Một số lưu ý khi sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn trong dạy học nội dung bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ .... Việc vận dụng linh hoạt các PPDH là môi trường thuận lợi để HS bàn bạc, t
Trang 1VÀO DẠY HỌC BÀI
HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phương pháp dạy học Ngữ văn
Hà Nội, 2018
Trang 2VÀO DẠY HỌC BÀI
HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM KIỀU ANH
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn
nhiệt tình và chu đáo của cô giáo TS PHẠM KIỀU ANH- giảng viên tổ
phương pháp dạy học Ngữ văn, cùng sự ủng hộ đóng góp ý kiến của toàn thể
các thầy cô trong khoa Ngữ văn- trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy cô giáo
trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là TS PHẠM KIỀU ANH, người đã giúp tôi
hoàn thành khóa luận này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 04 năm 2018
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thu Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Phạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan:
- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi
- Các tài liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực
- Kết quả công bố chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào.Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 29 tháng 04 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thu Phương
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KĨ THUẬT KHĂN PHỦ BÀN VÀO DẠY HỌC BÀIHOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ 7
1.1 Cơ sở lí luận về kĩ thuật dạy học trong giáo dục 7
1.1.1 Kĩ thuật dạy học 7
1.1.2 Kĩ thuật khăn phủ bàn trong dạy học 8
1.1.2.1 Khái niệm 8
1.1.2.2 Đặc trưng của kĩ thuật khăn phủ bàn 8
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa kĩ thuật khăn phủ bàn và phương pháp dạy học 9
1.2 Cơ sở lí luận về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 10
1.2.1 Khái niệm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 10
1.2.2.Quá trình hoạt động giao tiếp 11
1.2.3 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 11
1.2.3.1 Nhân vật giao tiếp 11
1.2.3.2 Hoàn cảnh giao tiếp 12
1.2.3.3 Nội dung giao tiếp 13
1.2.3.4 Mục đích giao tiếp 13
1.2.3.5 Phương tiện giao tiếp 14
1.2.4 Vai trò của ngôn ngữ đối với hoạt động giao tiếp của con người 16
Trang 71.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
17
1.3.1 Nội dung dạy học về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong SGK Ngữ văn-THPT 17
1.3.2 Thực trạng dạy 17
1.3.3 Thực trạng học 18
1.3.4 Nhận xét chung 19
Chương 2: DẠY HỌC BÀI HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ (Ngữ văn 10) CÓ SỬ DỤNG KỸ THUẬT KHĂN PHỦ BÀN 20
2.1 Mục đích của việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 20
2.1.1.Về kiến thức 20
2.1.2.Về kĩ năng: 20
2.1.3.Về thái độ 20
2.2 Xác định nội dung dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn 21
2.2.1 Sử dụng khăn phủ bàn khi dạy các nhân tố của hoạt động giao tiếp 21
2.2.2 Sử dụng khăn phủ bàn tổ chức luyện tập thực hành 21
2.3.Cách tiến hành 22
2.3.1 Sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn để dạy học các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 22
2.3.1.1 Chuẩn bị của GV và HS 22
2.3.1.2 Quy trình thực hiện 22
2.3.2 Sử dụng khăn phủ bàn tổ chức luyện tập thực hành 24
2.3.2.1 chuẩn bị của GV và HS 24
2.3.2.2 Quy trình thực hiện 24
2.4 Một số lưu ý khi sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn trong dạy học nội dung bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 27
2.4.1 Một số khó khăn còn tồn tại khi sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn 27
2.4.2 Giải pháp khắc phục 28
Trang 82.5 Xác định một số phương pháp sử dụng kết hợp kĩ thuật khăn phủ bàn khi
dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 29
2.5.1 Phương pháp thảo luận nhóm 29
2.5.2 Sử dụng phương pháp đóng vai 30
2.5.3 Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực 31
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 33
3.1 Mục đích thực nghiệm 33
3.2 Đối tượng thực nghiệm 33
3.3 Địa bàn thực nghiệm 34
3.4 Thời gian thực nghiệm 34
3.5 Nội dung và cách tiến hành thực nghiệm 34
3.6 Kết quả thực nghiệm 47
KẾT LUẬN 48 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) Ngữ văn theo hướng dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm đã, đang được triển khai rộng rãi trong nhà trường Không ngoại lệ hoạt động dạy học Ngữ văn cũng đang có bước chuyển mình nhất định theo quan điểm này Mặc dù hoạt động dạy học đã thu được nhiều kết quả đáng kể song thực tế nhiều giáo viên (GV) và học sinh(HS) vẫn gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định.Vậy làm thế nào để có thể ứng dụng tốt phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng dạy - học tích cực lấy HS làm trung tâm
