6 Dãy núi này có ảnh hưởng quyết định tới gió mùa đông bắc ở nước ta.7 Nước ta bây giờ của ta rồi, cuộc đời bắt đầu hửng sáng.” Dẫn theo Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản Tiếng
Trang 1CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn
cô giáo T.S Hoàng Thị Thanh Huyền đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, cùng toàn thể các bạn sinh viên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp những ý kiến quý báu để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày ….tháng….năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Tú Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này của tôi được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo T.S Hoàng Thị Thanh Huyền Tôi xin cam đoan rằng:
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, tôi có tham khảo một số tài liệu nhưng khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi
Hà Nội, ngày ….tháng….năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Tú Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 Khái quát về liên kết 7
1.1.1 Quan niệm về liên kết 7
1.1.2 Những phương diện biểu hiện của tính liên kết 9
1.2 Vấn đề mạch lạc 15
1.2.1 Quan niệm về mạch lạc 15
1.2.2 Những biểu hiện của mạch lạc 16
1.2.3 Quan hệ giữa mạch lạc và liên kết 21
1.3 Giản yếu về phép nối 25
1.3.1 Quan niệm về phép nối 25
1.3.2 Các phương tiện liên kết bằng phép nối 27
1.4 Những nét chính về tác giả Nguyễn Công Hoan 29
1.4.1 Cuộc đời 29
1.4.2 Sự nghiệp 30
1.4.3 Phong cách truyện ngắn 30
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT THỂ HIỆN PHÉP NỐITRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN 33
2.1 Kết quả thống kê 33
Trang 62.2 Phân loại 33
2.2.1 Nối bằng quan hệ từ 33
2.2.2 Nối bằng từ ngữ chuyển tiếp 34
2.3 Phân tích kết quả thống kê 34
2.3.1 Hiệu quả của việc sử dụng phép nối có phương tiện nối là các quan hệ từ 34
2.3.2 Hiệu quả của việc sử dụng phép nối có phương tiện nối là từ hoặc cụm từ làm thành phần chuyển tiếp 46
2.4 Vai trò của liên kết bằng phép nối trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan 50 2.4.1 Thực hiện chức năng liên kết 50
2.4.2 Khả năng tạo giá trị diễn đạt 52
2.4.3 Khả năng phát triển câu, đoạn văn trong văn bản 53
KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi đoạn văn là một chỉnh thể thống nhất nhỏ, nằm trong chỉnh thể thống nhất lớn là văn bản Tính chỉnh thể thống nhất đó được tạo thành nhờ sự sắp xếp các ngôn từ và hơn nữa là qua các phương tiện liên kết câu trong mỗi đoạn văn Liên kết câu làm cho đoạn văn không phải là một phép cộng đơn thuần giữa các câu, mà
là một chỉnh thể có tổ chức Để tạo lập được một đoạn văn hay một văn bản có tính thống nhất, có tính chỉnh thể thì không thể thiếu yếu tố liên kết
Liên kết câu trong đoạn văn gồm hai phương diện là: liên kết nội dung và liên kết hình thức Trong đó, phép nối là một trong những phương tiện liên kết câu nằm trong phương diện liên kết hình thức
Nguyễn Công Hoan là một trong những cây bút hết sức độc đáo ở vị trí hàng đầu của văn xuôi Việt Nam Nhiều tác phẩm của ông được các nhà văn, nhà lí luận, phê bình văn học, các thế hệ giáo viên và học sinh tìm tòi nghiên cứu Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được bạn đọc chú ý tới không chỉ bởi nội dung sâu sắc mà còn bởi nghệ thuật được ông sử dụng thật tài tình, thật tinh tế, phản ánh chân thực hơi thở của cuộc sống Trong những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, chúng tôi nhận thấy việc ông dùng các phương tiện liên kết đã thành quen thuộc và độc đáo với bạn đọc Để thấy cụ thể hơn thành công về nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan nói chung và phương tiện liên kết câu (hình thức) trong tác phẩm của ông nói riêng Đề tài của chúng tôi tập trung tìm hiểu các phương tiện liên kết hình thức trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Qua đề tài này, chúng tôi mong tìm được phong cách riêng, độc đáo trong sáng tác của nhà văn Đồng thời tìm hiểu phép liên kết về hình thức qua truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Từ đó giúp chúng tôi tích lũy cho mình tư liệu, chuẩn bị tốt hành trang để có thể vững vàng giảng dạy Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông theo tinh thần đổi mới
Quá trình thực hiện đề tài này sẽ là quá trình mà chúng tôi được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học để bồi dưỡng năng lực tư duy, để trang bị phương
Trang 8pháp nghiên cứu nhằm hoàn thiện bản thân theo yêu cầu đổi mới giáo dục của nước nhà
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “các phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về liên kết trong tiếng Việt
Phép nối là một trong bốn phép liên kết văn bản được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn khác nhau lại có những quan niệm về liên kết và phép nối khác nhau
- Quan niệm thứ nhất phổ biến ở giai đoạn “các ngữ pháp văn bản”coi liên kết thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Ở nước ta, người đi theo quan điểm thứ
nhất là tác giả Trần Ngọc Thêm, đã được ông trình bày chi tiết và cụ thể trong “Hệ
thống liên kết văn bản tiếng Việt” (nhà xuất bản giáo dục, H,1999) Theo ông các
phép liên kết văn bản được chia làm ba loại:
+ Loại thứ nhất: Các phép liên kết chung cho ba loại phát ngôn Bao gồm: phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính
+ Loại thứ hai: Các phép liên kết hợp nghĩa Bao gồm: phép thế đại từ, phép nối lỏng, phép tỉnh lược yếu
+ Loại thứ ba: Các phép liên kết trực thuộc Bao gồm: phép nối chặt, phép tỉnh lược mạnh
Xét riêng về phép nối, tác giả Trần Ngọc Thêm đã chia ra làm phép nối chặt và phép nối lỏng Ông nghiên cứu khá kỹ về vấn đề này và chỉ ra rằng liên kết văn bản thuộc về cấu trức chứ không thuộc về hệ thống
- Quan niệm thứ hai phổ biến vào khoảng giữa những năm 70 của thế kỷ XX và ngày càng được phổ biến rộng rãi Những người đi theo quan niệm này là các nhà ngôn ngữ học chức năng như Halliday và Hasan Khác với quan niệm thứ nhất, hai tác giả đã trình bày cách hiểu và quan niệm liên kết văn bản thuộc về hệ thống Hai tác giả đã coi hệ thống là phạm trù trung tâm của lý thuyết Theo Halliday thì phép
