1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn đổi mới phương pháp giảng dạy văn bản nghị luận qua tác phẩm tuyên ngôn độc lập (hồ chí minh)

21 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 225,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN QUA TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” HỒ CHÍ MINH Người thực

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN QUA TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP”

(HỒ CHÍ MINH)

Người thực hiện: Đào Thị Thanh Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2018

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài :

Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo từng thể loại là một vấn đề đãđược đặt ra từ lâu trong thực tiễn giảng dạy văn học ở trường PT và từ lâu vẫnthường là mối băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi của phần lớn giáo viên dạy Văn ởtrường THPT chúng ta Điều băn khoăn, suy nghĩ tìm tòi ấy bắt nguồn từ một ýnguyện rất chính đáng là làm sao cho bộ môn Văn học trong nhà trường nóiriêng và trong các trường THPT nói chung càng phát huy mạnh mẽ hiệu lực giáodục phong phú của nó, góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục đích giáo dụccủa các nhà trường PT trong giai đoạn hiện nay

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc giảng dạy Văn học phảiđược tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng của môn Văn học vừa mang bảnchất xã hội, vừa là hiện tượng thẩm mỹ, hiện tượng nghệ thuật Hai mặt này gắnliền khăng khít với nhau, thâm nhập vào nhau Không chú ý một cách toàn diệnđúng mức, việc giảng dạy Văn học rất dễ thiên về nội dung tư tưởng, chính trịmột cách gò bó, cứng nhắc, hoặc thiên về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ mộtcách phiến diện, trống rỗng Giữ vững thế cân bằng trong khi phân tích nội dung

và nghệ thuật của một tác phẩm văn học là bản lĩnh sư phạm của người giáoviên

1.3.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :

1.3.1 Phạm vi nghiên cứu:

Văn nghị luận là một đề tài đặc biệt, đòi hỏi một phương pháp, một cáchthức phân tích giảng dạy phù hợp với nó Bên những bài giảng văn theo thể loạithơ, truyện, kí, kịch sách giáo khoa Văn học THPT mới có trích giảng một sốtác phẩm văn nghị luận Vì vậy, việc đào sâu phương pháp giảng dạy văn nghịluận có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả việc giảng dạyvăn nghị luận trong nhà trường phổ thông hiện nay

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng trực tiếp của tôi là văn bản " Tuyên ngôn độc lập" ( Hồ Chí

Minh), SGK Ngữ văn 12, tập 1( cơ bản), Nhà xuất bản Giáo dục

Để thử nghiệm đề tài tôi chọn học sinh lớp 12C1 ( năm học 2016-2017),lớp 12T4, 12C5 ( năm học 2017 -2018)- Trường THPT Quảng Xương 1 để thựchiện

1.4.Phương pháp nghiên cứu:

Dạy văn là nghề sáng tạo, cá nhân giáo viên được tự do trong việc lựachọn những phương pháp tối ưu Để thực hiện bài dạy này, tôi đã vận dụngnhững phương pháp sau:

- Phương pháp đọc- hiểu, phương pháp diễn dịch, phương pháp qui nạp, phươngpháp phân tích - tổng hợp để khai thác vấn đề, lí giải vận dụng và giúp họcsinh tiếp cận văn bản từ nhiều phía và có thể vận dụng vào thực tế

Trang 3

- Phương pháp phát vấn bằng hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó, trong đó có câuhỏi phát hiện, câu hỏi tư duy, câu hỏi gợi mở, câu hỏi liên hệ một cách hợp lí

để kích thích sự suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, chủ động tích cực của học sinh

- Đặc biệt phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp bình giảng, gợi mở đểbài giảng phong phú, sinh động hơn, hệ thống lập luận lô gic, mạch lạc hơn Vậndụng kết hợp tốt các phương pháp trên sẽ giúp tiết học diễn ra một cách tựnhiên, nhịp nhàng giữa thầy và trò

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

2.1 Cơ sở lí luận :

Dạy văn là dạy cho học sinh nhận ra trong tác phẩm văn chương nguồn trithức vô cùng phong phú , đa dạng, hấp dẫn, và bổ ích để bồi dưỡng tâm hồn, trítuệ, để sống có ý nghĩa hơn, sâu sắc hơn Dạy văn là dạy sống, dạy người, dạy

mở mang trí tuệ, bên cạnh đó còn dạy cho học sinh nắm vững kiến thức theocách hệ thống kiến thức theo mạch lập luận Từ đó, các em có thể biết cách kếthợp nhuần nhuyễn giữa nội dung và nghệ thuật của văn bản

