống mỗi ngày một phát triển, xã hội ngày càng giàu hơn, đẹp hơn cũng nhờ sự tích cực hoạt động của những người như vậy

Tính tích cực của HS thường biểu hiện trong các dạng hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí, hoạt động xã hội, kể cả trong giao tiếp và thể hiện kĩ năng sống của các em, trong đó học tập là hoạt động chủ đạo Có thể xem tính tích cực, đặc biệt là tính tích cực trong hoạt động học của HS

Trang 21

Kết hợp những ý kiến trên với thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy những biểu hiện cụ thể của các HS tích cực học tập như sau:

+ Những HS thích ngồi bàn trên cùng, hay phát biểu ý kiến, không sợ nói sai, hăng hái trao đổi nhóm;

+ Khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV hoặc bổ sung ý kiến khi thấy câu trả lời của bạn chưa hoàn chỉnh;

+ Chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức những vấn đề mới;

+ Hay hỏi thầy khi không hiểu, hay chất vấn bạn khi bạn trình bày;

+ Sẵn sàng giúp bạn trong lớp;

Như vậy, khi có hiểu biết về tính tích cực của học sinh trong học tập thì đó chính là tiền đề, cơ sở để GV tiến hành thiết kế KHBH đạt hiệu quả cao

1.1.2.4 Tích cực hóa hoạt động học của học sinh

Các công việc của người làm GV nhằm kích thích sự học tập của HS có thể được gọi là “ tích cực hóa” Nếu nói một cách chung nhất thì việc giáo dục cho HS

có động cơ học tập đúng đắn, luôn tạo động lực cho các em trong học tập là tích cực hóa Song, ở đây chúng tôi muốn nói đến những việc làm cụ thể trong giảng dạy để kích thích việc học của HS nhằm đạt kết quả cao nhất có thể

Nhiều tác giả định nghĩa:“Tích cực hóa là tập hợp các hoạt động nhằm chuyển vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [11]

Trang 22

14

Có thể thấy các biện pháp kích thích sự tự học tập của HS bao gồm:

Về nội dung dạy học:

Tăng cường đưa những ứng dụng trong cuộc sống vào trong bài học phù hợp với ngữ cảnh, nội dung bài học, dưới mọi hình thức( ví dụ minh họa, nhiệm

vụ khám phá, đề tài trao đổi nhóm, nhiệm vụ về nhà…)

Tăng cường các hoạt động thực hành (tham quan thực tế…)

Hãy để HS hoạt động trí tuệ nhiều ở mức có thể (trao đổi, khám phá, tranh luận, khái quát hóa các kết quả )

Tạo thêm nhiệm vụ cho HS làm việc ở nhà chứ không thể chỉ có những bài tập, câu hỏi có sẵn trong SGK

Điều không thể thiếu được đối với việc kích thích sự hứng thú học tập của

HS, đó là sự khen ngợi và khích lệ của GV, đặc biệt là đối với những HS yếu mỗi khi hoàn thành nhiệm vụ

Tùy vào điều kiện cụ thể, GV có thể sử dụng các PPDH tích cực và biện pháp phát huy tính tích cực thích hợp để đạt được mục đích dạy học

1.1.3 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học tiếng Việt

1.1.3.1 Phương pháp dạy học tích cực

a Dạy học nêu vấn đề

Khái niệm : Dạy học nêu vấn đề là một trong những PP DH mà ở đó GV là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều khiển HS phát hiện vấn đề, HS tích cực, chủ động, tự giác giải quyết vấn đề thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng,

kĩ xảo nhằm đạt được mục tiêu dạy học

Trang 23

HS không những được học nội dung học tập mà còn được học con đường và cách thức tiến hành dẫn đến kết quả đó HS được học cách phát hiện và giải quyết vấn đề

Trong quá trình DH, GV thường gặp trở ngại khi nêu lên vấn đề cần nghiên cứu và làm thế nào để HS không những hiểu rõ vấn đề mà quan trọng là vấn đề vừa phải sát vào kiến thức, vừa hay, vừa lôi cuốn, thu hút, gần gũi, khiến cho HS say sưa tìm hiểu Một tình huống được gọi là có vấn đề phải thỏa mãn ba điều kiện: tồn tại của một vấn đề, gợi nhu cầu nhận thức và gợi niềm tin vào khả năng của bản thân Vấn đề trong tình huống phải vừa quen, vừa lạ với người học Vì vậy, để việc DHNVĐ đạt hiệu quả cao, GV cần tìm cách tác động vào tình cảm, cảm xúc của HS; cần ứng dụng kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng sư phạm của mình Sau khi thu hút được HS vào vấn đề cần nghiên cứu, GV cần hướng dẫn các em từng bước