Việc vận dụng linh hoạt các PPDH là môi trường thuận lợi để HS bàn bạc, thảo luận những vấn đề về nội dung, ý nghĩa của một văn bản văn học hay một đơn vị ngôn ngữ, là biện pháp tích cực để khai thác những hướng khác nhau trong cảm nhận văn chương, giúp HS cảm, hiểu sâu sắc, thấu đáo giá trị tác phẩm, có cách tiếp cận độc lập sáng tạo, đảm bảo mỗi HS đều được đối thoại, được tôn trọng, được bình đẳng trước tác phẩm, đơn vị ngôn ngữ Mặt khác, về phía HS việc tự học, tự trau dồi vốn kiến thức còn hạn chế nên trong giờ học Ngữ văn chưa thật sự phát huy được năng lực vốn
có Với GV việc đầu tư thiết kế bài dạy học theo hướng tích cực cũng còn hạn chế Có nhiều biện pháp giáo dục khác nhau nhưng việc sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS
Trong các kĩ thuật dạy học hiện đại thì “khăn phủ bàn” là một trong những kĩ thuật sử dụng khá phổ biến.Đây là kĩ thuật (KT) tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm kích
Trang 10thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm cuả
cá nhân HS, phát triển mô hình hợp tác giữa các HS
1.2 Như chúng ta đã biết,giao tiếp là một hoạt động đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày Dù trong cuộc sống hay trong công việc, giao tiếp đều là cầu nối giữa con người với con người giúp chúng ta hiểu nhau hơn Đối với trong quá trình dạy học muốn HS có thể giao tiếp tốt thì
việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là quan trọng và cần thiết Cũng vì thế, trong chương trình Ngữ văn THPT, bài Hoạt động giao
tiếp bằng ngônngữ là nội dung không thể thiếu Tuy nhiên để chủ thể học tập
có thể hiểu đúng và có ý thức vận dụng vào trong cuộc sống hằng ngày, trong thực tế giao tiếp của bản thân thì trong quá trình dạy học GV cần có những biện pháp giáo dục phù hợp để giúp người học định hướng được khả năng giao tiếp.Trong thực tế, không ít em còn cảm thấy lúng túng và khó khăn khi giao tiếp với thầy cô, với bạn bè và xã hội Mặt khác trong giờ Tiếng Việt ở các trường phổ thông hiện nay chủ yếu được GV giảng dạy nghiêng theo hướng lí thuyết,HS chưa chủ động trong học tập Để hoạt động dạy học phân môn này thực sự hiệu quả, GV cần biết vận dụng linh hoạt các PPDH và kĩ thuật dạy học (KTDH) phù hợp với nội dung học tập
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Vận
dụng kĩ thuật khăn phủ bàn vào dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ(Ngữ văn 10), nhằm mục đích giúp cho việc dạy và học Tiếng Việt
ở THPT đạt được hiệu quả cao hơn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là vấn đề được nhiều người quan tâm Theo tác giả Lê A, “quan điểm giao tiếp là quan điểm cơ bản nhất trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông” [1, tr.35]
Trang 11Trong bài viết Lý thuyết hoạt động ngôn ngữ và việc dạy tiếng Việt ở
nhà trường phổ thông, tác giả Lý Toàn Thắng cũng cho rằng: Trong dạy học
tiếng Việt, dù là dạy phần gì, cần phải quán triệt quan điểm “hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”, luôn luôn cần phải xuất phát từ hoạt động giao tiếp để định hướng việc dạy về từ, về câu; nhằm tới việc rèn luyện những kĩ năng dùng từ, đặt câu; chú trọng việc thực hành, tạo lập các sản phẩm giao tiếp (câu văn, đoạn văn, lời văn) với những thao tác như xây dựng câu, rút gọn câu…Với những kết luận nêu trên, có thể khẳng định giao tiếp là quan điểm
chỉ đạo việc lựa chọn, tổ chức nội dung dạy học tiếng mẹ đẻ
Tuy có nhiều công trình bàn về giao tiếp nhưng phần lớn các tài liệu mới chỉ bàn một cách chung chung về nội dung và mục đích dạy lí thuyết về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ mà chưa có những gợi dẫn cụ thể về cách tổ chức các hoạt động dạy và học bài này có sử dụng các PP, KTDH hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
Những định hướng trong SGV Ngữ văn 10, 11, 12 về phương pháp và
tiến trình tổ chức dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thể hiện khá
rõ quan điểm giao tiếp Đó là hướng dẫn tiến hành bài học theo hướng qui nạp:
từ ngữ liệu cụ thể về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, HS tìm hiểu để hình thành kiến thức và nâng cao kĩ năng giao tiếp Để làm được điều đóGVphải hướng dẫnHS phân tích các ngữ liệu theo hệ thống câu hỏi rồi rút ra nhận định như ở phần ghi nhớ trong SGK Để củng cố, nâng cao kiến thức, kĩ năng đã học, chủ thể học tập cần làm các bài tập thực hành ở phần luyện tập.Sau đó, GVtổ chức cho HS giải bài tập theo từng cá nhân hoặc theo nhóm, tổ và cuối cùng chốt lại theo hướng dẫn giải bài tập trong SGK Ngoài ra, quan điểm giao tiếp còn được thể hiện qua việc GV được khuyến khích sử dụng các ngữ liệu gần gũi với lời ăn, tiếng nói của HS từng vùng, miền mà không bắt buộc dùng các ngữ liệu trong SGKđể các em tiếp thu bài học dễ dàng hơn SGKvà sách