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu :

2.2.1.Thực trạng:

Mục đích của môn giảng văn trong nhà trường là giúp cho học sinh cảmthụ được đầy đủ nhất, lĩnh hội được sâu sắc nhất mọi giá trị tư tưởng và nghệthuật trong hình tượng tác phẩm văn học Từ đó, giáo dục cho các em về tưtưởng, nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ, cả về tư duy và ngôn ngữ nữa.Đọc, phân tích, giảng giải tác phẩm là nhằm vào mục đích đó: Làm cho học sinhcảm và hiểu hết những điều tác giả gửi gắm trong tác phẩm

Chính vì vậy, giảng dạy văn nghị luận không khó về nội dung nhưng rấtnan giải về mặt phương pháp nhằm giúp các em học sinh chẳng những hiểu màcòn cảm những " lời gan ruột" của tác giả

2.2.2 Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:

a Về phía giáo viên:

Phần lớn, những tác phẩm văn nghị luận được đem trích giảng ( hoặc đọcthêm) trong chương trình THPT đổi mới đều có tính tư tưởng cao và giàu tínhnghệ thuật Bản thân những tác phẩm đó chẳng những có tác dụng thuyết phục lítrí người đọc bằng những lí luận sắc bén, lập luận chặt chẽ, lời văn hùng hồn,đanh thép mà có sức rung động tình cảm người đọc bằng những yếu tố trữ tìnhđậm đà, những ảnh hưởng và ngôn ngữ gợi cảm

Trong thực tế giảng dạy, chúng ta còn gặp những tiết giảng dạy khô khan,

ít kích thích hứng thú học tập của học sinh Tại sao chúng ta lại chưa thành côngtrong những tiết giảng dạy văn nghị luận? Nguyên nhân thì có nhiều, nhưngtrong đó có một nguyên nhân là chúng ta chưa nắm thật chắc những đặc điểmcủa văn nghị luận, chưa xuất phát từ đặc điểm của văn nghị luận mà khai thácmột cách thấu đáo những đặc sắc về nội dung và hình thức của tác phẩm Do đó,chúng ta chưa chỉ cho học sinh thấy rõ cái sắc bén của lí lẽ, sự chặt chẽ của lập

Trang 4

luận, tính chính xác và gợi cảm của ngôn ngữ để giúp học sinh hiểu và cảmnhận tác phẩm một cách sâu sắc, làm cho tác phẩm có sức thuyết phục một cáchmạnh mẽ, vừa có sức rung động thấm thía, vừa đi vào khối óc, vừa thấm vào tráitim người đọc, người nghe.

b Về phía học sinh: Các em không thích những tác phẩm văn nghị luận.

Nguyên nhân: Vì các em không có định hướng và nếu các em có chú tâmvào đọc tác phẩm thì các em cũng chỉ đọc cái hay, cái bề nổi của những câu chữ

mà thôi Mặt khác, giáo viên không tạo được cho các em tâm thế tiếp nhận tácphẩm nên giờ học diễn ra nặng nề, tẻ nhạt, không có sự rung động, hứng thú

Với mục đích giúp các em không những cảm nhận và hiểu những tácphẩm văn nghị luận đồng thời giáo viên tự trang bị cho mình những kiến thức vềgiảng dạy văn nghị luận trong chương trình môn Văn THPT, tôi đưa ra sáng

kiến cải tiến nội dung, phương pháp dạy - học từ đó tôi chọn đề tài: " Đổi mới phương pháp giảng dạy văn bản nghị luận qua tác phẩm " Tuyên ngôn độc lập" ( Hồ Chí Minh).

2.3 Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề.

2.3.1.2 Giờ dạy phải đảm bảo đặc trưng thể loại NL trong quá trình dạy học:

a) Gắn với đặc trưng của từng tiểu loại NL trong quá trình đọc- hiểu.

Là văn bản dùng để đọc- hiểu, nhưng khác với các VB nghệ thuật, VBNL

có những đặc trưng riêng về mục tiêu, dụng ý của người viết, cách bố cục, kếtcấu [1] Vì vậy, khi dạy phải đảm bảo đặc trưng thể loại NL là một giải pháp cótính nguyên tắc

Ví dụ: Đối với các VBNL giàu tính văn chương hình tượng như “ Tuyênngôn độc lập” vừa phải phân tích, chỉ ra giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm,một mặt vừa phải chú ý làm rõ bố cục, kết cấu của thể loại NL để tích hợp vớilàm văn

b) Khai thác triệt để cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật lập luận của tác giả.