để giải quyết vấn đề Cần lựa chọn những vấn đề hợp lý, phù hợp với năng lực tự giải quyết của HS để tiếp thu kiến thức mới

b Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự tham gia tích cực của HS trong học tập PPTLN không chỉ giúp HS hiểu rõ về kiến thức

mà còn giúp các em rèn luyện kĩ năng, thái độ làm việc tập thể nhưng phương pháp này vẫn thể hiện được ý kiến riêng của cá nhân HS Nhóm là tập hợp những cá nhân thỏa mãn bốn yếu tố sau: Có từ hai thành viên trở lên, có thời gian làm việc chung nhau nhất định, cùng nhau chia sẻ hay thực hiện chung một nhiệm vụ hay một kế hoạch để đạt được mục tiêu cả nhóm kì vọng và hoạt động theo những quy định chung của nhóm Hoạt động nhóm mang lại những kết quả tốt mà từng cá nhân không thể làm được hay làm được nhưng đạt hiệu quả không cao

Trang 24

16

Để tổ chức một hoạt động dạy học theo hình thức thảo luận nhóm, GV cần tiến hành các bước sau:

Bước chuẩn bị (GV giao nhiệm vụ)

Chuẩn bị đề tài, mục tiêu hay bài học thông qua thảo luận nhóm, câu hỏi, hình thực trình bày, vận dụng thời gian cho thảo luận

Nội dung thảo luận nhóm: Thường là những câu hỏi, bài tập gán với tình huống dạy học, mang tính phức hợp và có tính vấn đề, cần huy động sự suy nghĩ chia sẻ của nhiều HS để tìm ra các phương pháp giải quyết

Phương tiện hỗ trợ: Phiếu học tập, giấy A0, bút dạ, bút màu… tùy theo nhiệm vụ của yêu câu thực hiện

Thực hiện nhiệm vụ:

Chia nhóm theo yêu cầu của nhiệm vụ, các nhóm tự phân công vị trí của các thành viên (nhóm trưởng, thư kí, người báo cáo, người quan sát, người trợ giúp, )

Trong quá trình các nhóm thảo luận, GV quan sát, điều chỉnh chỗ ngồi, nhắc nhở hay hỗ trợ khi nhóm nào cần)

Yêu cầu khi thực hiện:

Mỗi thành viên trong nhóm đều được tham gia bàn luận, được lắng nghe và tôn trọng, tránh tranh cãi nhau căng thẳng hoặc người nói quá nhiều

Những băn khoăn về ý nghĩa, kết quả của bài tập được giải đáp kịp thời Thời gian làm bài tập phải phù hợp với thực tế khả năng làm việc của HS và yêu cầu của bài tập

Mọi HS đều tích cực làm việc

Tạo thêm công việc, cơ hội cho các nhóm, cá nhân trong trường hợp họ hoàn thành bài tập trước và phải chờ các nhóm khác

Trang 25

17

GV đúc kết, bổ sung ý kiến, nhấn mạnh nội dung quan trọng, tóm tắt, kết luận

c Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Viện sĩ Chê – cu - nhep A.V đã định nghĩa phương pháp phân tích ngôn ngữ

là PP “HS dưới sự chỉ dẫn của GV vạch ra những hiện tượng ngôn ngữ nhất định từ các tài liệu ngôn ngữ cho trước, quy các hiện tượng đó vào một phạm trù nhất định

và chỉ rõ những đặc trưng của chúng” [2] Như vậy, thực chất của phương pháp này

là từ việc quan sát, phân tích các hiện tượng ngôn ngữ theo chủ đề nhất định và tìm

ra những dấu hiệu đặc trưng của những hiện tương ấy PP phân tích ngôn ngữ còn

có thể chia nhỏ theo từng đối tượng phân tích: phân tích ngữ âm, phân tích từ vựng, phân tích ngữ nghĩa, phân tích phong cách,…Dù kiểu phân tích nào cũng phải tiến hành các thao tác cơ bản sau:

Phân tích - phát hiện: Trên cơ sở các tài liệu mẫu GV sử dụng các câu hỏi định hướng để HS quan sát , so sánh đối chiếu tìm ra các nét đặc trưng cơ bản của khái niệm và quy tắc mới Thao tác này thường được áp dụng trong quá trình hình thành quy tắc, khái niệm mới của bài học

Phân tích – chứng minh: Sau khi đã sơ bộ hình thành được kiến thức mới,

HS cần củng cổ và khắc sâu chúng, hình thành các kĩ năng cụ thể Muốn đạt mục đích này, GV cần phải cho HS tiến hành các thao tác phân tích, chứng minh Cách phân tích này được tiến hành như sau: GV đưa ra các tài liệu ngôn ngữ chứa các hiện tượng ngôn ngữ mà các em mới được học, yêu cầu các em phải phát hiện , chứng minh bằng việc vận dụng tri thức mới được học Thao tác này được lặp đi lặp lại một số lần cho đến lúc GV yên tâm là HS đã nắm và áp dụng được các khái niệm

và quy tắc mới

Phân tích – phán đoán: Nhờ phân tích – chứng minh, HS đã hình thành được

kĩ năng cơ bản và GV kiểm tra được kiến thức của các em Tuy vậy, thao tác này đòi hỏi khá nhiều thời gian Để tiết kiệm được thời gian và thành thục hóa kĩ năng mới được hình thành, GV chuyển sang giai đoạn cho HS phân tích – phán đoán Phân tích - phán đoán không yêu cầu HS tái hiện hiện lại các định nghĩa, quy tắc

mà cần phải nhận diện ngay các hiện tượng ngôn ngữ đã học Để đạt được hiệu quả

Trang 26

d Phương pháp giao tiếp

Từ chức năng của ngôn ngữ là “ Phương tiện trong yếu nhất của xã hội loài người” và từ mục đích của việc dạy tiếng là hình thành và nâng cao khả năng giao tiếp cho HS có thể thấy giao tiếp vừa là mục đích, vừa là phương thức để dạy học tiếng Việt Điều này chứng tỏ, PP giao tiếp là PP quan trọng trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt PP giao tiếp là PP hướng dẫn HS vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân

tố tham gia vào hoạt động giao tiếp Trên tinh thần này, PP giao tiếp là PP chủ yếu

để phát triển lời nói cho HS PP này có thể được áp dụng khi dạy học từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là các bài học trong phân môn làm văn Theo tinh thần của

PP này, dạy làm văn có thể tiến hành theo các bước sau đây:

GV tạo tình huống, cung cấp các nhân tố giao tiếp thông qua một đề cụ thể

HS định hướng bài làm thông qua việc tìm hiểu đề

HS tiến hành tìm, chọn ý, lập bố cục bài văn theo tinh thần định hướng Sau đó, các em triển khai đề cương thành bài làm cụ thể

GV chấm và trả bài HS rút kinh nghiệm và sửa chữa lại bài viết của mình Trên đây là ví dụ về việc sử dụng PP giao tiếp vào dạy Làm văn Tuy nhiên, tùy theo từng phân môn cụ thể, PP giao tiếp mang những đặc trưng riêng biệt và cần phải có những thao tác phù hợp Tuy nhiên, dù trong lĩnh vực nào cũng cần phải tiến hành theo các bước sau đây:

Tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp của HS

HS xác định hướng giao tiếp khi tiến hành áp dụng các tri thức tiếng Việt

Trang 27

19

Nói cách khác, các em cần phải trả lời được các câu hỏi sau: nói (viết) với ai? Về cái gì? Trong hoàn cảnh nào?

HS căn cứ vào nhiệm vụ giao tiếp để tạo ra các lời nói cụ thể

Đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm

1.1.3.2 Kĩ thuật dạy học tích cực

Theo từ điển, tích cực là chủ động, sáng tạo, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm

vụ được giao

Tính tích cực trong hoạt động học tập là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Lĩnh hội tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm, khám phá ra những hiểu biết mới cho bản thân Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã biết được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình

“Kĩ thuật dạy học tích cực là thuật ngữ dùng để chỉ các kĩ thuật dạy học có tác dụng phát huy tính tích cực học tập của HS”.[14,43]

Ví dụ: Kĩ thuật động não, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật

sơ đồ tư duy,

Kĩ thuật dạy học là thành phần của các PPDH tích cực, là thể hiện quan điểm dạy học phát huy tính tích cực học tập của HS.Một số kĩ thuật dạy học tích cực là:

Trang 28

+ Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0, bút

+ Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính ở giữa và các phần xung quanh Phần xung quanh đực chia theo số thành viên cuả nhóm (Ví dụ nhóm 4 người chia 4 phần) Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh

+ Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi, nhiệm vụ theo cách nghĩ cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy của mình trên tờ giấy A0

+ Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, HS thảo luận nhóm, thống nhất

ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “Khăn trải bàn”

b Sơ đồ tư duy

- Khái niệm:

+ Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để truyền tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy đủ, sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó “sắp xếp” ý nghĩ

+ Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng

- Bố trí lớp học:

+ Giấy A4 cho cá nhân, giấy A0 cho các nhóm, băng dính, kéo

Trang 29

+ GV cho HS liệt kê những hiểu biết của mình về chủ đề ra giấy

+ Các nhóm HS cùng tổng hợp hiểu biết của các thành viên trong nhóm + Sau khi tổng hợp hiểu biết của các thành viên trong nhóm, các nhóm phân loại những điều đã liệt kê được, đặt tên cho các nhóm vấn đề tạo thành từng nhánh chính của lược đồ

+ Tiếp tục như vậy cho tới khi mỗi nhóm đã có được vật liệu để tạo thành lược đồ tư duy

+ Sử dụng hình ảnh, màu sắc, cách thể hiện đa dạng để tạo thành lược đồ tư duy về chủ đề

c Kĩ thuật đặt câu hỏi

Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi gợi

mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng, để đánh giá kết quả học tập của HS, HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các

HS khác về những nội dung chưa được sáng tỏ

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và HS- HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều HS sẽ học tập tích cực hơn

Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:

- Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho

HS tham gia vào quá trình dạy học

- Kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với nội dung học tập,

- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức

Trên đây là một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực tương đối đặc thù cho việc dạy tiếng Việt trong nhà trường Ngoài những PP, kĩ thuật dạy học trên

Trang 30

22

còn một số PP, kĩ thuật dạy học nữa như: PP dạy học theo dự án, PP nghiên cứu tình huống, PP đóng vai,… Kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật hỏi chuyên gia, kĩ thuật“ trình bày một phút”, kĩ thuật mảnh ghép…Với mỗi nội dung dạy học, người GV cần phải sử dụng những PP, kĩ thuật sao cho phù hợp vớ những đơn vị kiến thức trong bài

và vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo thì mới thu được kết quả mong muốn

2 Phan Trọng Luận (chủ biên), “Thiết kế bài học Ngữ Văn 10”, NXB Giáo dục

3 Sách giáo viên Ngữ văn lớp 10 (tập 1, tập 2), NXB giáo dục Việt Nam

Qua thống kê chúng tôi nhận thấy những đặc điểm thiết kế của công trình như sau: Khi thiết kế bài học phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) chủ yếu

sử dụng phương pháp GV hỏi HS trả lời theo quan niệm truyền thống, chưa thực sự chú trọng vào hoạt động của HS để HS có thể bộc lộ hết khả năng tiếp nhận và lĩnh hội tri thức của mình Đối với thiết kế của thầy Phan Trọng Luận trong hai bài

“Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” và “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” thầy đều chia ra ba mục chính bao gồm I: Trọng tâm bài học và những điểm khó II: Hoạt động dạy học và III: Luyện tập Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới hoạt động dạy và học của hai bài này và nhận thấy chủ yếu vẫn là cách thiết kế truyền thống GV mới chỉ đưa ra hệ thống câu hỏi để HS trả lời sau đó đi đến khái quát nội dung bài học

mà chưa có những hoạt động nhằm tăng tính tích cực chủ động của HS

Đối với thiết kế của thầy Nguyễn Văn Đường ở cả hai bài phong cách chức năng ngôn ngữ thầy đều thiết kế theo hàng ngang bao gồm các hoạt động cũng lần lượt đi tìm hiểu khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt/ ngôn ngữ nghệ thuật và những đặc trưng cơ bản của hai phong cách ngôn ngữ trên Tuy nhiên thì chúng tôi nhận thấy

Trang 31

23

rằng thiết kế bài giảng của thầy vẫn theo quan niệm truyền thống cũng mới chỉ đưa

ra hệ thống câu hỏi/ bài tập cho HS trả lời sau đó đi đến kết luận nội dung chính của bài học mà chưa có những hình thức học tập nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của HS

