Trong bài viết “Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra biểu hiện của tích hợp là “Trong cuốn sách cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn cùng dựa trên một văn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
TRẦN KIỀU LINH
DẠY HỌC BÀI “TÓM TẮT VĂN BẢN
THUYẾT MINH” (NGỮ VĂN 10) THEO
QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
TRẦN KIỀU LINH
DẠY HỌC BÀI “TÓM TẮT VĂN BẢN
THUYẾT MINH” (NGỮ VĂN 10) THEO
QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất với TS.Phạm Kiều Anh, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình em nghiên cứu thực hiện đề tài Em cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn – Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến, tiếp tục xây dựng đề tài để đề tài em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trần Kiều Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Dạy học bài“Tóm tắt văn bản thuyết
minh”(Ngữ văn 10) theo quan đi ểm tích hợp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn
của TS.P hạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan khóa luận này là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa t ừng công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trần Kiều Linh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp 7
1.1.1 Quan niệm về tích hợp 7
1.1.2 Các hình thức của dạy học tích hợp 9
1.1.3 Ý nghĩa dạy học tích hợp 10
1.1.3.1 Phát huy tính tích cực của người học 10
1.1.3.2 Nội dung bài học và kĩ năng thực hiện theo hệ thống 11
1.1.3.3 Tiết kiệm thời gian, hình thành đa dạng các kĩ năng 12
1.2.Văn bản thuyết minh và tóm tắt văn bản thuyết minh 14
1.2.1.Giới thiệu chung về “văn bản thuyết minh” 14
1.2.1.1.Khái niệm “văn bản thuyết minh” 14
1.2.1.2.Đặc điểm cơ bản của văn bản thuyết minh 14
1.2.2.Cách thức tóm tắt một văn bản thuyết minh 15
1.2.3 Những yêu cầu chung để tóm tắt văn bản thuyết minh 16
1.3 Cơ sở thực tiễn dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan điểm tích hợp ở THPT 16
1.3.1 Thực trạng dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” 16
Trang 71.3.1.1 Thuận lợi 16
1.3.1.2 Khó khăn 17
1.3.2 Thực trạng học 18
1.3.3 Nhận xét chung 18
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP DẠY HỌC BÀI “TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH” (SGK NGỮ VĂN 10) 19
2.1 Mục tiêu dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” 19
2.1.1 Về kiến thức 19
2.1.2 Về kĩ năng 19
2.1.3 Về thái độ 19
2.1.4 Về năng lực cần hình thành cho HS 19
2.2 Nội dung dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” trong SGK Ngữ văn 10 20
2.2.1.Mục đích, yêu cầu của tóm tắt văn bản thuyết minh 20
2.2.2 Cách tóm tắt một văn bản thuyết minh 20
2.2.3 Luyện tập 21
2.3 Cách thức dạy học “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan điểm tích hợp 21
2.3.1 Tích hợp qua hoạt động tạo tâm thế 21
2.3.2 Tích hợp khi hướng dẫn HS xác định mục đích, yêu cầu khi tóm tắt một văn bản thuyết minh 22
2.3.2.1 Tích hợp để kiểm tra kiến thức văn bản thuyết minh 22
2.3.2.2 Tích hợp khi kiểm tra kĩ năng tóm tắt văn bản đã học 22
2.3.3 Tích hợp khi hướng dẫn HS cách tóm tắt văn bản thuyết minh 24
2.3.3.1 Tích hợp đối với đọc hiểu văn bản thuyết minh 24
2.3.3.2 Tích hợp trong hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài 26
2.3.4 Tích hợp trong nội dung tiểu kết từng phần hay tổng kết sau giờ học 26 2.4 Xác định một số phương pháp sử dụng khi dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan điểm tích hợp 28
Trang 82.4.1 Phương pháp vấn đáp 28
2.4.2 Phương pháp thảo luận nhóm 29
2.4.3 Phương pháp dự án 30
2.4.4 Phương pháp giao tiếp 31
2.5 Định hướng dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan điểm tích hợp 32
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 35
3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 35
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 35
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 35
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 35
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 35
3.4 Nội dung thực nghiệm 36
3.5 Cách thức tiến hành thực nghiệm 45
3.6 Kết quả thực nghiệm 45
KẾT LUẬN 47 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đại trong giáo dục hiện nay Nó
ra đời trước một thực tế về sự mâu thuẫn giữa kiến thức khoa học và thời gian học tập Tháng 9 –1968, Hội đồng liên quốc gia vềgiảng dạy khoa học, với sự bảo trợ
của UNESCO đã tổ chức tại Varna (Bungari) “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các
khoa học” Hội nghị này đặtra hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “dạy học tíchhợp các khoa học là gì?” Đến năm 1972, Hội nghị phối hợp
với chươngtrình giáo dục của UNESCO họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học
tíchhợp các khoa học.Cũng từ đó, tích hợp trở thành xu thế giáo dục toàn cầu Nó
vẫn tiếp tục phát huy tính ưu việt trong dạy học Dạy và học trong nhà trường đang đứng trước thách thức đổi mới từ mục tiêu, nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học (PPDH) ở mọi cấp học.Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam về chương trình giáo dục phổ thông 20 nước cho thấy 100% các nước đều xây dựng chương trình theo hướng tích hợp.Tiêu biểu như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Úc, Pháp, Anh, Hoa Kì, Canada, Philippines…
Cũng theo hướng tích hợp các khoa học với công nghệ, gắn học với hành, Xavier Roegiers (Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đào tạo của
Liên minh Châu Âu) cho rằng: “giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy
kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực (compétence)
là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration)”
Theo đó, ở Việt Nam việc chỉ đạo xây dựng chương trình cũng nhấn mạnh:“Thay
cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường.” (Công
văn số: 5555/BGDĐT-GDTrH, Hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH
và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm GDTX qua mạng).Có thể nói, quan điểm tích hợp trong giáo
Trang 10dục đã và đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước chú trọng, ngày càng phát triển
một cách toàn diện
1.2 Dạy học tích hợp trên thế giới đã có từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam mới xuất hiện từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây Đặc biệt, đến năm 2000, quan điểm tích hợp trở thành quan điểm chỉ đạoviệc biên soạn chương trình, SGK và các hoạt động dạy học ở bậc phổ thông Việc chuyển đổi SGK ở trường phổ thông theo hướng tíchhợp là một yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội, bắt nhịp với xu thế giáo dục toàn cầu.Không là ngoài lệ, Ngữ văn là môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục từ THCS đến THPT Việc xây dựng và biên soạn nội dung chương trình cũng được thực hiện theo quan điểm đó
1.3 Làm văn nói chung và bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” nói riêng tiềm
ẩn nhiều yếu tố có thể tích hợp Phần Làm văn ở cấp THPT có khá nhiều nội dung
tích hợp liên quan đến tóm tắt văn bản thuyết minh như: Tính chuẩn xác, hấp dẫn
của văn bản thuyết minh; Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh; Viết một số bài văn thuyết minh;… Điều đó thể hiện rõ quan điểm tích hợp trong chương trình SGK mà
Bộ đưa ra Những yếu tố đó không chỉ quan trọng giúp người học có thể tạo lập văn bản mà còn tiếp nhận văn bản một cách chính xác, đa dạng; không chỉ tích hợp trong Làm văn mà còn có thể tích hợp cả sang Đọc – hiểu và Tiếng Việt
Xuất phát từ tất cả vấn đề lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:
Dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” (Ngữ văn 10)theo quan điểm tích hợp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhà nghiên cứu Xavier Roegiers trong cuốn “Khoa sư phạm tích hợp hay làm
thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường”(Đào Trọng Quang và Nguyễn
Ngọc Nhị dịch (1996)) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về dạy học tích hợp Trong cuốn sách này tác gi ả đã đưa ra định nghĩa và mục tiêu của khoa sư phạm tích hợp; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với việc đánh giá những kiến thức HS đã lĩnh hội và ảnh hưởng
của khoa sư phạm tích hợp đối với việc biên soạn sách giáo khoa
Trang 11Ở Việt Nam, cho đến nay cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề
tích hợpvà tích hợp trong môn Ngữ văn.Tác giả Trương Dĩnh trong cuốn “Thiết kế
dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp”đã nêu lên những phương diện tích
hợp trong dạy học Ngữ văn THCS; năng l ực tích hợp, kiểu văn bản tích hợp, PP (phương pháp) tích hợp; mối quan hệ giữa tích hợp và tích cực; tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp; tích hợp gắn liền với đời sống xã hội và cách triển khai các bài dạy cụ thể trong chương trình THCS theo định hướng tích hợp,
Cũng bàn về vấn đề tích hợp,GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài “Tích hợp
trong dạy học Ngữ văn” đăng trên tạp chí “Nghiên cứu giáo dục” (số 6, tháng 3 năm 2006) đã chỉ ra bản chất của tích hợp là “Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, TiếngViệt, Làm văn trong một môn Ngữ văn” Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra ý
nghĩa của tích hợp “Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp HS học tập thông minh, biết
vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie), hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại” [5, tr.15]
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống đã đưa ra một hệ thống quan điểm về tích hợp và việc
dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp, giúp người đọc hiểu rõ “Việc lấy tên chung
của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại (Combination) mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp (Integration)” Trong bài viết “Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra biểu hiện của tích hợp là “Trong cuốn sách cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kỹ năng của mỗi phân môn” Từ đó, tác giả chỉ ra
ưu điểm của nguyên tắc dạy họctích hợp “Tích hợp thể hiện trong việc xây dựng
cấu trúc SGK, trong quátrình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách kiểm tra đánh giáchất lượng học tập của HS” [tr.23]
TS Nguyễn Văn Đường trong bài“Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc
THCS”(Tạp chí Giáo dục, 2002) cũng cung cấp đến một số cơ sở lý luận và thực
Trang 12tiễn, bản chất của tích hợp và đề ra những phương hướng thực hiện tích hợp trong dạy học Ngữ văn, song mới chỉ dừng lại ở phạm vi ứng dụng cho THCS Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau song vẫn chưa có công trình nào bàn về việc
dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”(Ngữ văn 10) theo quan điểm tích hợp
Đó là lí do chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài trên nhằm một số mục đích như sau:
- Xác lập những yêu cầu cần thiết khi tổ chức dạy học một bài Làm văn theo quan điểm tích hợp và những nội dung kiến thức có thể tích hợp khi dạy Làm văn
- Xác định được những nội dung có thể tích hợp khi tìm hiểu yêu c ầu, mục đích
và cách thức tóm tắt văn bản thuyết minh
- Thiết kế bài dạy “Tóm tắt văn bản thuyết minh” (Ngữ văn 10)theo quan điểm
tích hợp Từ đó tìm ra những kiến thức tóm tắt văn bản thuyết minh để hoạt động dạy học đạt hiệu quả
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi hướng tới các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổng hợp các tài liệu nghiên c ứu nhằm xây dựng cơ sở lí luận khi giải quyết đề tài
- Xác định những yêu cầu cơ bản, những nội dung kiến thức và cách thức tích
hợp trong dạy học Làm văn qua bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”
- Đề xuất cách tổ chức dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”theo quan
điểm tích hợp
- Thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của những đề xuất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm tích hợp trong giáo dục và trong dạy học Ngữ văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 13Trong phạm vi khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi chỉ đi vào xem xét và
vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”
trong SGK Ngữ văn 10, tập 2
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống hóa tài liệu
PP được sử dụng nhằm hệ thống hóa các kiến thức lý luận về tích hợp, về văn
bản thuyết minh và tóm t ắt văn thuyết minh
5.2 Phương pháp khảo sát thực nghiệm
Chúng tôi khảo sát thực tế dạy làm văn bằng cách phát phiếu khảo sát thăm dò ý kiến của GV và HS, thống kê những số liệu và thông tin cần thiết về tình hình dạy
làm văn nói chung và dạy bài“Tóm tắt văn bản thuyết minh” nói riêng
5.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
PP này sẽ được vận dụng để so sánh các ngữ liệu trong quá trình đối chiếu giữa việc dạy làm văn theo phương pháp truyền thống với dạy học theo quan điểm tích hợp để thấy ưu, nhược của các PP Trong thực nghiệm, chúng tôi cũng so sánh kết quả thu được ở lớp thực nghiệm với lớp đối chứng để đánh giá tính khả thi của giáo
án thiết kế theo hướng tích hợp
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học Làm văn
nói chung và dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” nói riêng để quá trình dạy
học Làm văn đạt hiệu quả nhất định
7 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận có kết cấu gồm ba phần:
Mở đầu: Phần này trình bày những vấn đề khái quát về đề tài nghiên cứu, lí do
chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên c ứu,…
Nội dung: đây là trọng tâm của khóa luận Phần này được triển khai thành ba chương
là:
Chương 1: Những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của dạy học tích hợp
Trang 14Chương 2: Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài “Tóm tắt văn bản
thuyết minh” trong SGK Ngữ văn lớp 10, tập 2
Chương 3: Thực nghiệm
Kết luận
Trong phần kết luận chúng tôi tình bày những đóng góp c ủa khóa luận về mặt lí luận, thực tiễn và nêu những hướng triển khai tiếp của đề tài
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp
Đổi mới PPDH đã và đang là vấn đề bức thiết của giáo dục hiện nay Tại Đại hội
XII, Đảng chủ trương “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đảng đưa ra nhiệm vụ:
“Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, chú trọng đến mục tiêu
phát triển các phẩm chất của học sinh; không chỉ đòi hỏi học sinh nắm vững những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống” Chủ trương
này đã thể hiện sự chỉ đạo của Đảng phải sử dụngquan điểm tích hợp vào hoạt động
dạy học Theo GS Đinh Quang Báo: “Khi xây dựng chương trình giáo dục phổ
thông, xu hướng chung của các nước trên thế giới hiện nay là tăng cường tích hợp, đặc biệt ở cấp tiểu học và THCS”.Trong cuốn Chương trình giáo dục phổ thông
tổng thể, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên
tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”;“Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trongchương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của
GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [1, tr.7].Với quan điểm chỉ đạo như trên, tích hợp là một trong những quan
điểm giáo dục được áp dụng vào hoạt động dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học của giáo dục phổ thông
1.1.1 Quan niệm về tích hợp
Tích hợp là một trong những quan điểm đã và đang được vận dụng khi xây dựng chương trình, SGK, SGV và dạy học hiện nay tại giáo dục nước ta Nhắc đến quan điểm tích hợp thì không ít nhà nghiên cứu đã đưa ra các cách hiểu khác nhau
Trang 16Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp các
hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau c ủa một hệ thống để bảo đảm sự
hài hòa chức năng và mục tiêu ho ạt động của hệ thống ấy.Còn theoTừ điển Tiếng
Việt thì“Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [5, tr.92]
Từ điển Giáo dục học lại xác định: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác
nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [3, tr.233]
Như vậy, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở
những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần
của bộ môn đó Theo đó, năm 2002, Bộ GD&ĐT khẳng định: “sự phối hợp các tri
thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.” (1, tr 27) Nhấn mạnh hơn tác dụng của quan điểm này, GS Nguyễn
Khắc Phi (Tổng Chủ biên) nêu ra quan niệm về tích hợp như sau: “Tích hợp là một
phương pháp hướng tới phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau” [10, tr.47]
Các khái niệm, quan điểm trên đều nêu rõ mục đích tích hợp dạy học tích
hợp là hình thành và phát triển năng lực của người học Đồng thời cũng xác định
rõ, các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức ho ặc các thành tố của quá trình dạy học
Quan điểm dạy học tích hợp kiến thức đã được nhiều nhà giáo dục ở nước ta nghiên cứu và nhận thấy ý nghĩa thiết thực của nó trong xã hội học tập hiện nay Trước xu hướng toàn cầu hóa, sự điều chỉnh cách dạy và học không đơn thuần là bổ
Trang 17sung thêm kiến thức mà chủ yếu phải trang bị cho HS những kiến thức cơ bản, kĩ năng và năng lực tư duy sáng tạo để biết vận dụng những điều học được vào hoàn cảnh thiết thực của cuộc sống Bên cạnh đó, kiến thức các cấp không phải là mảng kiến thức rời rạc mà nó có sự liên kết và ngày càng mở rộng Chính vì vậy, khóa luận này, chúng tôi chọn và sử dụng quan niệm về tích hợp của GS Nguyễn Khắc Phi là cơ sở triển khai nội dung nghiên cứu.Quan niệm này giúp chúng tôi có sự định hướng về việc lựa chọn và thiết kế cho quan niệm dạy học hiện đại để từ đó liên kết nhiều chuỗi kiến thức trong một khoảng thời gian ngắn mà vẫn đ ảm bảo mục đích và yêu c ầu giáo dục khi dạy học một nội dung cụ thể
1.1.2 Các hình thức của dạy học tích hợp
Môn Ngữ văn có nhiều điều kiện thuận lợi để vận dụng quan điểm tích hợp Muốn vận dụng quan điểm đó, người GV có thể vận dụng linh hoạt một số hình thức tích hợp sau:
Thứ nhất là tích hợp ngang: đây là tích hợp trong từng thời điểm của bài học, từ
kiến thức bài học của phân môn này liên hệ đến các phân môn khác hoặc liên hệ môn Ngữ văn với các môn học khác, với các lĩnh vực trong cuộc sống để làm nổi bật, đào sâu kiến thức, phát triển tư duy c ủa HS.Đối với môn Ngữ văn, tích hợp ngang là tích hợp giữa Đọc văn, tiếng Việt và Làm văn trong một bài học để giải quyết nhiệm vụ học tập Đơn thuần chúng ta có thể hiểu, lấy tri thức tiếng Việt và Làm văn để đọc hiểu một tác phẩm văn học; và ngược lại khi tìm hiểu tri thức tiếng Việt và Làm văn, GV có thể lấy ngữ liệu là một tác phẩm văn học để triển khai nội
dung bài học.Chẳng hạn: Khi dạy bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”(Ngữ văn
10, tập 2), để tìm hiểu thế nào là ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật, người dạy có thể lấy các ngữ liệu từ tác phẩm tự sự; thơ; sân khấu…phù hợp với nội dung kiến thức triển khai Để lấy ngữ liệu phân tích đặc
trưng thứ nhất của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là tính hình tượng, GV có thể trích bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương để tìm hiểu
Thứ hai là tích hợp dọc: Là tích hợp một đơn vị kiến thức, kĩ năng mới với
những kiến thức, kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Cụ thể là: Kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, cấp học
Trang 18dưới.Chẳng hạn: Để tiến hành tiết học “Thực hành về sử dụng một số kiểu câu
trong văn bản” (Ngữ văn 11, tập 1), GV phải tích hợp với kiến thức các kiểu câu
HS đã từng được học ở bậc Tiểu học và THCS như câu đơn, câu ghép, câu c ảm thán, câu trần thuật,…giúp hình thành văn bản Trên cơ sở đó, lên lớp 11, các em được mở rộng học và vận dụng một số kiểu câu mới trong bài này để tạo lập văn bản đó là: câu bị động, câu có khởi ngữ, câu có trạng ngữ chỉ tình huống.Điểm khác biệt của tích hợp dọc so với tích hợp ngang là ở chỗ tích hợp dọc thường mang tính chất “hướng nội” nội dung kiến thức về nhiều lĩnh vực khác nhằm bổ sung và nâng cao, mở rộng
Tiếp theo đó là tích hợp mở rộng:Hiểu một cách khái quát, tích hợp mở rộng là
tích hợp liên kết giữa môn Ngữ văn với các môn học khác (Lịch sử, Âm nhạc, Địa
lí, Mĩ thuật, ) trong dạy học nhằm nâng cao hiệu qua giờ dạy và sự tiếp nhận tri
thức của HS.Muốn tiếp nhận đoạn trích tùy bút “Người lái đò sông Đà”của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 12, tập 1), GV và HS cần huy động kiến thức ở nhiều lĩnh vực để
tìm hiểu thấu đáo đoạn trích này Ở đó, bạn đọc cần tập trung các mảng lĩnh vực như: Cách Nguyễn Tuân xây dựng miêu tả cảnh đá bờ sông và trên sông, hình ảnh
về sự hiểm nguy trong cảnh hút nước, cảnh thác nước dữ dội hay hình dáng của con sông Đà, đều là bước ông trải nghiệm trên phương diện Hội họa; Thấu hiểu sự ngạo ngược của các trùng vi thạch trận trên sông mà người lái đò phải vượt qua, đó
là ông đang tiếp cận trên phương diện Quân sự; Ở góc độ Địa lí, Nguyễn Tuân đã xác định được vị trí nằm và dòng chảy của con sông; Đặc biệt trên lĩnh vực nghệ thuật, tác giả đã phát huy cao độ tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc miêu tả nét trữ tình, thơ mộng và vẻ đẹp của người lái đò; Nghiên cứu đoạn trích trên từ nhiều
góc độ khác nhau giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc, toàn diện và phong phú về “bức
tranh cảnh vật và con người”
1.1.3.Ý nghĩa dạy học tích hợp
1.1.3.1 Phát huy tính tích cực của người học
Phát huy tính tích cực của HS tức hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực
Trang 19của người học HS phải là người thực hiện các nhiệm vụ học tập dựa trên sự định hướng tổ chức của GV thông qua các PPDH hiện đại Để làm được điều đó, GV cần bắt đầu từ những kiến thức, kĩ năng mà HS đã học, đã biết, giao thành các nhiệm vụ học tập rồi dẫn dắt chủ thể học tập khám phá, tìm tòi để mở ra những kiến thức, kĩ năng mới Quá trình đó thể hiện bản chất của tích hợp Chẳng hạn, khi hướng dẫn
HS tìm hiểu bài “Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh”(Ngữ văn 10, tập 2), ở mục I (Đoạn văn thuyết minh): GV chỉ cầnhướng dẫn HS c ủng cố lại những kiến thức đã
học về đoạn văn thuyết minh, đặc điểm của đoạn văn thuyết minh, đồng thời, GV còn có thể mở rộng ra việc ứng dụng của văn bản thuyết minh trong cuộc sống của con người hiện nay.Như vậy, dạy học tích hợp sẽ tạo động lực để HS tích cực học tập, các em có thể phát huy trí thông minh, khả năngvận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng một cách toàn diện, hài hoà và hợp lí để giải quyết các tình huống mới mẻ, đa dạng trong cuộc sống hiện đ ại
1.1.3.2 Nội dung bài học và kĩ năng thực hiện theo hệ thống
Vốn dĩ các đơn vị kiến thức môn Ngữ văn luôn có mối quan hệ khăng khít,
có thể hỗ trợ nhau trong quá trình dạy học Điều này tương đối thuận lợi khiến GV
và HS có điều kiện giảng dạy và học tập theo hướng tích hợp Cụ thể, để đọc hiểu một văn bản, chúng ta có thể sử dụng ngôn ngữ thuộc lĩnh vực tiếng Việt để giải mã tác phẩm và vận dụng kĩ năng viết làm văn để tạo lập văn bản Đồng thời, những kiến thức phần Văn sẽ là nguồn tư liệu phong phú trong quá trình dạy học tiếng Việt cũng như Làm văn Chính vì đó hệ thống nội dung kiến thức bài học và các kĩ năng được sắp xếp bài bản, hợp lí và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Sự xuất hiện các bài văn học sử và lí luận văn học là một sự “tính toán” mới của quan điểm tích hợp Những nội dung kiến thức về văn học sử và lí luận văn học chính là kiến thức bổ trợ cho việc đọc – hiểu văn bản và Làm văn.Như vậy, sự sắp xếp bài học trong SGK Ngữ văn hiện hành không chỉ đơn thuần là sắp xếp nội dung học tập mà ẩn sau đó làmột bài toán được xác lập khi triển khai biên soạn chương trình theo quan điểm chỉ đạo
Trang 201.1.3.3.Tiết kiệm thời gian, hình thành đa dạng các kĩ năng
Dạy học dựa trên quan điểm tích hợp tất yếu khiến chúng ta tiết kiệm được thời gian Bởi những kiến thức bị trùng lặp giữa ba phân môn nhỏ của môn Ngữ văn