Trang 9nối là phương thức liên kết có tác dụng báo hiệu các quan hệ có khả năng nhận biết đầy đủ bằng cách tham khảo những phần khác nhau của toàn bộ văn bản
Ở nước ta, đi theo quan điểm thứ hai và có nhiều ứng dụng vào trong tiếng Việt
là tác giả Diệp Quang Ban Ông trình bày cách hiểu, cách phân tích về phép liên kết khá chi tiết trong nhiều bài viết ở tạp chí ngôn ngữ hay sách của ông viết Ở mỗi bài viết, ông dành khá nhiều thời gian và công sức cho việc phân tích và nghiên cứu phép nối
Bên cạnh đó, tác giả Lương Đình Dũng cũng tiến hành nghiên cứu về phép nối:
trong tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ số 6, 2005, tr.38-47
Ở tạp chí này, Lương Đình Dũng đã đưa ra các quan niệm về liên kết và phép nối Đó là các quan niệm về phép nối của Trần Ngọc Thêm, Halliday, Hassan, Diệp Quang Ban Để rồi từ đó đưa ra một vài suy nghĩ về phương pháp dạy phép nối cho học sinh
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về những vấn
đề lý luận chung của phép nối
2.2 Lịch sử nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Công Hoan ở góc độ ngôn ngữ
Có thể nói Nguyễn Công Hoan là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam Nguyễn Công Hoan đến với chủ nghĩa hiện thực bằng văn học trào phúng Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội Đa số nhân vật phản diện của ông đều thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có và quan lại, cường hào Nguyễn Công Hoan tạo ra những tình huống bất ngờ, rồi phá lên cười và làm cho người khác cười theo, nhưng ngẫm lại thật thương tâm đau xót
Ngoài sáng tác, những bài tiểu luận, phê bình văn học của ông cũng được đánh giá cao vì có cái nhìn, cách tiếp cận sắc sảo về các tác giả văn học Việt Nam.Ông
từng có mặt trong Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô từ thập niên 1960 Ông
Trang 10để lại một di sản nghệ thuật với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học
Xét riêng ở lĩnh vực ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy, có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết suất sắc về ngôn ngữ của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Có thể kể đến một số công trình, bài viết tiêu biểu dưới đây :
- Nguyễn Thị Linh Anh, Thành ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Công
Hoan, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học sư phạm Hà Nội 2, 2017
Khóa luận này đề cập đến các vấn đề lý thuyết về thành ngữ cũng như là khảo sát, phân tích đặc điểm cấu tạo của thành ngữ, mục đích sử dụng thành ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và nét độc đáo trong việc sử dụng thành ngữ của ông
- Nguyễn Văn Hương, Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý trong
ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Thành
Trần Ngọc Thêm trong cuốn: “ Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” Ở đây ông đã
có một cái nhìn khá hệ thống về các phương tiện liên kết văn bản và tiếng Việt Nhưng, nghiên cứu về phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong sáng tác của một
nhà văn nào đó thì chỉ mới có một công trình nghiên cứu có tên: “Khảo sát phương
Trang 11tiện liên kết thể hiện phép nối trong một số tác phẩm của Nam Cao”, ( Lê Thị Ngọc
Bính, K29G văn)
Còn về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, chúng tôi chưa thấy công trình nghiên cứu nào về phương tiện liên kết bằng phép nối Bởi vậy, phép liên kết mà Nguyễn Công Hoan sử dụng trong truyện ngắn của ông vẫn là vấn đề còn đang bỏ ngỏ và khóa luận này sẽ đi sâu hơn về tính liên kết trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và cụ thể là phương tiện thể hiện phép nối
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát các phương tiện thể hiện phép nối có trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, khóa luận này nhằm làm sáng tỏ giá trị, cũng như vai trò của các phương tiện liên kết thuộc phép nối qua truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Đồng thời, mở ra một hướng tiếp cận mới cho truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
4 Phạm vi nghiên cứu
Phương tiện liên kết thể hiện phép nối qua truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp cơ sở lý thuyết có liên quan đến phép nối
- Khảo sát các phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong truyện ngắn của
Nguyễn Công Hoan
- Làm sáng tỏ vai trò của các phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Dựa vào những cơ sở lý thuyết về phép nối, chúng tôi tiến hành khảo sát, rồi thống kê các phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Sau đó chúng tôi phân loại theo từng dạng nhỏ dựa trên các tiêu chí nhất định
Trang 126.2 Phương pháp phân tích
Phân tích hiệu quả của các phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và phân tích vai trò của các phương tiện liên kết thể hiện phép nối đó
6.3 Phương pháp so sánh
So sánh giữa Nguyễn Công Hoan và các tác giả cùng thời trong việc sử dụng các phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong tác phẩm của mình để từ đó thấy được Nguyễn Công Hoan đã rất khéo léo sử dụng các phương tiện nối để tạo liên kết
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận có bố cục hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Vai trò của các phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát về liên kết
1.1.1 Quan niệm về liên kết
Liên kết là một hiện tượng dễ nhận biết, nhưng hiểu biết về liên kết giữa các nhà nghiên cứu lại không hề giống nhau
Ở giai đoạn đầu, liên kết được giới hạn chủ yếu ở những biểu hiện hình thức Nhưng quan niệm này có ngoại diên quá rộng và không có khả năng đóng vai trò nhân tố quyết định trong việc phân biệt văn bản với phi văn bản Bởi lẽ, dễ dàng có thể tạo ra những chuỗi câu được xem là văn bản
Ví dụ:
“(1) Cắm bơi một mình trong đêm.(2) Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt đường.(3) Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm.(4) Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng.(5) Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy núi Hồng Pú (6) Dãy núi này có ảnh hưởng quyết định tới gió mùa đông bắc ở nước ta.(7) Nước ta bây giờ của ta rồi, cuộc đời bắt đầu hửng sáng.”