Trang 12bài tập Ngữ văn tạo điều kiện cho HS được thực hành, được làm, được giao tiếp thể hiện qua việc dành phần lớn thời lượng cho luyện tập, thực hành dù đây là các bài thiên về hình thành tri thức mới Nội dung luyện tập trong SGKvà sách bài tập khá đa dạng và phong phú giúp người học nâng cao cả bốn
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tuy nhiên, định hướng tổ chức dạy học bài Hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp mới được thể hiện một
cách khái quát,mà không có những gợi dẫn cụ thể cho việc chiếm lĩnh từng
vấn đề lí thuyết theo yêu cầu dạy học hiện nay
2.2.Lịch sử nghiên cứu kĩ thuật khăn phủ bàn trong dạy học Tiếng Việt
Theo quan điểm dạy học tích cực, khi muốn đào tạo những con người
tự chủ, năng động, sáng tạo thì cần có phương pháp giáo dục phải hướng vào rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm việc một cách tư duy, tự chủ năng động và sáng tạo Cũng vì thế, dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS không phải là vấn đề mới mà nó đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất lâu
Ở Việt Nam, từ năm 1993 dạy học theo hướng tích cực được thử nghiệm và qua nhiều công trình nghiên cứu về PPDH, về giáo dục học và tâm
lí học.Có thể thấy rằng, đây là những công trình lý luận khá đầy đủ về PPDH tích cực được rất nhiều giáo viên quan tâm Các công trình trên đặc biệt quan tâm là: Các phương pháp giáo dục phải đa dạng, hệ thống câu hỏi phong phú, nội dung dạy học phải luôn mới nhưng phải gần gũi với HS, bám sát yêu cầu
và gắn liền với thực tiễn… Theo đó, các công trình cũng đã giới thiệu một số PPDH và KTDH hiện đại có thể sử dụng để phát huy tính tích cực học tập của
HS Trong hầu hết các công trình đó, các nhà nghiên cứu đều đề cập đến KT khăn phủ bàn, cách thực hiện nó nhưng lại chưa hướng dẫn cách sử dụng KT này trong khi dạy những bài học cụ thể.Đây chính là những gợi ý để chúng tôi lựa chọn và triển khai đề tài này
Trang 133 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến mục đích:
- Bước đầu nghiên cứu, tìm hiểu cách thức vận dụng KTDH tích cực
vào quá trình dạy học Tiếng Việt thông qua một bài dạy cụ thể là bài Hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ Từ đó tìm ra những biện pháp giáo dục thích
hợp, linh hoạt sử dụng vào quá trình dạy học Ngữ văn nhằm phát huy tính tích cực học tập cho chủ thể học tập, để hoạt động dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả
- Vận dụng kĩ thuật dạy học khăn phủ bànnhằm tìm ra những biện pháp giáo dục có thể áp dụng trong thực tiễn dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học
bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khóa luận tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng hợp những tri thức cơ bản về kĩ thuật khăn phủ bàn trong dạy học, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài
- Đề xuất cách ứng dụng kĩ thuật khăn phủ bàn vào dạy học hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Bước đầu kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất được nêu ra
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận tập trung tìm hiểu về khăn phủ bàn và sự vận dụng của KT này vào quá trình dạy học Ngữ văn nói chung, Tiếng Việt nói chung ở trường THPT
Trang 144.2.Phạm vi nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của đề
tài là nội dung Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được dạy cho HS lớp
10-SGK Ngữ văn 10 Tại trường THPT Tiên Hưng
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp chính sau:
5.1 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để phân loại và phân tích kết quả khảo sát thực trạng của HS trước khi tiến hành thực nghiệm
5.2 Phương pháp hệ thống hóa
Sử dụng phương pháp này nhằm hệ thống hóa các tri thức, lí thuyết về
kĩ thuật khăn phủ bàn, về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này được sử dụng khi tổ chức thực hiện để chứng minh tính khả thi của thiết kế, từ đó rút ra kết luận, cần thiết cho những đề xuất được nêu ra ở chương 2
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận,tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của khóa luận được triển khai cụ thể thành 3 chương:
- Chương 1:Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng kĩ thuật
khăn phủ bàn vào dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Chương 2: Dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ(Ngữ văn