Cái đẹp trong văn NL chủ yếu là cái đẹp của trí tuệ sắc sảo, của tư duykhúc chiết Cái hay chủ yếu của VBNL về mặt nghệ thuật là ở lập luận của tácgiả: Lí lẽ hùng hồn, dẫn chứng phong phú Vì vậy, cần làm tốt khâu này để gâyhứng thú cho HS trong giờ học

Trang 5

2.3.1.3 Thực hiện tích hợp linh hoạt với phân môn làm văn.

a) Tích hợp phải tự nhiên, linh hoạt, đảm bảo không làm đứt mạch cảm xúc giờ văn.

Dạy học văn nói chung, dạy học VBNL nói riêng là một nghệ thuật Tạodựng cảm xúc, không khí văn học đã học, gìn giữ nó trong suốt giờ học lại càngkhó hơn Vì vậy, việc tích hợp kiến thức và kĩ năng của giờ đọc- hiểu với giờlàm văn phải được thực hiện một cách tự nhiên, linh hoạt, nếu không sẽ gâyphản cảm, phá vỡ mạch cảm xúc của giờ văn

Ví dụ: Khi dạy VB “ Tuyên ngôn độc lập”- nghệ thuật lập luận của Hồ

Chí Minh có thể tích hợp rất tốt với tiết làm văn “ Lập luận trong văn NL” Tôi

sẽ tích hợp ở phần nghệ thuật lập luận của từng đoạn, qua từng câu hỏi, từ đó chỉ

ra lập luận trong văn NL có vai trò quan trọng như thế nào, từ đó giúp HS nhậnthức được trong văn NL, yếu tố lập luận là rất cần thiết

b) Đảm bảo tính mức độ và thời gian cho phép của giờ học

Trong giờ đọc- hiểu VBNL, kiến thức làm văn chỉ là công cụ, việc tíchhợp với làm văn chỉ nhằm giúp HS cắt nghĩa, lí giải sâu sắc hơn nội dung, nghệthuật của các luận điểm trong tác phẩm; việc tích hợp không thể thay thế chohoạt động đọc- hiểu, phân tích

Ví dụ: trong đoạn mở đầu “ Tuyên ngôn độc lập”, tôi sẽ tích hợp với các

bài tập làm văn về thao tác nghị luận ( Ngữ văn 12) chỉ bằng một câu hỏi: Tácgiả đã sử dụng những thao tác nghị luận nào? Việc làm này không mất nhiềuthời gian, quan trọng không ảnh hưởng đến tính liền mạch của bài giảng

2.3.1.4 Khả năng giáo dục HS qua các giờ đọc- hiểu VBNL.

a) Bồi dưỡng cho HS ý thức, trách nhiệm đối với cuộc sống, nâng cao nhận thức, hiểu biết về những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội.

Đề tài của VBNL trong chương trình THPT khá phong phú, đa dạng, đềcập đến nhiều vấn đề thời sự quan trọng về chính trị, văn hóa, xã hội [2] Cácvấn đề này thường rất gần gũi, cần thiết với cuộc sống học tập, cuộc sống hàngngày của HS Học những văn bản này, HS có điều kiện cập nhật, mở rộng, nângcao tầm nhận thức, hiểu biết, tạo nên một nền tảng kiến thức rộng mở để hỗ trợcác môn học khác và để trưởng thành hơn trong cuộc sống

Ví dụ: VB “ Mấy ý nghĩ về thơ” ( Nguyễn Đình Thi) làm sáng tỏ ngọn

nguồn và những đặc trưng nghệ thuật của thơ ca, giúp HS thêm cơ sở, gợi ý líluận bổ ích để thưởng thức, “ giải mã” tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm thơ trữtình

Như vậy, nếu khai thác đúng đắn và sâu sắc những giá trị nội dung tưtưởng trong VBNL sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, nhậnthức và quan điểm, thái độ tích cực đối với cuộc sống cho HS

b) Rèn luyện cho HS khả năng thích ứng nhanh nhạy trước những vấn đề phức tạp đang đặt ra trong cuộc sống, phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo.