(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt)
Nhìn tổng thể, ta có thể thấy đoạn văn trên liên kết với nhau về mặt hình thức nhờ
có sự lặp lại của một chuỗi từ giữa các câu: Cắm – đêm – đường – xe – trăng – núi
– gió mùa – nước ta - cuộc đời Nhưng xét chi tiết từng câu, ta thấy các câu không
phối hợp logic với nhau, không bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung Câu 1: Hành động của nhân vật Cắm
Câu 2: Đặc điểm của đêm tối
Câu 3: Hành động của “xe”
Câu 4: Cô gái đặt trong sự so sánh với trăng
Câu 5: Đặc trưng của trăng ở Hồng Pú
Câu 6: Vai trò của dãy núi ảnh hưởng đến khí hậu nước ta
Câu 7: Niềm vui của nhân dân ta khi giành độc lập
Ta thấy mỗi câu hướng vào giải thích và làm rõ một chủ đề khác nhau
Trang 14Vậy nên, cách hiểu một chuỗi câu có sự liên kết với nhau về mặt hình thức nhưng không cùng diễn đạt một nội dung nào đó mà vẫn được xem là văn bản thì không thể thuyết phục được
Ở giai đoạn 2, khi đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu những đặc trưng của văn bản, các nhà nghiên cứu ngày càng chú ý đến vai trò của liên kết ngữ nghĩa Tuy nhiên, nếu tách biệt liên kết ngữ nghĩa với liên kết nội dung thì sẽ dẫn đến sự tách rời hoàn toàn hình thức khỏi nội dung Điều này khiến cho nhiều cái gọi là “phi văn bản” cũng sẽ trở thành văn bản
Ví dụ:
“ Phải loại bỏ tính tùy tiện, phải đấu tranh thay đổi những nguyên tắc lỗi thời
Có thể sẽ bị thất bại, nói bao giờ cũng giỏi hơn làm Làm có khi thành khi bại, tốt hơn không làm Chúng ta phải tìm ra cách làm tốt nhất, không thất bại.”
Các câu trong ví dụ trên, ta dễ nhận thấy là có liên kết với nhau về mặt nội dung
là cùng diễn đạt: cần thay đổi loại bỏ tính tùy tiện trong công việc Nhưng cũng khó
để ta có thể chấp nhận đó là một văn bản hoàn chỉnh Nhưng nếu ta thay vào đó các phương tiên liên kết về hình thức thì chúng sẽ rõ ràng, chính xác, chăt chẽ và thuyết phục hơn nhiều
Trang 15Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về liên kết mà cụ thể là liên
kết trong văn bản như sau: “Liên kết được hiểu một cách chung nhất là mạng lưới
các mối quan hệ Liên kết trong văn bản được hiểu là mạng lưới các mối quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp logic và ngữ dụng.” [2,12]
1.1.2 Những phương diện biểu hiện của tính liên kết
Văn bản là một tổ chức rất phức tạp bao gồm nhiều bình diện khác nhau Trong
cuốn Hế thống liên kết văn bản tiếng Việt, tác giả Trần Ngọc Thêm đã viết: “ Tính
liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản.” [12,32] Tính liên kết của văn bản được biểu hiện ở hai phương diện: liên
kết hình thức và liên kết nội dung Giữa hai phương diện này có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau: liên kết nội dung được thể hiện bằng hệ thống các phép liên kết hình thức và liên kết hình thức chủ yếu để diễn đạt sự liên kết nội dung Điều này không có nghĩa là giữa hai mặt này có sự tương ứng tuyệt đối theo kiểu một đối một Mà chính mối quan hệ biện chứng này cũng nó lên được sự linh hoạt
đó
1.1.2.1 Liên kết nội dung
Liên kết nội dung là một khái niệm khó định nghĩa Liên kết nội dung được giải thuyết là tất cả các câu trong đó đều phối hợp với nhau một cách hài hòa, bổ sung cho nhau để cùng thực hiện một nội dung Và khái niệm liên kết nội dung rộng hơn khái niệm “liên kết ngữ nghĩa”, nó nhấn mạnh nhiều đến nhân tố ngoài ngôn ngữ Liên kết nội dung chỉ được nhận ra khi đặt trong mối quan hệ với liên kết hình thức Chúng ta sẽ đi xem xét kỹ hai bình diện là: liên kết chủ đề và liên kết logic để nhận biết rõ hơn liên kết nội dung
a Liên kết chủ đề
Văn bản do các câu, các mục, các chương, các phần,… tạo nên Mỗi đơn vị của văn bản đều chứa một nội dung Nói một cách khái quát, nội dung của mỗi đơn vị đều có thể trả lời được hai câu hỏi: nội dung nói đến điều gì? Và nói đến nội dung
đó như thế nào? Câu hỏi nói đến điều gì đề cập đến hiện thực được nói đến trong văn bản hay của một bộ phận nào đó cấu thành toàn bộ hiện thực được nói tới của
Trang 16văn bản Đây chính là chủ đề của văn bản Vậy nên, chủ đề ở liên kết chủ đề được
hiểu như vật, việc, đề tài được nói đến Chúng ta có thể hình dung liên kết chủ đề tựa như sợi dây liên kết hợp lí giữa những vật, việc được nói đến trong các câu có liên kết với nhau Nói khác đi, liên kết chủ đề chính là các câu trong văn bản phải xoay quanh một chủ đề nhất định
Có thể thực hiện liên kết chủ đề theo hai cách sau:
- Duy trì chủ đề: là việc nhắc lại một việc, một vật nào đó trong các câu có sự
liên kết với nhau
Ví dụ:
Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đấy
Con cóc nhảy đi
Phương thức dùng để duy trì chủ đề là lặp từ vựng để các câu thơ đều nói về con cóc
- Triển khai chủ đề: Hiểu đơn giản là cùng với một hay một vài chủ đề đã cho,
cho thêm vào một hay những chủ đề khác nhau, có liên quan với chủ đề ban đầu đã cho, theo tiêu chuẩn cần và đủ của logic, để đảm bảo cho các câu chứa chúng liên kết với nhau
Ví dụ:
Ruộng rẫy là chiến trường Cày cuốc là vũ khí Nhà nông là chiến sỹ Hậu phương thi đua với tiền phương
(Hồ Chí Minh) Bài thơ có sự phát triển do có nhiều chủ đề khác nhau như:
- Chủ đề nông nghiệp: ruộng rẫy, cày cuốc, nhà nông
- Chủ đề quân sự: chiến trường, vũ khí, chiến sỹ, hậu phương, tiền phương
Phương thức dùng để triển khai chủ đề ở ví dụ trên là liên tưởng
Trang 17b Liên kết logic
Liên kết logic là sự tổ chức, sắp xếp nội dung của các thành tố, các câu trong văn bản sao cho phù hợp nhận thức của con người và thực tế khách quan
Liên kết logic có thể được xem xét ở hai phạm vi khác nhau:
+ Bên trong một câu
Ví dụ:
Chiếc áo này đẹp lại rẻ nên tôi sẽ mua
+ Giữa câu với câu ( Hoặc giữa cụm câu này với cụm câu khác, giữa phần này của văn bản với phần kia của văn bản)
Ví dụ:
Phương học rất giỏi Cô ấy đã thi đỗ vào trường đại học mà cô ấy mơ ước
Tóm lại, ta có thể hiểu, liên kết logic là sợi dây kết nối hợp lí giữa vật, việc với đặc trưng của chúng trong một câu và giữa đặc trưng này với đặc trưng kia ở những câu có liên kết với nhau
1.1.2.2 Liên kết hình thức
a Phân biệt phương tiện liên kết và phép liên kết
• Phép liên kết (phương thức liên kết)
Phép liên kết hay còn được gọi là phương thức liên kết Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ phép liên kết để tạo được sự đồng nhất trong toàn khóa luận
Phép liên kết là việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ vào nhiệm vụ liên kết câu với câu, do đó các phép liên kết góp phần lộc bộ (chứ không quyết định) các kiểu câu được phân loại căn cứ vào tính hoàn chỉnh về nghĩa đã nêu
Phép liên kết có thể hiểu là những cách thức, biện pháp chung trong việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ nhằm tạo ra sự liên kết cho văn bản
Có thể kể đến những phép liên kết sau:
Phép lặp, phép liên tưởng, phép tỉnh lược, phép nối, phép tuyến tính, phép đối, phép thế
Ví dụ 1: Phép liên tưởng
Trang 18“ Xóm nhà mẹ Lân bị ném bom, điều ấy không hiểu sao vẫn nằm ngoài dự đoán của tôi.(…) Nhà mẹ Lân đã cháy sạch.”
( Người mẹ xóm nhà thờ, Nguyễn Minh Châu) Đây là phép liên tưởng theo quan hệ nhân quả Đó là kiểu liên tưởng giữa nguyên nhân ở câu trước với kết quả được tạo ra ở những câu sau:
+ Nguyên nhân: do Mĩ ném bom
+ Kết quả: Nhà mẹ Lân cháy sạch
Ví dụ 2: Phép nối
“ Người con gái thời ấy mặt phải tròn, mắt phải dài, răng đen hạt na, lông mày kẻ
nhỏ Và phải có da có thịt.”
( Má hồng, Nguyễn Khải)
Ở ví dụ trên, quan hệ từ “và” có tác dụng kết nối giữa hai câu với nhau, bổ sung
thêm thông tin cho phát ngôn đi trước, liên kết giữa phát ngôn đi trước và phát ngôn
chứa nó Về mặt hình thức, quan hệ từ “và” không làm ảnh hưởng đến cấu trúc của câu cũng như đoạn văn Về mặt nội dung, quan hệ từ “và” có tác dụng nhấn mạnh
ngữ nghĩa của đoạn là: Người con gái thời ấy phải có da có thịt
- “Anh chàng hầu cận ông lí” thay thế cho “người nhà lí trưởng”
- “Chị chàng con mọn” thay thế cho “chị Dậu”
Phép thế chính là sự lặp lại các từ khác nhau nhưng có cùng một ý nghĩa Nó giúp cho đoạn văn tránh được hiện tượng lặp từ, mà hơn hết, nó có tác dụng giúp các câu liên kết với nhau và tạo nên giá trị nghệ thuật cao
Trang 19Phương tiện liên kết được hiểu là những yếu tố ngôn ngữ cụ thể được sử dụng làm công cụ, phương tiện để tạo sự liên kết giữa các câu, các đoạn văn trong cùng văn bản Đây chính là sự cụ thể hóa các phép liên kết bằng các yếu tố từ ngữ
Ví dụ 1:
“Từ ngày thằng Mĩ – Diệm tới rừng núi này, không bữa nào nó không đi lùng,
không đêm nào chó của nó và súng của nó không sủa vang cả rừng Nhưng dân
làng Xô Man vẫn tự hào: năm năm, chưa hề có một các bộ bị giặc bắt hay giết trong rừng làng này.”
( Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành)
Phương tiện liên kết là quan hệ từ “ nhưng”, có tác dụng nối hai câu với nhau, tạo nên mối quan hệ giữa chúng Quan hệ từ “nhưng” là một trong những phương tiện
từ ngữ thể hiện phép nối
Ví dụ 2:
“ Theo với mùa lúa, tùng đàn chim ri bay về mọi cánh đồng Và hai con chim ri đá kia thơ thẩn vào trong vườn này Đó là một đôi vợ chồng Chàng và nàng.”
(Đôi ri đá, Tô Hoài)
Phương tiện liên kết là đại từ “đó” và quan hệ từ “và”
Cần thấy rằng, một phép liên kết có thể sử dụng nhiều phương tiện liên kết Và một phương tiện liên kết cũng có thể được sử dụng cho nhiều phép liên kết khác nhau
Ví dụ:
“ Cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là đấy lại là lời một người đàn bà khốn
khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một
chánh án huyện Còn tôi, một người đáng lẽ mụ phải biết ơn.”
( Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu)
Ví dụ trên sử dụng phương tiện liên kết thể hiện cho phép nối: Dầu
Ví dụ:
Một phương tiện liên kết có thể sử dụng cho nhiều phép liên kết
“ Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu
Trang 20Chị Dậu nghiến hai hàm hàm răng:
- Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn díu ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng kèo quèo trên
mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu.”
