Mặt khác, Ngữ văn là một môn học có tích hợp nhiều nhất, nó còn tích hợp với nhiều môn học khác, kiến thức đời sống xã hội, kinh nghiệmthực tiễn… Do đó vấn đề tích hợp là nội dung không
Trang 12.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 32.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 42.3.1 Tìm hiểu về quan điểm tích hợp trong dạy học 52.3.2 Thực hành ứng dụng phương pháp tích hợp và tích hợp liên
môn trong một giáo án thể nghiệm cụ thể
11
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp, nhà trường
Trang 21 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Văn học là một môn học quan trọng trong chương trình phổ thông vì nó
có tác dụng rất lớn đến việc giúp HS có một thế giới quan, nhân sinh quan nhânđạo và tiến bộ, giúp các em có một vốn tri thức về tiếng Việt để bước vào cuộcsống Bên cạnh đó, Văn học còn giúp cho HS hình thành và phát triển nhâncách Nhưng có một điều đáng bàn là trong quá trình học tập thì một bộ phận HS
có xu hướng “lạnh lùng” với môn Văn Để lí giải thực trạng này các cấp quản lígiáo dục, những người tâm huyết với môn Văn đã đưa ra nhiều nguyên nhânkhác nhau như vấn đề đầu ra với HS ban Xã hội nói chung và môn Văn nóiriêng; chương trình SGK còn nặng, ít chất văn… nhưng một thực tế mà nhiềungười phải công nhận là phương pháp dạy và học môn Văn trong nhà trườngcòn không ít bất cập Bên cạnh đó, những năm gần đây với việc đổi mới phươngpháp dạy học, đổi mới chương trình SGK, đổi mới các dạng đề thi nhất là đề thiTHPT Quốc gia đòi hỏi phải đổi mới cách dạy và học văn …
Dạy học theo hướng tích hợp đang là một phương pháp dạy học hiện đạiđược quan tâm nghiên cứu và áp dụng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thếgiới Với quan điểm lấy hoạt động của HS làm trung tâm, GV đóng vai trò tổchức còn HS chiếm lĩnh kiến thức Do đó cần áp dụng phương pháp tích hợp đểtích cực hóa hoạt động của HS Hơn nữa hiện nay, SGK Ngữ văn THPT cónhiều thay đổi Các phân môn Văn học - Tiếng Việt - Làm văn được hợp nhấtthành môn Ngữ văn với một quyển duy nhất (trước đó là 3 quyển khác nhau) Sựhợp nhất đó đánh dấu sự tích hợp kiến thức của các phân môn lại trong mộtchỉnh thể thống nhất Mặt khác, Ngữ văn là một môn học có tích hợp nhiều nhất,
nó còn tích hợp với nhiều môn học khác, kiến thức đời sống xã hội, kinh nghiệmthực tiễn… Do đó vấn đề tích hợp là nội dung không thể thiếu trong đổi mớithay sách, đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới ra đề cho các kỳ thi đặc biệt
là thi THPT Quốc gia hiện nay và những năm sắp tới
Qua thực tế của quá trình dạy học, là người trực tiếp giảng dạy cho HS tôithấy rằng: Trước đây, đa phần GV và HS của môn học nào cũng chỉ biết đếnmôn học đó, các em mới chỉ nắm được kiến thức riêng lẻ, riêng biệt cho từngmôn học, chưa có cái nhìn tổng hợp, đa dạng trong sự liên quan đến những kiếnthức khác nằm ngoài phạm vi bộ môn Thậm chí ít có ứng dụng vào đời sốngthực tế Để các em phát triển toàn diện, có thể tránh được những biểu hiện cô lậptách rời từng phương diện kiến thức, đồng thời phát triển tư duy biện chứng, khảnăng thông hiểu, tôi thấy rằng việc kết hợp kiến thức tích hợp để giải quyết mộtbài học, một vấn đề nào đó trong một môn học là một việc làm hết sức cần thiết,đúng đắn khi chúng ta đang đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới chương trìnhSGK Để làm được điều này, đòi hỏi người GV bộ môn không chỉ nắm vữngđược kiến thức môn mình dạy mà còn phải không ngừng tìm tòi, trao đổi, họchỏi kiến thức của các môn học khác, kiến thức đời sống … để có thể thiết kếđược một giáo án hay, đem đến cho HS một bài dạy hiệu quả, giúp HS hiểu bàihọc một cách nhanh nhất, đầy đủ và toàn diện nhất
Trang 3Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài SKKN “Sử dụng phương pháp tích hợp và tích hợp liên môn KHXH trong dạy học một số tác phẩm văn học hiện đại chương trình THPT”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1 Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm đối với giáo viên
- Giúp GV Ngữ văn có cái nhìn toàn diện hơn khi hướng dẫn HS cảm thụtác phẩm Văn học và thực sự chú ý hơn trong việc rèn kĩ năng tích hợp Văn họccho HS, đồng thời xác định được hướng dạy, hướng ôn tập, hướng khai thác tácphẩm và hướng ra đề kiểm tra nhằm đáp ứng yêu cầu chương trình đổi mớiSGK, đề thi học sinh giỏi các cấp, đề thi THPT Quốc gia
