MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Người chưa thành niên (NCTN) là nguồn nhân lực, tương lai của đất nước, cũng là đối tượng dễ bị tổn thương, dễ bị lôi kéo, dụ dỗ, xúi giục,… để thực hiện các hành vi phạm tội. Do đó, NCTN cần được sự chăm sóc, bảo vệ, giáo dục phù hợp. Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, ban hành các chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm phát triển toàn diện NCTN và đề ra nhiều chương trình, kế hoạch, biện pháp nhằm tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống người chưa thành niên phạm tội (PCNCTNPT). Tuy nhiên, tình hình người chưa thành niên phạm tội (NCTNPT) ở Việt Nam hiện nay diễn biến phức tạp, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm cho xã hội. Phòng, chống NCTNPT là trách nhiệm cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) là một trong những lực lượng nòng cốt. Để PCNCTNPT, VKSND nói chung và VKSND cấp tỉnh nói riêng đã trực tiếp áp dụng các biện pháp pháp lý, có tác dụng đấu tranh và ngăn ngừa NCTNPT, hạn chế hậu quả thiệt hại do đối tượng này phạm tội, nhằm kiềm chế, đẩy lùi và từng bước làm giảm tội phạm, khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của từng loại tội phạm do NCTN thực hiện. Cùng với các biện pháp tác động trực tiếp nhằm đảm bảo cho quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với NCTNPT được nhanh chóng, chính xác, kịp thời theo thẩm quyền tố tụng, VKSND cấp tỉnh còn gián tiếp tác động để áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm thông qua việc thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của mình và thông qua các công tác khác do pháp luật quy định. Như vậy, PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh là hoạt động của VKSND cấp tỉnh áp dụng các biện pháp nghiệp vụ từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm đến khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với NCTNPT. Mục đích nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, trên cơ sở đó làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm do NCTN thực hiện. Qua đó, đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn và giảm trừ tội phạm do NCTN thực hiện trong đời sống xã hội, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, nhằm giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của các địa phương trên toàn quốc [58].
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ MINH THƯ
C¥ Së Lý LUËN Vµ THùC TIÔN VÒ PHßNG, CHèNG NG¦êI CH¦A THµNH NI£N PH¹M TéI CñA VIÖN KIÓM S¸T
NH¢N D¢N CÊP TØNH ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨCHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS PHẠM MINH TUẤN
2 TS LÊ ĐINH MÙI
HÀ NỘI - 2018
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CƠ SỞ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÒNG, CHỐNG NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò phòng, chống người chưa thành niên phạm
2.2 Nội dung, biện pháp phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của
2.3 Các điều kiện bảo đảm phòng, chống người chưa thành niên phạm tội
2.4 Phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của cơ quan công tố
(Viện kiểm sát) ở một số nước trên thế giới và giá trị tham khảo đối với
Chương 3: TÌNH HÌNH NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ
THỰC TRẠNG PHÒNG, CHỐNG NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN PHẠM TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP
TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 73 3.1 Tình hình và nguyên nhân người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam,
3.2 Thực trạng phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÒNG, CHỐNG
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 114 4.1 Quan điểm bảo đảm phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay 114 4.2 Giải pháp bảo đảm phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người chưa thành niên (NCTN) là nguồn nhân lực, tương lai của đất nước, cũng là đối tượng dễ bị tổn thương, dễ bị lôi kéo, dụ dỗ, xúi giục,… để thực hiện các hành vi phạm tội Do đó, NCTN cần được sự chăm sóc, bảo vệ, giáo dục phù hợp Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, ban hành các chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm phát triển toàn diện NCTN và đề ra nhiều chương trình, kế hoạch, biện pháp nhằm tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống người chưa thành niên phạm tội (PCNCTNPT) Tuy nhiên, tình hình người chưa thành niên phạm tội (NCTNPT) ở Việt Nam hiện nay diễn biến phức tạp, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm cho xã hội
Phòng, chống NCTNPT là trách nhiệm cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Trong đó, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) là một trong những lực lượng nòng cốt Để PCNCTNPT, VKSND nói chung và VKSND cấp tỉnh nói riêng đã trực tiếp
áp dụng các biện pháp pháp lý, có tác dụng đấu tranh và ngăn ngừa NCTNPT, hạn chế hậu quả thiệt hại do đối tượng này phạm tội, nhằm kiềm chế, đẩy lùi và từng bước làm giảm tội phạm, khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của từng loại tội phạm do NCTN thực hiện Cùng với các biện pháp tác động trực tiếp nhằm đảm bảo cho quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với NCTNPT được nhanh chóng, chính xác, kịp thời theo thẩm quyền tố tụng, VKSND cấp tỉnh còn gián tiếp tác động để áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm thông qua việc thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của mình và thông qua các công tác khác do pháp luật quy định Như vậy, PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh là hoạt động của VKSND cấp tỉnh áp dụng các biện pháp nghiệp
vụ từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm đến khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với NCTNPT Mục đích nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, trên cơ sở đó làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm do NCTN thực hiện Qua đó, đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn và giảm trừ tội phạm do NCTN thực hiện trong đời sống xã hội, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, nhằm giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của các địa phương trên toàn quốc [58]
Trang 4Với chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định, VKSND cấp tỉnh đã góp phần tích cực PCNCTNPT Tuy nhiên, PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh còn hạn chế, khó khăn, vướng mắc, như: Chưa đề cao vai trò PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh; một số Kiểm sát viên (KSV) còn hạn chế về trình độ chuyên môn, chưa có kiến thức đầy đủ về tâm lý học, khoa học giáo dục, chưa được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng PCNCTNPT; KSV chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quy định dành riêng khi xử lý các vụ án do NCTNPT; công tác thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án do NCTNPT còn có những hạn chế nhất định; còn xảy ra án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng; tranh tụng của KSV tại phiên tòa chưa mang tính thuyết phục cao; chưa bảo đảm quyền bào chữa, quyền đại diện hợp pháp của NCTNPT tham gia tố tụng; công tác phối hợp VKSND cấp tỉnh với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan chức năng trong PCNCTPT chưa chặt chẽ; VKSND cấp tỉnh chỉ mới tập trung vào việc xử lý những vụ án cụ thể mà chưa
có giải pháp đồng bộ, toàn diện để phòng ngừa NCTNPT; chưa chú ý làm rõ các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm do NCTN thực hiện để kiến nghị yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện các biện pháp phòng ngừa
NCTNPT Bên cạnh đó, các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố
tụng hình sự (BLTTHS) và các văn bản pháp luật có liên quan đến NCTNPT chưa quy định rõ ràng, cụ thể Cùng với những hạn chế đó, những năm qua, tình hình NCTNPT diễn biến phức tạp, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm Thủ đoạn phạm tội không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, các đối tượng đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ lưỡng, khá tinh vi, đã gây ra
những hậu quả hết sức nghiêm trọng [103]
Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu toàn diện để xây dựng
cơ sở lý luận và thực tiễn về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh; làm rõ nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, trên cơ sở đó, đề xuất xây dựng hệ thống các quan điểm, giải pháp bảo đảm
PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay Do vậy, lựa chọn "Cơ sở
lý luận và thực tiễn về phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay" làm luận án tiến sĩ luật học, có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn đang đặt ra
Trang 52 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là cung cấp luận chứng khoa học để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh Từ đó, đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, phân tích, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài
nước về cơ sở lý luận và thực tiễn PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh
Hai là, xây dựng và làm rõ một số vấn đề lý luận về PCNCTNPT của VKSND
cấp tỉnh như: Phân tích làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung và biện pháp PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh Đồng thời, xác định các điều kiện bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, cũng như nghiên cứu PCNCTNPT của cơ quan Công tố (Viện Kiểm sát) ở một số nước trên thế giới và chỉ ra giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh trong
những năm qua, chỉ ra được những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
Bốn là, phân tích dự báo tình hình NCTNPT trong thời gian tới và đề xuất
các quan điểm, giải pháp bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay Từ đó, luận án luận chứng cơ sở khoa học và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh thông qua thực hiện chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự và một số công tác khác
do pháp luật quy định
Trang 6Về thời gian, luận án nghiên cứu PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay, giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2017
Về không gian, luận án nghiên cứu toàn diện trên phạm vi toàn quốc đối với cấp tỉnh, thành phố trong cả nước
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật; về công tác phòng, chống tội phạm, đặc biệt PCNCTNPT; về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp; về hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như các chính sách hình sự của Nhà nước đối với NCTNPT
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận nói trên, luận án tiến hành nghiên cứu bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm: Phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, thống kê, so sánh, lịch sử - logic… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong nghiên cứu nội dung của
đề tài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch: được sử dụng bao quát trong tất cả các chương của luận án để phát hiện, luận giải, nhận xét và đề xuất
về các nội dung liên quan đến chủ đề luận án
- Phương pháp lịch sử - logic, so sánh, thống kê, được sử dụng trong chương
1, 2, 3 của luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
và thực trạng PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay
Cụ thể một số phương pháp như sau:
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử - logic để nghiên cứu Chương 1 Sử dụng phương pháp lịch sử - logic nhằm tổng quan vấn đề nghiên cứu; sử dụng phương pháp phân tích để phân tích tài liệu thứ cấp nhằm thu thập những thông tin có liên đến đề tài nghiên cứu về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh
ở Việt Nam hiện nay Từ đó, tổng hợp, khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, làm cơ sở cho việc lựa chọn cách tiếp cận, kế thừa nội dung và đề xuất những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch để nghiên cứu Chương 2 Sử dụng kết hợp các phương pháp này để nghiên cứu, phân
Trang 7tích, luận giải khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, biện pháp và các điều kiện bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh; Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về PCNCTNPT của Viện Công tố (Viện Kiểm sát) ở một số nước Qua đó, rút ra giá trị tham khảo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh áp dụng đối với Việt Nam
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu Chương 3 Sử dụng kết hợp các phương pháp này để đánh giá, phân tích về tình hình NCTNPT ở Việt Nam, từ đó đánh giá sự ảnh hưởng của tình hình NCTNPT đến PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh; phân tích, đánh giá, phân tích những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân của những kết quả, hạn chế, từ đó làm sáng tỏ nội dung của chương này
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trong nghiên cứu Chương
4 để luận giải và đề xuất các quan điểm, giải pháp có căn cứ khoa học nhằm bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận
và thực tiễn về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh
Thứ nhất, luận án đã xây dựng được các phương diện lý luận cơ bản bổ
sung, hoàn thiện vào hệ thống lý luận về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, gồm:
- Xây dựng khái niệm, đặc điểm, vai trò PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh;
- Phân tích nội dung, biện pháp PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay;
- Xác định, làm rõ các điều kiện bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh;
- Phòng, chống NCTNPT của cơ quan công tố (Viện Kiểm sát) ở một số nước trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá một cách toàn diện những kết quả đạt
được và hạn chế PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh trong những năm qua, đồng thời, phân tích làm rõ nguyên nhân của kết quả đạt được và hạn chế
Thứ ba, luận án xây dựng hệ thống các quan điểm, giải pháp bảo đảm
PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận: Luận án đã góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận khoa học
pháp lý đối với PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, từ đó tạo cơ sở cho việc nhận
Trang 8thức thống nhất về chức năng, nhiệm vụ, vai trò của VKSND cấp tỉnh trong hệ thống các cơ quan có chức năng PCNCTNPT, về tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ KSV trực tiếp PCNCTNPT
Về thực tiễn: Luận án là tài liệu có thể sử dụng vào công tác giảng dạy trong
chương trình đào tạo, bồi dưỡng pháp luật cho cán bộ, công chức làm công tác PCNCTNPT, đặc biệt trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh và các trường chuyên ngành luật trong cả nước
Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng trong các đề tài nghiên cứu khoa học về các vấn đề có liên quan đến PCNCTNPT, về tổ chức bộ máy của các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ PCNCTNPT, trong đó có VKSND các cấp, đặc biệt VKSND cấp tỉnh nghiên cứu, vận dụng trong hoạt động thực tiễn
để bảo đảm PCNCTNPT ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bảng, biểu và phụ lục, nội dung luận án gồm 04 chương, 11 tiết
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÒNG, CHỐNG NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến phòng, chống người chưa thành niên phạm tội
Ở Việt Nam, đề tài về NCTNPT luôn nhận được nhiều tác giả, các nhà khoa học, các cơ sở nghiên cứu, thể hiện tại một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu dưới đây:
- "Phòng ngừa thanh thiếu niên phạm tội - trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội" của Nguyễn Xuân Yêm và các tác giả [111] đã khái quát ở mức
độ tổng quan, toàn diện các vấn đề liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm NCTN, đồng thời đặt ra những yêu cầu đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với NCTN phạm tội
- "Áp dụng chính sách hình sự đối người chưa thành niên phạm tội" của
Trình Đình Thể [72] đã phân tích nguyên nhân và điều kiện phạm tội, thực tiễn hoạt động các cơ quan tư pháp đối với NCTNPT Qua đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm giúp NCTNPT thay đổi nhân cách, tự sửa chữa lỗi lầm, phục hồi chân thiện mỹ bằng môi trường sống trong lành có sự hỗ trợ của pháp luật
- "Tư pháp người chưa thành niên" của Cao Đức Thái [68] đã giới thiệu
chung về vấn đề tư pháp NCTN, một số vấn đề có liên quan đến vi phạm pháp luật của NCTN Các tác giả cho rằng: cần phải có biện pháp đặc biệt trong giải quyết tình trạng vi phạm pháp luật của trẻ em vì đối tượng này là chủ thể hết sức đặc biệt Mặc dù hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế về tư pháp đối với NCTN được hình thành tương đối đầy đủ và đáp ứng yêu cầu xử lý tình trạng NCTN vi phạm pháp luật, nhưng phải đảm bảo không ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển toàn diện của NCTN
- "Chế tài hình sự đối với xâm hại trẻ em và người chưa thành niên phạm tội" của Hà Anh [1] đã tập trung phân tích vị trí, vai trò của vấn đề bảo vệ các
Trang 10quyền của trẻ em trong pháp luật hình sự Bảo vệ trẻ em bằng biện pháp hình sự là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, hạn chế trình trạng phạm tội cho NCTN thực hiện Cụ thể, BLHS năm 2015 quy định đối với tội phạm là NCTNPT áp dụng nguyên tắc giáo dục, phòng ngừa là chính, không áp dụng hình phạt tù chung thân,
tử hình, hình phạt tiền và hình phạt bổ sung đối với đối tượng này, chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nếu thấy không cần thiết áp dụng hình phạt thì áp dụng các biện pháp tư pháp khác (như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng) Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến nội dung chế tài hình sự đối với nhóm hành vị xâm hại trẻ em, chế tài hình sự đối với NCTNPT và thủ tục tố tụng dành cho NCTNPT
- "Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn Công Hồng [38] đã phân tích cụ thể những quy định
của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về bảo vệ quyền của NCTNPT Đặc biệt, bảo vệ quyền của người tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên, việc áp dụng các hình phạt không mang tính chất giam giữ, biện pháp tư pháp không mang tính chất quản lý tập trung đối với NCTNPT Tác giả cho rằng: Do chưa trưởng thành đầy đủ
cả về thể chất và tinh thần, trong nhiều trường hợp NCTN chưa hiểu biết đầy đủ về các quyền năng tố tụng của mình cũng như hậu quả pháp lý của việc thực hiện hay không thực hiện chúng Do đó, nhằm hỗ trợ NCTNPT thực hiện một số quyền năng này, trong
đó phải kể đến, quyền bào chữa, quyền kháng cáo và quyền trình bày lời khai
- "Tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn Hà Nội, thực trạng và giải pháp" của tác giả Trịnh Quốc Toản [85] đã đề cập đến những vấn đề
lý luận về trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội, các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội, thực trạng và nguyên nhân phạm tội của NCTN ở thành phố Hà Nội trong những năm gần đây Từ đó, đưa ra các dự báo về tình hình tội phạm của NCTN ở thành phố Hà Nội và các giải pháp đấu tranh phòng, chống Trong các giải pháp đưa ra, tác giả có nêu các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác của cơ quan bảo vệ pháp luật bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát (VKS) và Công an trong đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện Riêng đối với VKSND gồm các giải pháp cụ thể sau: Viện kiểm sát nhân dân ở hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội cần chú trọng kiểm sát hoạt động điều tra các vụ
án có bị cáo là NCTN phạm tội; hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi
Trang 11khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam giữ đảm bảo đúng pháp luật, phát hiện
và xử lý kịp thời các trường hợp oan sai trong bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình
- "Người chưa thành niên phạm tội - Đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý" của
tác giả Đặng Thanh Nga, Trương Quang Vinh [51] đã phân tích những căn cứ pháp lý
để điều tra, xét xử NCTNPT Đặc biệt, thực trạng của việc tái hòa nhập cộng đồng cho NCTNPT tại trường giáo dưỡng, trại giam và sự cần thiết của việc hỗ trợ tâm lý cho NCTNPT, phân tích kết quả đã đạt được đối với các trường hợp tham vấn cụ thể Từ
đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phòng ngừa NCTNPT, hiệu quả xử lý đối với NCTNPT
- "Nguyên nhân, điều kiện người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự
và giải pháp phòng ngừa" của Nguyễn Minh Đức [34] đã tập trung phân tích, làm
rõ nhận thức chung về NCTN vi phạm pháp luật hình sự và đặc điểm tình hình, nhân thân và nguyên nhân, điều kiện của tình hình NCTN vi phạm pháp luật hình
sự Từ đó, tác giả đưa ra các chiến lược, chương trình, giải pháp và khuyến nghị phòng ngừa NCTN vi phạm pháp luật hình sự
- "Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội" của tác giả Đỗ Bá Cờ [19] đã đề cập đến những vấn đề lý luận
về NCTN phạm tội và hoạt động phòng ngừa NCTN phạm tội của lực lượng Công
an nhân dân, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa NCTN phạm tội của lực lượng Công an nhân dân
- "Bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự ở Việt Nam" của Lê Minh Thắng [71] đã nghiên cứu về mặt lý luận đảm bảo các quyền
của NCTN trong tố tụng hình sự không chỉ với tư cách là tội phạm mà còn ở tư cách đối tượng là người bị hại, người làm chứng Vấn đề sự kế thừa, giao thoa pháp luật quốc gia và quốc tế cũng được tác giả làm rõ, góp phần nhận diện những vấn đề mới về đảm bảo quyền của NCTN trong tố tụng hình sự Tác giả cũng có nhiều phát hiện mới về mức độ phổ biến, mức độ khả thi của nhiều quy định liên quan trong tố tụng hình sự Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của NCTN trong tố tụng hình sự: Bổ sung quy định nâng cao vai trò của người bào chữa, gia đình, nhà trường, người bị hại trong vụ án NCTNPT
Trang 12- "Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam" của
Vũ Thị Thu Quyên [65] đã nghiên cứu một cách tương đối toàn diện vấn đề lý luận của pháp luật về quyền của NCTNPT ở Việt Nam và khái quát hóa một số quy định các quốc gia và chỉ ra những kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam Từ đó, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền của NCTNPT và các giải pháp mang tính toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT
- "Công tác phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên" của Đinh Thanh Sơn [67] đã phân tích, đánh giá một cách tổng
thể khách quan trên các phương diện lí luận và thực tiễn về phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện Tác giả đã làm rõ được những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn tỉnh Điện Biên Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những dự báo về tình hình tội phạm do NCTN gây ra trong thời gian tới, căn cứ tình hình thực tiễn trên địa bàn đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện
- "Hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội - Lý luận và thực tiễn
áp dụng" của Vũ Ngọc Thùy [73] đã đề cập đến nội dung NCTN phạm tội là dạng
đối tượng phạm tội đặc biệt, khi áp dụng hình phạt tước tự do đối với NCTN khuyến cáo chỉ sử dụng như là biện pháp cuối cùng và cần hạn chế, đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế khác Do đó, cần có những giải pháp hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với NCTN trong thực tiễn