đã được lồng ghép vào nhau Điều này vừa thể hiện rõ tính khoa học, vừa phát huy được năng lực của HS GV không phải giảng nhiều, giảng lại những kiến thức đã dạy mà thay vào đó, HS phải là người ghi nhớ những kiến thức đã học để vận dụng linh ho ạt vào những bài học khác Điều đó dẫn đến một kết quả mới của quá trình dạy học tích cực hiện nay – đó là HS được hình thành hàng loạt các kĩ năng như: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin,…Vì vậy, khi tiếp cận một tình huống mới tương tự trong cuộc sống, các em có cơ hội đạt thành công cao trong cách xử lí tình huống, giải quyết vấn đề
Nó hoàn toàn phù hợp với xu hướng giáo dục thời đại hiện nay – lấy người học làm trung tâm, GV chỉ là người định hướng cho các bước đi của bài học; ở đó GV là người giao việc, tổ chức còn người học luôn phải làm việc, suy nghĩ tích cực và sáng tạo
Trang 21BIỂU ĐỒ VỀ MỨC ĐỘ TIẾP THU (Bảng đánh giá năng l ực của EDGARDALE)
Khả năng ghi nhớ sau hai tuần Bản chất của sự nhận thức Bị
hình thức học tập thụ động Ngược lại khi HS vừa tiếp cận dưới hình thức “học đi
đôi với hành”, sử dụng tích hợp tất cả các hoạt động trên một cách linh hoạtthì khả
năng tiếp thu chiếm tỉ lệ cao, hiệu quả Như vậy, tích hợp nhằm làm rõ cách người học vận dụng những kiến thức lĩnh hội được vào cuộc sống Nó cải thiện được những hạn chế của các PPDH truyền thống Qua đó giúp các em trở thành những con người chủ động, sáng tạo và làm việc trách nhiệm Nói cách khác, quá trình dạy
Đọc
Nghe
Xem phim, xem triển lãm, quan sát thực tế Xem tranh
Tham gia thảo luận
Làm một bài trình chiếu; Mô phỏng tình huống thực tế; Thực hiện sản phẩm có tính thực tiễn
Trang 22học tích hợp thực chất là quá trình HS chuyển hóa kiến thức một cách tự giác, sáng tạo thông qua sự tổ chức, hướng dẫn của GV
1.2.Văn bản thuyết minh và tóm tắt văn bản thuyết minh
1.2.1.Giới thiệu chung về “văn bản thuyết minh”
1.2.1.1.Khái niệm “văn bản thuyết minh”
Thuyết minh là kiểu văn bản được triển khai trong chương trình Ngữ văn từ
THCS đến THPT SGK Ngữ văn 8định nghĩa kiểu văn bản này như sau: “Văn
thuyết minh là kiểu văn bản thường gặp trong mọi lĩnh vực của đời sống; có chức năng cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,…của các hiện tượng,
sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu, giải thích.” [11,
tr.117]
1.2.1.2.Đặc điểm cơ bản của văn bản thuyết minh
Văn bản thuyết minh bao gồm các đặc điểm cơ bản sau đây:
Xét về mục đích biểu đ ạt, văn bản thuyết minh tập trung mục đích trình bày, giải thích nhằm cung cấp những thông tin, tri thức về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Về hình thức cấu trúc, một văn bản thuyết minh bao gồm ba phần: Phần mở bài (Giới thiệu đối tượng cần thuyết minh); Phần thân bài (giới thiệu, trình bày cung cấp những thông tin liên quan đến đối tượng); Phần kết bài (Khẳng định giá trị về đối tượng đó)
Xét về phương thức biểu đạt, văn bản thuyết minh sử dụng phương thức biểu đạt chính là thuyết minh Và để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục người đọc, khi tạo lập văn bản thuyết minh, người tạo lập có thể sử dụng một số yếu tố lập luận khác như biểu cảm, miêu tả, tự sự và cả nghị luận.Văn bản dưới đây là một trong những văn bản tiêu biểu cho thể loại văn thuyết minh:
KHỞI NGHĨA NÔNG VĂN VÂN
(1833 – 1835)
Trang 23Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức tri châu Bảo Lạc (Cao Bằng) Không chịu nổi sự chèn ép của triều đình nhà Nguyễn, Nông Văn Vân cùng một số tù trưởng tập hợp dân chúng nổi dậy […]
Cuộc khởi nghĩa lan khắp miền núi Việt Bắc và một số làng người Mường, người Việt ở trung du Nhà Nguyễn đã hai lần cử những đạo quân lớn kéo lên đàn
áp, nhưng không hiệu quả Lần thứ ba (năm 1835), quân triều đình tấn công dữ dội
từ nhiều phía và bao vây đót rừng Nông Văn Vân chết trong rừng Cuộc khởi nghĩa
bị dập tắt
(Theo Lịch sử 7, tr.30, NXB Giáo dục)
Văn bản trên đã trình bày, giới thiệu, thuyết trình nhằm cung cấp tri thức về mặt lịch sử - cụ thể đó là cuộc khởi nghĩa c ủaNông Văn Vân trong lịch sử dân tộc Đặc điểm đó khiến cho văn bản đảm bảo là một văn bản thuyết minh
1.2.2.Cách thức tóm tắt một văn bản thuyết minh
Tóm tắt văn bản thuyết minh là một kĩ năng quan trọng trong quá trình tiếp nhận văn bản Nó giúp con người có thể trình bày một cách ngắn gọn, khái quát các nội dung cơ bản của văn bản Để tiến hành tóm tắt văn bản thuyết minh, chúng ta cần thực hiện qua các bước sau:
Bước đầu tiên để tóm tắt văn bản thuyết minh ta cần xác định mục đích, yêu cầu tóm tắt Đối với văn bản thuyết minh, việc tóm tắt nhằm mục đích hiểu và ghi nhớ những nội dung cơ bản của văn bản thuyết minh Đồng thời giới thiệu với người khác về đối tượng thuyết minh hoặc về chính văn bản thuyết minh đó Ngắn gọn; rành mạch, rõ ràng; sát với nội dung văn bản gốc chính là ba yêu cầu cơ bản nhất để tóm tắt hoàn chỉnh một văn bản thuyết minh
Đọc văn bản gốc để nắm vững đối tượng thuyết minh chính là bước không thể thiếu Độc giả cần suy ngẫm, quan sát văn bản trên nghiên cứu về vấn đề gì? Vấn đề đó được triển khai ra sao?
Bước ba là xác định chủ đề, bố cục của văn bản gốcvà tóm lược các ý chính
Trang 24Viết văn bản tóm tắt chính là bước tiếp theo Sau hàng loạt giai đoạn chuẩn
bị, người viết đã có thể dễ dàng viết thành văn bản tóm tắt dựa vào việc xác định đối tượng thuyết minh và những ý đã vạch trước
Bước cuối cùng không thể thiếu đó là đọc lại và chỉnh sửa để hoàn thiện bài tóm tắt
Có thể có rất nhiều bước khác nhau để tóm tắt một văn bản thuyết minh nhưng tựu trung lại chúng ta cần trải qua năm bước cơ bản trên Có như vậy, ta mới hoàn thiện và đảm bảo yêu cầu của một bài tóm tắt văn bản thuyết minh
1.2.3.Những yêu cầu chung để tóm tắt văn bản thuyết minh
Yêu c ầu đầu tiên của tóm tắt văn bản thuyết minh chính là nắm vững nội dung văn bản để từ đó tóm tắt được sát với nội dung văn bản gốc.Bên cạnh đó, nắm và biết được những đặc trưng cơ bản của văn bản cũng là một trong những yêu cầu không thể thiếu để tóm tắt văn bản thuyết minh.Đặc biệt, để tóm tắt văn bản thuyết minh thì chúng ta cần đáp ứng yêu c ầu thứ ba đó là sắp xếp nội dung văn bản theo một trật tự tương ứng với văn bản gốc, nó phải được trình bày một cách rành mạch, ngắn gọn và rõ ràng