- Đặt ra những vấn đề cơ bản của chuyên môn, nảy sinh những tranh luận,hoặc những ý kiến bổ sung, góp ý thêm Vì thế, SKKN còn góp phần thúc đẩy
và khơi dậy phong trào học hỏi, tìm tòi, sáng tạo của các thầy cô bộ môn Văncũng như các bộ môn khác trong nhà trường, tạo sự liên kết gắn bó và hỗ trợgiữa các GV bộ môn với nhau trong hoạt động lĩnh hội và truyền thụ kiến thức
1.2.2 Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm đối với học sinh
- Giúp học sinh có một hệ thống kiến thức hoàn thiện về Văn học cũngnhư kiến thức của các bộ môn khác, kiến thức đời sống…
- Nắm vững, nắm sâu tác phẩm, khám phá ra cái hay, cái đẹp, có mộtnăng lực cảm thụ tốt, tinh tế, phát huy được năng khiếu, sở trường
- Thắp lên ngọn lửa của sự đam mê khiến các em ngày càng thích thú vàgắn bó với môn học Ngữ văn hơn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là phương pháp tích hợp và tích hợp liên mônKHXH trong dạy học một số tác phẩm Văn học hiện đại chương trình THPT
- Phần khảo sát tôi tiến hành giảng dạy và tổng hợp, đánh giá, thiết kế bàisoạn qua một tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn 11, Ngữ văn 12
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết có kết quả yêu cầu, nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, tôi đã sửdụng một số phương pháp như:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân loại, phân tích
- Phương pháp dạy học theo dự án
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề
- Phương pháp quan sát, điều tra
- Phương pháp trải nghiệm thực tế giảng dạy
- Sử dụng sách tham khảo, tài liệu trên mạng internet…
Trang 42 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong kỳ họp của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình phổ thông, đãkhẳng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là
“Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thôngmới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu pháttriển nguồn nhân lực phục vụ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp vớithực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nướcphát triển trong khu vực và trên thế giới” [1] Ngành giáo dục đang trên con đườngthực hiện đổi mới theo Chỉ thị số 14/2001/CT -TTg về việc đổi mới chương trình giáodục phổ thông đã được xác định trong Nghị quyết TW IV khóa VII (1993), Nghịquyết TW 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật giáo dục (2005), được
cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ GD & ĐT, đặc biệt là Chỉ thị số 14 (4/1999)
Bên cạnh đó còn có: “Một trong những trọng tâm của việc đổi mới chươngtrình và SGK phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiệndạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của HS với sự tổ chức và hướng dẫnđúng mực của GV nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thànhphương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập tạo niềm tin và niềmvui trong học tập” [2] Không những thế, chương trình giáo dục phổ thông ban hànhkèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục cũng đã nêu: “Phải phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặcđiểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tựhọc, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyếtcác tình hình thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và tráchnhiệm học tập cho HS” [3] Chính vì vậy, tích hợp là một trong những quan điểmgiáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo được những người có
đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của đời sống hiện đại Nhiềunước trong khu vực và châu Á, trên thế giới như: Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Nhật Bản,Thái Lan đã thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học và cho rằng quan điểmnày đã đem lại hiệu quả nhất định Song ở Việt Nam, quan điểm tích hợp vẫn cònnhiều mới mẻ Gần đây và trong thời gian sắp tới chúng ta thực hiện biên soạn lạichương trình cấp THPT, chương trình lấy “quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉđạo tổ chức chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”[4] Trước kia, mỗi môn học tồn tại biệt lập có mục tiêu riêng nhằm trang bị cho HSnhững kiến thức cơ bản tách biệt phân môn dẫn đến cả GV và HS thiếu ý thức gắnkết các phần khác của chương trình, tiếp cận tác phẩm còn hạn chế, chưa có cái nhìntổng thể, nhiều bài làm của HS khá hay nhưng vẫn theo nếp cũ, không có sự sángtạo… vận dụng quan điểm tích hợp sẽ khắc phục được tình trạng này Với việc ápdụng rộng rãi quan điểm tích hợp vào giáo dục đã và đang từng bước đưa nền giáodục Việt Nam sánh vai, hội nhập với nền giáo dục hiện đại trên thế giới