(Tắt đèn, Ngô Tất Tố) Đoạn văn trên trên có sử dụng hai phép liên kết:
- Phép lặp: “chị”, “hắn”
- Phép thế:
+ Các từ “hắn”, “anh chàng nghiện” thay thế cho “cai lệ”
+ Các từ “chị”, “người đàn bà lực điền” thay thế cho “chị Dậu”
b Các phép liên kết
Mỗi ý tạo nên văn bản được biểu thị bằng một đơn vị ngôn ngữ nhất định, nhỏ nhất là câu, lớn hơn nữa là đoạn, tiểu mục, chương, phần, và bao trùm lên tất cả là toàn bộ văn bản Mạch lạc giữa các ý được biểu hiện ra bên ngoài bằng hình thức ngôn ngữ Qua hình thức ngôn ngữ này, người đọc, người nghe văn bản nhận ra được mạch lạc của văn bản, nhận ra liên kết chủ đề, liên kết logic giữa các câu, các đoạn Đây được gọi là liên kết hình thức của văn bản
Ta có thể định nghĩa liên kết hình thức như sau: Liên kết hình thức là sự nối kết các hình thức ngôn ngữ thể hiện mạch lạc của văn bản
Nội dung câu là đơn vị nhỏ nhất của văn bản và hình thức câu là đơn vị hình thức nhỏ nhất của văn bản nên liên kết hình thức của văn bản thể hiện ở liên kết hình thức giữa các câu Trong hai câu liên kết với nhau, có một câu sẽ làm chỗ dựa được
gọi là câu chủ ngôn và một câu nối kết với nó, được gọi là câu kết ngôn Câu chủ
ngôn và câu kết ngôn thường có những dấu hiệu hình thức nối kết với nhau Và dấu hiệu này thể hiện các quan hệ nội dung giữa chúng Vậy nên, việc nghiên cứu liên kết hình thức của văn bản thường được bắt đầu bằng liên kết hình thức giữa các câu,
mà trước hết là giữa câu chủ ngôn và câu kết ngôn
Trang 21Các câu trong văn bản liên kết hình thức với nhau thông qua các phép liên kết Phép liên kết là việc sử dụng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ vào thực hiện nhiệm vụ liên kết các câu với nhau Nhờ vậy mà các phép liên kết này góp phần bộc
lộ các kiểu câu được phân loại căn căn vào tính hoàn chỉnh về nghĩa Theo hướng
nghiên cứu này, Trần Ngọc Thêm trong cuốn Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
đã chia các phép liên kết thành ba nhóm chính sau:
Các phép liên kết
chung
Các phép liên kết hợp nghĩa
Các phép liên kết trực thuộc
Theo tác giả Diệp Quang Ban cho rằng, mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lí
về mặt nghĩa và mặt chức năng được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản nào đó (Ví như một cuộc thoại, một truyện kể, một bài viết hay bài nói,…) nhằm tạo ra các sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu
Trong khái niệm trên tác giả Diệp Quang Ban đã chỉ ra những điểm cần chú ý sau:
Trang 22- Tác giả dùng “sự nối kết” nhằm tránh sự trùng lặp tên gọi có tính chất thuật ngữ
là “liên kết” Bởi lẽ, liên kết là đối tượng nghiên cứu có tính chất riêng biệt của ngôn ngữ học văn bản
- “Có tính chất hợp lí” tức là có tính chất logic Hiểu rộng ra không chỉ liên quan đến logic một cách chặt chẽ, mà đó là tính chất đúng sai nói chung, kể cả xét theo tập tục, thói quen và những kiểu quan hệ như không gian, thời gian
- “Nghĩa” ở đây, có thể là nghĩa chỉ “sự việc”, có thể là về sự đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu hay quan hệ của người nói đối với người nghe
- “Mặt chức năng” có thể hiểu là chức năng của lời nói khi sử dụng để thực hiện những hành động như: xin lỗi, cảm ơn, kính thưa, chào,…
- “Các sự kiện kết nối với nhau” hiểu là sự quan hệ của các sự việc, phân biệt với
sự liên kết giữa câu với câu Bởi vì sự liên kết giữa câu với câu chưa hẳn đã tạo nên được những sự kiện nối kết với nhau
Như vậy, ta có thể thấy trong bản thân định nghĩa về mạch lạc đã phần nào nêu lên đặc trưng vốn có của mach lạc về mặt nghĩa cũng như về mặt chức năng của nó đối với việc hình thành văn bản
1.2.2 Những biểu hiện của mạch lạc
Theo tác giả Diệp Quang Ban cho rằng mạch lạc trong văn bản đã được nhắc đến
từ lâu dưới hình thức tiền khái niệm Nhiều người có thể nhận ra được một văn bản mạch lạc, nhưng lại không thể chỉ ra được mạch lạc của văn bản là gì Vì vậy, mạch lạc là một hiện tượng có thực nhưng lại rất mơ hồ và nó còn là một hiện tượng có mức độ
Do đó, ta thấy theo quan điểm trên thì thì mạch lạc có thể được hiểu là quan hệ ngữ nghĩa mà cũng có thể là quan hệ chức năng giữa các hành động nói trong tương tác Dưới đây là những biểu hiện thực tế cụ thể của mạch lạc mà ta dễ dàng nhận biết được:
- Mạch lạc được biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong cùng một câu
Trang 23+ Mạch lạc được biểu hiện trong quan hệ giữa vật nêu ở chủ ngữ với đặc trưng ở vị ngữ
Ví dụ: Cái ghế vuông này hình chữ nhật
Xét về mặt ngữ pháp thì câu này có đầy đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ như
một câu đơn hoàn chỉnh và đúng ngữ pháp Cũng giống như câu “cái ghế nhỏ này
hình chữ nhật” Nhưng về nghĩa logic thì lại không thể chấp nhận được bởi nó có
sự mâu thuẫn giữa đặc điểm ở chủ ngữ và vị ngữ: đã “vuông” rồi còn “hình chữ
nhật” Vì „vuông” là đặc điểm của cái bàn được quy định ở chủ ngữ nên đặc trưng
“hình chữ nhật” ở vị ngữ không thể dung hợp được với nhau
+ Mạch lạc được biểu hiện trong quan hệ cú pháp giữa động từ và bổ ngữ
Ví dụ:
a Học sinh trong lớp rất tự hào và quý mến về cô giáo ấy
b Học sinh trong lớp rất tự hào và quý mến cô giáo ấy
Trong hai ví dụ trên, từ “tự hào” và “quý mến” có sự chi phối khác nhau đối với cụm từ cô giáo ấy Từ “tự hào” đứng trực tiếp trước “cô giáo ấy” Còn từ “ quý
mến” có sử dụng quan hệ từ “về” đứng trước “cô giáo ấy”
- Mạch lạc được biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài – chủ đề của các câu + Duy trì đề tài
Duy trì chủ đề, đề tài trong trường hợp một vật, việc, hiện tượng nào đó được nhắc
đi nhắc lại trong các câu khác nhau với tư cách đề tài của các câu đó
Sự duy trì đề tài được thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện liên kết thuộc các phép liên kết như phép lặp từ ngữ, phép tỉnh lược, phép thế,
Trang 24Trong ví dụ trên, “ xe ô tô của ông Chánh” được thay thế bằng từ “nó” cho nên chủ
đề của đoạn văn được duy trì bằng phép thế
+ Triển khai chủ đề (bằng phép so sánh và phép phối hợp từ ngữ)
“Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa.”