- "Miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật Việt Nam" của Lê Ngọc Duy [23] đã phân tích một cách có hệ thống và
làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội và khái quát việc áp dụng các quy định pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với NCTNPT trong thực tiễn áp dụng tại Việt Nam Qua
đó, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự được thống nhất, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm
- "Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam" của Dương Thị Ngọc Thương [75] đã làm rõ một số vấn đề lý luận về
trách nhiệm hình sự của NCTNPT trong luật Hình sự Việt Nam và làm rõ các nguyên tắc, quy định hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng của NCTNPT
Trang 13Qua đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật Hình sự Việt Nam và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này
- "Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên" của Viện
Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp [106] Nội dung của Dự án phân tích, đối chiếu các chuẩn mực về tư pháp NCTN trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia với thực tiễn lập pháp và thi hành pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này Từ đó, đưa ra những đánh giá tổng hợp về sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia
và pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp NCTN, những ưu điểm và hạn chế của
hệ thống tư pháp NCTN ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, Dự án đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện ba yếu tố của hệ thống tư pháp NCTN pháp luật, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
- "Báo cáo đánh giá các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến người chưa thành niên và thực tiễn thi hành" của Nguyễn Công Hồng [39] Kết quả
nghiên cứu của Báo cáo được thực hiện trong khuôn khổ Dự án "Hệ thống tư pháp thân thiện với NCTN" được ký kết giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Quỹ Nhi đồng của Liên Hợp quốc (UNICEF) tại Việt Nam Nội dung đã báo cáo một cách khách quan các quy định của BLHS Việt Nam liên quan đến NCTNPT và các tội phạm xâm hại NCTN cũng như thực tiễn thi hành các quy định này, so sách các quy định hiện có trong BLHS với các tiêu chuẩn và nguyên tắc quốc tế về tư pháp NCTN, chỉ
ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định này với pháp luật quốc tế
về bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em Trên cơ sở đó, đưa ra một số nhận xét, đánh giá
và khuyến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS Việt Nam liên quan đến NCTN theo hướng bảo đảm cho các quy định của BLHS Việt Nam phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em cùng với các tiêu chuẩn và quy định quốc tế có liên quan về quyền trẻ em
- "Quyết định hình phạt với người chưa thành niên phạm tội" của tác giả
Dương Tuyết Miên [45] đã đề cập đến tính chất đặc biệt của việc quyết định hình phạt đối với NCTN ở chỗ hình phạt được quy định nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của người phạm tội Điều này xuất phát từ việc NCTN được hưởng chính sách giảm trách nhiệm Hình sự của Nhà nước khi có hành vi phạm tội vì họ có những đặc điểm đặc biệt về nhân thân
Trang 14- "Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong đấu tranh người chưa thành niên phạm tội" của Trần Quang Tiệp [76] đã trình bày quan điểm phát huy sức mạnh
tổng hợp đối với cuộc đấu tranh phòng, chống NCTNPT, đòi hỏi phải tổ chức, phối hợp chặt chẽ sự giáo dục NCTN trong gia đình, nhà trường và xã hội để hình thành quá trình giáo dục thống nhất, liên tục, hướng vào việc phát triển nhân cách của NCTN
- "Những đặc điểm cơ bản về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam" của tác giả Trần Văn Dũng [21]
cho rằng: Lịch sử lập pháp hình sự nói chung và lịch sử lập pháp hình sự về NCTNPT nói riêng cũng được nghiên cứu dựa trên lịch sử của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ Bài viết đã, nghiên cứu một cách có hệ thống lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự và quá trình phát triển của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình
sự của NCTNPT Qua đó, đánh giá thực trạng, rút ra những giá trị cần được kế thừa, của pháp luật hình sự hiện hành về trách nhiệm hình sự của NCTNPT và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan
- "Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra - cơ sở có tính pháp lý quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lý người chưa thành niên phạm tội" của Bùi Thành Chung [17] đã làm
rõ khái niệm NCTN, tội phạm do NCTN gây ra, và đề cập đến vấn đề cần được rút
ra trong công tác phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lý NCTNPT Cần chú ý những vấn đề sau: Xác định đối tượng trong phòng, ngừa tội phạm; tính thân thiện trong điều tra tội phạm; tính cụ thể, nhân văn trong xử lý NCTNPT Trên cơ sở đó, bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với NCTN theo hướng bảo vệ các quyền của NCTN theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với pháp luật quốc tế, nhất là áp dụng biện pháp thân thiện trong điều tra và tính nhân văn khi xử lý NCTNPT
- "Người chưa thành phạm tội - Các biện pháp hạn chế" của tác giả Bùi Thị
Chinh Phương [52] đã đề cập đến tình hình phạm tội do NCTN gây ra có tính chất nghiêm trọng và đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Nội dung quy định của pháp luật hình sự đối với NCTNPT và thực tiễn áp dụng ở nước ta Qua đó, tác giả cũng nêu một số biện pháp để hạn chế, đẩy lùi tội phạm là NCTN
- "Góp ý một số quy định đối với người chưa thành niên phạm tội" của tác
giả Nguyễn Thị Bình [4] đã đề cập đến việc áp dụng các biện pháp xử lý đối với
Trang 15NCTNPT cần phải được cân nhắc, xem xét kỹ theo nguyên tắc không được quá mạnh làm cho họ thấy quá bất công, nhưng không được quá nhẹ để tránh hiện tượng
"nhờn luật" Ngoài ra, tác giả cũng trình bày rõ điều kiện áp dụng để tránh "quy định treo" và việc xây dựng hình phạt đối với NCTN theo nguyên tắc công bằng
- "Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của một số nước trên thế giới và liên hệ ở Việt Nam" của Hoàng Minh Đức [35] đã nghiên cứu,
trao đổi những khía cạnh khác nhau dưới góc độ so sánh pháp luật của một số nước trên thế giới và liên hệ ở Việt Nam về chính sách hình sự đối với NCTNPT Qua đó, nhằm đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách hình sự đối với NCTN ở Việt Nam hiện nay
- "Nghiên cứu dấu hiệu tiền phạm tội của người chưa thành niên phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm" của Trần Chiến Thắng [69] đã đề cập đến các nội
dung liên quan đến dấu hiệu tiền phạm tội Dấu hiệu tiền phạm tội được hiểu là những biểu hiện bên ngoài của NCTN, cho thấy sự báo hiệu người đó sẽ thực hiện tội phạm Sự hình thành hành vi phạm tội cũng như tất cả các hành vi khác của con người, có sự quan hệ chặt chẽ với ý thức, với động cơ, mục đích Việc nghiên cứu
"dấu hiệu tiền phạm tội" của NCTN đóng vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa tội phạm do NCTN gây ra
Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên các tạp chí về công tác đấu tranh
PCNCTNPT như: Bài viết Tư pháp hình sự đối với NCTN: "Những khía cạnh pháp
lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học" của Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng [13]; "Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội" của Trần Văn Dũng [20]; "Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội" của Hoàng Thị Liên [42],
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của Viện kiểm sát nhân dân
- "Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong công tác phòng ngừa tội phạm" của Đinh Xuân Nam [49] đã đề cập đến những vấn đề lí luận và thực
tiễn trong hoạt động của VKSND cấp huyện trong công tác phòng ngừa tội phạm; đánh giá tình hình tội phạm và đánh giá thực trạng hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND cấp huyện Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND cấp huyện
Trang 16- "Hoạt động phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân" của Nguyễn
Hồng Vinh [107] đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND Đồng thời, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND trên cơ sở đánh giá thực tiễn tại nước ta trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2004 Trên cơ sở đó, phân tích xu hướng vận động của tình hình tội phạm và sự cần thiết phải tăng cường hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Từ
đó, trình bày những phương hướng cơ bản hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND trong thời gian tới
- "Trách nhiệm phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhìn từ góc độ cải cách
tư pháp" của Nguyễn Hồng Vinh [108] đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn của
hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND Xem xét dưới góc độ vai trò, trách nhiệm pháp lý thì hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND về cơ bản phải được thực hiện theo hai hướng chủ yếu: Một là, thông qua các công tác để thực hiện chức năng; hai là phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa với các chủ thể khác Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đánh giá bước đầu trong thực tiễn hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, những kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường hoạt động phòng ngừa tội phạm của VKSND cũng được tác giả đề cập Tuy các công trình khoa học trên, không nghiên cứu trực tiếp về phòng ngừa NCTNPT, nhưng dưới góc độ phòng ngừa tội phạm nói chung, đã giúp cho nghiên cứu sinh có cách tiếp cận liên quan đến phòng ngừa NCTNPT của VKSND gắn với chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định
- "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra
vụ án do người chưa thành niên phạm tội của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
ở tỉnh Quảng Ngãi" của Nguyễn Huy Bình [3] đã nghiên cứu, đề xuất, luận
chứng các quan điểm đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án NCTNPT của VKSND Đồng thời, tác giả cũng chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của việc áp dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND đối với các vụ án NCTNPT Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND đối với các vụ án NCTNPT
Trang 17- "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can,
bị cáo là người chưa thành niên" của Vũ Thị Anh Đào [32] đã phân tích những vấn
đề lý luận và thực tiễn thi hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014 Tác giả làm rõ những đặc trưng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN; khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo
là NCTN, từ đó chỉ ra những ưu điểm, tích cực và mặt hạn chế để đề xuất các giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN Kết quả của luận văn góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN, qua đó thấy được vai trò to lớn của VKSND trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện
- "Chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên" của Trần Thị Ánh Tuyết [91] Chức năng của
VKSND trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN là hoạt động thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội và kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng và một số cơ quan có thẩm quyền điều tra khác trong quá trình điều tra hình sự mà bị can là NCTN từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ
18 tuổi Thực hiện chức năng này của Ngành Kiểm sát nhân dân, đòi hỏi KSV phải
là người có kiến thức về tâm lý cũng như vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm thực hiện tốt công tác THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Để từ đó