Thông qua cách đặt và giải quyết vấn đề của các tác giả, HS có thể họcđược cách ứng xử nhanh nhạy, bản lĩnh, cách thể hiện quan điểm, thái độ trước

Trang 6

những vấn đề phức tạp đang đặt ra trong cuộc sống xung quanh các em qua đó,gợi cho HS biết quan tâm đến đời sống xã hội, biết băn khoăn đi tìm giải phápcho những vấn đề đang đặt ra trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Ngoài ra, đọc-hiểu VBNL là thêm dịp để HS được làm quen với nhữngmẫu mực của VBNL, học được nghệ thuật NL đặc sắc của mỗi tác giả bằng cáchxác định rõ hệ thống luận điểm, trình tự triển khai mạch NL, phân tích sứcthuyết phục của nghệ thuật NL Để làm được điều này, HS buộc phải vận dụng

tư duy logic, tư duy trừu tượng, từ đó HS đã phần nào học được cách tư duylogic, thường xuyên được rèn luyện và phát triển tư duy logic

Ví dụ: Khi dạy VB “ Tuyên ngôn độc lập”, tôi sẽ đưa ra những tư liệu

sống về tội ác của bọn “ cá mập thực dân” Pháp ở Việt Nam để thu hút mạnh mẽ

sự tập trung, chú ý của HS, xóa bớt khoảng cách quá xa về không gian, tạo sựquan tâm, chia sẻ giữa HS với tác giả và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm

Biện pháp này không có gì mới, nhưng trong thực tế, có lúc chúng ta chưacoi trọng đúng mức khâu này Khi HS chưa được chuẩn bị đầy đủ về tâm thế,hứng thú tiếp nhận thì mọi sự phân tích, giảng bình của GV khó tránh khỏi ápđặt, hình thức

cảm xúc chủ quan và thay đổi ngữ điệu đọc nhằm bắt trúng giọng điệu của tácgiả

Trang 7

- Bước 2: Xác định bố cục VB bao gồm các phần, các đoạn, các ý, các luận điểm

chính và trình tự triển khai các ý, các luận điểm

- Bước 3: Thâu tóm ý, luận điểm trong những từ ngữ cô đọng, khái quát để hình

thành bài tóm tắt

- Bước 4: Kiểm tra lại kết quả tóm tắt

Khi thực hiện xong khâu tóm tắt, trong đầu HS đã có những hình dung hếtsức quan trọng và cụ thể về bố cục, kết cấu của một VBNL Đây là tiền đề thuậnlợi cho các bước đọc- hiểu tiếp theo, đồng thời là cơ sở rất tốt để tích hợp với

giờ tập làm văn “ Lập dàn ý cho bài văn NL”.

2.3.2.3 Phát hiện, khái quát luận đề, luận điểm và phân tích luận đề, luận điểm.

a) Phát hiện, phân tích luận đề

Xác định luận đề trước khi đọc- hiểu chi tiết là việc để phân tích luậnđiểm, luận cứ, lập luận không tản mạn, vụn vặt Đề tài, luận đề, chủ đề của VBthường thể hiện tập trung ở nhan đề tác phẩm, tên văn bản, đoạn trích Vì vậy,

để khái quát luận đề, ngoài việc phải đọc toàn bộ VB, GV nên hướng HS chú ývào tiêu đề của VB, đoạn trích

Ví dụ: Khi dạy “ Tuyên ngôn độc lập”, tiêu đề Tuyên ngôn độc lập đã thể

hiện khá rõ vấn đề được đề cập tới của văn bản Tôi hỏi HS trước khi tiến hànhđọc- hiểu VB:

- VB này luận về vấn đề gì?

- Tác giả bàn về vấn đề này nhằm mục đích gì?

- Để làm sáng tỏ luận đề đó, tác giả đã triển khai thành những luận điểm, luận cứgì?

b) Phát hiện, phân tích, khái quát luận điểm.

Luận điểm là linh hồn của VBNL Luận điểm ẩn sâu sau lí lẽ, dẫn chứng

và lập luận Luận điểm chi phối cách sử dụng luận cứ, luận chứng và lập luận đểthống nhất VB thành một khối Vì vậy, phát hiện, khái quát và phân tích luậnđiểm là mục tiêu quan trọng của đọc- hiểu VBNL

Ví dụ: Tôi sẽ giúp HS phát hiện, khái quát và phân tích luận điểm bằng

cách trả lời câu hỏi: Quan điểm, chủ trương của tác giả về vấn đề này như thếnào? Hay: Qua đoạn này, tác giả nhằm khẳng định vấn đề gì?