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trên thực tế ta nhận thấy việc học nói chung và việc giảng dạy môn Ngữvăn nói riêng vẫn luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và
Trang 5đông đảo các nhà nghiên cứu, mọi tầng lớp nhân dân Đội ngũ GV luôn nỗ lựctìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học nhằm đem lại kết quả tốt nhất cho hoạtđộng dạy và học, hướng tới nhận thức và tình cảm của HS Tuy nhiên:
Về phía GV: GV gặp không ít những khó khăn như tư liệu dạy học khanhiếm; do phân phối chương trình và thời gian lên lớp ngắn nên hầu hết các GVchỉ chú ý đi sâu vào các vấn đề trung tâm tác phẩm, ít có điều kiện giảng tácphẩm bằng phương pháp tích hợp, hiểu biết kiến thức thuộc các môn học kháccũng như kiến thức thực tế đời sống… còn chưa cao Thêm vào đó kĩ năng tíchhợp còn hạn chế, ngại đầu tư công sức
Về phía HS: Trong nhà trường hiện nay, một số lượng lớn HS tỏ ra khôngmặn mà gì với việc học tập môn Ngữ văn, hứng thú học văn ở HS đã giảm sútđáng kể, quá trình học không phải là quá trình tìm tòi khám phá mà miễn cưỡngbắt buộc Từ tư tưởng ấy dẫn đến kết quả HS không chỉ cảm thụ sai tác phẩm
mà năng lực rung cảm cũng dần bị xói mòn Mỗi mùa tuyển sinh, số lượng HSđăng ký vào những ngành KHXH giảm dần Đó là do nhu cầu của đời sống hiệnđại, nhu cầu phân giới nghề nghiệp; một số em dưới sự định hướng của gia đìnhthiên về những ngành nghề “thời thượng”; một số em có học lực yếu, trung bìnhlại ít có khả năng tự học, tự phấn đấu trong học tập Nhiều em chưa xác địnhđược rõ mục đích, động cơ học tập bị cuốn hút theo nhiều trào lưu; một số emlại chỉ chú trọng các môn tự nhiên Từ đó, vấn đề vận dụng những kiến thứcLịch sử, Địa lí, xã hội, giáo dục kĩ năng sống, kiến thức văn hóa, môi trường,đạo đức… để nâng cao nhận thức, tư tưởng tình cảm của HS là điều cần thiết
Từ những vấn đề mang tính lí luận đến thực trạng của việc dạy và họcVăn hiện nay, chúng ta có thể thấy việc đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn
là nhu cầu bức thiết; vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mỗi người
Tác phẩm Văn học trong nhà trường thường là những tác phẩm nghệ thuật
đã được cân nhắc, lựa chọn rất kĩ, có giá trị lớn cả về nội dung tư tưởng lẫn giátrị nghệ thuật Vì vậy để khám phá hết những cái hay, cái đẹp của một văn bảnkhông phải là một điều dễ dàng, đặt ra nhiều thử thách Con đường khám pháVăn học là con đường có tính chất "mở" nhưng thời gian có hạn nên đòi hỏingười GV cần xác định được trọng tâm bài dạy, thiết kế giáo án phù hợp với đốitượng nhất là nên tìm những phương pháp khác nhau để giúp HS tiếp cận đếnđích văn bản
Vì vậy, tôi mong muốn trình bày một vài suy nghĩ, giải pháp của bản thân
về giảng dạy tác phẩm bằng phương pháp tích hợp và tích hợp liên môn Đây làmột cách hay để tạo sự chú ý, kích thích hứng thú học tập của các em HS, giúpcác em đạt kết quả cao trong học tập, trong thi cử, trong rèn luyện kĩ năng sốngcũng như trong ứng dụng thực tế sau này
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trong quá trình giảng dạy ở nhà trường, tôi đã rút ra được những kinhnghiệm cho bản thân Tôi nghĩ rằng, một tiết học hấp dẫn và đạt hiệu quả phải
có những phương pháp phù hợp của GV nhằm thu hút HS Từ những suy nghĩban đầu, tôi đem nó thực hiện vào quá trình giảng dạy và đã đạt những hiệu quả
Trang 6nhất định Đó là giảng dạy tác phẩm Văn học bằng phương pháp tích hợp và tíchhợp liên môn KHXH Nhờ phương pháp giảng dạy này mà HS hào hứng với nộidung bài học hơn, vốn kiến thức tổng hợp của HS được bổ sung, các kiến thứcliên môn thông qua còn giúp HS có thêm căn cứ, cơ sở để hiểu rõ hơn nội dung,
ý nghĩa của bài học Cách thức tiến hành như sau:
2.3.1 Tìm hiểu về quan điểm tích hợp trong dạy học
a Khái niệm về tích hợp và tích hợp liên môn
Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối thống nhất Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [5].