1.3 Cơ sở thực tiễn dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan điểm
tích hợp ở THP T
1.3.1 Thực trạng dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”
Để đánh giá thực trạng dạy của GV, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thông qua việc dự giờ và phát phiếu thăm dò ý kiến đối với 10 GV và 80 HS THPT (Bảng
1 – Phụ lục 1) Qua đó, chúng tôi đưa ra một số những thuận lợi và khó khăn dưới đây:
Trang 25người GV có thể phát huy khả năng tích hợp, móc nối các bài dạy với nhau Đối với
bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” cũng vậy, ở đó người GV có thể thay đổi bố trí
các tiết dạy sao cho phù hợp Đặc biệt tiết dạy này lại có tính kế thừa bởi các kiến thức ở tiết dạy trước Bài trước là kiến thức nền tảng, cơ bản; bài sau là sự mở rộng, nâng cao của kiến thức bài trước như: Bước sang chương trình học kỳ II, HS đã đến với một bài viết văn thuyết minh (bài viết số 4 – làm ở nhà); sau đó các em được
học “Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh”, “Phương pháp thuyết
minh”, “Viết bài làm văn số 5: Văn thuyết minh”, “Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh”, “Tóm tắt văn bản thuyết minh” Kết thúc phần văn thuyết minh, HS được
thực hành viết bằng “bài làm văn số 6: Thuyết minh văn học” Cách s ắp xếp bài
học, lựa chọn kiến thức như trên đã giúp GV, HS phát huy đúng tinh thần dạy học tích hợp
Thuận lợi trên kéo theo một thuận lợi mới trong dạy “Tóm tắt văn bản
thuyết minh” đó là thuận lợi về mặt thời gian Thời lượng dạy cho phần Làm văn
không quá khắt khe Bên cạnh đó, tại trường có có thêm những tiết tự chọn tăng cường vì vậy thời gian dạy phân môn này tương đối nhiều – đặc biệt, nhìn vào phân phối chương trình, thực hành làm văn chiếm đa số Thậm chí, ngay c ả những bài lí
thuyết, tỉ lệ lí thuyết cũng chiếm tương đối ít Xem xét ngay trong tiết dạy “Tóm tắt
văn bản thuyết minh”, bên cạnh một tiết theo phân phối chương trình, bài này còn
có thêm một tiết tự chọn bổ sung củng cố kiến thức và thực hành Đồng thời, đây là một trong số những bài thuộc phần lí thuyết Tuy nhiên nội dung lí thuyết chỉ chiếm phần nhỏ mà mục đích bài dạy trên là hướng tới việc HS biết cách tóm tắt văn bản thuyết minh Nói cách khác, HS phải biết vận dụng lí thuyết vào thực hành tóm tắt
1.3.1.2.Khó khăn
Vận dụng quan điểm tích hợp là xu hướng mới trong chương trình Ngữ văn hiện nay Thế nhưng không phải lúc nào phương pháp này cũng trở thành trợ thủ đắc lực tạo hiệu quả cho giờ học Vốn dĩ Làm văn là phần mà GV cũng như HS thường dạy và học qua loa Vì vậy GV chưa chú trọng nhiều vào việc thiết kế bài giảng tích hợp khiến bài dạy thiếu chiều sâu, không tạo được hứng thú bài học Mặt khác, môn Ngữ văn nói chung và Làm văn nói riêng không còn được HS quan tâm,
Trang 26yêu thích như trước đây Yếu tố tâm lí của phụ huynh và HS đã coi trọng các môn tự nhiên hơn là các môn xã hội Do đó, Ngữ văn đang mất dần chỗ đứng trong giáo dục, GV không còn nhiều tâm huyết với nghề.Ngoài ra, trong quá trình dạy học GV vận dụng chưa thực sự triệt để quan điểm tích hợp khiến cho tích hợp chỉ mang tính “hình thức”, gò ép
1.3.2.Thực trạng học
Đứng trước sự thay đổi chóng mặt của thời đại, HS hiện nay chỉ chuyên tâm
và thích thú vào những môn tự nhiên mà ít quan tâm đến môn xã hội HS không thích học văn vì vậy việc học kĩ năng Làm văn dẫn đến không hiệu quả cao
Khảo sát kết quả trong bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” tại trường THP T
Bắc Thăng Long (Bảng 2 – Phụ lục 1), chúng tôi nhận thấy rằng: HS chưa thực sự biết cách tóm tắt văn bản; bên cạnh đó nhiều em còn lung túng, không nhớ cách tóm tắt, không xác định được mục đích, yêu cầu tóm tắt văn bản;…
Ngoài ra, chúng tôi còn đánh giá kết quả học tập của HS qua một bài kiểm tra cụ thể (Bảng 3 – Phụ lục 1)
1.3.3.Nhận xét chung
Có thể nói, dạy học tích hợp trong bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” vừa
có những ưu điểm và những hạn chế nhất định Chúng ta cần phát huy những điều thuận lợi và khắc phục một số những khó khăn như: cần hiểu đúng hơn về quy trình thực hiện dạy học theo quan điểm tích hợp; GV c ần đầu tư hơn cho bài gi ảng Làm
văn nói chung và bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”nói riêng;…
Đổi mới PPDH là một trong những bước hoạt động tích cực trong đổi mới giáo dục hiện nay Mục đích của đổi mới là làm tăng cường hiệu quả giáo dục, nâng cao hiệu quả học tập của HS Tuy nhiên, việc đổi mới PPDH phải xuất phát từ thực
tế giáo dục, từ nhu cầu và đ ặc điểm nhận thức của người học Vận dụng quan điểm
tích hợp vào dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” một mặt vừa thể hiện xu thế
giáo dục thế giới, mặt khác thể hiện sự đổi mới cách thức dạy học để hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao
Trang 27Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP DẠY HỌC BÀI “TÓM
TẮT VĂN B ẢN THUYẾT MINH” (SG K NGỮ VĂN 10)
2.1 Mục tiêu dạy học bài “Tóm t ắt văn bản thuyết minh”
2.1.1.Về kiến thức
Dạy “Tóm tắt văn bản thuyết minh” trong Ngữ văn 10 hướng tới các mục
đích sau: Giúp HS củng cố lại những kiến thức cũ từng được học trong chương trình Ngữ văn 8 liên quan đến văn bản thuyết minh Đồng thời GVcó nhiều thời gian hướng dẫn các em xác định mục đích, yêu cầu và cách tóm tắt một văn bản thuyết minh Vấn đềtrọng tâm của bài học này là phải giúp HS biết cách tóm tắt văn bản thuyết minh, từ đó các em vận dụng vào thực tế cuộc sống
2.1.2.Về kĩ năng
Với bài học này c ần hình thành cho HS một số kĩ năng cơ bản sau:
Trước tiên đó là giúp HS biết cách thức tóm tắt một văn bản thuyết minh Thứ hai, người GV có thể hình thành cho HS một số kĩ năng khác như: thảo luận, hợp tác khi làm việc nhóm; kĩ năng thuyết trình; kĩ năng xử lí tình huống;…
hiện và phát huy những năng lực vốn có của HS Vì vậy, dạy “Tóm tắt văn bản