Sách giáo viên Ngữ văn lớp 10 (tập 1, tập 2) là nguồn tài liệu có giá trị hướng dẫn tổ chức thiết kế KHBH, GV có thể tham khảo để định hướng gợi ý cho những bước tiến hành hoạt động dạy và học cho HS

Kết quả : Qua việc khảo sát thực tế chúng tôi nhận thấy ba tài liệu tham khảo màchúng tôi đưa ra trên đều có những đặc điểm chung về mặt thiết kế dạy học như sau: Ở cả hình thức và nội dung vẫn thiết kế theo mô hình dạy học truyền thống Từ

cơ sở thực tiễn này chúng tôi nhận thấy có một mảng tài liệu hướng dẫn, tài liệu tham khảo chưa cập nhật được những vấn đề yêu cầu về đổi mới về mặt thiết kế Qua đó dẫn tới việc công trình nghiên cứu là một vấn đề mới, cần thiết và có thể là một trong những cơ sở góp phần bổ sung vào tài liệu tham khảo và thiết kế

1.2.2 Khảo sát tài liệu thiết kế kế hoạch bài học tiếng Việt 10 của giáo viên THPT

Khảo sát mẫu KHBH:

Năm thứ 3 chúng tôi đã đi tiến hành Thực tập sư phạm đợt 1 tại trường THPT Trưng Vương – Hưng Yên, trong đợt 1 chúng tôi đã có sự tham khảo hướng dẫn mẫu kế hoạch dạy học của GV hướng dẫn tại trường và 4 thầy cô giáo khác trong tổ bộ môn Ngữ văn Cùng với việc điều tra và khảo sát cho thấy, hầu hết các

GV đều đánh giá việc dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” là nội dung quan trọng trong chương trình Ngữ văn 10 Tuy nhiên trong việc thiết kế KHBH, nhiều GV mới chỉ thực hiện theo định hướng trong SGK, SGV, các nội dung lý thuyết và thực hành gắn liền với SGK GV đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý, hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu từ đó hình thành kiến thức cơ bản của bài học Khi khảo sát chương trình nhận thấy thời gian dành cho bài dạy theo phân phối chương trình gồm hai tiết, các tiết dạy kết hợp giữa lý thuyết và bài tập thực hành Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế KH BH GV chưa có điều kiện để mở rộng, việc vận dụng bài học vào trong thực tế còn nhiều hạn chế

Trang 32

24

Năm thứ 4 chúng tôi tiếp tục đi Thực tập sư phạm đợt 2 tại trường THPT Nguyễn Siêu – Hưng Yên, trong đợt này chúng tôi có sự tham khảo mẫu kế hoạch bài học của GV hướng dẫn và 3 thầy cô giáo khác trong tổ bộ môn Ngữ văn Chúng tôi tiến hành khảo sát thêm những thầy cô giáo thuộc các tổ bộ môn khác và nhận thấy ở đây tất cả các thầy cô đều có kế hoạch dạy học theo mô hình trường học mới (5 hoạt động) Riêng đối với bài “ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” các thầy cô đã

sử dụng thành công các phương pháp, phương tiện và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo cho các em tinh thần tích cực và sự hứng thú khi tiếp nhận bài này Trong hoạt động khởi động GV tổ chức cho HS chơi trò chơi ô chữ Hoạt động hình thành kiến thức GV vận dụng kĩ thuật đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ cho HS đi tìm hiểu NNNT sau đó GV nhận xét, kết luận lại và đưa ra những kiến thức cần đạt cho HS Tiếp theo đến phần tìm hiểu về PCNNT GV chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm sẽ có một vấn đề riêng GV giao cho để cả nhóm cùng làm việc, sau một khoảng thời gian nhất định GV sẽ gọi bất kì một bạn trong nhóm lên trình bày kết quả, GV nhận xét,

bổ sung và kết luận nội dung chính Hoạt động Luyện tập GV giao nhiệm vụ cho

HS thực hiện để làm bài tập luyện tập Hoạt động vận dụng, tìm tòi sáng tạo GV sử dụng kĩ thuật giao nhiệm vụ HS về nhà thực hiện theo yêu cầu

Ngoài việc khảo sát mẫu KHBH, chúng tôi còn tiến hành đi dự giờ của GV

để có những đánh giá khách quan khi dạy và học hai bài phong cách chức năng ngôn ngữ Cụ thể, trong đợt 1 chúng tôi tiến hành dự giờ 4 tiết của 4 thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngữ văn và nhận thấy quy trình tổ chức dạy học vẫn theo hướng truyền thống, chưa thực sự phát huy được tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình dạy học HS chưa có nhiều hứng thú khi tiếp nhận bài học này GV vẫn truyền đạt kiến thức một chiều, HS tiếp thu thụ động, chưa thể hiện rõ được tính tích cực của các em