Tuy nhiên, trong thực tế, việc làm này đôi khi khó đối với tư duy của các

em, GV phải có những cách thức, đặc biệt là giúp HS hai dấu hiệu nhận biếtluận điểm Thứ nhất, dấu hiệu nội dung: Các luận điểm phải thể hiện rõ quanđiểm, tư tưởng, chủ trương, lập trường, thái độ của tác giả về một vấn đề nào đó.Thứ hai, dấu hiệu về hình thức: Câu luận điểm thường là câu khẳng định- câu có

chứa các từ: là, có, đã

2.3.2.4 Đọc- hiểu VBNL theo trình tự mạch nghị luận của VB.

Để trực tiếp thuyết phục người nghe, người đọc, nội dung trong VBNLthường phải được triển khai một cách có hệ thống Vì vậy, để tôn trọng đặctrưng văn bản, trong quá trình dạy- học trên lớp, GV nên tổ chức, hướng dẫn HSphân tích theo trình tự các ý, luận điểm, luận cứ, mạch nghị luận của VB

Trang 8

Ví dụ: Trước đây, chúng ta dạy VB “ Tuyên ngôn độc lập” thường hướng

dẫn HS phân tích theo dàn ý:

- Về thể loại văn bản

- Đối tượng và mục đích của VB tuyên ngôn

- Về việc trích dẫn 2 VB tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ và tuyên ngôn nhânquyền và dân quyền của nước Pháp

- Văn phong HCM qua bản tuyên ngôn

Tuy nhiên, hướng phân tích trên chưa chú ý đúng mức đến trình tự lậpluận của tác giả, khó có thể làm cho HS nhận rõ đặc trưng kết cấu của văn bảntuyên ngôn

Theo tôi, nên tiếp cận VB theo trình tự bố cục- hệ thống các luận điểmhoặc theo bố cục 3 phần:

- Mở đầu- Nguyên lí chung: Tất cả mọi người và các dân tộc đều có quyền bìnhđẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc

- Chứng minh nguyên lí: Thực dân Pháp là người làm trái nguyên lí; nhân dân ta

là người làm đúng nguyên lí

- Tuyên ngôn: Việt Nam từ nay đã là một dân tộc hoàn toàn tự do và độc lập

- Nghệ thuật nghị luận mẫu mực của bản tuyên ngôn

2.3.2.5 Giảng bình trong giờ đọc- hiểu VBNL

Trong giờ đọc- hiểu, giảng bình của GV có tác dụng khơi gợi cảm xúc, sựrung động mạnh mẽ trong tâm hồn, khắc sâu ấn tượng, khắc sâu kiến thức cho

HS Đọc- hiểu VBNL cũng cần thiết phải có giảng bình, song theo tôi, tùy vàogiá trị nội dung, nghệ thuật, đặc trưng thể loại của văn bản mà sử dụng các biệnpháp dạy học phù hợp Với những VB thiên về thông tin khách quan, ít giá trịvăn chương nghệ thuật thì vấn đề giảng bình mang đậm cá nhân chủ quan làkhông phù hợp Những VBNL giàu tính hình tượng và cảm xúc, phương phápgiảng bình phải được sử dụng thường xuyên hơn

Ví dụ: Nếu GV không dừng lại bình giảng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu

trong “ Tuyên ngôn độc lập”, HS sẽ không cảm nhận sâu sắc được số phận bithảm của người dân thuộc địa, tội ác dã man của thực dân Pháp, thái độ cămphẫn, xót thương của Hồ Chí Minh

Ví dụ: Khi dạy “ Tuyên ngôn độc lập”, tôi sẽ giúp các em liên hệ thực tế

bằng câu hỏi: Tuyên ngôn độc lập gợi cho anh/ chị những suy nghĩ gì về vấn đềnhân quyền trên thế giới hiện nay?

Liên hệ như vậy vừa giúp HS hiểu tác phẩm hơn, vừa gắn với thực tế, vừatạo điều kiện cho HS bộc lộ quan điểm, tư tưởng, chính kiến riêng, qua đó, góp

Trang 9

phần hình thành “ kĩ năng sống”, bản lĩnh đối mặt với những vấn đề đang đặt ratrong cuộc sống.

2.3.2.7 Kiểm tra, đánh giá trong dạy đọc- hiểu VBNL.

Theo tinh thần đổi mới, việc kiểm tra, đánh giá trong giờ dạy học văn nóichung, dạy học VBNL nói riêng cần phải được đa dạng hóa về hình thức, cáchthức ra đề theo hướng vừa kiểm tra được kiến thức cơ bản, vừa tạo điều kiện cho

HS bày tỏ được cảm xúc, suy nghĩ, ý kiến, quan điểm riêng của mình trước vấn

đề đặt ra Để đạt được yêu cầu đó, phải coi trọng cả NLVH và NLXH, sử dụngchủ yếu hình thức kiểm tra tự luận Tuy nhiên, cách ra đề cũng phải theo hướng

mở để cho phép HS bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, quan điểm riêng của mình

Ví dụ: Dạy VB “ Tuyên ngôn độc lập”, tôi sẽ kiểm tra HS bằng cách ra

vấn đề tự luận:

- Nghệ thuật lập luận của HCM trong “ Tuyên ngôn độc lập”

- Từ bản “ Tuyên ngôn độc lập”, suy nghĩ về ý nghĩa của các từ “ độc lập, tự do”trong thời đại ngày nay

- Thế đứng của dân tộc Việt Nam qua bản “ Tuyên ngôn độc lập”

- Từ bản “ Tuyên ngôn độc lập”, suy nghĩ về những con người đã không tiếcmáu xương để “ giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”

2.3.3 Đề xuất giáo án dạy " Tuyên ngôn độc lập"( Hồ Chí Minh)

theo tinh thần đổi mới phương pháp giảng dạy

+ Giúp HS phân tích, chứng minh được Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có

ý nghĩa lịch sử to lớn: là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến; là sựkhẳng định quyền tự chủ, độc lập dân tộc trước toàn thế giới; là mốc son lịch sử

mở ra kỉ nguyên mới- kỉ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta

+ Cảm nhận được tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự do và niềm tự hào dântộc mãnh liệt của nhân dân ta

+ Cảm nhận và phân tích được nghệ thuật chính luận xuất sắc của tác giả: Lậpluận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng- sự thật lịch sử hùng hồn, giọng vănmang tính chiến đấu mạnh mẽ

2 Kĩ năng: Luyện kĩ năng cảm thụ, phân tích bản tuyên ngôn.

3 Tư tưởng, tình cảm, thái độ : Bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân

tộc, ý thức trách nhiệm trong việc góp phần bảo vệ nền hòa bình, độc lập dântộc

B CHUẨN BỊ :

1 Giáo viên:

Trang 10

- SGK,SGV, chuẩn kiến thức, thiết kế bài học Hướng dẫn HS tìm đọc lại lịch

sử để hiểu rõ hoàn cảnh đất nước năm 1945 trước, trong và sau khi HCM đọc

Tuyên ngôn độc lập.

- Chuẩn bị tài liệu, đồ dùng học tập: băng hình, băng tiếng HCM đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945; trích đoạn phim Sao tháng tám về đề tài nạn đói

năm 1945 và các tranh ảnh liên quan

2 Học sinh : SGK, bài soạn và tài liệu tham khảo ( Tìm đọc những nhận định,

đánh giá của các danh nhân nước ngoài về tài năng chính trị, tài năng văn

chương của HCM và giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập)

C.TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC:

TIẾT 5

1 Ổn định lớp.

2 Kiểm tra bài cũ:

3 Tổ chức hoạt động dạy và học bài mới:

Lời vào bài:

Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

về quyền độc lập, tự do của dân tộc ViệtNam

- Tuyên ngôn: bản tuyên bố có tính chấtcương lĩnh bày tỏ chủ kiến, quan điểm,lập trường, tư tưởng của một chínhđảng, một tổ chức

4 Kết cấu: 3 phần

- Phần 1: Từ đầu đến “ chối cãi được”:Khẳng định quyền độc lập, tự do của dântộc Việt Nam

- Phần 2: “ Thế mà” đến “ được độc lập”:Chứng minh nguyên lí về quyền tự do,độc lập hiển nhiên của dân tộc Việt Nam:+ Đoạn từ “ Thế mà” đến “ Yên Bái, CaoBằng”: Lên án, tố cáo tội ác của thực dânPháp đồng thời bác bỏ luận điệu xảo trácủa thực dân Pháp

Ngày đăng: 05/09/2018, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w