(Đất nước, Nguyễn Đình Thi) Trong các câu thơ trên ta thấy, phép liên tưởng mà nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã
vận dụng là liên tưởng đặc trưng Đối tượng cụ thể ở đây là “mùa thu” kèm theo những những dấu hiệu đặc trưng của nó như: sáng mát trong, gió thổi, hương cốm
mới Kiểu liên tưởng thứ hai trong đoạn thơ là liên tưởng nhân quả Những dấu hiệu
trên là những dấu hiệu đặc trưng của mùa thu trong hiện tại Đây chính là nguyên
nhân khiến cho tác giả nhớ về những ngày thu đã xa
- Mạch lạc được biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
Qua đó ta thấy được mạch lạc chính là yếu tố quyết định một chuỗi câu trở thành văn bản Liên kết bằng từ ngữ chỉ tạo ra được mạch lạc giữa các câu vốn có mạch lạc với nhau, và không phải cứ có từ ngữ liên kết là sẽ có mạch lạc
- Mạch lạc được thể hiện trong trật tự hợp lý giữa các câu, các mệnh đề
+ Trật tự các câu diễn đạt trong quan hệ thời gian
Ví dụ:
Trang 25“Bác bảo vệ đóng cổng trường lại, sau khi học sinh đã vào trường hết.”
Ở ví dụ trên, các sự việc nằm trong quan hệ thời gian được diễn đạt bằng các câu
được hiển thị bằng từ ngữ “sau khi”
+ Trật tự các câu diễn đạt trong quan hệ nguyên nhân
Ví dụ:
“(1) Trời mưa.(2) Cho nên đường trơn.”
Trong ví dụ trên, sự việc được nêu ở câu (1) thỏa mãn các điều kiện, làm nguyên nhân cho sự việc và hệ quả được nêu ở câu (2) Câu chỉ nguyên nhân đặt trước và câu chỉ hệ quả được đặt sau, trật tự này đã đủ sức diễn đạt cho quan hệ nguyên nhân
- Mạch lạc được thể hiện theo kiểu suy luận quy kết
Ví dụ:
“Tùng bước vào quán cà phê, rồi gọi người phục vụ đến Trời hôm nay mưa lất phất.”
Ta thấy rằng trong ví dụ trên không nói đến việc ai nhận ra hiện tượng “trời
mưa lất phất”, nhưng khi phát ngôn này được người đọc tiếp nhận thì đa phần họ
đều dùng cách suy luận theo lối quy kết Họ gán việc này cho chủ thể của đề tài văn bản là Tùng, mà không làm việc đó với nhân vật cũng xuất hiện trong phát ngôn ở đây là người phục vụ Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng những chủ thể làm đề tài của văn bản chính là những tiêu điểm được chú ý đến đó
- Mạch lạc được biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu
+ Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu và tác dụng của nó đối với việc hiểu văn bản
Ví dụ:
“Nhớ đừng kể chuyện ấy cho nó nhé.”
Xét trong ví dụ trên, thực ra chỉ những người trong cuộc trò chuyện đó mới hiểu
được Người đọc, người nghe không hiểu “chuyện ấy” là chuyện gì và “nó” là ai Muốn biết “nó” là ai thì cần phải quy chiếu từ “nó” đến người đang được nhắc đến
Trang 26bên ngoài lời nói Với “chuyện gì” cũng tương tự như vậy Đây chính là trường hợp
từ ngữ trong văn bản có quan hệ với vật nằm ngoài văn bản
+ Sự chỉ thị trong quan hệ ngoại chiếu
Ví dụ:
Nga: Tối nay chúng mình đi xem phim đi?
Phương: Mình phải làm bài tập rồi
Nga: Thế thôi vậy
Trong ví dụ trên, chúng ta thấy về mặt từ ngữ thì ba phát ngôn trên có vẻ không
ăn nhập với nhau Tuy nhiên, đây lại là một hiện tượng dễ gặp trong nhiều ngôn ngữ thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau Câu nói của Nga với hàm ý là một lời mời và trước tình huống đó có hai cách xử sự: nhận lời hoặc từ chối Đối với lời mời nói chung thì sẽ đem lại lợi ích cho người nghe, nhưng nếu người nghe không chấp nhận thì phải xin lỗi người mời
Qua đó, những phát ngôn trong cuộc phát ngôn trên là có thể chấp nhận được bởi
vì chúng mạch lạc với nhau và người giao tiếp hiểu được đúng thông tin trong phát ngôn đó
- Mạch lạc được biểu hiện trong quan hệ lập luận
+ Hai kiểu lập luận khái quát có thể thường gặp
+ Lập luận, các bộ phận trong quan hệ lập luận
+ Quan hệ giữa các luận cứ với nhau và giữa các luận cứ với kết luận
+ Mạng lập luận
Chúng ta sẽ xét các ví dụ sau:
“Cái váy này đẹp nhưng không nên mua.”
Trong lập luận trên, luận cứ “cái váy này đẹp” lẽ ra phải đi đến kết luận “nên
mua” nhưng lại kết luận là “không nên mua” Trước lập luận này thường dẫn đến
câu hỏi “tại sao?” Câu trả lời có thể là do “quá đắt” Đây là luận cứ thứ hai và chính luận cứ này đi đến kết luận là “không nên mua.”
Trong một lập luận, các luận cứ có mối quan hệ với nhau và có quan hệ với kết luận
Trang 27Ví dụ:
“Cái áo vét này rẻ lại hợp thời trang, nên mua được.”
Các luận cứ trong lập luận này đồng hướng với nhau và cùng phục vụ cho kết luận
“Cái áo vét này rẻ nhưng lại không hợp với bạn, không nên mua.”