10) có sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KĨ THUẬT KHĂN PHỦ BÀN VÀO DẠY HỌC BÀI
HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
1.1 Cơ sở lí luận về kĩ thuật dạy học trong giáo dục
1.1.1 Kĩ thuật dạy học
Trong giáo dục, KTDH là những biện pháp, cách thức hành động của của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Có những KTDH chung và cũng có những KT đặc thù của từng PPDH, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như động não, tia chớp, bể cá, XYZ, Bản đồ tư duy, Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS.Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các PPDH độc lập mà nó thường được sử dụng kết hợp với các PPDH và phương tiện dạy học nhằm tăng hiệu ứng của hoạt động giáo dục
Khi nghiên cứu về KTDH , các nhà nghiên cứu đều cho rằng: các KTDH tích cực đều hướng tới việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho người học.Thông qua các cách thức hoạt động cụ thể, HS được động viên, khích lệ tạo cho học sinh những điều kiện, cơ hội ,và được GV giao nhiệm vụ
để tiến hành các hoạt động học tập một cách hứng thú, say mê và đạt kết quả cao Sử dụng KTDH tích cực, học sinh được lôi cuốn vào quá trình giải quyết các vấn đề học tập, tranh luận,thảo luận, trình bày và vận dụng…
Trang 161.1.2 Kĩ thuật khăn phủ bàn trong dạy học
1.1.2.1 Khái niệm
Khăn phủ bàn là một trong những KTDH đã và đang được nhiều GV
sử dụng trong quá trình dạy học Đây là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm
KT KPB bàn đơn giản, dễ thực hiện, có thể tổ chức trong các môn học, bậc học khác Đối với GV giúp cho tiết dạy nhẹ nhàng, sinh động, mà không cần giảng nhiều Đối với HS, các em được thực hành hợp tác giữa cá nhân, nhóm, đòi hỏi tất cả các thành viên phải làm việc cá nhân, suy nghĩ, viết ra ý kiến cá nhân của mình trước khi thảo luận nhóm Như vậy có sự kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm Từ đó, các cuộc thảo luận thường có
sự tham gia của tất cả các thành viên và các thành viên có cơ hội chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm của mình, tự đánh giá và điều chỉnh nhận thức của mình một cách tích cực Nhờ vậy hiệu quả học tập được nâng cao và không mất thời gian, giữ được trật tự trong lớp học
Kĩ thuật nàygiúp cho HS tiếp cận được nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau,rèn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề.Tăng cường
sự phối hợp làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm nhỏ, tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập, nâng cao mối quan hệ giữa HS.Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau, nâng cao hiệu quả học tập
Kĩ thuật KPB có thể tổ chức giống như học theo nhóm nhưng lại khắc phục được những hạn chế của học theo nhóm Khi GV tổ chức cho HS học theo nhóm nếu GV không tổ chức tốt,HS sẽ thường hay bị thụ động, ỷ lại, trông chờ vào các thành viên khác trong nhóm do đó dẫn đến việc mất nhiều thời gian và hiệu quả học tập không cao
1.1.2.2 Đặc trưng của kĩ thuật khăn phủ bàn
Trang 17GV giao nhiệm vụ học tập cho HS, các nhóm HS thể hiện nhiệm vụ hoạt động
đó nhằm tìm ra hệ thống kiến thức và tất cả HS đều phải làm việc Khi sử dụng kĩ thuật này, các nhóm đều được trang bị các phương tiện để làm việc (giấy A0, bút dạ, phiếu học tập ) Trong quá trình dạy học, việc sử dụng khăn phủ bàn nhằm hướng tới các mục tiêu sau: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS Qua đó phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
Để sử dụng kĩ thuật này, GV tiến hành theo các thao tác sau:
- Chia HSthành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy AO
- Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanh Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm (ví dụ nhóm 4 HS)
- Mỗi HS ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi theo cách nghĩ, cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy của mình trên tờ giấy AO
-Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, HSthảo luận nhóm, thống nhất
ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy AO Khi HS thực hiện trình bày đầy đủ các nội dung kiến thức vào A0, các em còn phải trình bày nội dung kết luận mà nhóm đã thực hiện
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa kĩ thuật khăn phủ bàn và phương pháp dạy học
Trong quá trình dạy học, cùng với việc sử dụng KT khăn phủ bàn, GV còn phải phối hợp với các PPDH khác
Trước hết, KT khăn phủ bàn có mối quan hệ mật thiết với phương pháp thảo luận nhóm KT khăn phủ bàn được hiểu là phần cụ thể hóa của phương pháp thảo luận nhóm, là phương thức thực hiện phương pháp thảo luận nhóm Phương pháp thảo luận nhómlà PPDH mà ở đó GV có thể tổ chức cho HSlàm