có thể thực hiện mục tiêu đấu tranh phòng, chống tội phạm, truy tố đúng người đúng tội đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đặc biệt là đối với NCTN vi phạm pháp luật hình sự Từ đó, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN trong giai đoạn từ năm 2011 - 2015, chỉ ra được những kết quả đạt được, nhưng do các nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau nên vẫn còn có một số hạn chế nhất định Trong quan hệ phối hợp giải quyết án hình sự với cơ quan điều tra (CQĐT), các KSV vẫn còn biểu hiện của tư tưởng ngại va chạm, xuôi chiều, để mặc cho CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra, nên không sâu sát, kịp thời phát hiện ra các vi phạm pháp luật, hoặc ỷ lại vào sự chỉ đạo của
Trang 18cấp trên hay của liên ngành mà các KSV chưa chủ động đề ra các yêu cầu điều tra, yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm Hơn nữa, công tác kiến nghị đối với các vi phạm pháp luật của CQĐT chưa được các Viện kiểm sát làm thường xuyên
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống lý luận và thực tiễn THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự mà NCTN trên toàn quốc, với những dự báo các vấn đề tác động ảnh hưởng đến các hoạt động này, tác giả đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự mà bị can là NCTN của VKSND
Ngoài ra, một số cá nhân, tập thể trong hệ thống VKSND đã có những nghiên cứu, để soạn thảo các bài giảng, tài liệu tập huấn nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy cho các lớp đào tạo, bồi dưỡng KSV, nhằm nâng cao nhận thức của cán
bộ, KSV về pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về PCNCTNPT và nâng cao
kỹ năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các vụ án NCTN như
"Tập đề cương bài giảng tư pháp người chưa thành niên" của tác giả Ngô Văn Đọn
[33] Nội dung của tập đề cương đã trang bị cho cán bộ, KSV những hiểu biết và kỹ năng thực hành đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về các quyền của trẻ em, để từ đó có cách nhìn, phương pháp tiếp cận, nghiên cứu và xử lý phù hợp dựa trên quan điểm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em bị hại và các trẻ
em khác có liên quan đến pháp luật Đặc biệt, từ Bài số 10 đến Bài số 30 đã được trình bày hệ thống những vấn đề về nguyên tắc xử lý NCTNPT trong luật Hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với NCTNPT, quyết định hình phạt đối với NCTNPT Thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với NCTNPT; thủ tục tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố NCTNPT; giám định pháp y có liên quan đến NCTN; lấy lời khai NCTNPT, hỏi cung NCTNPT Nhất là, Bài 16 đến Bài 18, tác giả đã trình bày nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm do NCTN thực hiện, các biện pháp phòng ngừa NCTNPT, đặc điểm tâm lý NCTNPT Trên cơ sở những quy định của pháp luật hình sự về NCTN, Bài 22 đến Bài 30, đã trình bày những kỹ năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các vụ án NCTN, nhằm bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc
xử lý NCTNPT cũng như phòng ngừa NCTNPT Nội dung của Tập đề cương bài giảng là tài liệu hữu ích có giá trị tham khảo cao đối với tác giả luận án khi nghiên cứu về lý luận PCNCTNPT của VKSND
Trang 19Qua các công trình nghiên cứu điển hình trên cho thấy, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề có liên quan về các nội dung như: Lý luận chung về NCTNPT, tình trạng tội phạm, các loại tội phạm do NCTN gây ra; đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan Công an, VKS, Tòa án trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
do NCTN thực hiện một cách chung nhất hoặc trên một địa bàn cụ thể Tuy nhiên,
vẫn chưa có công trình nào phân tích sâu có hệ thống về "Cơ sở lý luận và thực tiễn
về phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh" Vì vậy, đây là điểm mới, còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến phòng, chống người chưa thành niên phạm tội ở một số nước trên thế giới
- "Kid Who Commit Adult Crimes: Serious Criminality by Juvenile Offenders" (Trẻ em thực hiện những hành vi phạm tội của người trưởng thành - Những trọng tội do NCTN gây ra) của tác giả R.Barri Flowers [121] Theo tác giả,
tội phạm bạo lực do NCTN gây ra ngày càng nghiêm trọng Từ đó, tác giả đã phân tích tính chất bạo lực của tội phạm ở nhóm bạo lực học đường, băng nhóm thanh thiếu niên phạm tội, nhóm ma túy, nhóm tội phạm do bạo lực gia đình; dưới góc độ sinh học, tâm lý và xã hội học để phân tích hành vi phạm tội bạo lực của NCTN; công tác đấu tranh các loại tội phạm gây ra của hệ thống cảnh sát, thẩm phán Tòa án dành cho việc kiểm soát, xét xử, giam giữ người phạm tội; quy định có liên quan về phòng ngừa, giải quyết và xu hướng, chiến lược kiểm soát NCTNPT
- "Preventing and Reducing Juvenile Delinquency: A Comprehensive Framework" (Phòng ngừa tội phạm do NCTN gây ra: Một yêu cầu toàn diện) của
tác giả James C.Howell [118] Trên cơ sở nghiên cứu ưu điểm, hạn chế của hệ thống tư pháp NCTN của các quốc gia, tác giả đề cập đến các nghiên cứu mới nhất cho việc phòng ngừa NCTNPT Bên cạnh đó, các giải pháp phòng ngừa được đưa ra
ở nhiều khía cạnh khác nhau một cách toàn diện, dựa trên việc khảo sát, đánh giá thực tiễn những trường hợp điển hình phạm tội của NCTN, những quy định của pháp luật hiện hành để áp dụng đối với NCTN phạm tội
- "Juvenile Justice sourcebook: Past, present, and future" (Nguồn tư pháp
NCTN: Quá khứ, hiện tại và tương lai) của tác giả Albert R.Roberts [113] đã trình bày tình hình các loại tội phạm có NCTN gây ra, các hiện tượng tâm sinh lý của
Trang 20NCTN khi phạm tội, hệ thống tư pháp đối với NCTN và đánh giá hệ thống hình phạt đang sử dụng đối với NCTNPT đặc biệt là hình phạt tù
- "Balancing Juvenile Justice" (Cân bằng tư pháp đối với người chưa thành
niên) của tác giả Susan Guarino [124] đã đề cập đến những vấn đề còn tồn tại, bất cập trong hệ thống tư pháp đối với NCTN Hoạt động công tố, xét xử NCTN được
sử dụng như đối với người đã thành niên là một trong những hạn chế của hoạt động
tư pháp Do đó, cần có sự cân bằng giữa các chế độ chính sách áp dụng hình phạt và các chương trình tập huấn, giáo dục đối với NCTNPT
- "American Juvenile" (Tư pháp cho người chưa thành niên Mỹ) của tác giả
Franklin.E.Ziming [117] đã tập trung vào các nguyên tắc và chính sách của hệ thống tư pháp, phân tích các chính sách của quốc gia đối với NCTN Đối với NCTN phạm tội khi áp dụng các hoạt động công tố, xét xử nên xem xét ở khía cạnh mà người đó có thể
có điều kiện, cơ sở khắc phục, sửa chữa những vi phạm của họ Hệ thống tư pháp đối với NCTN cần chú ý đó là các vấn đề về dân tộc, việc sử dụng công cụ, nhất là súng của NCTN, hành vi phạm tội giết người, quá trình xét xử ở tòa án hình sự do NCTN,…
- "Judging Juvenile: Prosecuting Adolescents in Adult and Juvenile Courts"
(Xét xử người chưa thành niên tại tòa án cho người lớn và toà án cho người chưa thành niên) của tác giả Aaron Kuchik [112] Theo quan điểm của tác giả, cần thiết phải xây dựng hệ thống cơ quan công tố, tòa án dành riêng cho NCTN Bên cạnh
đó, tác giả cũng đề cập các dẫn chứng liên quan đến quá trình truy tố, xét xử đối với NCTN và đưa ra quan điểm về việc đưa NCTN phạm tội ra xét xử tại Tòa án của người đã thành niên
- "Judging children as children: A Proposal for a Juvenile Justice system"
(Xét xử trẻ em như một trẻ em - Một đề xuất cho hệ thống tư pháp người chưa thành niên) của tác giả Michael A Corriero [120] Nội dung cuốn sách đề cập đến thực tế của chính tác giả khi ông chủ trì xét xử nhiều vụ NCTN phạm tội tại Manhattan đã thiết kế Tòa án đặc biệt để xét xử, trừng phạt NCTN phạm tội tại New York và đã có kết quả tích cực Qua đó, tác giả cũng đưa ra nguyên tắc xét xử NCTN cần có sự khác biệt so với người trưởng thành và các quyết định đưa ra tại Tòa án của Thẩm phán có thể thay đổi những định hình trong cuộc sống
- "Juvenile Justice: The Essentials" (Tư pháp cho người chưa thành niên,
những yếu tố cần thiết) của tác giả Richard Lawrence [122] đã nhấn mạnh việc sử
Trang 21dụng các quy định của pháp luật một cách bình đẳng và công bằng cho tất cả NCTN phạm tội và trình bày các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến tư pháp vị thành niên, các chương trình về pháp luật của NCTN
- "Migration in Germany - Violent Crimes Committed by Young Men of Foreign Origirs" (Di cư ở Đức, tội ác bạo lực bởi thanh, thiếu niên gốc nước ngoài)
của tác giả Sandro Sterneberg [123] Theo tác giả, sau khi Đức ký hợp đồng với Thổ Nhĩ Kỳ và các nước khác đưa người lao động từ các khu vực nông thôn để hỗ trợ nền kinh tế công nghiệp đang bùng nổ, Đức phải đối mặt với tình trạng người nhập cư Nhiều gia đình nhập cư bị đối xử không công bằng và đang sống trong điều kiện kinh tế khó có thể có sự thay đổi tích cực Do đó, có khả năng họ sẽ trở thành tội phạm đặc biệt là nam thanh niên nhập cư từ 14 tuổi đến 25 tuổi sống tại các thành phố của Đức Do đó, vấn đề quan trọng đối với Đức là tình trạng phạm pháp vi thành niên được đưa ra trong các cuộc tranh chấp công khai diễn ra nhiều năm
- "Juvenile Justice: Theory and Pratice" (Tư pháp người chưa thành niên: Lý
thuyết và thực hành) của tác giả Cliff Roberson [115] đã dẫn chiếu một số trường hợp Tòa án xét xử đối với NCTN phạm tội nhằm làm rõ khái niệm và những vấn đề liên quan đến hệ thống cơ quan thực thi pháp luật, cơ cấu Tòa án vị thành niên, thủ tục tư pháp đối với NCTN Đồng thời, tác giả cũng nêu ra một cách nhìn tổng quan, toàn diện hệ thống điều hành việc truy tố NCTN phạm tội
- "Juvenile Justice" (Tư pháp người chưa thành niên) của tác giả Karen Hess,
Christine Orthmann, John Wright [119] đã đề cập đến những quan điểm khác nhau
về các quy định pháp lý đối với NCTN phạm tội Những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực tư pháp đối với NCTN bao gồm công tác phòng ngừa, các vấn đề bạo lực, công tác học đường, đe dọa internet, đối tượng phạm tội là nữ và hệ thống pháp lý điều chỉnh vấn đề trên
- "Báo cáo của Ủy ban quyền trẻ em Liên hợp quốc về công tác tư pháp người chưa thành niên" của Chương trình mạng lưới tư pháp người chưa thành niên
quốc tế - Tổ chức bảo vệ trẻ em quốc tế [18] Tập thể tác giả cho rằng, công tác tư pháp NCTN là việc các quốc gia thành viên thực hiện những nghĩa vụ đối với "những trẻ em không mong muốn" theo những cam kết tuân thủ Công ước Quyền trẻ em Trên
cơ sở các điều khoản của Công ước Quyền trẻ em liên quan đến tư pháp NCTN, những khảo sát thực tế phong phú, báo cáo đã đưa ra những đánh giá, nhận xét khá cụ thể về
Trang 22công tác này ở hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khoảng thời gian từ năm 1993 đến đầu năm 2000 Đặc biệt, Báo cáo đã đưa ra những khuyến nghị cùng những nhận xét kết luận và khuyến nghị cùng những gợi ý nhằm giúp các quốc gia, tổ chức thành viên thấy được những vấn đề tồn tại trong việc thực hiện Công ước Quyền trẻ em ở các Điều 37 (đối xử vô nhân đạo), 39 (phục hồi cho nạn nhân), 40 (thi hành công lý), cũng như các Điều 2 (không biệt đối xử), Điều 3 (lợi ích tốt nhất), Điều 6 (phát triển lành mạnh) và Điều 12 (quyền được biểu đạt ý kiến)
- "Quyền trẻ em trong tư pháp chưa thành niên trong sách tham khảo: "Bình luận và khuyến nghị chung của các ủy ban công ước thuộc Liên hợp quốc về quyền con người" Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, do Viện Nghiên cứu