Như vậy qua quá trình khảo sát thiết kế bài học của GV THPT chúng tôi nhận thấy, việc đổi mới thiết kế KHBH đã được thực hiện ở một số trường phổ thông Tuy nhiên, để hiểu đúng bản chất của sự thay đổi không phải GV nào khi thực hiện cũng đều thông tỏ Để việc dạy học Tiếng Việt thực sự đạt hiệu quả, HS

Trang 33

25

chủ động, sáng tạo trong học tập, HS biết cách sử dụng ngôn ngữ thật phù hợp và hiệu quả là không ít khó khăn và việc khắc phục những khó khăn là không hề đơn giản mà cần có thời gian Tuy nhiên đề giúp cho HS chú ý vào bài học và hiểu kiến thức một cách nhanh nhất, GV nên sử dụng kế hoạch bài học theo tiến trình hoạt động học của HS và kết hợp sử dụng các PPDH tích cực để đạt hiệu quả cao nhất cho bài giảng

Trang 34

26

CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ(NGỮ VĂN 10) THEO TIẾN TRÌNH

HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC SINH 2.1 Mục tiêu dạy học bài học Phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10) THPT

- Kiến thức

+ Hiểu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

+ Biết vận dụng hiểu biết về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt vào việc tạo lập và lĩnh hội văn bản

+ Hiểu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ; biết phân biệt phong cách ngôn ngữ nghệ thuật với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

+ Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc đọc - hiểu và tạo lập các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực giải quyết vấn đề

+ Năng lực hợp tác

+ Năng lực sáng tạo

2.2 Nội dung dạy học phần Phong cách chức năng ngôn ngữ (Ngữ văn 10 )

2.2.1 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” được SGK Ngữ văn 10 triển khai thành hai nội dung chính:

Trang 35

27

Phần 1: Ngôn ngữ sinh hoạt Mục đích của phần này là giúp HS hiểu được khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt và các dạng biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ sinh hoạt Trong phần này có hai phần nhỏ:

Thứ nhất: GV hướng dẫn HS tìm hiểu khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt bằng cách cho HS phân tích ngữ liệu cụ thể Qua việc phân tích ngữ liệu, HS thấy rõ được những đặc điểm của ngôn ngữ sinh hoạt Từ đó rút ra khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt

Thứ hai: GV hướng dẫn HS tìm hiểu các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt Để tìm hiểu rõ các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt, GV tổ chức cho HS tìm hiểu những ví dụ do GV đưa ra Qua đó, HS sẽ kết luận được ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện ở những dạng nào

Phần 2: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Khi dạy phần này, GV cần làm cho

HS thấy rõ:

- Khái niệm thế nào là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

- Những đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

- Ngoài nục đích giúp HS hiểu được khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và những đặc trưng cơ bản của chúng Việc tìm hiểu bài “ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” còn giúp HS nâng cao kĩ năng phân tích và sử dụng từ ngữ theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

2.2.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” được SGK Ngữ văn 10 triển khai thành hai nội dung chính:

Phần 1: Ngôn ngữ nghệ thuật Mục đích của phần này là giúp HS hiểu được khái niệm ngôn ngữ nghê thuật là gì và những loại ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật

Phần 2: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Khi dạy phần này, GV cần làm cho

HS thấy rõ:

- Khái niệm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

- Những đặc trưng cở bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 36

28

- Ngoài mục đích giúp HS hiểu được khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Việc tìm hiểu bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” còn giúp HS nâng cao kĩ năng phân tích và sử dụng từ ngữ trong diễn đạt văn chương

2.3 Yêu cầu chung về thiết kế bài học

Để đảm bảo các nguyên tắc tổ chức hoạt động học trong mô hình trường học mới, mỗi bài học thường được xây dựng dựa trên một chủ đề dạy học, nhằm giải quyết một vấn đề/nhiệm vụ học tập tương đối hoàn chỉnh, từ việc hình thành kiến thức, kĩ năng mới đến vận dụng chúng vào giải quyết những vấn đề gắn với thực tiễn Kế hoạch tổ chức hoạt động học của học sinh trong mỗi bài học cần đảm bảo các yêu cầu sau:

2.3.1 Chuỗi hoạt động học của học sinh thể hiện rõ tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được áp dụng trong toàn bộ bài học

Chuỗi hoạt động học của HS bao gồm nhiều nhiều hoạt động học Tùy theo đặc thù bộ môn và nội dung dạy học, GV có thể lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau Nhìn chung, tiến trình hoạt động học của HS theo các phương pháp dạy học tích cực đều phù hợp với tiến trình nhận thức chung: huy động những kiến thức,

kĩ năng của mình để giải quyết tình huống/ câu hỏi/ vấn đề /nhiệm vụ học tập; nhận thức được sự chưa đầy đủ về kiến thức, kĩ năng của mình; xuất hiện nhu cầu và học tập để bổ sung, hoàn thiện kiến thức, kĩ năngmới; vận dụng kiến thức, kĩ năng mới để tiếp tục giải quyết tình huống /câu hỏi/ vấnđề/ nhiệm vụ học tập ban đầu

và các tình huống /câu hỏi/ vấn đề/ nhiệm vụ học tập mới

Ví dụ: Khi dạy bài “ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”, để xây dựng kiến thức cho HS, tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề được mô tả như sau: đề xuất vấn

đề - suy đoán giải pháp - khảo sát lí thuyết và/ hoặc thực nghiệm - kiểm tra, vận dụng kết quả

Theo đó, chuỗi hoạt động học của học sinh phù hợp với tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề sẽ bao gồm:

a Hoạt động khởi động: Từ nhiệm vụ cần giải quyết, HS huy động kiến thức,

kĩ năng đã biết và nảy sinh nhu cầu về kiến thức, kĩ năng còn chưa biết, về một cách

Trang 37

29

giải quyết không có sẵn, nhưng hi vọng có thể tìm tòi, xây dựng được Diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi

b Hoạt động hình thành kiến thức và Hoạt động luyện tập: Để giải quyết vấn

đề HS cần phải học lí thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm, thu lượm các dữ liệu cần thiết và xem xét, rút ra kết luận Kiến thức, kĩ năng mới được hình thành giúp cho việc giải quyết được câu hỏi đặt ra

c Hoạt động vận dụng: Trên cơ sở kiến thức, kĩ năng mới được hình thành,

HS vận dụng chúng để giải quyết các tình huống có liên quan trong học tập và cuộc sống hàng ngày

d Hoạt động tìm tòi, mở rộng: HS tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức thông qua các nguồn tư liệu, học liệu, khác nhau; tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức,

kĩ năng đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau

2.3.2 Mỗi hoạt động học tương ứng với một nhiệm vụ học tập giao cho học sinh, thể hiện rõ: mục đích, nội dung, phương thức hoạt động và sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành

Tiến trình dạy học được thể hiện cụ thể thành chuỗi hoạt động học của học sinh Phương thức hoạt động của học sinh thể hiện thông qua kĩ thuật học tích cực được sử dụng Có nhiều kĩ thuật học tích cực khác nhau, mỗi kĩ thuật có mục tiêu rèn luyện các kĩ năng khác nhau cho học sinh Tuy nhiên, dù sử dụng kĩ thuật học tích cực nào thì việc tổ chức mỗi hoạt động học của học sinh đều phải thực hiện theo các bước sau:

Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập được giao cho HS phải rõ

ràng và phù hợp với khả năng của HS , thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ: hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của HS, đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ

Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS được khuyến khích hợp tác với nhau khi

thực hiện nhiệm vụ học tập; GV cần phát hiện kịp thời những khó khăn của HS và

Trang 38

30

có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không để xảy ra tình trạng HS bị "bỏ quên" trong quá trình dạy học

Báo cáo kết quả và thảo luận: yêu cầu về hình thức báo cáo phải phù hợp với

nội dung học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; GV cần khuyến khích cho HS trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: GV tổ chức cho HS trình bày,

thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ; nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của HS ; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và những

ý kiến thảo luận của HS, chính xác hóa các kiến thức mà HS đã học được thông qua hoạt động

Mỗi bài học được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học Vì thế, trong một tiết học có thể chỉ thực hiện một số bước trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng Khi dự một giờ dạy, GV cần phải đặt nó trong toàn bộ tiến trình dạy học của chủ đề đã thiết kế Cần tổ chức ghi hình các giờ dạy để sử dụng khi phân tích bài học