Trang 18việc nhóm bằng cách đưa ra những vấn đề cụ thể giao cho từng nhóm HS Khi dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, GV có thể sử dụng PP này
để hướng dẫn HStìm hiểu những kiến thức mới là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ; trong quá trình hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có những nhân
tố nào chi phối vào hoạt động giao tiếp Thông qua việc thảo luận nhóm cùng với khăn phủ bàn,chủthể học tập sẽ chủ động thực hành giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của HS, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự khẳng định khả năng, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao Còn đối với KT KPB, HS cần phải hoạt động cá nhân, suy nghĩ, tìm hiểu sau đó trình bày ý kiến của mình trước khi thảo luận cùng các bạn để tìm ra đáp án chung của cả nhóm
Bên cạnh đó, khăn phủ bàn có thể kết hợp được với phương pháp vấn đáp, đàm thoại.PP đàm thoại là phương pháp trong đó người dạy tổ chức đối thoại, trao đổi ý kiến, tranh luận giữa thầy với cả lớp hoặc giữa những người học với nhau, thông qua đó người học được củng cố, bổ sung, mở rộng kiến thức, có được tri thức mới, cách nhận thức mới, cách giải quyết vấn đề mới
1.2 Cơ sở lí luận về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Cùng với tư duy, ngôn ngữ được hình thành trong quá trình con người lao động và phát triển để thoát khỏi tình trạng tiếp xúc mang tính động vật Con người khi giao tiếp với nhau đã tạo ra xã hội có đặc thù tổ chức riêng, trong đó ngôn ngữ không chỉ đóng vai trò là sợi dây liên kết các thành viên trong cộng đồng mà nó còn đóng vai trò là yếu tố xúc tác, tác động, thúc đẩy
xã hội phát triển Như vậy, ngôn ngữ vừa là yếu tố cấu thành vừa có vai trò là động lực tạo ra sự hình thành và phát triển của giao tiếp
Trang 19Ngôn ngữ là một là một hệ thống tín hiệu từ ngữ chức năng là một phương tiện để giao tiếp và là công cụ của tư duy Ngôn ngữ được hình thành trong quá trình hoạt động và giao lưu của mỗi cá nhân với người khác trong
xã hội.Ngôn ngữ mang bản chất xã hội,lịch sử và tính giai cấp
Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong xã hội Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưng cũng
có khi tồn tại ở dạng viết Giao tiếp cũng có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: Cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét mặt, các phương tiện kĩ thuật (tất cả được gọi là các hành vi siêu ngôn ngữ) Tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ để tổ chức xã hội hoạt động.Có nhiều cách hiểu khác nhau về giao tiếp, song có thể hiểu giao tiếp một cách đơn giản nhất:
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (nói, viết), nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, tình cảm, hành động…
1.2.2.Quá trình hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp bao gồm hai quá trình: tạo lập văn bản (do người nói, người viết thực hiện), lĩnh hội văn bản (do người nghe, người đọc thực hiện) Hai quá trình này diễn ra đồng thời, trong sự tương tác với nhau.Hoạt động giao tiếp chịu sự chi phối của các nhân tố: Nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện và cách thức
giao tiếp
1.2.3 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
1.2.3.1 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác
Trang 20động vào nhau.đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân
Trong giao tiếp luôn có sự phân vai: Vai người nói (Người viết-là vai tạo ra văn bản) và vai người nghe (Người đọc-vai tiếp nhận văn bản) Hai vai phát và nhận này luôn chuyển hóa cho nhau trong suốt cuộc giao tiếp tạo ra quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp
1.2.3.2 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp chính là môi trường diễn ra hoạt động giao tiếp Đó chính là nơi chốn, thời gian và những đặc điểm của hoạt động giao tiếp.Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại:
Thứ nhất là hoàn cảnh giao tiếp rộng: Hoàn cảnh giao tiếp rộng là toàn
bộ những hiểu biết về hoàn cảnh địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo…chung của dân tộc của đất nước thậm chí là cả của thế giới vào thời điểm và không gian đang diễn ra cuộc giao tiếp.Tất cả những hiểu biết trên tạo thành tiền giả định bách khoa và nó được huy động một cách khác nhau tùy theo các nhân vật giao tiếp và tùy từng cuộc giao tiếp cụ thể Cuộc giao tiếp chỉ có thể được tiến hành khi các nhân vật giao tiếp có chung một lượng tiền giả định nào đó
Bên cạnh hoàn cảnh giao tiếp rộng, ta còn có hoàn cảnh giao tiếp hẹp