Các luận cứ trong ví dụ trên nghịch hướng với nhau, có luận cứ phản kết luận, có luận cứ phục vụ kết luận
Trong một lập luận, ta thấy, nếu như xét theo quan hệ đồng hướng lập luận thì các luận cứ có hiệu lực lập luận rất khác nhau Trong một lập luận thì luận cứ đứng sau
có hiệu lực lập luận mạnh hơn Điều này đúng cho cả luận cứ đồng hướng và nghịch hướng
Từ đây, chúng ta có thể đi đến kết luận: Với những lập luận mà luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh thì sẽ có tác dụng quyết định đến lập luận Hơn nữa, hiệu lực lập luận không chỉ phụ thuộc vào nội dung của luận cứ mà còn phụ thuộc vào vị trí của chúng trong lập luận Những luận cứ mà càng gần với kết luận bao nhiêu thì càng
1.2.3 Quan hệ giữa mạch lạc và liên kết
Mạch lạc và liên kết là hai vấn đề không phải bao giờ cũng phân biệt được nhưng vẫn có thể phân biệt được: mạch lạc thì được định nghĩa là “liên kết về mặt nghĩa”, còn liên kết là “mạch lạc của văn bản”, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau
Trong văn bản, nếu nói đến liên kết thì liên kết được hiểu trên cả hai phương diện: liên kết hình thức và liên kết nội dung
Trang 28Nếu cho mạch lạc là cái quyết định để một chuỗi câu trở thành văn bản thì mạch lạc chính là liên kết ngữ nghĩa (hay còn gọi là liên kết nội dung), tức là đây chính là phương diện song song với liên kết (hiểu theo quan niệm liên kết là liên kết hình thức) Muốn có liên kết nội dung vẫn bắt buộc phải thông qua các phương tiện liên kết hình thức
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, chúng tôi xin được đưa ra một vài điểm giống nhau và khác nhau để có thể phân biệt liên kết và mạch lạc Tuy nhiên,
sự phân biệt trên chỉ mang tính chất tương đối bởi như đã nêu ở trên thì mạch lạc và liên kết rất khó để phân biệt với nhau mặc dù ta có thể dễ dàng nhận biết chúng trong một văn bản
1.2.3.1 Điểm giống nhau
Thứ nhất, cả mạch lạc và liên kết đều có hình thức thể hiện của nó Cụ thể như sau:
- Liên kết được thể hiện cụ thể thông qua các phép liên kết như phép tỉnh lược, phép đối, phép tuyến tính, phép liên tưởng, phép thế, phép nối, phép lặp Ví
dụ chứng minh đã được chúng tôi nêu ở mục 1.1.2
- Mạch lạc được biểu hiện cụ thể trong quan hệ logic giữa các từ ngữ (triển khai đề tài, duy trì chủ đề, trình tự hợp lý giữa các câu,…), biểu hiện trong quan hệ ngoại chiến và khả năng dung hợp với nhau giữa các hành động nói
Ví dụ:
Mai Anh bị ốm Và Mai Anh thấy rất mệt mỏi và khó chịu
Hai câu này được sắp xếp theo một trình tự hợp lí nguyên nhân – kết quả
Thứ hai, mạch lạc và liên kết đều góp phần làm thành đặc trưng quan trọng của văn bản Mạch lạc và liên kết là điều kiện tạo nên một văn bản địch thực Hơn nữa, một văn bản hoàn chỉnh về mặt nội dung và hình thức thì phải đảm bảo sự tồn tại của liên kết và mạch lạc trong văn bản đó
Ví dụ 1:
Liên kết trong văn bản sau:
Trang 29“ Thấy thị hỏi, bà già kia bật cười Bà tưởng cháu bà nói đùa Nhưng chợt nhớ ra
rằng cháu bà vốn dở hơi Bà bỗng trở nên hoảng hốt Bà nhục cho ông cha nhà bà Cũng có lẽ bà tủi cho thân bà Bà nghĩ đến cái đời dài dằng dặc của bà, không có
chồng Bà thấy chua xót lắm Bà uất ức, uất ức với ai không biết Nhưng rồi đổ cái
uất ức ngay lên cháu bà!”
(Chí Phèo, Nam Cao)
Đoạn văn trên sử dụng các từ liên kết thể hiện phép nối: nhưng
Ví dụ 2:
Mạch lạc trong văn bản sau:
“Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng – những màu vàng rất khác nhau Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cứng và sáng ngày
ra trông thấy màu trời có vàng hơn mọi khi Lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại Nắng nhạt ngả màu vàng hoe Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm, không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng Từng chiếc
lá mít vàng sẫm Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi Buồng chuối quả chín vàng đốm Nắng vườn chuối đương có gió lẫn với lá vàng, như những vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy Bụi mía vàng xọng, từng đốt ngần phấn trắng Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn Quanh đó, con gà, con chó cũng vàng mượt Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới Tất cả đượm một màu trù phú, đầm ấm
lạ lùng Không có cảm giác héo tàn, hanh hao lúc sắp bước vào mùa đông”
(Quang cảnh làng mạc ngày mùa, Tô Hoài)
Tính mạch lạc đƣợc thể hiện qua các yếu tố: Chủ đề là cảnh sắc vàng của làng quê giữa ngày mùa Trình tự miêu tả theo sự quan sát của tác giả từ bao quát đến cụ thể,
từ xa đến gần, từ cao xuống thấp Bắt đầu là liên hệ về thời gian, tiếp đến, liên hệ chủ yếu giữa các câu là liên hệ không gian,… Hệ thống các tính từ chỉ những sắc thái khác nhau của màu vàng cũng góp phần tạo nên mạch lạc của văn bản về sắc vàng của làng quê này: vàng xuộm lại, vàng hoe, vàng lịm, vàng sẫm, vàng tươi,
vàng đốm, vàng xọng, vàng giòn, vàng mượt, vàng mới….Nhƣ vậy, ta thấy có một
dòng mạch lạc chảy xuyên suốt đoạn văn trên
Trang 301.2.3.2 Điểm khác nhau
- Liên kết hiểu theo nghĩa rộng gồm liên kết nội dung và liên kết hình thức Trong
đó, liên kết nội dung còn được gọi là mạch lạc nên do đó liên kết sẽ bao gồm cả mạch lạc Mạch lạc được xem là một phương diện tạo tính hoàn chỉnh cho văn bản
về mặt nội dung
- Liên kết hiểu theo nghĩa hẹp chỉ được hiểu là liên kết về mặt hình thức Điều đó có nghĩa, nó là một hình thức biểu hiện của mạch lạc Hiểu theo cách này, có thể phân biệt liên kết và mạch lạc
+ Liên kết là một yếu tố có ảnh hưởng đến việc tạo thành văn bản Nhưng nó không
phải là yếu tố quyết định Liên kết có thể xuất hiện trong phi văn bản lẫn văn bản
Ví dụ 1: Liên kết xuất hiện trong văn bản đích thực
“ Hồi vỗ tay vừa dứt, thì họa sĩ trên sân khấu đã lâm vào cảnh khốn cùng về đường
tình Nỗi tử biệt sinh ly làm cho họa sĩ ngây ngất, ủ rũ như chiếc hoa tàn buổi chiều
thu.”