Quyền con người [37] Một trong những nội dung lớn có ý nghĩa đó là vấn đề "Tư pháp chưa thành niên: Các nhân tố cốt lõi của một chính sách toàn diện" đề cập đến nội dung can thiệp/chuyển hướng xử lý, hai loại hình can thiệp được các nhà chức trách của các quốc gia thành viên áp dụng để giải quyết với trẻ em vi phạm pháp luật hình sự Đó là, các biện pháp không sử dụng đến quá trình tố tụng tư pháp và các biện pháp tố tụng tư pháp Tác giả kiến nghị các quốc gia thành viên rằng đối với trẻ em có xung đột với pháp luật phải được giải quyết theo một cách thúc đẩy sự tái hòa nhập đòi hỏi tất cả các hành động cần phải hỗ trợ trẻ em đó trở thành một thành viên xây dựng và đầy đủ của xã hội Nội dung khác, mà Bình luận muốn đề cập đến trong nội dung thứ IV là "tôn trọng sự riêng tư" của trẻ em trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng, sẽ không có thông tin nào được công bố về lai lịch, phiên tòa xét xử đối với trẻ em cần phải được xử kín, các phiên xét xử công khai trong quá trình tố tụng chỉ có thể có trong những trường hợp đặc biệt, rất hạn chế và được quy định rõ ràng trong luật pháp Tiếp theo, trong nội dung thứ V mà tác giả muốn nói đến là "tổ chức của tư pháp chưa thành niên", kiến nghị các quốc gia thành viên cần thành lập một tổ chức
có hiệu quả để quản lý tư pháp chưa thành niên và thành lập một hệ thống tư pháp chưa thành niên toàn diện, thành lập những tòa án chưa thành niên như là những cơ quan riêng biệt hoặc một bộ phận của các tòa án địa phương/khu vực hiện có
1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của Viện Kiểm sát/Viện công tố các nước trên thế giới
- "Prosecutorial Independence in Japan" (Quyền công tố độc lập ở Nhật
Bản) của Castberg, A.Didrick [114] Nghiên cứu của tác giả phân tích tính độc lập
Trang 23và quyền lực của cơ quan Công tố tại Nhật Bản Hiến pháp Nhật Bản đề cao vai trò của Cơ quan công tố, Công tố viên có quyền chỉ đạo điều tra, trực tiếp điều tra các
vụ án liên quan tới các quan chức cao cấp, các vụ án lừa đảo trong lĩnh vực kinh tế, ngân hàng nghiêm trọng, đặc biệt là các vụ án do NCTNPT Công tố viên khi thực hiện nhiệm vụ có quyền độc lập và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động điều tra Điểm đặc thù của hệ thống tố tụng Nhật Bản, quyền hạn của Công tố viên khi tiến hành hoạt động điều tra giống quyền hạn của Cảnh sát tư pháp, thì còn có một số quyền đặc biệt: Yêu cầu Tòa án phê chuẩn lệnh tạm giam hoặc trả tự do đối với người bị tạm giam, trong đó có NCTNPT Thủ tục tố tụng đối với NCTN không quy định cụ thể trong BLTTHS mà quy định cụ thể trong Luật vị thành niên Nhật Bản Theo quy định thủ tục tại Tòa án gia đình, Công tố viên hoặc nhân viên tư pháp đưa
vị thành niên đến Tòa gia đình để thẩm vấn và xét xử trong môi trường thân thiện, phù hợp với tâm lý, tình cảm của vị thành niên để quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ với vị thành niên, phiên tòa xét xử vị thành niên là phiên tòa kín
Sau khi nghiên cứu vụ án do Tòa án gia đình chuyển đến, Công tố viên có toàn quyền trong việc quyết định truy tố hay không truy tố Công tố viên có thể quyết định không truy tố khi phát hiện ra tình tiết mới làm giảm nhẹ tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội hoặc trong trường hợp do thay đổi của thời gian mà hành
vi phạm tội của NCTN đã không còn nguy hiểm Nếu công tố viên cho rằng có đủ căn cứ để truy tố NCTN thì phải ra quyết định truy tố và chuyển vụ án cho Tòa án gia đình (Điều 45) Công tố viên có thẩm quyền yêu cầu Thẩm phán áp dụng biện pháp trông nom và chăm sóc thay vì biện pháp giam giữ; yêu cầu hủy bỏ biện pháp
đã áp dụng; yêu cầu giao cho cơ quan phân loại trẻ em giám sát, chăm sóc; không được yêu cầu Thẩm phán ra lệnh giam giữ trừ trường hợp giam giữ là biện pháp thực sự cần thiết (Điều 43)
- "Comparative Analysis of Prosecution Systems (Part II): The Role of Prosecution Services in Investigation and Prosecution Principles and Policies" (Vai trò
của cơ quan công tố trong hoạt động điều tra và những nguyên tắc và chính sách công tố) của Despina Kyprianou [116] Tác giả đã đề cập đến vai trò của cơ quan Công tố trong hoạt động điều tra tại nhóm các quốc gia theo truyền thống luật án lệ và nhóm các quốc gia theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa Theo đó, cả hai nhóm quốc gia, vai trò của cơ quan Công tố đã thay đổi so với mô hình truyền thống Ở các quốc
Trang 24gia theo truyền thống luật án lệ, cơ quan Công tố đã có sự tham gia tích cực hơn trong giai đoạn điều tra, được ghi nhận trong luật (tại Anh và xứ Wales) hoặc thông qua thỏa thuận không chính thức với CQĐT Ngược lại, ở nhóm các quốc gia theo truyền thống luật châu Âu lục địa, Công tố viên chỉ trực tiếp chỉ đạo hoạt động điều tra trong những
vụ án rất quan trọng, trong đó có các vụ án do NCTNPT, nhưng vẫn luôn kiểm soát và chịu trách nhiệm chung về các giai đoạn điều tra
- "Tìm hiểu cơ quan công tố Mỹ" của Nguyễn Anh Hùng [40] đã đề cập đến
cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan công tố của Mỹ Đặc điểm chung của cơ quan công tố Mỹ là trực thuộc chính quyền hành pháp và có thẩm quyền truy tố tội phạm ra trước tòa án các cấp Chức năng chủ yếu của công tố
Mỹ là chức năng truy tố tội phạm Ngoài ra, cơ quan công tố Mỹ còn có một đặc quyền trong việc truy tố tội phạm là quyền "tùy nghi truy tố" - đó là ngay khi các chứng cứ vụ án đã đầy đủ, nhưng Công tố viên vẫn có quyền đình chỉ, không truy tố tội phạm Đối với NCTNPT, thì Công tố viên không được phép truy cứu NCTN ra Tòa án liên bang trừ khi Chưởng lý Hoa Kỳ tại địa bàn, sau khi điều tra, xác nhận với Tòa án liên bang rằng Tòa thanh thiếu niên hay một Tòa án khác của tiểu bang không có thẩm quyền đối với NCTN đó hoặc hành vi vi phạm bị truy cứu là tội danh bạo lực hoặc ma túy hoặc sử dụng vũ khí
- "Cơ quan Công tố Vương Quốc Anh" của tác giả Nguyễn Thị Thủy [74] đã
làm rõ nguyên tắc tổ chức bộ máy, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, mặc dù cơ quan Công tố có thẩm quyền khởi tố và tiến hành một số hoạt động tố tụng hình sự đối với các vụ án quan trọng, phức tạp, nhưng về cơ bản, hoạt động điều tra tội phạm hầu hết do Cơ quan điều tra đảm nhiệm Kết thúc giai đoạn điều tra, trên cơ sở xem xét hồ sơ, tài liệu, chứng cứ
do cơ quan Cơ quan điều tra chuyển sang, cơ quan Công tố có trách nhiệm (có quyền) quyết định việc truy tố hay không truy tố hoặc cũng có thể yêu cầu cảnh sát tiến hành các hoạt động điều tra bổ sung
Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên có trách nhiệm tham gia phiên xét xử
sơ bộ tại Tòa án cấp cơ sở để trình bày quan điểm của cơ quan Công tố về vụ án, mời nhân chứng cung cấp lời khai hoặc đọc bản khai của nhân chứng Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, Công tố viên chỉ có thể tham gia phiên tòa để thực hiện việc truy
tố khi được Tòa án yêu cầu Sau khi kết thúc phiên tòa, Công tố viên có quyền
Trang 25kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp cơ sở liên quan đến các vấn đề pháp luật lên Tòa án cấp cao; có quyền kháng nghị bản án của Tòa án Hoàng gia liên quan đến việc tuyên hình phạt, nếu cho rằng hình phạt đó quá nhẹ; có quyền kháng nghị quyết định của Tòa Phúc thẩm lên Thượng Nghị viện nếu xét thấy có liên quan đến vấn đề pháp luật chung cần có sự xem xét của Nghị viện
Như vậy, Vương quốc Anh và ở các nước có mô hình tổ chức Viện công tố, bảo
vệ, bảo đảm quyền con người cũng được thể hiện rõ trong quy định chung về chức năng, nhiệm vụ công tố hoặc quy định cụ thể trong Luật Luật về công tố viên Hoàng gia Anh quy định rõ, ngoài chức năng truy tố, cơ quan công tố có chức năng bảo đảm quyền con người theo Luật Nhân quyền năm 1998 và Công ước Châu Âu về quyền con người Khi thực hiện chức năng trên, Công tố viên phải đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng đắn, các chứng cứ thích hợp đều được trình trước tòa [36] Trình tự, thủ tục, thời hạn, thẩm quyền giải quyết vụ án về NCTN trong giai đoạn truy tố Khi NCTN bị buộc tội hoặc bị thông báo là có thể bị truy tố về một tội phạm, người đó sẽ được lưu ý bằng một Bản lưu ý Bản lưu ý sẽ được trao cho NCTN hoặc người giám hộ của họ, có nội dung thông báo về tội phạm bị cáo buộc, cảnh báo về quyền im lặng nhưng mọi điều người đó nói có thể được đưa ra làm bằng chứng trước Tòa
- "Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới" của Nguyễn Thu Quỳ [66] Tác
giả đề cập đến thủ tục điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với NCTNPT của một số nước như: Trung Quốc, Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp Hầu hết pháp luật
tố tụng các quốc gia này đều bảo đảm quyền của NCTNPT trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Trong đó, bảo đảm quyền được bào chữa đối với NCTNPT là nội dung mang tính nguyên tắc, nếu bị cáo là vị thành niên chưa tròn
18 tuổi khi mở phiên tòa xét xử không có người bào chữa thì Tòa án phải chỉ định người bào chữa cho họ Đồng thời, quy định trước khi quyết định hình phạt, Tòa án phải có nghĩa vụ xem xét khả năng miễn hình phạt, cho hưởng án treo hoặc tuyên hình phạt không phải là hình phạt tù cho bị cáo là NCTN và giao trách nhiệm giám sát cho cơ quan chuyên trách đối với người bị kết án là NCTN
Như vậy, qua việc khảo sát tài liệu nghiên cứu một số nước cho thấy, hoạt động
tư pháp đối với NCTNPT được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, chi tiết và tương đối cụ thể Tuy nhiên, các công trình mới chỉ đề cập ở khía cạnh nhất định, chủ yếu nhận
Trang 26diện vấn đề tội phạm do NCTN gây ra và hệ thống tư pháp của các quốc gia đối với NCTNPT Qua nghiên cứu chưa có một công trình, tài liệu nào nghiên cứu một cách toàn diện và trực tiếp về cơ sở lý luận và thực tiễn về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh
Vì vậy, việc nghiên cứu này vẫn mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những công trình khoa học đã được công bố của các
cá nhân, tập thể trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án có thể thấy, các công trình khoa học đã đề cập đến khái niệm NCTN, khái niệm NCTNPT, dấu hiệu
và các đặc điểm về đối tượng đặc biệt là NCTN Dấu hiệu tiền tội phạm, chính sách hình sự của Nhà nước và đặc thù khi quyết định hình phạt đối với tội phạm do NCTN thực hiện Những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm của NCTN đã được đề cập Trên cơ sở đó, các công trình đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm hạn chế tình trạng NCTNPT Ngoài ra, các tác giả cũng chú trọng nghiên cứu về mô hình tổ chức, hoạt động của hệ thống tư pháp các quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm của hệ thống tư pháp này trong PCNCTNPT ở Việt Nam
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, toàn diện và có hệ thống về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay Cụ thể, những vấn đề lý luận và thực tiễn PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh chưa được làm sáng tỏ, thực trạng PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh chưa được đánh giá đầy đủ, chưa chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế, nhằm đưa ra những quan điểm, giải pháp bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu và căn cứ vào các lý thuyết
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau: Phòng, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay từ phương diện lý luận và thực tiễn vẫn còn là một khoảng trống, chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ Mặc dù, pháp luật hiện hành đã có những quy định
về PCNCTNPT của VKSND nói chung và VKSND cấp tỉnh nói riêng Tuy nhiên, trước đòi hỏi, yêu cầu PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh vẫn còn bộc lộ nhiều bất
Trang 27cập, hạn chế Xu hướng dự báo tình hình NCTNPT để đưa ra quan điểm, giải pháp
bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh là một nhiệm vụ mang tính quyết định đến sự thành công về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh trong thời gian tới, trên cơ
sở phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, có thể đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu và giải thuyết nghiên cứu
* Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra:
- Phòng, chống PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh là gì?