Còn theo “Từ điển giáo dục học” thì “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học ” [6].
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “Integration” một từ gốc La tinh (Integer) có nghĩa là “Wbole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp
các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để đảmbảo sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy
Bởi vậy, dạy tích hợp là: lồng ghép những nội dung cần thiết vào những
nội dung vốn có của một môn học Thí dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số,giáo dục môi trường, giáo dục tiết kiệm … vào nội dung các môn như: Địa lí,Sinh học, Vật lí, Ngoại ngữ, Giáo dục công dân…
Quan điểm về dạy học tích hợp bao gồm: tích hợp nội môn (tìm kiếm kếtnối giữa các nội dung, hình thành các chủ đề mới gắn liền với thực tiễn); tíchhợp đa môn (một chủ đề có thể xem xét trong nhiều môn học khác nhau); tíchhợp liên môn (phối hợp đóng góp nhiều môn học để nghiên cứu giải quyết tìnhhuống) và tích hợp xuyên môn (tìm cách phát triển kĩ năng xuyên môn có tínhchất chung và áp dụng được ở mọi nơi) [7]
Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học “Tích hợp” là nói đến phương pháp và mục tiêu củahoạt động dạy học còn “liên môn” là đề cập tới nội dung dạy học
Đối với môn Ngữ văn, tích hợp liên môn KHXH là sự đối sánh tác phẩm
trong mối liên hệ với các môn có những đặc điểm chung như Lịch sử, Địa lí,Giáo dục công dân, Văn hóa… Quá trình tích hợp, HS không những nắm đượckiến thức cơ bản của môn Ngữ văn mà còn có cái nhìn toàn diện, phong phú, đadạng Kĩ năng sống của HS nhờ vậy cũng được nâng cao hơn
b Một số yêu cầu khi vận dụng phương pháp tích hợp vào dạy học
b.1 Dạy học theo hướng tích hợp phải đảm bảo những yêu cầu chung của dạy học b.1.1 Bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt ở mỗi bài học cụ thể
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học là yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiếnthức, kĩ năng của môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vịkiến thức Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học sẽ được cụ thể hóa trong mục tiêucủa từng bài học, giờ học
b.1.2 Phải tuân theo một tiến trình dạy học hợp lí
Trang 7Nội dung phần Văn học hiện đại chính là cung cấp kiến thức, hình thànhthái độ và trau dồi kĩ năng sống cho HS Do đó, GV cần tổ chức, hướng dẫn HSkhám phá các đơn vị kiến thức, đồng thời nâng lên một bước về nhận thức, thái
độ sống và các kĩ năng cần thiết
Bước 1: GV gợi dẫn để HS chiếm lĩnh những tri thức về tác giả, tác phẩm
Bước 2: GV hướng dẫn để HS khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.Bước 3: Trên cơ sở của bước 2, GV đánh giá tổng kết Từ đó nâng cao thêm mộtbước về nhận thức, năng lực cũng như kĩ năng sử dụng
b.1.3 Dạy học tích hợp phải đáp ứng được yêu cầu dạy học thực tiễn
