Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức và của các nhà nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ, nhưng còn rất ít các nghiên cứu đi sâu nghi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Mạnh Lợi
Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi …… giờ… phút, ngày … tháng … năm ……
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử hơn 4000 năm của Việt Nam, phụ nữ luôn chứng
tỏ được vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Phụ nữ có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống
xã hội và trong bất kì lĩnh vực nào, ở bất kì giai đoạn lịch sử nào phụ
nữ cũng luôn lao động và chiến đấu hết mình, sát cánh cùng nam giới trong sản xuất vật chất, gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, giữ gìn và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các
tư tưởng thống trị phong kiến, do ảnh hưởng của hệ tư tưởng đạo đức Nho giáo, địa vị phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội luôn bị hạn chế Phụ nữ luôn bị coi là những người phụ thuộc vào nam giới, cho
dù nhiều khi trong gia đình họ là người lao động chính, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đời sống kinh tế, vật chất của cả gia đình, nhưng họ thường không có quyền quyết định các công việc lớn Các công việc chăm sóc gia đình, chồng con, đảm bảo cuộc sống ổn định cho gia đình được xem như là thiên chức của phụ nữ Ở chế độ phong kiến phụ nữ rất ít khi được tham gia vào các hoạt động cộng đồng, thậm chí một số phụ nữ có ý chí và tài năng, đã phải giả trai để
tự tạo ra cơ hội được đóng góp năng lực của mình cho đất nước
Kể từ năm 1930, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam được thành lập, sự nghiệp giải phóng phụ nữ bắt đầu được quan tâm ở Việt Nam, phụ nữ có cơ hội được tham gia vào các hoạt động cộng đồng và tham gia vào đời sống chính trị của đất nước Kể từ đó đến nay, trong các cơ quan của Đảng, trong Quốc hội (QH), các cơ quan dân cử địa phương, các cơ quan Quản lý nhà nước ở Trung ương (TƯ) và địa phương… đều
có sự góp mặt của phụ nữ Nhận thức được vai trò to lớn của phụ nữ, ĐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, luật pháp nhằm đảm bảo quyền bình đẳng và phát triển cho phụ nữ trên mọi lĩnh vực, đồng thời nhằm huy động sự tham gia, đóng góp và những tiềm năng to lớn của phụ nữ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Về cơ bản Việt Nam là một nước có hệ thống cơ sở pháp lý về đảm bảo bình đẳng giới (BĐG) khá toàn diện
Trang 4Trong vài thập kỷ gần đây, địa vị phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã được nâng lên khá nhiều, đặc biệt là địa vị chính trị Tuy vậy, trên thực tế, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp ủy Đảng, tham gia các cơ quan dân cử ở TƯ và địa phương, tham gia các cơ quan quản lý nhà nước các cấp còn thấp, đặc biệt tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan này đều rất thấp, chưa tương xứng với những đóng góp, cống hiến của họ cho xã hội và do
đó chưa phát huy hết được năng lực, tiềm năng to lớn của lực lượng lao động nữ
Nam Định là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, có trình độ kinh tế, xã hội tương đối phát triển, trình độ dân trí cao, cách thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị của cả nước không xa Tuy nhiên các số liệu cho thấy, mặc dù tỷ lệ cán bộ (CB) nữ ở các cấp trên phạm vi toàn quốc thấp, nhưng tỷ lệ CB nữ các cấp của tỉnh Nam Định còn thấp hơn tỷ lệ chung của toàn quốc
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức và của các nhà nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ, nhưng còn rất ít các nghiên cứu đi sâu nghiên cứu đến
sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở (HTCTCCS) – cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay Với mong muốn cung cấp thêm các dữ liệu khoa học và thực tiễn để giúp các nhà quản lý và các nhà khoa học có thêm được cái nhìn toàn diện
về thực trạng phụ nữ tham gia chính trị trong HTCTCCS, từ đó góp phần làm rõ hơn bức tranh tổng thể về sự tham gia chính trị của phụ nữ
nói chung, tác giả đã chọn đề tài “Sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS: nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định” để làm Luận
án tiến sĩ của mình Bên cạnh đó, các kết quả thu được từ quá trình nghiên cứu cũng sẽ giúp khuyến nghị một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực chính trị của tỉnh Nam Định nói riêng và của Việt Nam nói chung
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn Luận án phân tích thực trạng và ảnh hưởng của một số nhân tố đến sự tham gia của
Trang 5phụ nữ vào HTCTCCS trường hợp tỉnh Nam Định, qua đó đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG tại tỉnh Nam Định nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài;
(2) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
(3) Phân tích thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tỉnh Nam Định;
(4) Phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố tới sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tỉnh Nam Định;
(5) Khuyến nghị một số giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG tại tỉnh Nam Định nói riêng
và trên phạm vi cả nước nói chung
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng phụ nữ tham gia trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định hiện nay như thế nào?
(2) Những nhân tố xã hội nào tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định?
(3) Cần có giải pháp gì để tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS?
2.4 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Tỷ lệ nữ trong HTCTCCS nói chung và tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong HTCTCCS ở Nam Định hiện nay thấp, khi tham gia công tác trong HTCTCCS phụ nữ thường phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ và thường được giao đảm nhận các lĩnh vực công việc gắn liền với định kiến giới về vai trò của phụ nữ
(2) Phụ nữ có những ưu thế riêng về trình độ, năng lực và phẩm chất trong việc thực hiện nhiệm vụ và công tác tại HTCTCCS Phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội và ổn định HTCTCCS ở địa phương
(3) Thể chế, môi trường công tác, quan niệm về vai trò của phụ
nữ, gia đình và các đặc điểm của cá nhân là những yếu tố có thể góp
Trang 6phần khuyến khích, thúc đẩy hoặc gây cản trở tới việc thực hiện nhiệm vụ, quá trình thăng tiến của phụ nữ trong HTCTCCS
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “thực trạng và những nhân tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS”
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án bao gồm: Nam giới và phụ
nữ là CB, công chức, người hoạt động không chuyên trách (HĐKCT), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) trong HTCTCCS;
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Luận án đi sâu phân tích thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định trong nhiệm kỳ 2016-2021
- Luận án được tiến hành từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2017, trong đó thời gian thu thập thông tin sơ cấp được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 1 tiến hành phỏng vấn phiếu được thực hiện từ tháng
10 đến tháng 12 năm 2016; giai đoạn 2 tiến hành phỏng vấn sâu, được thực hiện trong tháng 7 năm 2017
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án dựa trên ba nguyên tắc cơ bản trong phương pháp luận nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lê nin, bao gồm: (i) nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, nghiên cứu sự vật, hiện tượng như bản thân chúng đang tồn tại, không phán đoán chủ quan mà các kết luận phải dựa trên những chứng cứ khoa học tin cậy (ii) Nguyên tắc nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự phát triển Mỗi sự vật, hiện tượng trong xã hội và tự nhiên đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ hiện tượng đến bản chất Nguyên tắc này đòi hỏi phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong một hệ thống, đặt sự vật, hiện tượng trong môi trường với những mối liên hệ của nó (iii) Tong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý; thực tiễn kiểm chứng nhận thức
Trang 7Ngoài ra, các nội dung nghiên cứu của Luận án còn được triển khai trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác CB nữ; vận dụng quan điểm của lý thuyết nữ quyền Mác xít, lý thuyết vị thế - vai xã hội và phương pháp tiếp cận Giới và phát triển (GAD) để triển khai các nội dung nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để có được các dữ liệu khoa học và thực tiễn, góp phần trả lời cho câu hỏi nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã được đặt ra, Luận án đã sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, thông qua các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật thu thập thông tin và phân tích thông cụ thể bao gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp theo biểu mẫu thống kê; phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả đã tiến hành thu thập
và nghiên cứu, phân tích thông tin từ các tài liệu có sẵn liên quan đến nội dung nghiên cứu của Luận án và sử dụng phương pháp so sánh để xử lý
và phân tích các thông tin có được từ nguồn tài liệu này
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp theo biểu mẫu thống kê: Ba biểu mẫu thống kê số liệu đã được thiết kế và gửi cho các địa
phương được khảo sát nhằm thu thập các thông tin cụ thể về: số lượng, tỷ lệ CB nữ cấp cơ sở; trình độ; độ tuổi của đội ngũ CB nữ trong HTCTCCS
- Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi: được sử dụng để phỏng vấn các
đối tượng là CB, công chức, người HĐKCT và đại biểu HĐND trong HTCTCCS
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp phỏng vấn sâu
được sử dụng đối với: CB, công chức, người HĐKCT, đại biểu HĐND trong HTCTCCS để thu thập những thông tin định tính nhằm
lý giải cho các số liệu, những thông tin đã thu được từ quá trình phân tích tài liệu và từ các thông tin định lượng Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện sau khi có kết quả xử lý và phân tích số liệu định lượng một cách sơ bộ
Trang 84.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
- Luận án đã tiến hành thu thập thông tin sơ cấp tại 3 huyện,
TP, đại diện cho 3 vùng của tỉnh Nam Định, việc chọn danh sách các huyện, TP được thực hiện ngẫu nhiên bằng phương pháp bốc thăm: + Vùng trung tâm công nghiệp, dịch vụ: TP Nam Định
+ Vùng đồng bằng ven biển: huyện Hải Hậu
+ Vùng đồng bằng thấp trũng: huyện Trực Ninh
- Luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại 9 xã, phường, thị trấn Để đảm bảo tính đại diện giữa các vùng nông thôn và thành thị, tại TP Nam Định, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 2 phường và 1 xã, tại huyện Hải Hậu và huyện Trực Ninh nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 1 thị trấn và 2 xã/1 huyện để tiến hành khảo sát Như vậy, luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại 5 xã và 4 phường, thị trấn Việc chọn các xã, phường, thị trấn để khảo sát được chọn ngẫu nhiên dựa trên
cơ sở danh sách các xã, phường, thị trấn do các địa phương cung cấp Danh sách các xã, phường, thị trấn được khảo sát cụ thể như sau: + TP Nam Định: phường Trường Thi, phường Quang Trung,
- Mẫu tham gia phỏng vấn sâu: tại mỗi xã, phường, thị trấn phỏng vấn 2 người, trong đó có 1 nam giới và 1 phụ nữ Tổng số 2 người/xã x 9
xã = 18 người
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án đã phân tích và chỉ ra ba khía cạnh ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của xã hội khi phụ nữ tham gia hoạt động trong hệ thống chính trị
- Luận án đã tập trung phân tích sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tại một địa phương cụ thể - tỉnh Nam Định, góp phần
Trang 9cung cấp cái nhìn chi tiết, nhiều chiều cạnh hơn cho bức tranh chung
về sự tham gia chính trị của phụ nữ Việt Nam nói chung
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận án đã vận dụng quan điểm của lý thuyết nữ quyền Mác xít, lý thuyết vị thế - vai xã hội và phương pháp tiếp cận Giới và phát triển (GAD) để làm rõ cơ sở lý luận về sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS;
- Luận án đã góp phần làm rõ vai trò của phụ nữ trong HTCTCCS;
- Luận án đã tiến hành phân tích về sự tham gia trong HTCTCCS của phụ nữ, luận giải những nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần cung cấp các luận chứng khoa học và thực tiễn
để đưa ra hững khuyến nghị nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực chính trị tại tỉnh Nam Định nói riêng và ở Việt Nam nói chung
7 Cơ cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khuyến nghị, nội dung của Luận án bao gồm 5 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 3 Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Nam Định
Chương 4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ
nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Nam Định
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở nước ngoài
1.1.1 Nghiên cứu về thực trạng sự tham gia chính trị của phụ nữ
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ tham gia chính trị ở các nước hiện nay còn rất thấp, với xu hướng này rất nhiều nước khó đạt được mục tiêu trước năm 2025, nghị viện các nước sẽ đạt tỷ lệ 30% phụ nữ
mà Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 đã đặt ra
1.1.2 Chính sách của các Chính phủ trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ
Các Đảng phái và Chính phủ các nước đã áp dụng một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ, như: Đặt ra các hạn ngạch giới; Tuyên truyền vận động lãnh đạo các đảng phái chính trị
để tăng cường nhận thức về sự cần thiết của một khối biểu quyết cụ thể; Tăng cường tiếp cận của phụ nữ với các phương tiện truyền thông như một công cụ để tập hợp ý kiến công chúng, trao quyền cho phụ nữ thông qua giáo dục, đào tạo và khả năng tiếp cận thông tin là các biện pháp đã được áp dụng; Thành lập mạng lưới các nữ chính trị; Tăng cường sự tiếp xúc liên tục với các lãnh đạo nữ làm giảm thành kiến của cử tri đối với họ; Hỗ trợ tích cực của các tổ chức phụ nữ cho ứng cử viên nữ; Áp lực của các phong trào phụ nữ quốc tế và các tổ chức quốc tế; Phụ nữ sử dụng chiến lược các cửa sổ đối với cơ hội chính trị; Xây dựng khuôn khổ luật pháp, xây dựng lại các cơ quan luật pháp, tạo cơ hội chính trị cho phụ nữ; Thiết lập diễn đàn về vận động và thảo luận chính sách cho phụ nữ; Sự cân bằng giới trong các hoạt động của đảng; Tạo ra động lực cho các đảng chính trị để thúc đẩy phụ nữ; Thực hiện các chiến lược vận động của phong trào phụ nữ; Hành chính địa phương đảm bảo nguyên tắc “từ, với và vì phụ nữ”; Thúc đẩy hoạt động của các tổ chức của phụ
nữ và chính quyền địa phương…
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia chính trị của phụ nữ
Một số rào cản đối với sự tham gia chính trị của phụ nữ ở các nước trên thế giới đã được các nghiên cứu chỉ ra bao gồm: Các định kiến về khuôn mẫu giới; Khuôn mẫu “nghĩ đến quản lý, nghĩ đến nam
Trang 11giới” dường như còn khá phổ biến; Bối cảnh văn hóa gia trưởng; Nhận thức về BĐG và công lý vẫn còn thấp; Công tác truyền thông trong đánh thức nhận thức của công chúng về sự quan trọng của đại diện phụ
nữ trong chính trị còn thiếu hiệu quả; Nạn nghèo đói và trình độ giáo dục thấp của phụ nữ; Sự thiếu ủng hộ của gia đình và người chồng; Ảnh hưởng tiêu cực đáng kể của nhà thờ, bởi vì nó có xu hướng gạt người phụ nữ ra khỏi đời sống chính trị và chống lại nghị trình nữ quyền; Các ghế trong cơ quan lập pháp của các đảng phái thường được chia cho các ứng viên nam; Phụ nữ có xu hướng bị đặt ra ngoài lề các
vị trí quan trọng, cả trong đảng của họ và trong chính quyền địa phương hay quốc gia; Các cơ chế cho sự tham gia công cộng hoặc xã hội thường được thiết kế nhằm giới hạn khả năng của phụ nữ tham gia một cách hiệu quả; Phụ nữ ít tiếp cận với các nguồn lực kinh tế cần thiết để chi trả các chi phí cho các chiến dịch bầu cử
Một vài tác giả chỉ ra rằng, trong thời đại thế giới phẳng như hiện nay, việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự tham gia của phụ
nữ vào chính trị và phát triển cần được nhìn nhận ra ngoài phạm vi một quốc gia; nó cần được kết nối với các nhân tố toàn cầu Một nhân tố quan trọng khác trong tạo môi trường thuận lợi cho phụ nữ có liên quan đến bản chất của dân chủ và mức độ dân chủ trong xã hội Ý thức của phụ nữ trong quyền tham gia vào chính trị cũng là một yếu tố quan trọng cho cá nhân phụ nữ nói riêng và tập thể nói chung
1.1.4 Vai trò, đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
Việc hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào việc đưa ra quyết định cũng phần nào hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị theo hướng bất BĐG Việc đặt chỉ tiêu một ghế trong hội đồng tác động đến loại hình sản phẩm công được cung cấp Tăng quyền năng chính trị cho phụ nữ có thể đem lại những lợi ích quan trọng cho trẻ em
1.2 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ
1.2.1.1 Nghiên cứu về thực trạng tỷ lệ nữ tham gia hoạt động chính trị
Khi nghiên cứu về thực sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị các cấp, hầu hết các nghiên cứu đều quan tâm đến việc mô
tả thống kê về tỷ lệ, số lượng CB nữ trong các lĩnh vực, ngành nghề,
Trang 12địa bàn khảo sát Việc mô tả các số liệu thống kê trong các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học đã giúp cho độc giả có được cái nhìn đầy đủ hơn về thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ Các tác giả đã rất thống nhất với nhau khi chỉ ra rằng: tỷ lệ nữ tham gia cấp
Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp rất thấp, chưa tương xứng tới tiềm năng của lực lượng lao động nữ và chưa đảm bảo chỉ tiêu đặt ra trong các văn bản của Đảng và Nhà nước Trong những nhiệm kỳ gần đây,
tỷ lệ nữ đại biểu QH đang có xu hướng giảm, cho thấy tính không ổn định của tỷ lệ nữ đại biểu QH và đi ngược lại so với xu hướng chung của thế giới Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp tăng dần, nhưng mức tăng chậm trong những nhiệm kỳ gần đây Hầu hết các tỉnh đều có hiện tượng cơ cấu nữ “hình phễu”: tỷ lệ nữ giảm dần từ cấp tỉnh tới cấp huyện và thấp nhất là cấp xã Tỷ lệ nữ tham gia HĐND, tham gia cấp ủy Đảng có sự khác biệt theo vùng miền, địa phương
1.2.1.2 Nghiên cứu về phẩm chất, đặc điểm chung của phụ nữ tham gia chính trị
Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả: đội ngũ CB nữ của nước ta có năng lực, có những thế mạnh riêng, có khả năng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao Đội ngũ CB nữ đã và đang có sự biến đổi
về chất, số lượng và chất lượng CB nữ không ngừng phát triển, có đóng góp nhất định trong công tác lãnh đạo, quản lý đất nước
Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến những thế mạnh thuộc về phẩm chất cá nhân của phụ nữ như phẩm chất đạo đức tốt, lối sống giản dị, có tinh thần trách nhiệm cao, cần cù, chịu khó, không nề hà vất vả, nghiêm túc, chịu khó nghiên cứu, không la cà, nhậu nhẹt, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn, biết lắng nghe, ứng xử hòa nhã, dân chủ trong lãnh đạo, quản lý, có khả năng thuyết phục, tác phong sâu sát, liêm khiết, tiết kiệm, ít tham nhũng, tạo được niềm tin với xã hội CB nữ hiện nay ngày càng có đầy đủ năng lực, có khả năng sáng tạo, hiện đang có mặt trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội: trong hệ thống dân cử, trong các cấp ủy Đảng, trong hệ thống chính quyền, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và phụ nữ đã có đại diện ở vị trí lãnh đạo trong nhiều ngành, nhiều cấp
Trang 131.2.1.3 Nghiên cứu về vị trí, chức danh của phụ nữ trong hệ thống chính trị
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, không chỉ có tỷ lệ tham gia thấp mà phụ nữ cũng rất ít giữ các vị trí, chức danh chủ chốt trong cấp ủy, các ban Đảng, QH, HĐND và cơ quan quản lý nhà nước các cấp và thường ở vị trí cấp phó
1.2.1.4 Nghiên cứu về vai trò và đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
Một số tác giả còn quan tâm nghiên cứu về vai trò và những đóng góp thực tế của phụ nữ khi tham gia các cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp, tuy nhiên những kết luận, nhận định của các tác giả dường như chưa có được sự thống nhất Một số tác giả cho rằng đại biểu nữ tích cực tham gia thảo luận, xem xét các vấn đề thuộc chương trình các kỳ họp Quốc hội; tiếng nói ý kiến, quan điểm của
họ đang ngày càng trở nên quan trọng Việc tăng cường sự hiện diện của phụ nữ trong các cơ quan dân cử sẽ góp phần cải thiện chất lượng quản trị nhà nước Tuy nhiên, có tác giả lại cho rằng trong nhiều cơ quan như QH vai trò tư vấn và ra quyết định của nữ CB còn nhiều hạn chế và yếu kém
1.2.2 Nghiên cứu về những nhân tố tác động đến sự tham gia hoạt động chính trị của phụ nữ
Các nghiên cứu đã chỉ ra năm nhóm nhân tố chính có tác động đến tỷ
lệ nữ tham gia chính trị ở nước ta bao gồm: (1) Các nhân tố liên quan đến
cơ chế, chính sách của Đảng và nhà nước; (2) Các nhân tố liên quan đến việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác CB của các cấp, các ngành; (3) Các nhân tố liên quan đến nhận thức giới, nhận thức về vai trò của phụ nữ của CB lãnh đạo các cấp và của toàn xã hội; (4) Các nhân tố liên quan đến gia đình của CB nữ và (5) Các nhân tố từ bản thân người phụ nữ
1.2.3 Giải pháp nhằm tăng tỷ lệ nữ tham gia chính trị
Rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng tỷ lệ và nâng cao vai trò và địa vị phụ nữ trong hệ thống chính trị nói chung Qua quá trình tổng quan tài liệu của các tác giả, có thể tạm thời chia các giải pháp đã được các tác giả đề xuất thành bốn nhóm như sau: (i) các giải pháp liên quan đến hoàn thiện thể chế; (ii) các giải pháp liên quan đến tổ chức, triển khai thực