- Phòng, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh gồm những nội dung, biện pháp nào?
- Để bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh phải có những điều kiện gì?
- Phòng, chống NCTNPT của cơ quan Công tố (Viện Kiểm sát) của nước ngoài có giá trị tham khảo đối với Việt Nam như thế nào?
- Phòng, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam, giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2017 đã đạt được những kết quả và hạn chế như thế nào? Nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh là gì?
- Tình hình NCTNPT trong thời gian tới diễn biến như thế nào?
- Để bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay trong thời gian tới cần phải làm gì?
1.3.3 Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay, với mục đích, nhiệm vụ của luận án đặt ra, một số vấn đề sau đây trong luận án cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu, xây dựng khái niệm, làm rõ đặc điểm, vai trò,
nội dung, biện pháp PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh và các điều kiện bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận về PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở những phân tích, đánh giá thực tiễn
PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh, làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và tìm
ra nguyên nhân của kết quả đạt được, hạn chế PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh
Trang 28trong những năm qua Từ đó, luận án đưa ra những dự báo về tình hình NCTNPT trong thời gian tới và đề xuất quan điểm, giải pháp bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
Kết luận chương 1
Ở nhiều nước trên thế giới, Viện Kiểm sát (Viện công tố) đã tham gia cách tích cực, góp phần PCNCTNPT, do đó có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tội phạm do NCTN thực hiện và công tác PCNCTNPT của các cơ quan chức năng
Ở nước ta, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhiều cá nhân, tổ chức
đã tiến hành nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về PCNCTNPT gắn liền với chức năng của VKSND Ở mỗi công trình, có sự khác biệt về phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu, nhưng nhìn chung đều thống nhất về các biện pháp cần tiến hành để PCNCTNPT như: Cần phải xây dựng hệ thống pháp luật tốt, trong đó
sự giáo dục của các tổ chức xã hội, tổ chức đoàn thể và gia đình đóng vai trò cốt lõi;
có chính sách giáo dục thanh thiếu niên thông qua nhiều kênh thông tin đại chúng;
xử lý nghiêm minh, đồng thời tăng cường tính chất giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng; đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật cho các em ở nhà trường, ở địa phương và tại các tổ chức sinh hoạt đoàn thể nơi các em tham gia; Nhà nước có chính sách tạo việc làm cho người lao động, ổn định kinh tế - chính trị
- xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, nâng cao chất lượng gia đình, bởi lẽ gia đình chính là tế bào của xã hội; hoàn thiện các chính sách hình sự đối với tội phạm
do NCTN thực hiện…
Do đó, nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về tội phạm
do NCTN thực hiện đã được tiến hành và áp dụng có hiệu quả vào hoạt động thực tiễn ở nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Chính phủ các nước đã tiếp nhận những kết quả nghiên cứu đó và đã hình thành các quan điểm cụ thể về thiết kế mô hình bộ máy các cơ quan có chức năng PCNCTNPT; các hoạt động cần tiến hành để PCNCTNPT có hiệu quả cao, Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ về mặt lý luận, nhằm bảo đảm PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh
Trang 292.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên là một trong những bộ phận, thành phần chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu dân số của bất cứ quốc gia nào trên thế giới Đó cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành, lĩnh vực khoa học, trong đó có khoa học pháp
lý Trong khoa học pháp lý, một mặt thừa nhận NCTN được hiểu là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, mặt tâm sinh lý; bên cạnh đó, NCTN cũng được coi là chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, công dân do pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế quy định
Như vậy, xét ở góc độ chung nhất, NCTN là người chưa phát triển một cách đầy đủ và toàn diện bởi các yếu tố sau đây:
- Thứ nhất, yếu tố thể chất Đây là yếu tố mang tính vận động cơ học thuộc
về mặt thể chất cơ thể của NCTN Trong chu kỳ phát triển tự nhiên của con người thì giai đoạn ở độ tuổi 14 đến 18 tuổi, NCTN có sự thay đổi theo chiều hướng phát triển nhanh nhất về thể chất, ở đó các cơ quan chức năng (bộ phận của cơ thể con người) có sự phát triển mạnh mẽ nhất, điều này có thể gây nên sự mất cân bằng trong hoạt động hệ thần kinh trung ương, dễ dẫn đến phản ứng bất thường, cơn xúc động mạnh của cơ thể Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của NCTN
- Thứ hai, yếu tố nhận thức Đây là lứa tuổi mà NCTN chưa hiểu biết đầy đủ
về kiến thức xã hội Xuất phát từ việc giáo dục NCTN ở độ tuổi này chủ yếu là học sinh đang học phổ thông Vì thế, về nhận thức xã hội còn hạn chế, kinh nghiệm sống chưa nhiều nên (dễ bị các đối tượng xấu) lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội, hoặc
dễ sa ngã vào cám dỗ của cuộc sống Ở lứa tuổi này, xét góc độ trí tuệ, nhận thức vẫn chưa hoàn thiện, do vậy suy nghĩ và hành động của NCTN còn rất bồng bột, thiếu kiềm chế, dễ bị tác động nhân tố bên ngoài, hành động mang tính bột phát [71, tr.33] Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc phạm tội khá phổ biến ở lứa tuổi này
Trang 30- Thứ ba, yếu tố pháp lý Đây là yếu tố mang tính khách quan, do pháp luật
quy định, ở đó NCTN được pháp luật quy định cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý
cơ bản khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Tuy nhiên, các quyền và nghĩa vụ pháp lý còn ở mức độ hạn chế so với người đã thành niên Điều này, cũng xuất phát
từ yếu tố nhận thức của NCTN là chưa đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, nên nếu trao cho họ đầy đủ thì sẽ dẫn đến việc khó kiểm soát được và họ sẽ thực hiện một cách không đảm bảo có thể gây hại cho bản thân và cho xã hội Do vậy, yếu tố pháp lý mang tính bảo vệ quyền lợi của NCTN nhằm hạn chế tối đa việc
vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hình sự nói riêng
Do đó, NCTN có những đặc điểm về thể chất và tâm sinh lý chưa đầy đủ và
bị pháp luật giới hạn trong một số trường hợp khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Pháp luật quốc tế cũng đặt ra các quy định về độ tuổi của NCTN và các quyền tối thiểu của NCTN mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015: "NCTN là người chưa đủ mười tám tuổi" Từ những phân tích nêu trên, dưới góc độ pháp lý có thể hiểu:
NCTN là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ và toàn diện về thể chất, tinh thần, nhận thức xã hội, vì vậy cũng chưa có đầy đủ năng lực hành vi trong thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý khi tham gia vào các quan hệ pháp luật như người
đã thành niên
Trên cơ sở đó, NCTNPT là thuật ngữ được sử dụng trong ngành luật hình sự
và luật tố tụng hình sự Tuy nhiên, vẫn chưa có khái niệm pháp lý chính thức giải thích thuật ngữ này dù BLHS, TTHS có quy định chương riêng về NCTNPT BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa đưa ra khái niệm về NCTN mà chỉ quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự Theo đó, quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác và người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168,
169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,
303 và 304 của BLHS [59]
Như vậy, theo quy định của BLHS, có thể hiểu NCTNPT là những người nằm trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Nói cách khác, NCTNPT là những
Trang 31người mà tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, người đó từ đủ 14 tuổi đến dưới
18 tuổi Một câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao pháp luật hình sự lại quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của NCTN là từ đủ14 tuổi? Ở mỗi quốc gia trên thế giới có quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của NCTN rất khác nhau Chẳng hạn: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Singapo là từ đủ 7 tuổi đến 12 tuổi trở lên; Anh là từ đủ 10 tuổi đến dưới 14 tuổi; Đức, Nga, Nhật Bản là từ đủ 14 tuổi trở lên; Canada là từ đủ 12 tuổi trở lên; Thụy Điển là đủ 15 tuổi; Cuba là 16 tuổi, trong khi
đó Chilê, Tây Ban Nha lại không quy định độ tuổi tối thiểu chịu TNHS Sở dĩ, pháp luật hình sự mỗi quốc gia có quy định khác nhau như vậy là vì phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, cũng như sự phát triển của từng nước Ở nước ta, pháp luật hình sự có quy định từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Trong độ tuổi này, NCTN đã phát triển nhanh về tâm sinh lý, họ đã ý thức được hành vi của mình, tự ý thức được đúng, sai cũng như ý thức được phần nào việc gì là đúng pháp luật, việc gì là sai trái, bị pháp luật cấm Do đó, họ có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về chính hành vi sai trái do mình thực hiện
Xuất phát từ đặc điểm đường lối xử lý hình sự đối với NCTNPT không giống như đối với người đã thành niên phạm tội Đối với NCTNPT, thì chính sách hình sự của Việt Nam nhấn mạnh yếu tố giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, tạo
ra các điều kiện cần thiết giúp họ phát triển một cách lành mạnh để trở thành những công dân có ích cho xã hội Chính xuất phát từ lý do này, BLTTHS đã quy định một chương riêng về thủ tục tố tụng đối với NCTNPT Việc xử lý NCTNPT dựa trên các nguyên tắc nhân đạo; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự phát triển về thể chất và tinh thần Do đó, đối với NCTN, việc xác định một trường hợp
cụ thể hành vi phạm tội có trở thành tội phạm hay không còn căn cứ vào nguyên tắc
xử lý theo quy định của pháp luật Để xác định trách nhiệm hình sự của NCTN thì phải xác định được họ đã thực hiện hành vi được mô tả trong BLHS, trong đó, BLHS quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Như vậy, để xác định
NCTNPT khi có đầy đủ 3 điều kiện sau: Một là, có hành vi phạm tội do NCTN thực hiện; hai là, người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự tương ứng với loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm; ba là, người đó thực tế phải
Trang 32chịu trách nhiệm hình sự sau khi các cơ quan có thẩm quyền cân nhắc việc cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp khác để quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng: Người chưa thành niên phạm tội