2.3.3 Thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng trong bài học phải đảm bảo sự phù hợp với từng hoạt động học đã thiết kế

Việc sử dụng các thiết bị dạy học và học liệu đó được thể hiện rõ trong phương thức hoạt động học và sản phẩm học tập tương ứng mà học sinh phải hoàn thành trong mỗi hoạt động học

2.3.4 Phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học phải đảm bảo sự đồng bộ với phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng

Cần tăng cường đánh giá về sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS thông qua quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, thông qua các sản phẩm học tập mà HS đã hoàn thành; tăng cường hoạt động tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của HS

Trang 39

2.5.1 Thiết kế Mục tiêu bài học

- Mục tiêu là cái đích mà ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian hoặc về

một công việc nào đó Mục tiêu có thể về nhận thức, thái độ hoặc hành vi

- Những căn cứ để xác định mục tiêu kế hoạch bài học:

+ Dựa vào chuẩn kiến thức (KT), kỹ năng (KN) Từ chuẩn KT, KN cần xác định những chuẩn thuộc nội dung bài học

+ Phân tích học sinh Với mỗi bài học cần phân tích học sinh ở những khía cạnh sau:

- Mục tiêu kế hoạch bài học là đích đặt ra cho học sinh cần đạt đƣợc sau khi học xong bài học Mục tiêu đặt ra cần cụ thể, có thể đánh giá đƣợc, phù hợp với đối tƣợng học sinh của một lớp học, phù hợp với điều kiện thực tế và khuôn khổ thời gian của tiết học

Trang 40

32

- Mục tiêu thường bao gồm ba thành tố: kiến thức; kỹ năng; thái độ

- Những từ nên dùng để viết mục tiêu như:

+ Hiểu được, nhận ra, đếm, phát biểu, giải thích, lựa chọn… (Về kiến thức) + Quan sát, xác định, so sánh, đối chiếu… (Về kỹ năng)

+ Có ý thức, tự giác, bảo vệ… (Về thái độ)

Ví dụ: Mục tiêu dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Lớp 10 tập 2)

+ Tạo lập các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

+ Lĩnh hội và phân tích các PCNN nghệ thuật

- Thái độ

Yêu quý và biết giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt

- Định hướng năng lực

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực giải quyết vấn đề

+ Năng lực hợp tác

+ Năng lực sáng tạo

Ví dụ: Mục tiêu dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” (Lớp 10 tập 1)

- Kiến thức

+ Hiểu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

+ Biết vận dụng hiểu biết về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt vào việc tạo lập và lĩnh hội văn bản

- Kĩ năng

+ Tạo lập các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

+ Lĩnh hội và phân tích các PCNN sinh hoạt

Ngày đăng: 07/09/2018, 07:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chê - cu- nhep A.V. “Phương pháp dạy học tiếng Nga trong trường THPT”. M.1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Nga trong trường THPT
3. Nguyễn Văn Đường (chủ biên) – ThS Hoàng Dân, “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10”, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10
Nhà XB: NXB Hà Nội
4. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tào (2001), “Từ điển giáo dục”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tào
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
5. Nguyễn Trọng Hoàng, Nguyễn Khắc Đàm, “Giới thiệu giáo án Ngữ văn 10”, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Ngữ văn 10
Nhà XB: NXB Hà Nội
6. Lê Văn Hồng (2001), “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sƣ phạm”, NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sƣ phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2001
8. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1964), “Phong cách học Tiếng việt”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1964
9. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2005), “Sách giáo viên Ngữ văn 10” (ban cơ bản), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
10. Cù Đình Tú, “Tu từ học Tiếng Việt hiện đại”, (1975) Đại học sƣ phạm Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu từ học Tiếng Việt hiện đại
11. Thái Duy Tuyên (1998), “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Công văn 5555/ BGDĐT- GDTrH Khác
7. K. D. Usinxki. Tuyển tập, tập 8, NXB viện khoa học giáo dục nước CHLB Nga 1950. Trang 55 (Tiếng Nga) Khác
2. Thơ của Đỗ Phủ thuộc trường phái nào? A. Hiện thực B. Lãng mạn C. Tƣợng trƣng D. Ấn tƣợng Khác
3. Đâu là phong cách thơ Lý Bạch? A. Phiêu bạt, lãng mạn, ngạo nghễ B. Lãng mạn, phiêu dật, kiêu ngạo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w