Đối với bậc THPT, những kiến thức về đọc văn mà HS có được sẽ hìnhthành cho các em thái độ sống đúng đắn cũng như những kĩ năng sống thiết thựctrong đời sống thực tiễn Đây là vốn sống đầu tiên mà nhà trường tạo ra cho các
em để các em tự tin bước vào cuộc sống tương lai sau khi tốt nghiệp phổ thông
b.2 Lựa chọn nội dung tích hợp phải hợp lí, tự nhiên, tránh gượng ép
Nội dung tích hợp của 3 phần trong môn Văn (Văn học, Làm văn, Tiếngviệt) là rất phong phú, thêm vào đó lại còn tích hợp liên môn, tích hợp kiến thứcngoài đời sống GV có thể tích hợp trong từng thời điểm, tích hợp theo từngvấn đề Đối với các đơn vị kiến thức cũ, GV dùng để tích hợp nhằm củng cố, ôntập, so sánh, đối chiếu đồng thời rèn luyện cho HS ý thức và kĩ năng vận dụng
“cái đã biết” hình thành “cái chưa biết’’ Đối với các đơn vị kiến thức sẽ hìnhthành trong tương lai (sẽ dạy), GV đưa ra để gợi mở, giúp HS hình dung đượccác mối liên hệ gữa các đơn vị kiến thức trong chương trình Qua đó, khơi gợiđược tinh thần hiểu biết và tăng hứng thú khám phá cho HS
b.3 Đảm bảo giảm tải được kiến thức, rút ngắn được thời gian học tập cho HS
Khi tổ chức dạy học theo hướng tích hợp GV cần lựa chọn phương phápphù hợp, nội dung thích hợp, cách thức hợp lí sao cho giảm tải được kiến thức
và rút ngắn được thời gian học tập mà vẫn đạt được mục tiêu dạy học Muốn vậyđối với mỗi bài học, bên cạnh việc xác định nội dung tích hợp một cách hợp líthì GV còn cần lựa chọn nội dung kiến thức trọng tâm của bài học Một bài học
có thể hướng tới cung cấp nhiều kiến thức, hình thành các kĩ năng khác nhaunhưng với thời lượng có hạn của các giờ học trên lớp thì việc lựa chọn và nhấnmạnh tới kiến thức trọng tâm là điều rất cần thiết Mặt khác, bản chất của dạyhọc tích hợp là phải đảm bảo rút ngắn thời gian học tập tức là với lượng thờigian ít nhất mà HS có thể có được nhiều kiến thức và kĩ năng nhất Vì vậy cầntích hợp tối đa những kiến thức, kĩ năng để tránh sự chồng chéo, dư thừa
c Các biện pháp tích hợp
Trong dạy học có nhiều kiểu tích hợp nhưng ở phạm vi nhà trường THPT, phạm
vi một đề tài SKKN dành cho cấp THPT, tôi chỉ xin nêu một vài kiểu tích hợp sau:
Trang 8điểm, luận cứ cơ bản cho quá trình Làm văn Bởi vậy trong dạy học Ngữ văn,tích hợp giữa Tiếng Việt - Làm văn - Đọc văn vừa tiết kiệm thời gian vừa giúp
HS hiểu sâu hơn nội dung kiến thức của từng phần Đối với phần đọc hiểu vănbản, những hiểu biết về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách học Tiếng Việt
sẽ góp phần tạo nên tiềm lực phân tích và cảm thụ tác phẩm văn chương
Tích hợp trong nội bộ môn học còn đồng nghĩa với việc tích hợp giữa
Đọc văn với Đọc văn: có thể tích hợp giữa các tác phẩm cùng xu hướng văn học,
cùng đề tài, cùng chủ đề…
Ví dụ 1: Trong văn bản “Vợ nhặt”, khi đọc hiểu văn bản GV có thể hướng dẫn
HS tích hợp phần Đọc văn với phân môn Tiếng Việt: Giải thích nghĩa của từ
“Vợ nhặt” để làm rõ ý nghĩa nhan đề (“Vợ”: danh từ chỉ mối quan hệ thiêng liêng vợ chồng; còn “nhặt” gắn với những thứ không ra gì, không có giá trị).