mà Đỗ Hữu Châu gọi là ngữ huống, thoại trường
Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là nơi chốn cụ thể, thời gian cụ thể trực tiếp trong đó cuộc giao tiếp đang xảy ra tại không gian, thời gian thoại trường có những đặc trưng chung đòi hỏi các nhân vật giao tiếp phải có những ứng xử phù hợp với nó.Ngôn ngữ phong phú, đa dạng, cũng như người sử dụng ngôn ngữ cũng đa dạng, phong phú, vì vậy để có thể hiểu được dụng ý của người nói thì ngoài có chung tiền giả định bách khoa ra, người nghe cần phải hiểu được câu nói đó được phát ra trong hoàn cảnh nào tức là đâu và vào lúc nào
Trang 211.2.3.3 Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp chính là điều được đề cập đến trong giao tiếp Nó bao gồm một phạm vi khái quát, bao trùm và những nội dung cụ thể Nội dung giao tiếp có thể là hiện thực của thế giới khách quan ngoài ngôn ngữ, có thể là những sản phẩm tinh thần của tư duy con người, có thể là cả những tình cảm, cảm xúc và thái độ của con người đối với điều được nói đến, hoặc đối với người tham gia hoạt động giao tiếp hay đối với chính hoạt động giao tiếp Nếu như nhân tố nhân vật giao tiếp trả lời cho câu hỏi “nói (viết) trong hoàn cảnh nào”? thì nhân tố nội dung giao tiếp trả lời cho câu hỏi “nói (viết) cái gì?” hoặc “nói (viết) về cái gì?” [4; tr.25]
Theo Đỗ Hữu Châu thì “về nội dung, diễn ngôn có hai thành tố: Nội
dung thông tin, bị quyết định bởi tính đúng – sai logic, cũng là nội dung trí tuệ, hình thành do quan hệ giữa diễn ngôn và hiện thực được nói tới Thứ hai
là nội dung liên cá nhân bao gồm tất cả các nội dung của diễn ngôn không bị qui định bởi tính đúng – sai logic Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện một cách tường minh trong diễn ngôn, qua câu chữ của diễn ngôn, nó cũng có thể tồn tại một cách hàm ẩn, những người giao tiếp phải suy từ nội dung tường minh của diễn ngôn mới nắm bắt được nó” [4; tr.37]
1.2.3.4 Mục đích giao tiếp
Mục đích giao tiếp là cái mà người nói hướng tới trong quá trình giao tiếp Mục đích của các hoạt động giao tiếp có thể khác nhau trong từng hoàn
cảnh khác nhau và “ý định hay mục đích giao tiếp sẽ cụ thể hóa thành đích
của diễn ngôn thông qua các thành tố nội dung của diễn ngôn Nói một cách tổng quát, diễn ngôn có đích tác động Người nói nói ra một diễn ngôn là nhằm tác động đến người nghe của mình qua các thành tố nội dung của diễn ngôn” [4;37]
Trang 22Giao tiếp bao giờ cũng có mục đích Đích trong giao tiếp người ta còn gọi là đích tác động Tác động có nghĩa là tạo ra một sự biến đổi về mặt nhận thức, về tình cảm, về hành động ở người tiếp nhận so với trước khi giao tiếp diễn ra Đích tác động có thể chia làm ba loại:
Thứ nhất, đích tác động về mặt nhận thức: Giao tiếp nhằm mục đích thể hiện những hiểu biết, những nhận thức của người nói (viết) và truyền đạt
nó đến người nghe (đọc), làm thay đổi trạng thái nhận thức của nhau
Tiếp theo là đích tác động về mặt tình cảm: Giao tiếp nhằm mục đích bộc lộ những cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người xác lập hay củng cố những mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp Qua đó các nhân vật giao tiếp
có thể hiểu về tình cảm, quan hệ đối với nhau hay đối với điều được nói đến
Cuối cùng là đích tác động về mặt hành động: Giao tiếp nhằm tác động đến người nghe (đọc) làm cho người đó phải thực hiện những hành động cần thiết
Tác động về mặt nhận thức do thành tố nội dung thông tin đảm nhiệm, còn hai đích tác động về mặt tình cảm và tác động về mặt hành động thì do thành tố nội dung liên cá nhân đảm nhiệm Vì sự thân tình, xa lạ, vị thế giao tiếp cao hay thấp có ảnh hưởng lớn đến đích truyền cảm hay hành động của diễn ngôn.Các hoạt động giao tiếp có thể thực hiện cùng lúc nhiều mục đích nhưng không đều nhau có những cuộc giao tiếp chủ yếu hướng tới mục đích nhận thức nhưng cũng có những cuộc giao tiếp lấy mục đích bộc lộ tình cảm
là chủ yếu
1.2.3.5 Phương tiện giao tiếp
Phương tiện giao tiếp là tất cả những yếu tố mà chúng ta dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những tâm lý khác của mình trong một cuộc giao tiếp Trong cuộc sống hằng ngày, con người sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau.Có thể khái quát thành 2 loại phương tiện sau:
Trang 23Thứ nhất là phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ:Ngôn ngữ là phương
tiện giao tiếp chủ yếu của con người.Bằng ngôn ngữ con người có thể truyền
đi bất cứ một loại thông tin nào, như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự vật
Nó thực hiện được những điều trên là dựa vào các yếu tố sau:
Ý nghĩa của ngôn ngữ hay chính là thành phần thông tin mà ngôn ngữ biểu thị Nghiên cứu về ngôn ngữ, người ta xác lập có hai hình thức để tồn tại là:Thông tin khách quan và thông tin chủ quan Hiểu được ý cá nhân là cơ sở tạo nên sự đồng điệu trong giao tiếp, còn được gọi là khả năng đồng cảm
Tính chất của ngôn ngữ: Gồm nhịp điệu, âm điệu ngữ điệu… Có vai trò hết sức quan trọng trong giao tiếp, nó tạo lợi thế cho ta để giao tiếp được thành công Điệu bộ khi nói sẽ phụ họa theo lời nói để giúp thêm ý nghĩa cho
nó Tuy nhiên, điệu bộ phải phù hợp với phong tục tập quán, nền văn hóa, do
đó đừng gò ép mình bằng cách bắt chước điệu bộ của người khác, vì điệu bộ
tự nhiên là đáng yêu nhất
Thứ hai là phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ:Nghiên cứu phương
tiện giao tiếp phi ngôn ngữ rất quan trọng nó giúp ta nhạy cảm hơn trong giao
tiếp Trong giao tiếp hằng ngày người ta sử dụng các yếu tố sau:
Nét mặt: Biểu lộ thái độ cảm xúc của con người, các công trình nghiên
cứu thống nhất rằng nét mặt của con người biểu lộ 6 cảm xúc: Vui mừng, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi, ghê tởm Ngoài ra, nét mặt còn cho ta biết
về cá tính của con người
Nụ cười: Trong giao tiếp, người ta có thể dùng nụ cười để biểu lộ tình
cảm, thái độ của mình Con người có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính Do đó, trong giao tiếp ta phải biết tinh nhạy quan sát nụ cười của đối tượng giao tiếp
Trang 24Ánh mắt: Nó phản ánh trạng thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và
ước nguyện của con người Trong giao tiếp, nó phụ thuộc vào vị trí xã hội của mỗi bên
Các cử chỉ: Gồm các chuyển động của đầu, bàn tay, cánh tay…Vận
động của chúng có ý nghĩa nhất định trong giao tiếp
Tư thế: Nó liên quan mật thiết với vai trò vị trí xã hội của cá nhân, thông
thường một các vô thức nó bộc lộ cương vị xã hội mà cá nhân đảm nhận
Diện mạo: Là những đặc điểm tự nhiên ít thay đổi như: Dáng người,
màu da và những đặc điểm thay đổi được như tóc, râu, trang điểm trang sức
1.2.4 Vai trò của ngôn ngữ đối với hoạt động giao tiếp của con người
Trong đời sống và con người hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng một vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết:
Trước hết, đối với xã hội hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ chính là điều kiện của sự tồn tại xã hội.Xã hội là tập hợp những mối quan hệ giữa người và người với nhau
Đối với cá nhân mỗi người hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ chính là điều kiện để tâm lí, nhân cách phát triển bình thường Nhờ có giao tiếp mà con người có thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội, gia nhập cộng đồng, phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội và chuyển thành tài sản cho riêng mình Trong quá trình tham gia vào hoạt động giao tiếp nhiều phẩm chất của con người, nhất là những phẩm chất đạo đức được hình thành và phát triển.Trong quá trình tiếp xúc với những người xung quanh, ta nhận thức được chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật tồn tại trong xã hội,tức là những nguyên tắc ứng xử , chúng ta biết được cái gì tốt, xấu, đẹp và không đẹp, cái gì cần nói và cần làm…
Ngoài ra, hoạt động giao tiếp còn thỏa mãn nhiều nhu cầu của con người như nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được những
Trang 25người xung quanh quan tâm chú ý, nhu cầu được hòa nhập vào một nhóm xã hội nhất định…Nhờ có ngôn ngữ, con người có thể đạt được những mong muốn, những ngu cầu của bản thân
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.3.1 Nội dung dạy học về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong SGK Ngữ văn-THPT
Trong SGK Ngữ văn- THPT, bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
được triển khai thông qua 2 tiết học
Ở tiết 1, SGK Ngữ văn 10 triển khai theo hướng cung cấp cho HS những kiến thức về:Khái niệm cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: mục đích (trao đổi thông tin về nhận thức, tư tưởng tình cảm, hành động, );hai quá trình trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Tạo lập văn bản (nói hoặc viết) và lĩnh hội văn bản (nghe hoặc đọc);Các nhân tố giao tiếp: Nhân vật, hoàn cảnh, nội dung, mục đích, phương tiện và cách thức giao tiếp
Sang tiết 2, SGK Ngữ văn 10 triển khai những nội dung thực hành luyện tập nâng cao kĩ năng phân tích, tạo lập văn bản trong giao tiếp,qua đó vừa hệ thống, vừa mở rộng, nâng cao những hiểu biết cho HS về hoạt động đặc thù của con người
1.3.2 Thực trạng dạy
Có thể thấy, trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành,Hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ là một nôi dung khá quen thuộc Nhưng trên thực tế,