là người thực hiện hành vi phạm tội khi đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi hoặc
đã đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi mà phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại một số tội trong BLHS và bị các cơ quan
có thẩm quyền xác định cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự
2.1.2 Khái niệm phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Phòng, chống tội phạm nói chung và PCNCTNPT nói riêng mang tính phức tạp, cần sự phân biệt rõ ràng về nội dung, hình thức, các biện pháp nhất định Trong cuộc đấu tranh với hiện tượng tội phạm, phương hướng cơ bản và quan trọng là
"phòng ngừa", "chống" chỉ được thực hiện khi phòng ngừa không thật sự hiệu quả Như C.Mác đã nói: Người làm luật thông thái cần phải phòng ngừa tội phạm làm sao để khỏi trừng phạt nó Trong lý luận cũng như thực tiễn đấu tranh với hiện tượng tội phạm, các thuật ngữ "phòng ngừa" và "chống" hay "đấu tranh chống tội phạm" hay sử dụng thường xuyên thành một cụm từ như "cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm" hay "đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm" nhưng chưa cắt nghĩa một cách rõ ràng Do đó, tình trạng lẫn lộn giữa các khái niệm cũng diễn ra phổ biến Từ những công trình nghiên cứu cho phép chúng ta có thể khái quát được một số các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa NCTNPT đang được áp dụng trong thực tiễn Dựa trên những cơ sở khác nhau nên có những cách phân loại hệ thống những biện pháp phòng ngừa khác nhau: Nếu dựa vào lĩnh vực phòng ngừa, thì có các biện pháp về kinh tế, chính trị, các biện pháp về tổ chức, các biện pháp về pháp luật Nếu dựa vào diễn biến của tình hình tội phạm, thì có các biện pháp phòng ngừa
ở phạm vi toàn quốc hay từng khu vực lãnh thổ hành chính, các biện pháp phòng ngừa nhóm tội phạm Nếu dựa vào tính chất tác động của các biện pháp phòng ngừa thì có thể chia thành các biện pháp giáo dục, các biện pháp tổ chức quản lý, các biện pháp xử lý theo pháp luật Nếu theo cách phân chia này thì các biện pháp phòng ngừa sẽ gồm 2 nhóm: Các biện pháp phòng ngừa chung và các biện pháp phòng ngừa riêng Đối với biện pháp phòng ngừa chung là các biện pháp mà Đảng, Nhà
Trang 33nước, chính quyền, các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể và mọi công dân tiến hành nhằm nâng cao mọi mặt của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật ) Đối với biện pháp phòng ngừa riêng: Đó là các biện pháp tác động trực tiếp tới người phạm tội do các cơ quan chuyên môn (Công an, Thanh tra, Kiểm sát, Tòa án, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Hải quan ) tiến hành, nhằm phát hiện kịp thời những hành vi phạm tội, xử lý nghiêm những người phạm tội và giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội
Trong thực tiễn, do ý nghĩa to lớn của các biện pháp chống NCTNPT như phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành hình phạt đối với việc ngăn ngừa tội phạm mà nhiều người cho rằng: Chống NCTNPT là một bộ phận cần thiết và quan trọng của phòng ngừa NCTNPT nhằm đảm bảo tính triệt để của các biện pháp phòng ngừa có hiệu lực Hình phạt không chỉ tác động trực tiếp đối với người đó để đảm bảo cho tính bắt buộc phải chịu trách nhiệm pháp lý khi gây ra tội phạm mà còn ngăn chặn chính họ không tiếp tục phạm tội mới Đồng thời, hình phạt còn có ý nghĩa phòng ngừa chung thông qua việc gây tác động giáo dục quần chúng nhân dân lao động tích cực, tham gia đấu tranh với tội phạm và răn đe những người khác không
vi phạm pháp luật và phạm tội Tại Điều 31 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn
trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm" [59]
Phòng, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh được tiến hành theo hai nội dung là phòng ngừa NCTNPT và chống NCTNPT, tức là sử dụng các biện pháp để đấu tranh trực tiếp và gián tiếp với hành vi phạm tội của NCTN
Thứ nhất, phòng ngừa NCTNPT của VKSND cấp tỉnh
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm về phòng ngừa tội phạm, do đó ở những góc độ khác nhau, phòng ngừa tội phạm được hiểu khác nhau Theo Từ điển Luật học, phòng ngừa tội phạm được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, của toàn thể cộng đồng và công dân nhằm nhanh chóng và sớm phát hiện, ngăn chặn, khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội, làm giảm nguyên nhân phát sinh phạm tội bằng toàn bộ những biện pháp liên quan với nhau, do cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân tiến hành [10, tr.622]
Trang 34Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa thì "Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của
cơ quan, tổ chức và công dân thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác động và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này" Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân thì
"Phòng ngừa tội phạm là một hệ thống các biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm chủ động ngăn chặn không để cho tội phạm xảy ra, không để cho các thành viên của
xã hội phải gánh chịu hậu quả tiêu cực do hành vi phạm tội gây nên" [92, tr.418]
Các quan điểm nói trên dù có những cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên chúng có điểm chung là phòng ngừa tội phạm đó là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội áp dụng các biện pháp để hạn chế và tiến đến loại trừ nguyên nhân của tội phạm nhằm ngăn chặn không để cho tội phạm xảy ra
Phòng ngừa NCTNPT của VKSND cấp tỉnh là việc VKSND cấp tỉnh bằng nhiều biện pháp nhằm khắc phục những nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm
do NCTN thực hiện nhằm ngăn chặn, hạn chế và làm giảm từng bước tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội Do đó, phòng ngừa NCTNPT được coi là nội dung chính, là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt PCNCTNPT Đây là, hoạt động mang bản chất nhân đạo trong chính sách hình sự của các nhà nước đương đại, trong đó có Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hạn chế tối đa việc NCTNPT bị xử lý trước pháp luật, không bị tước quyền công dân Đặc biệt, phòng ngừa NCTNPT tức là không để tội phạm xảy ra gây hậu quả cho xã hội và ảnh hưởng đến quá trình phát triển lành mạnh của họ Mặt khác, phòng ngừa NCTNPT của VKSND cấp tỉnh còn mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc Làm tốt công tác phòng ngừa giúp cho nhà nước giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể và của công dân VKSND cấp tỉnh thực hiện tốt phòng ngừa NCTNPT còn mang ý nghĩa kinh
tế, tiết kiệm ngân sách nhà nước, sức lao động, thời gian của CQĐT, VKSND, TAND,
Cơ quan thi hành án hình sự, khi không phải tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử và giáo dục cải tạo NCTNPT Để bảo đảm phòng ngừa NCTNPT của VKSND cấp tỉnh cần tiến hành các hoạt động cụ thể sau đây:
Một là, tập trung nghiên cứu những nguyên nhân và điều kiện của tình hình
tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh của cả nước trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian sắp tới bao gồm:
Trang 35- Nghiên cứu sự tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đặc biệt là sự tác động tiêu cực như sự ảnh hưởng của văn hóa đồi trụy (phim ảnh, internet, game,…), lối sống xa hoa, thích hưởng thụ, lười lao động, các
tệ nạn xã hội đối với NCTN và hành vi vi phạm pháp luật của NCTN
- Những ảnh hưởng tác động tiêu cực từ phía gia đình, nhà trường, xã hội đến sự hình thành và phát triển nhân cách, lối sống của NCTN; những thiếu sót trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật đối với NCTN
- Phối hợp với Cơ quan thi hành án hình sự và các cơ quan chức năng làm tốt công tác kiểm sát thi hành án hình sự đối với NCTNPT, để xóa bỏ tư tưởng phạm tội của NCTN, chấp nhận sự giáo dục, cải tạo để trở thành người sống có ích cho gia đình, bản thân và xã hội, tránh tình trạng tái phạm, tái phạm nguy hiểm
- Phối kết hợp với các cơ quan chức năng đánh giá phong trào quần chúng nhân dân tham gia phòng chống tội phạm ở địa phương, có phát huy được sức mạnh của quần chúng tham gia phòng ngừa tội phạm
- Mối quan hệ của VKSND với CQĐT, TAND trong công tác PCNCTNPT,
để phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh đối với loại tội phạm này
Hai là, bên cạnh việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm do NCTN thực hiện, VKSND cấp tỉnh còn phải nghiên cứu đề ra các biện pháp thích hợp, nhằm từng bước ngăn chặn và tiến tới xóa bỏ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm do NCTN thực hiện Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình VKSND cấp tỉnh đẩy mạnh thực hiện chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm nói chung và PCNCTNPT nói riêng; phối kết hợp với các cơ quan tiến hành
tố tụng và các cơ quan chức năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với NCTN; tham gia xây dựng pháp luật có liên quan đến NCTN; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn PCNCTNPT thông qua thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là đề ra các biện pháp phòng ngừa NCTNPT; thực hiên công tác thống
kê NCTNPT để đánh giá kết quả PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh và đưa ra những dự báo tình hình NCTNPT trong thời gian tới, trên cơ sở đó có biện pháp phòng ngừa NCTNPT hiệu quả,… Như vậy, phòng ngừa NCTNPT là sự phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của tội phạm với việc từng bước hạn chế và tiến tới loại bỏ tội phạm với tư cách là một hiện tượng tiêu cực của xã hội
Từ các phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm: Phòng ngừa NCTNPT của VKSND cấp tỉnh là hoạt động của VKSND cấp tỉnh thực hiện tổng thể các biện
Trang 36pháp thông qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự và thông qua các công tác khác do pháp luật quy định,
để tìm ra những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm do NCTN thực hiện, nhằm từng bước hạn chế, ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm do NCTN thực hiện ra khỏi đời sống xã hội
Thứ hai, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh
Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và nhân dân luôn quan tâm đến công tác đấu tranh xử lý hành vi phạm tội của NCTN, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh không những để phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tiến hành cải tạo và giáo dục NCTNPT trở thành công dân có ích cho xã hội, mà còn có tác dụng phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này và phòng ngừa NCTN sau khi trở về với gia đình không tái phạm và tái phạm nguy hiểm
Chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh là việc VKSND cấp tỉnh tiến hành các biện pháp nghiệp vụ theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định, để phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh NCTNPT từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đến khởi tố, điều tra, tuy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với NCTNPT Biện pháp chống NCTNPT mang tính cưỡng chế nhà nước và nghiêm khắc trực tiếp tác động, hạn chế một số quyền của NCTNPT, cho nên, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải hết sức thận trọng khi xử lý NCTNPT, để vừa bảo đảm quyền và lợi ích của họ trong tố tụng hình sự, vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật Vì vậy, biện pháp chống NCTNPT vừa mang tính trừng phạt vừa mang tính giáo dục, phòng ngừa đối với họ và nhằm răn đe, ngăn chặn những người khác có âm mưu, ý định thực hiện phạm tội
Mặc dù, chống NCTNPT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm về chống tội phạm nói chung
và chống NCTNPT nói riêng Từ những vấn đề đã phân tích trên, có thể rút ra khái
niệm: Chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh là hoạt động của VKSND cấp tỉnh áp dụng các biện pháp pháp lý hình sự thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự để phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh NCTNPT, đồng thời, nhằm giúp họ sửa chữa sai lầm và giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội
Trang 37Trên cơ sở khái niệm phòng ngừa NCTNPT của VKSND cấp tỉnh và khái niệm chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh, có thể rút ra khái niệm PCNCTNPT của
VKSND cấp tỉnh như sau: PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh là hoạt động của VKSND cấp tỉnh thực hiện tổng thể các biện pháp thông qua chức năng, nhiệm vụ THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự và thông qua các công tác khác do pháp luật quy định để phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh NCTNPT, đồng thời, tìm
ra nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm do NCTN thực hiện để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả NCTNPT và giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội
2.1.3 Đặc điểm phòng, chống người chưa thành niên phạm tội của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Thứ nhất, PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh thông qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án do NCTNPT
Một là, thực hiện chức năng THQCT là hoạt động của VKSND cấp tỉnh
trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với NCTNPT, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội của NCTN phải được phát hiện điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không để NCTN bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật [58] Mục đích thực hiện chức năng THQCT của VKSND cấp tỉnh để bảo đảm cho việc phát hiện, ngăn chặn kịp thời, không để cho NCTNPT có
đủ thời gian tiêu hủy chứng cứ, tẩu tán tài sản phạm tội hoặc bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý hoặc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội Mặt khác, thông qua việc phát hiện xử lý kịp thời NCTNPT còn là biện pháp răn đe, giáo dục những đối tượng khác có âm mưu thực hiện tội phạm
Hai là, thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND cấp tỉnh
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, TAND, Cơ quan Thi hành án hình sự,… nhằm bảo đảm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm do NCTN thực hiện; kiểm sát việc khởi tố, điều tra, xét xử đối với NCTNPT; kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành
án hình sự đối với NCTNPT theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và
Trang 38các quyền lợi ích hợp pháp của NCTN Bản án quyết định của TAND đối với NCTNPT đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp của CQĐT, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, TAND, cơ quan Thi hành án hình sự, cơ quan khác được giao thi hành án hình sự phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời [58]
Phòng, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án do NCTNPT, nhằm bảo đảm cho quá trình phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử NCTNPT được nghiêm minh, đúng pháp luật, góp phần PCNCTNPT có hiệu quả; trực tiếp giáo dục đối với NCTNPT, đồng thời, trực tiếp tuyên truyền, giáo dục pháp luật liên quan đến PCNCTNPT để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, của NCTN và có biện pháp PCNCNTPT; yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân áp dụng những biện pháp cần thiết để phòng ngừa và chống NCTNPT; phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng các chương trình, kế hoạch PCNCTNPT; tổng kết công tác PCNCTNPT; chủ trì công tác thống kê NCTNPT,… Do đó, PCNCTNPT được tiến hành đồng bộ, có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, nhằm đạt hiệu quả trên thực tế
Từ sự phân tích trên, cho thấy PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh khác với cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội khác và khác với CQĐT, TAND cấp tỉnh Trước hết, VKSND cấp tỉnh là cơ quan được Nhà nước giao cho chức năng trực tiếp PCNCTNPT Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội thông qua chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước, quản lý con người, quản lý xã hội phối hợp với cơ quan Công an, VKSND, TAND cấp tỉnh để thực hiện các biện pháp phòng ngừa chung (Phòng ngừa xã hội), không trực tiếp PCNCTNPT Tuy nhiên, CQĐT, TAND, cơ quan Thi hành án hình sự chỉ thực hiện PCNCTNPT trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể như: CQĐT PCNCTNPT trong giai đoạn khởi tố
vụ án hình sự, khởi tố bị can và trong giai đoạn điều tra; TAND PCNCTNPT trong giai đoạn xét xử, cơ quan Thi hành án hình sự thực hiện công tác giáo dục, cải tạo NCTNPT đang chấp hành án phạt tù; Ủy ban nhân dân phường, thị trấn thực hiện việc giáo dục và quản lý người bị kết án cải tạo không giam giữ, người bị án tù cho hưởng án treo Mặt khác, VKSND cấp tỉnh trực tiếp PCNCTNPT trong suốt quá trình tố tụng hình sự, kể từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến điều tra, truy tố, xét xử thi hành án hình sự đối với
Trang 39NCTNPT Điều khác biệt này giúp cho VKSND cấp tỉnh có những thuận lợi và điều kiện nắm được bản chất của các vụ án, đặc điểm về nhân thân, hoàn cảnh gia đình, động cơ mục đích phạm tội, từ đó có điều kiện giáo dục NCTNPT cũng như làm rõ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc thực hiện tội phạm, từ đó đề xuất và áp dụng các biện pháp phòng ngừa phù hợp, mang tính khả thi cao
Thứ hai, PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh thông qua các công tác khác do pháp luật quy định, như: Thực hiện chương trình quốc gia PCNCTNPT; tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với NCTN; xây dựng pháp luật liên quan đến PCNCTNPT; thống kê NCTNPT; công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan chức năng PCNCTNPT; tổng kết công tác PCNCTNPT, chú trọng đề ra các biện pháp nhằm phòng ngừa NCTNPT…
Bên cạnh chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, hoạt động phòng, chống NCTNPT của VKSND cấp tỉnh còn được tiến hành thông qua các công tác khác do pháp luật quy định như: Thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật; tuyên truyền, giáo dục pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học; hợp tác quốc
tế và các công tác khác để xây dựng VKSND VKSND cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an, Toà án, Thi hành án, Thanh tra, Kiểm toán, các cơ quan nhà nước khác, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận để phòng, chống tội phạm có hiệu quả; xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu tội phạm và vi phạm pháp luật [58] Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với NCTNPT, VKSND cấp tỉnh phối hợp với CQĐT, TAND cùng cấp đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử và xét chọn những vụ án trọng điểm để đưa ra xét xử lưu động nhằm tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương, đồng thời, thông qua phương tiện truyền thông để tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến nhân dân, đặc biệt là NCTN, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật để tích cực tham gia PCNCTNPT Ngoài ra, VKSND cấp tỉnh còn tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật liên quan đến PCNCTNPT nói chung và PCNCTNPT nói riêng
Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng thì VKSND cấp tỉnh kiến nghị
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh
Trang 40người vi phạm pháp luật Nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan
có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật [58] Đây được coi là một trong những quyền năng cơ bản (quyền kiến nghị) của VKSND cấp tỉnh trong PCNCTNPT, một mặt nó khắc phục vi phạm, sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong hoạt động tư pháp; mặt khác, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong ban hành các quyết định, hành vi trong hoạt động tư pháp Qua đó cho thấy, VKSND cấp tỉnh thực hiện tốt hoạt động này sẽ góp phần đấu tranh PCNCTNPT trong công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan chức năng PCNCTNPT
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện chương trình PCNCTNPT trên cơ
sở báo cáo kết quả triển khai thực hiện chương trình PCNCTNPT, VKSND cấp tỉnh, làm rõ những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót để tham mưu cho cấp Ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, VKSND tối cao tiếp tục hoàn thiện chương trình, kế hoạch PCNCTNPT, đáp ứng yêu cầu PCNCTNPT trong thời gian tới Đặc biệt, VKSND cấp tỉnh vừa là cơ quan trực tiếp đấu tranh PCNCTNPT trên địa bàn tỉnh, vừa thực hiện chương trình PCNCTNPT cho nên sẽ nắm bắt tốt những đặc điểm về tình hình phạm tội của NCTN trên địa bàn Đồng thời, có thể đưa ra những kiến nghị về tình trạng vi phạm pháp luật của trẻ em và NCTNPT hoặc kiến nghị về tình trạng phạm tội của NCTN ở một số lĩnh vực phổ biến Từ đó, có thể nêu ra những biện pháp phòng ngừa có hiệu quả, khắc phục vi phạm pháp luật của NCTNPT tại địa phương
Mặt khác, thông qua việc thống kê tội phạm nói chung và thống kê NCTNPT nói riêng, VKSND cấp tỉnh phân tích các thông tin thống kê để đưa ra những dự báo về tình hình phát triển của tội phạm do NCTN thực hiện, để có kế hoạch cụ thể,
đề ra các biện pháp tích cực đấu tranh phòng ngừa NCTNPT
Thứ ba, PCNCTNPT của VKSND cấp tỉnh là thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa VKSND cấp tỉnh với các chủ thể khác
Một là, với cấp ủy Đảng: Trách nhiệm PCNCTNPT là của Đảng, Nhà nước
và toàn thể nhân dân