Hoặc khi “thị” bất ngờ nhận lời, Tràng có thái độ gì? Em hiểu như thế nào về
nghĩa của từ “Chợn”, “kệ”? (“Chợn”: lo lắng, băn khoăn; “kệ”: thái độ bất
chấp) Hay tác giả rất tài tình khi sử dụng từ ngữ diễn tả chân thực tâm trạng bà
cụ Tứ qua từ “phấp phỏng” (“phấp phỏng”: lo âu, ngạc nhiên), điều đó cho thấy
việc hiểu nghĩa của từ và sử dụng từ ngữ phù hợp có ý nghĩa quan trọng tronggiao tiếp Kiến thức này các em củng cố trong bài học nào? HS trả lời: Bài
“Nghĩa của từ trong sử dụng” [8]
Ví dụ 2: Khi giảng dạy văn bản “Người lái đò sông Đà” GV có thể tích hợp với văn bản “Chữ người tử tù” cùng của tác giả Nguyễn Tuân về phương diện tài
hoa nghệ sĩ của nhân vật Huấn Cao và ông lái đò
Ví dụ 3: Văn bản “Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù” đều là những tác phẩm
thuộc bộ phận văn học công khai, xu hướng văn học lãng mạn Ta có thể tíchhợp bút pháp tương phản, đối lập giữa hình tượng ánh sáng và bóng tối trong 2tác phẩm Giống nhau: Cả hai tác phẩm đều sử dụng ánh sáng và bóng tối nhưmột nguyên tắc đối lập, một thủ pháp nghệ thuật trong xây dựng tình huốngtruyện Khác nhau: Ánh sáng trong “Chữ người tử tù” là ánh sáng của chân lí,của cái đẹp trong tài hoa, nhân cách, nên tác phẩm được kết thúc đẹp bằng sựchiến thắng của ánh sáng với bóng tối Bóng tối ở đây là đại diện cho cái xấu,cái ác Còn với Thạch Lam, bóng tối vừa mang biểu trưng cho cuộc sống tùđọng, quẩn quanh nơi phố huyện vừa được sử dụng như phông nền chính nhằmlàm nổi bật 3 loại ánh sáng: Ánh sáng nơi phố huyện - những quầng sáng giớihạn, nhỏ nhoi, leo lét… tượng trưng cho số phận mòn mỏi của người dân nơiđây; Ánh sáng đô thị - vừa là quá khứ vừa là tương lai, là niềm mơ ước của haiđứa trẻ; Ánh sáng con tàu - ánh sáng thức tỉnh đời sống tỉnh lẻ, như một cầu nối
từ hiện tại về quá khứ rồi hướng tới tương lai…
c.2 Tích hợp liên môn
Thực tế cho thấy môn Ngữ văn có mối quan hệ chặt chẽ với các phân mônkhác, đặc biệt là Địa lí, Lịch sử, GDCD Do đó, dạy đọc hiểu văn bản Văn họcnói chung cần có sự tích hợp liên môn Những kiến thức liên môn không chỉ làmcho bài học phong phú, đa dạng mà còn góp phần khắc sâu kiến thức của phầnđọc văn
Trang 9Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Vợ nhặt” phần nói về bối cảnh lịch sử xã hội làm nền
cho các nhân vật xuất hiện (hoàn cảnh sống của các nhân vật), GV giúp HS liên
hệ đến môn Lịch sử: năm 1945, nhân dân ta chịu nhiều tầng áp bức bóc lột củaphong kiến, thực dân, phát xít Nhật vào xâm lược Đông Dương ép nhân dân tanhổ lúa trồng đay, kết quả vào tháng 3 năm 1945 nạn đói khủng khiếp xảy ra,chỉ trong vòng 2 tháng từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chếtđói GV hỏi: Các em tìm hiểu kiến thức này trong bài nào môn Lịch sử ? HS trảlời: Bài 16“Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 –1945) Nước VNDCCH ra đời”[10]
Cũng trong văn bản “Vợ nhặt” ta có thể tích hợp với môn GDCD; GV
hỏi: Theo em trong thái độ của bà cụ Tứ với cô con dâu đã làm bật lên phẩmchất gì của con người? HS trả lời: Tình yêu thương, lòng nhân ái là nét đẹp nổibật trong tâm trạng bà cụ Tứ Đó cũng là nét đẹp trong tâm hồn của người dânViệt Nam Kiến thức này các em đã tìm hiểu ở bài “Một số phạm trù cơ bản củađạo đức học” [11]
Ví dụ 2: Đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, khi dạy văn bản này ở
phần hoàn cảnh ra đời trường ca và ý nghĩa đoạn trích, GV giúp HS liên hệ đếnmôn Lịch sử, bài 22: “Nhân dân hai miền trực tiếp chống đế quốc Mỹ xâm lược.Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)” [10]
Khi dạy đến đoạn thơ “Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”… Nước là nơi Rồng ở” liên hệ đến môn Địa lí, bài 14: “Sử dụng và bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên”; Bài 15: “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai”,
ta thấy: Thiên nhiên nước ta rừng vàng biển bạc, to lớn, mênh mông, là khônggian địa lí của vạn vật, chim chóc, muôn loài… Thế nhưng nhiều nơi môi trườngrừng bị đốt phá, biển bị ô nhiễm, để giáo dục HS ý thức bảo vệ môi trường:không vứt rác bừa bãi, không mua bán động vật quý hiếm, tiết kiệm nước [14]
Hay đoạn thơ “Những ai đã khuất … Làm nên Đất Nước muôn đời’’ liên hệ đến
môn GDCD, bài 9: “Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước” tác giảnhắn nhủ mọi người sống là phải có trách nhiệm với đất nước Vậy căn cứ vàođoạn thơ em hãy cảm nhận xem đó là những trách nhiệm gì? HS trả lời: Hiếnpháp nước ta năm 2013 quy định trách nhiệm của công dân là phải trung thànhvới Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị.Bảo vệ Tổ quốc là quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý của mỗi công dân;phải yêu nước, tự hào về đất nước, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo [13]
Ví dụ 3: Văn bản “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, khi tìm hiểu về Sông Hương
ở góc độ thiên nhiên, GV tích hợp với môn Địa lí: sử dụng bản đồ Sông Hương
để nhận biết địa hình của dòng sông HS dễ dàng hình dung được các chi tiết “từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản… ôm lấy chân đồi Thiên Mụ xuôi dần về Huế” Việc học các bài học Địa
lí, giúp các em hiểu địa hình Việt Nam, các dòng sông chảy từ tây sang đông,hầu hết ở thượng nguồn đều là vùng núi cao, rừng già khiến cho nước chảy xiết
dữ dội Điều đó giúp các em hiểu vẻ đẹp Sông Hương ở vùng thượng nguồn “là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua
Trang 10những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc …” HS hiểu thêm về đặc điểm sông
ngòi miền nhiệt đới gió mùa Ở nước ta mạng lưới sông ngòi dày đặc, nước lêntheo mùa, các con sông thường nhiều nước, nhiều phù sa bồi đắp những bờ bãi
ven sông Sông Hương vì thế khi ra khỏi rừng đã trở thành “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở” Kiến thức này các em học được ở bài 6 tiết 1:
“Đất nước nhiều đồi núi” và Bài 9, 10: “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” [14]
Cũng trong văn bản này khi dạy về Sông Hương ở phương diện lịch sử, có
chi tiết “sông Hương đã đi vào thời đại của CMT8 với những chiến công rung chuyển” ta liên tưởng đến sự kiện khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra vào
ngày 23/8/1945 ở Huế (Bài 16: “Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởinghĩa tháng Tám (1939 – 1945) Nước VNDCCH ra đời”) [10]
Sau khi học xong, trong phần tổng kết và luyện tập, GV có thể hỏi: Emrút ra được bài học gì từ văn bản trên? HS trả lời: Bồi dưỡng tình yêu quê hươngđất nước, giữ gìn danh lam thắng cảnh, giữ gìn những giá trị văn hóa tinh thầncủa dân tộc, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, đặc biệt biết giữ gìn nhữngdòng sông xanh - sạch - đẹp Đây là nội dung được học trong môn GDCD, bài14: “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [11]; bài 12: “Chínhsách tài nguyên và bảo vệ môi trường”, bài 13: “Chính sách giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ, văn hóa” [12]
Ví dụ 4: Khi dạy văn bản “Tuyên ngôn độc lập” phần hoàn cảnh sáng tác bản
tuyên ngôn, tích hợp với môn Lịch sử bài 16: “ Phong trào giải phóng dân tộc vàtổng khởi nghĩa tháng Tám (1939- 1945) Nước VNDCCH ra đời”, bài 17:
“Nước VNDCCH từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12- 1946” hay khinói về tội ác của Pháp, ta cũng tích hợp kiến thức môn Lịch sử bài 16 ở trên,mục I: Tình hình Việt Nam trong những năm 1939 - 1945 [10]
c.3 Tích hợp với kiến thức thực tế ngoài đời sống
Kiến thức thực tế ngoài đời sống rất phong phú và sinh động Do vậy tíchhợp với kiến thức thực tế vừa cung cấp cho HS thêm tri thức, sự hiểu biết, rènluyện kĩ năng sống mà còn góp phần làm cho các giờ học hấp dẫn và hứng thú hơn
Ví dụ 1: Văn bản “Vợ nhặt” có thể tích hợp văn hóa phong tục cưới hỏi của
người Việt: Em hiểu gì về phong tục cưới hỏi cuả người Việt ta? HS trả lời: Làviệc hệ trọng, có quá trình tìm hiểu, phải trải qua nhiều nghi lễ khác nhau: chạmngõ, ăn hỏi, rước dâu, lại mặt, có sự chứng kiến của hai họ Còn trường hợp củaTràng lại khác: không cần cưới hỏi, không có lễ nghi, hai con người lầm lũi dẫnnhau về nhà trong buổi chiều chạng vạng của những ngày đói
Ta còn có thể tích hợp kĩ năng sống và tích hợp giáo dục môi trườngsống: Em có nhận xét gì về cách ứng xử của người vợ nhặt? HS trả lời: Mộtngười con gái có lối ứng xử đúng mực Đó là cách ứng xử cần có ở một ngườihiểu biết Mỗi chúng ta cần có cách ứng xử phù hợp, đúng mực trong cuộc sống
Và môi trường sống mới đã thay đổi người vợ nhặt từ chỏng lỏn, chao chát biếnmất và thay vào đó là một người phụ nữ đảm đang tháo vát, biết lo toan thu vén Như vậy môi trường sống có tác động đến con người
Trang 11Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Chữ người tử tù”, phần tổng kết và liên hệ, GV có
thể hỏi: Từ cách ứng xử đầy văn hóa giữa các nhân vật trong tác phẩm, em rút rađược bài học gì cho bản thân về cách sống, cách ứng xử trong cuộc sống? HS trảlời: Phải yêu và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống, có niềm tin vàosức sống bất diệt của cái đẹp và “thiên lương” của con người, sống phải có tâm,
luôn trau dồi thiên lương lành vững: “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” bởi “người với người sống để yêu nhau” Luôn có thái độ và cách ứng xử đúng
đắn; biết hướng thiện, tìm mĩ, sống chân Chỉ ra một số tấm gương về lối sống
đẹp như Hồ Chí Minh “Chẳng yên lòng khi ngắm một cành hoa” hay ca sĩ Phi
Nhung xây chùa cho trẻ mồ côi… Đó là những cái đẹp đáng trân trọng trongcuộc sống Phê phán những lối sống không đẹp
Hoặc cũng trong văn bản này, khi nói về phương diện tài hoa nghệ sĩ củaHuấn Cao, em có nhận xét gì về vai trò của chữ và tình hình chữ viết của HShiện nay? HS phát biểu: Vẫn còn rất nhiều người lưu giữ nét chữ đẹp để thể hiệnnét người Tuy nhiên ngày càng nhiều HS không có ý thức giữ gìn nét chữ: viếtchữ rất xấu, sai lỗi chính tả, viết tắt, dùng kí hiệu, lạm dụng từ nước ngoài…Những hiện tượng ấy đã báo động cho việc bảo tồn nét chữ, chữ viết Tiếng Việt
GV khẳng định lại vấn đề, định hướng HS luyện chữ viết bởi nét chữ là nhâncách, là tính nết của một trò ngoan
Ví dụ 3: Từ quan niệm sống “Vội vàng” của Xuân Diệu, em có suy nghĩ gì về
lối sống của thanh niên hiện nay? HS trả lời: Quan niệm sống của Xuân Diệu có
ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các bạn trẻ nhất là các bạn đang lãng phí thờigian vào những việc vô bổ Thực tế cho thấy hiện nay có một số thanh niên đangsống vội, sống gấp lao vào ăn chơi, hưởng lạc Nhiều người là con các đại gia,các quan chức, các gia đình giàu có… đang đắm mình trong những quán lắc,những cuộc đua xe trái phép ở các thành phố như Hà Nội, Hồ Chí Minh, HảiPhòng… Đây là mặt trái của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, ích kỉ và tệ hại, trởthành tội lỗi, cần phải được phòng chống, đấu tranh, ngăn chặn kiên quyết vàkiên trì Mặt khác cũng phải chống lại lối sống trì trệ, tầm thường, nhàn nhạt,buông xuôi của một tầng lớp thanh niên khác Làm sao để hài hòa giữa cá nhân
và tập thể, riêng và chung, sống hết mình để có ích cho bản thân và xã hội
Ví dụ 4: Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam, khi phân tích
nhân vật Liên ta thấy Liên là một đứa trẻ nghèo, giàu tình thương, là đứa trẻ cóđời sống tâm hồn khá phong phú Thế nhưng hiện nay một bộ phận thanh thiếuniên có đời sống vật chất được nâng cao thì đời sống tâm hồn lại bị mài mòn, emhãy phát biểu suy nghĩ của mình về hiện tượng trên? HS phát hiện: Nhiều thanhniên, HS sống vô cảm, thờ ơ, lạnh lùng, vô đạo đức, khô khan, trống rỗng về đờisống tâm hồn: đánh bạn, quay video, thấy người gặp nạn thì thờ ơ, nói tục, chămchút bản thân mà quên người xung quanh… Hiện tượng đáng báo động
Cũng ở văn bản này, qua hình ảnh đoàn tàu tác giả muốn chuyển tải thôngđiệp: sống phải biết ước mơ và hi vọng, không cam chịu cuộc sống Vậy em cósuy nghĩ gì về ước mơ và nghị lực của con người trong xã hội ngày nay? HS trảlời: Những nhân vật sống có ước mơ, vươn lên chiếm lĩnh cuộc sống như: Nick