thuyết minh” cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ Với bài học này, GV cần
hình thành trong HS một số những năng lực sau đây:
Thứ nhất, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Đây là một trong những năng lực cơ bản cần được hình thành trong mỗi bài học HS phải biết cách giải quyết một mâu thuẫn, một sự kiên, hiện tượng khó khăn,…trong bài học cũng như
trong cuộc sống Đối với bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”, HS c ần giải quyết
Trang 28được những câu hỏi bài tập thực hành khi tóm tắt một văn bản thuyết minh nào đó.Trên cơ sở đó, HS có thể giải quyết một cách sáng tạo theo cách riêng của mình
mà vẫn đảm bảo yêu cầu
Thứ hai, năng lực hợp tác Với bài dạy trên, nó được thể hiện trong việc hợp tác giữa bài giảng của GV với việc học của HS, giữa HS với HS trong khi thảo luận nhóm
Thứ ba, năng lực tư duy và năng lực giao tiếp Bài học này sẽ giúp HS cần phát triển tư duy logic trong khi tóm tắt đồng thời phát triển khả năng “nghe – nói - đọc - viết” của các em
2.2.Nội dung dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”trong SG K Ngữ văn 10
Gắn với mục đích dạy học về văn bản thuyết minh và cách tóm tắt kiểu văn bản này trong cuộc sống hàng ngày, SGK Ngữ văn tập trung triển khai các nội dung cơ bản sau:
2.2.1.Mục đích, yêu cầu của tóm tắt văn bản thuyết minh
Để tóm tắt bất cứ một văn bản nào, nó đều có những mục đích cụ thể, rõ ràng.Với tóm tắt văn bản thuyết minh, mục đích đầu tiên của nó chính là hiểu và ghi nhớ những nội dung cơ bản của văn bản thuyết minh Ngoài ra, tóm tắt văn bản thuyết minh còn nhằm giới thiệu với người khác về đối tượng thuyết minh hoặc về chính văn bản thuyết minh đó.Bởi bản tóm tắt là những gì đã chắt lọc, hàm súc để người đọc, người nghe dễ hình dung nhất có thể
Bên cạnh mục đích, tóm tắt văn bản thuyết minh nói riêng cần có những yêu cầu cơ bản nhất định Xét về hình thức: tóm tắt văn bản thuyết minh cần ngắn gọn, hàm súc; ngôn ngữ rành mạch, rõ ràng Xét về nội dung: văn bản tóm tắt phải bám sát với nội dung của văn bản gốc
2.2.2.Cách tóm tắt một văn bản thuyết minh
Các bước tóm tắt là điều không thể thiếu khi chúng ta vận dụng vào thực hành tóm tắt Để xác định các bước tóm tắt văn bản thuyết minh, GV có thể cho HS
phân tích tìm hiểu ngữ liệu “Nhà sàn” (SGK – T69) dựa trên những gợi ý sau: Văn
bản đó thuyết minh đến đối tượng nào? Chủ đề chính của văn bản trên? Bố cục và ý
Trang 29chính của từng đoạn là gì? Với cấu trúc bài học qui nạp, chúng ta dễ dàng xác định
được cách tóm tắt văn bản thuyết Qua ví dụ trên, để tóm tắt một văn bản thuyết minh có năm bước dưới đây:
Bước một: Tóm tắt văn bản thuyết minh cần xác định mục đích, yêu cầu tóm tắt
Bước hai: Đọc văn bản gốc để nắm vững đối tượng thuyết minh chính là bước không thể thiếu
Bước ba: Xác định chủ đề, bố cục của văn bản gốc và tóm lược các ý chính Bước bốn: Viết văn bản tóm tắt chính là bước tiếp theo Sau giai đoạn chuẩn
bị, HS đã có thể dễ dàng viết thành văn bản tóm tắt dựa vào việc xác định đối tượng thuyết minh và những ý đã vạch trước
Bước năm: Bước cuối cùng không thể thiếu đó là đọc lại và chỉnh sửa để hoàn thiện bài tóm tắt
Có nhiều cách triển khai để tiến hành tóm tắt một văn bản thuyết minh nhưng tựu trung lại chúng ta c ần trải qua năm bước cơ bản trên thì mới đảm bảo yêu cầu của một bài tóm tắt văn bản thuyết minh
2.2.3.Luyện tập
Từ việc học một số những kiến thức lí thuyết trên, mục đích cuối cùng của giờ học đó là làm thế nào HS biết cách tóm tắt một văn bản thuyết minh Tỉ lệ thời gian dành cho phần thực hành c ủa tiết học này sẽ nhiều hơn là lý thuyết Để cụ thể hóa các vấn đề lí thuyết, HS được tham gia làm bài tập rèn luyện kĩ năng tóm tắt
GV có thể cho HS làm bài t ập SGK hoặc những bài tập ngoài chương trình hỗ trợ
bổ sung kĩ năng tóm tắt cho chủ thể học tập HS
2.3 Cách thức dạy học “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan đi ểm tích hợp
2.3.1 Tích hợp qua hoạt động tạo tâm thế
Hoạt động tạo tâm thế và giời thiệu bài mới chiếm tương đối ít thời lượng dạy học Tuy nhiên, đây là hai phần quan trọng tạo nên sự hứng thú cho người học trước khi bước vào bài mới
Trang 30Hoạt động tạo tâm thế trước giờ học không đơn thuần chỉ gây hứng thú với người học, không phải chỉ có hoạt động “chơi” mà ở đó, người GV cần tích hợp những kiến thức liên quan đến bài học mới dưới hình thức một trò chơi để khởi động cho tiết học đó Vì vậy, HS cần huy động tất cả những hiểu biết kiến thức từng được học để tham gia trò chơi Từ những kiến thức liên quan, GV có thể dẫn dắt vào bài mới một cách dễ dàng
Đối với bài“Tóm tắt văn bản thuyết minh”,GV có thể cho HS nghe một
đoạn thuyết minh về di tích lịch sử Đền Hùng và yêu cầu HS suy nghĩ: Khi thuyết
minh về nó, người thuyết minh có sử dụng kĩ năng tóm tắt hay không? Từ đó GV có
thể dẫn vào bài mới như sau: Có thể nói, tóm tắt là một trong những kĩ năng chúng
ta thường bắt gặp nhiều trong cuộc sống hàng ngày Vậy mục đích, yêu cầu cũng như cách tóm tắt một văn bản thuyết minh ra sao thì cô trò chúng ta cùng bước vào tiết học ngày hôm nay
2.3.2 Tích hợp khi hướng dẫn HS xác định mục đích, yêu cầu khi tóm tắt một văn bản thuyết minh
Để tiến hành hướng dẫn HS xác định mục đích, yêu cầu khi tóm tắt văn bản thuyết minh, GV phải thực hiện nhiệm vụ hệ thống lại những kiến thức hiểu biết của HS về kiểu văn bản này Muố n làm được việc đó, GV có thể vận dụng quan điểm tích hợp Cụ thể:
2.3.2.1 Tích hợp để kiểm tra kiến thức văn bản thuyết minh
GV là người định hướng cho HS nhớ lại những kiến thức cũ đã từng được
học liên quan đến văn bản thuyết minh Dạy “Tóm tắt văn bản thuyết minh”, GV
có thể tích hợp kiến thức ở THCS về khái niệm “văn bản thuyết minh” và các đặc điểm cơ bản của văn bản thuyết minh bằng cách phát vấn HS: Em hãy nhắc lại khái
niệm và đặc điểm cơ bản của văn bản thuyết minh? Việc kiểm tra kiến thức cũ
cũng là một hình thức tiêu biểu cho dạng tích hợp dọc của môn Làm văn
2.3.2.2 Tích hợp khi kiểm tra kĩ năng tóm tắt văn bản đã học
Tóm tắt văn bản là nội dung HS đã từng được học ở chương trình Ngữ văn 6 Bất kỳ đọc một văn bản nào chúng ta cũng có thể tóm tắt ngắn gọn được Vì vậy
Trang 31đây là một kĩ năng quan trọng, nền tảng bước đầu để chúng ta xác định và phân tích nội dung của một văn bản
Dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”, GV có thể tích hợp bằng cách gọi
1 - 2 HS nhắc lại kĩ năng tóm tắt văn bản đã từng được học ở lớp dưới: Theo em,
những bước chung nhất mà chúng ta cần trải qua để tóm tắt một văn bản là gì? 2.3.2.3 Tích hợp khi xác định mục đích, yêu cầu tóm tắt văn bản thuyết minh
Mục đích và yêu cầu là hai yếu tố quan trọng để tiến hành bất cứ một bài tóm tắt nào Đây là vấn đề mà HS cần xác định được tóm tắt để làm gì và tóm tắt đã đảm bảo đạt yêu c ầu hay chưa? Phần này, GV thực hiện kết hợp giữa tích hợp dọc và tích hợp ngang
Để xác định được mục đích và yêu cầu của tóm tắt văn bản thuyết minh, GV
có thể tích hợp ngang bằng cách đưa ra ngữ liệu là một văn bản tóm tắt thuyết minh
về một tác gia văn học (tích hợp với văn học sử) hay thuyết minh về một tác phẩm văn học (tích hợp với Văn học) Từ việc đọc đó, cho HS rút ra kết luận về mục đích
và yêu c ầu của tóm tắt văn bản thuyết minh Chẳng hạn với ngữ liệu “Ôn dịch thuốc
lá” (Ngữ văn 8):
Trong văn bản thuốc lá được xem như một loại Ôn dịch, thứ bệnh nguy hiểm
có thể lấy đi tính mạng của con người một cách từ từ Tác giả đã so sánh việc chống hút thuốc lá với đánh giặc ngoại xâm qua các dẫn chứng, đồng thời phân tích y học về tác hại của thuốc lá Đây là thứ bệnh không chỉ gây nguy hiểm với sức khỏe mà còn gây kiệt quệ về kinh tế
Bên cạnh đó, người viết còn nêu ra dẫn chứng chống hút thuốc lá không chỉ
là vấn đề cá nhân, nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến cả cả cộng đồng, việc phòng chống hút thuốc lá việc của toàn xã hội Tác giả so sánh tình hình hút thuốc lá ở Việt Nam với các nước Âu – Mĩ để đưa ra đề nghị quan trọng: đã đến lúc phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch, để chống tệ hút thuốc lá cần có những biện pháp mạnh mẽ và răn đe hơn
Trang 32Ôn dịch thuốc lá văn bản có tính nghị luận và sức thuyết minh cao Thành công của văn bản chính là cho thấy tác hại ghê gớm của thuốc lá và truyền tải được thông điệp về chống hút thuốc lá trong cộng đồng
CH1: Em hãy đọc và xác định mục đích, yêu cầu của văn bản tóm tắt đó là
gì?
CH2: Từ đó rút ra kết luận: Để tóm tắt một văn bản thuyết minh, người ta
cần xác định được mục đích và yêu cầu cơ bản nào?
Không chỉ tích hợp ngang, GV có thể thực hiện hình thức tích hợp dọc để
giúp HS xác định được mục đích và yêu cầu “Tóm tắt văn bản thuyết minh” bằng
cách phát vấn ho ặc phát phiếu học tập, hoàn thành bảng so sánh sau đây:
Mục đích
Yêu cầu
Với bước tích hợp dọc, HS không chỉ hình thành được kiến thức bài học mới
mà các em còn được củng cố và mở rộng hơn những kiến thức cũ đã từng được học
2.3.3 Tích hợp khi hướng dẫn HS cách tóm tắt văn bản thuyết minh
2.3.3.1 Tích hợp đối với đọc hiểu văn bản thuyết minh
Đọc hiểu văn bản là phân môn có khả năng tích hợp tương đối nhiều với phân môn Làm văn Ở đó, người GV vận dụng linh hoạt các tác phẩm đọc hiểu vào tạo ngữ liệu cho Làm văn và tiếng Việt giúp các em có thể hình thành được tri thức mới và một số kĩ năng thành thạo trong làm văn (kĩ năng gi ải quyết vấn đề; kĩ năng
làm việc nhóm;…) Đối với bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”, GV sử dụng
hướng dạy qui nạp theo hướng: Chọn một văn bản thuyết minh về văn chương để từ
đó tìm hiểu cách tóm tắt kiểu văn bản này Ví dụ, GV có thể lấy văn bản “Nhà sàn”
(SGK – T71,72), đọc văn bản và trả lời các câu hỏi phía dưới:
Nhà sàn là công trình kiến trúc có mái che dùng để ở hoặc dùng vào những mục đích khác nhau như để hội họp, để tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Toàn bộ nhà sàn được dựng bằng vật liệu tự nhiên nhưu gianh, tre, nứa, gỗ,…Mặt sân dùng tre hoặc gỗ tốt bền ghép liền nhau, liên kết ở lưng chừng các
Trang 33hàng cột Gầm sàn là kho chứa củi và một số nông cụ, nơi nuôi thả gia súc hoặc bỏ trống Không gian của nhà gồm ba khoang Khoang lươn ở giữa thuộc phần cốt lõi của căn nhà dùng để ở, nơi này có thể ngăn thành một số bufồng nhỏ, ở giữa đặt một bệ đất vuông rộng, trên bệ là bếp đun và sưởi ấm Hai khoang đầu nhà, bên này gọi là “tắng quản”, dùng để tiếp khách, hoặc dành cho khách ở, bên kia gọi là
“tắng chan”, lộ mái, khá rộng, đặt các ống nước dùng để rử chân tay, chuẩn bị vật dụng đun nước, nấu ăn,… Hai đầu nhà có cầu thang làm bằng gỗ hoặc dùng một cây bương lớn đẽo thành từng khấc thay bậc thang,…
Nhà sàn tồn tại ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt phổ biến ở miền núi Việt Nam và Đông Nam Á Loại hình kiến trúc này xuất hiện vào khoảng đầu thời đại
Đá mới, rất thích hợp với những nơi cư trú có địa hình phức tạp nhưu ở lưng chừng núi hay ven sông, suối, đầm lầy Nhà sàn vừa tận djụng được nguyên liệu tại chỗ để giải quyết mặt bằng sinh hoạt, vừa giữ được vệ sinh trong nhu cầu thoát nước, lại vừa phòng ngừa được thú dữ và các loại côn trùng, bò sát có nọc độc thường xuyên gây hại Trong các ngôi nhà trệt thuộc loại hình kiến trúc dân gian của người Việt
và nhiều dân tộc khác còn lưu lại dấu ấn của nhà sàn Nhà thủy tạ bao giờ cũng phải là nhà sàn
Nhà sàn của các dân tộc Mường, Thái và một số dân tộc ở Tây Nguyên trên đất nước Việt Nam chúng ta đạt trình độ cao về kĩ thuật và thẩm mĩ không chỉ để ở,
để sinh hoạt cộng đồng mà nhiều nơi đã trở thành điểm hẹn hấp dẫn cho khách du lịch trong nước và thế giới
(Theo Bảo tàng dân tộc Việt Nam và Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 3, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003)
CH1:Đối tượng thuyết minh của văn bản trên là gì?
CH2:Xác định chủ đề chính của văn bản?
CH3:Phân chia bố cục và nội dung từng phần là gì?
CH4:Dựa vào phần xác định và tóm lược trên, em hãy tóm tắt văn bản đó
trong khoảng 10 câu?
CH5:Từ việc thực hành, em hãy nêu các bước để tóm tắt một văn bản thuyết minh?