trong quá trình giảng dạy GV mới chỉ bám sát vào SGK và SGV để vừa dạy kiến thức, vừa rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS
Qua khảo tại trường THPT Tiên Hưng, trong giờ dạy phần lý thuyết
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, GV thực hiện các nội dung SGK theo
định hướng trong SGV Thông thường người dạy đưa ra các câu hỏi gợi ý,
Trang 26hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu theo phần nội dung trong SGK, sau đó nhận xét, bổ sung rồi rút ra kết luận theo phần ghi nhớ trong SGK
Khi dạy phần luyện tập về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, thông thường trong 20 phút đầu giờ GV yêu cầu HS đọc các bài tập trong SGK, sau
đó hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi gợi ý Còn 25 phút cuối, HS tự ngồi trình bày câu trả lời vào vở ghi Cuối cùng,GV gọi một số HS lên trình bày kết quả
Khi khảo sát, chúng tôi thấy thời gian dành cho phần lý thuyết bài Hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ là một tiết và một tiết cho phần luyện tập
Cũng vì thế, do GV ít có điều kiện mở rộng kiến thức và việc luyện tập cũng chưa thực sự được kĩ càng, sâu sắc Đó cũng chính là một trong những lí do, khi tạo lập văn bản trong giao tiếp, HS vẫn chưa vận dụng được một cách hiệu quả
1.3.3 Thực trạng học
Nhìn chung, trong quá trình học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ,chủ thểHS vẫn còn thụ động Mặc dù GV khi lên lớp đã cố gắng đổi mới
phương pháp dạy-học, lấy HS làm trung tâm, dạy học tích cực hóa nhằm tổ chức choHS tự tìm hiểu, chiếm lĩnh tri thức, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh, nhưng trên thực tế, HS vẫn còn tiếp thu chưa thực sự một cách chủ động, sáng tạo; phần lớn các em vẫn học theo phương pháp truyền thống: Nghe, ghi chép, nhớ và tái hiện kiến thức mà vẫn chưa có ý thức tự tìm tòi, chủ động khám phá, khai thác sâu bài học
Trong giờ luyện tập về những nội dung kiến thức liên quan tới hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, HS vẫn chưa thực sự thuần thục Mặt khác sự
tự học và tư duy rèn luyện của các em còn hạn chế Do đó, khi tạo lập các văn bản, các em còn vận dụng chưa linh hoạt Chính vì vậy dẫn đến tình trạng lúng túng, không rõ ràng và không có sức thuyết phục
Trang 271.3.4 Nhận xét chung
Từ thực trạng dạy- học của GV và HS như trên ta thấy: Để việc dạy học Tiếng Việt thực sự hiệu quả, giúp người học chủ động, sáng tạo, các em biết vận dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả vào các tình huống giao tiếp trong hằng ngày theo yêu cầu đổi mới là không ít khó khăn Điều đó đòi hỏi cần phải có thời gian; Có những PPDH phù hợp, đồng thời phải có sự tận tình, tâm huyết, và sự sáng tạo của mỗi GV
Trang 28Chương 2: DẠY HỌC BÀI HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN
NGỮ(Ngữ văn 10) CÓ SỬ DỤNG KỸ THUẬT KHĂN PHỦ BÀN
2.1.Mục đích của việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Ở đây, chúng tôi xác định những mục tiêu, yêu cầu cụ thể cho cả 02 tiết của bài học này
-Xác định, phân tích đúng các nhân tố trong hoạt động giao tiếp
- Nâng cao năng lực giao tiếp khi nói, khi viết và năng lực phân tích lĩnh hội khi giao tiếp
Trang 292.2.Xác định nội dung dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có sử
dụng kĩ thuật khăn phủ bàn
2.2.1 Sử dụng khăn phủ bàn khi dạy các nhân tố của hoạt động giao tiếp
Việc lựa chọn kĩ thuật này vào quá trình dạy học xuất phát từ những cơ
sở sau:
Trước hết là dựa vào mục tiêu bài học: Mục tiêu bài học giúp HS nắm
được các kiến thức về khái niệm, hai quá trình và các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Do vậy GV có thể sử dụng KT KPB để dạy học phân nội dung lí thuyết
Bên cạnh đó, xuất phát từ đặc điểm kiến thức: Những đơn vị kiến thức
đơn giản GV không nên cho học sinh sử dụng KT KPB Nên lựa chọn kiến thức có tính phức hợp để học sinh vừa có thể hoạt động cá nhân vừa có thể hoạt động nhóm
Bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Có 3 nội dung lí thuyết cơ bản
là khái niệm, hai quá trình và các nhân tố của hoạt động giao tiếp thông qua 2 văn bản Theo đó, GV thể sử dụng KT KPB để hướng dẫn HS trả lời hệ thống câu hỏi trong 2 văn bản ở trong SGK Tuy nhiên trong một giờ học, GV không nên lạm dụng kĩ thuật này Bởi vậy, đối với phần lí thuyết GV có thể
áp dụng KT KPB vào hoạt động văn bản 2 để tìm hiểu về các nhân tố của hoạt động giao tiếp
2.2.2 Sử dụng khăn phủ bàn tổ chức luyện tập thực hành
Cơ sở lựa chọn:
Dựa trên mục tiêu bài học: Mục tiêu bài học nhằm giúp học sinh nắm
rõ hơn, củng cố kiến thức lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Với mục tiêu này GV có thể sử dụng KT KPB để dạy các bài tập trong phần luyện tập