( Nguyễn Công Hoan, Kiếp tài tình)
Đoạn văn trên liên kết được với nhau là nhờ có sự lặp lại của các từ ngữ thể hiện
phép lặp: Họa sĩ Các câu trong đoạn văn cùng hướng đến làm rõ cho chủ đề về ông
họa sĩ trên sân khấu
Qua đây, ta thấy, trong đoạn văn trên liên kết xuất hiện trong một văn bản đích thực và có tác dụng giúp cho văn bản hoàn chỉnh hơn cả về nội dung và hình thức
Ví dụ 2: Liên kết xuất hiện trong phi văn bản
“ Một người đàn ông bước vào một quán “bar” (1) Các quán “bar” bán bia ngon
(2) Thứ bia này được chế biến ở Đức (3) Đức đã đi vào cuộc chiến với Anh (4).”
( Wales, Liên kết và mạch lạc trong văn học)
Đoạn văn trên có sự liên kết giữa các câu nhờ có sự lặp lại các từ ngữ: quán bar, bia, Đức Nếu xét từng cặp câu một liền nhau như một chuỗi câu nhỏ độc lập thì ta
có thể thấy hai câu trong đoạn đều có liên kết với nhau theo phép lặp Và từng cặp câu đó hình thành nên một chủ đề chung nào đấy:
Trang 31Cặp câu nhỏ Phương tiên kiên kết Đề tài
Nhưng đây lại là một phi văn bản, bởi vì nhìn toàn bộ văn bản thì các câu không thống nhất về một chủ đề
+ Mạch lạc là một trong những yếu tố quyết định làm cho một sản phẩm ngôn ngữ
có tư cách là một văn bản Điều này có nghĩa là, một văn bản đích thực thì bắt buộc phải mạch lạc
Ví dụ:
“ Nhưng họ chiêu đãi ông Cửu để họ lợi dụng ông ấy, vì cái phép bí mật làm cho bạc đẻ mà ông Cửu dặn ông Trưởng giấu kín, nó đã hở toác ra mất rồi Cho nên không ngày nào không có người nhờ làm bạc đẻ.”
( Nguyễn Công Hoan, Bạc đẻ)
Đoạn văn trên có sự mạch lạc bởi vì giữa các câu có mối quan hệ nguyên nhân kết quả với nhau:
Câu 1: Nêu nguyên nhân: Họ chiêu đãi ông Cửu vì ông Trưởng làm lộ bí mật
Câu 2: Nêu hệ quả của việc đó, là ngày nào ông Cửu cũng có người nhờ làm bạc đẻ
Ta thấy từ sự phân tích trên, liên kết có thể tạo ra một văn bản đích thực hoặc cũng có thể tạo ra một phi văn bản Còn về mạch lạc giữa các câu có vai trò quyết định để tạo ra một văn bản đích thực, và cả một chuỗi câu không mạch lạc không phải một văn bản hoàn chỉnh
Như vậy, mọi văn bản có mạch lạc tiềm ẩn đều có thể sử dụng phương tiện liên kết
để hiển ngôn hóa các kết nối mạch lạc Liên kết trong chừng mực đó là một thứ phương tiện của mạch lạc Ngoài chừng mực làm phương tiện cho mạch lạc, liên kết
có thể không đem lại một văn bản
1.3 Giản yếu về phép nối
1.3.1 Quan niệm về phép nối
Trang 32Phép nối từ lâu đã được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm Theo các nhà nghiên cứu, phép nối được khẳng định rất khác với các phép liên kết khác như: phép tỉnh lược và thay thế, phép quy chiếu, phép liên kết từ vựng Ba phép liên kết đã nêu trên chủ yếu dựa vào mối quan hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều yếu tố tạo ra liên kết, và tạo ra mối quan hệ ngữ nghĩa giữa văn bản Ta thấy, phép nối chủ yếu dựa vào ý nghĩa chuyên biệt của bản thân từ nối cộng hưởng với ý nghĩa của các đơn vị phát ngôn được nối trong văn bản Phép nối khác với phép quy chiếu, tỉnh lược và thay thế ở chỗ: Nó không phải là cách để nhắc người ta nhớ lại những thực thể hành động cũng như sự thể đã được cập nhật trước đó Nó được gọi
là phép liên kết nối bởi lẽ nó báo hiệu các mối quan hệ mà những quan hệ này chỉ
có thể hiểu một cách đầy đủ được thông qua tham khảo các phần khác của văn bản
Mc Carthy cũng như Hasan và Haliday cùng có quan điểm như vậy khi bàn về phép nối Mc Carthy đã cho rằng bản thân từ nối không thể mở ra khả năng nối hay chỉ giống như các phương tiện liên kết vừa nêu Tuy nhiên, nó có tác dụng chỉ ra tiền giả định cho tính liên hoàn về cấu trúc của văn bản cũng như ý nghĩa của các phát ngôn khác Sự xuất hiện của các phương tiện nối có tác dụng báo trước mối quan hệ về nghĩa giữa các mệnh đề, câu, phát ngôn và đoạn văn trong văn bản Chúng liên kết các bộ phận của văn bản thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, các nhà phân tích diễn ngôn đã khẳng định rằng phép nối được sử dụng nhiều hơn so với các phép liên kết khác trong văn bản Mặt khác ta thấy, cơ sở cho việc liên kết hai phát ngôn lại với nhau là sự tồn tại của các quan hệ mà trong đó các quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng và hơn nữa nó được thể hiện ra bằng những phương tiện từ vựng Như vậy ta sẽ có hiện tượng nối liên kết hay còn gọi là các phép nối nói chung
Từ đây, hiện tượng kết nối của một quan hệ hai ngôi sẽ thể hiện thông qua mô hình chung như sau:
A r B
Trong đó: