Trong đó toàn ngành Giáo dục tập trung vào nhiệm vụ: Triểnkhai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọngcác hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu kh
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Năm học 2017-2018, nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Kế hoạch hànhđộng của ngành Giáo dục, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiệnNghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáokhoa giáo dục phổ thông và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ngoài những nhiệm
vụ thường xuyên Trong đó toàn ngành Giáo dục tập trung vào nhiệm vụ: Triểnkhai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọngcác hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học và luyện kỹ năng thựchành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cho họcsinh, các kĩ năng sống Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ,đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học,giáo dục phổ thông đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dụcthế kỉ XXI, mà thực chất là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng địnhmình và Học để cùng chung sống
Trên thực tế, giáo dục ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng đượcyêu cầu giáo dục của thời đại mới Về nội dung: kiến thức còn hàn lâm cứngnhắc, coi trọng lí thuyết hơn thực tiễn, thiếu tính liên thông các bài học vớinhau, nhiều vấn đề khai thác trùng lặp trong nhiều môn học, làm chương trìnhtrở nên thiếu tính hệ thống, quá tải Về phương pháp: dạy học chủ yếu nặng vềthuyết trình, ít có sự liên hệ kiến thức giữa các bộ môn với nhau cũng như kiếnthức giữa các bài học trong cùng một bộ môn Mục tiêu dạy học chỉ chú trọngvào việc cung cấp kiến thức mà ít chú trọng đến phát triển kĩ năng cho học sinh,
ít có sự liên hệ giữa lí thuyết học trong nhà trường và thực tiễn cuộc sống Trongkhi các tình huống ngoài thực tiễn cuộc sống luôn mang tính tích hợp thì dạyhọc trong nhà trường còn thiếu sự tích hợp giữa các môn (theo các nhà nghiêncứu)
Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD & ĐT) hiện nay việc nâng caochất lượng dạy học là vấn đề quan trọng hàng đầu, để giúp học sinh lĩnh hội kiếnthức có hiệu quả cao nhất Đòi hỏi mỗi giáo viên (GV) phải luôn luôn rút ranhững kinh nghiệm trong giảng dạy và có những sáng kiến mới trong đổi mớiphương pháp một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn Song, để làm được điều
đó là vấn đề đặt ra của mỗi giáo viên đặc biệt đối với môn học Giáo dục côngdân (GDCD) lớp 10 là việc hết sức khó, bởi vì triết học là một môn khoa họccủa mọi ngành khoa học, vừa mang tính trừu tượng hóa lại mang tính khái quáthóa cao, động thời môn học này bước đầu hình thành trong tư tưởng chính trị,đạo đức cho mỗi công dân và cộng đồng xã hội
Thực tế ở các trường THPT cho thấy rằng có rất nhiều giáo viên dạy họctích hợp liên môn một cách nhuần nhuyễn đạt hiệu quả cao Nhưng bên cạnh đó,cũng không ít giáo viên vận dụng cho có hình thức, việc vận dung phương phápnày chỉ đơn thuần là liệt kê, ôn tập lại kiến thức cũ, như thế sẽ làm mất hết vai
Trang 2trò, ý nghĩa của môn học này trong trường THPT Vậy cần phải vận dụng kiếnthức liên môn như thế nào để đạt hiệu quả cao? Đây là câu hỏi lớn đang đặt racho giáo viên giảng dạy bộ môn này.
Để nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD là một yêu cầu cơ bản vàquan trọng hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo Môn GDCD có vai trò
to lớn trong việc trang bị cho học sinh Trung học phổ thông (THPT) - nhữngchủ nhân tương lai của đất nước, một cách tương đối có hệ thống những kiếnthức phổ thông, cơ bản, thiết thực của triết học duy vật biện chứng, của lý luận
về chủ nghĩa xã hội và thời đại, về nhà nước và pháp luật Đông thời, môn họcbước đầu hình thành và bồi dưỡng tư tưởng khoa học, phương pháp tư duy biệnchứng trong việc phân tích và đánh giá thế giới hiện thực, sự hình thành đúngđắn về tư tưởng chính trị đạo đức cho mỗi người công dân và cộng đồng xã hội.Nếu không khéo léo sử dụng và đổi mới phương pháp dạy học hoặc giáoviên chỉ biết áp dụng một cách máy mọc, dập khuôn những phương pháp dạyhọc “cổ truyền” sẽ không gây được hứng thú học tập cho học sinh và bài giảngtrở nên khô khan, khó hiểu, … nên việc vận dụng kiến thức liên môn vào giảngdạy bộ môn GDCD là cần thiết, sẽ gây được hứng thú trong học tập cho họcsinh
Chính lý do trên thôi thúc tôi chọn đề tài: "Tích hợp kiến thức liên môn nhằm phát huy năng lực cho học sinh trong môn GDCD lớp 10 (phần công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học)”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Mục đích: Trước hết làm sáng tỏ phương pháp vận dụng tri thức liên môn
để làm gì? Tại sao cần phải vận dụng tri thức liên môn trong quá trình giảng dạymôn GDCD? Những yêu cầu cơ bản để sử dụng tốt phương pháp này, nhữngđiều cần tránh trong quá trình vận dụng tri thức liên môn Đồng thời, tìm ra cáchvận dụng như thế nào cho hợp lý và đạt hiệu quả cao, góp phần đổi mới phươngpháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
- Nhiệm vụ: Với mục đích đó SKKN có nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu tình hình sử dụng tri thức liên môn trong quá trình giảng dạymôn GDCD của giáo viên ở trưởng THPT Cụ thể tôi đã nghiên cứu tình hình sửdụng phương pháp vận dụng tri thức liên môn của các giáo viên giảng dạy mônGDCD ở các trường
+ Chỉ ra vai trò, tầm quan trọng và cách sử dụng của phương pháp vậndụng tri thức liên môn
+ Vận dụng tri thức liên môn ở một số bài cụ thể ở phần thứ nhất: Côngdân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học
1.3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Là học sinh lớp 10 mới vào THPT nên việc tiếp cận với kiến thức triết họcnhư: Vật chất - ý thức; các quy luật của triết học; vai trò của thực tiễn … là vôcùng khó khăn và khó hiểu nên giáo viên đã sử dụng phương pháp liên mônbằng cách đưa các môn khoa học khác như: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử,Địa vào giảng dạy, đồng thời kết hợp với một số hình ảnh, vi deo, tư liệu đểtăng thêm phần tích cực học tập trong học sinh
Trang 31.4 Phương pháp nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này dựa trên phương pháp:
- Trước hết tôi phải phác thảo đề cương nghiên cứu, thu thập số liệu, thôngtin qua sách báo, tạp chí và sau đó xử lý thông tin Đồng thời, chịu khó họchỏi kinh nghiệm, tiếp thu ý kiến có chọn lọc các bạn cùng ngành
- Xâm nhập, khảo sát thực tế: Thử nghiệm một số lớp giáo viên giảng bàikhông vận dụng tri thức liên môn và một số lớp có vận dụng kiến thức liên mônthì chất lượng, hiệu quả của giờ dạy sử dung phương pháp này hơn hẳn so vớigiờ không vận dụng kiến thức liên môn
- Trên nền tảng đó bằng con đường phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,khái quát để bước đầu rút ra một số kinh nghiệm cần thiết
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tíchhợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượngnghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khácnhau trong cùng một kế hoạch dạy học”
Trong dạy học, tích hợp liên môn được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nộidung từ các môn học trong các lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn tổnghợp mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có củamôn học
Mục tiêu của dạy học tích hợp liên môn:
- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa hơn: Hình thành ở người học,những năng lực rõ ràng
- Giúp học sinh phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn: Do dự tínhđược những điều cần thiết cho học sinh
- Quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: Giúp họcsinh hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống
- Giúp người học xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học
Đặc điểm của dạy học tích hợp liên môn:
- Lấy người học làm trung tâm
- Định hướng, phân hóa năng lực người học
- Dạy và học các năng lực thực tiễn
Các quan điểm tích hợp trong dạy học hiện nay:
- Tích hợp “đơn môn”: Xây dựng chương trình học tập theo hệ thống củamột môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ
- Tích hợp “đa môn”: Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan vớinhững kiến thức, kỹ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn tiếp tụcđược tiếp cận riêng, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung
- Tích hợp “liên môn”: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗivấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức,
kỹ năng của những môn học khác nhau
Trang 4- Tích hợp “xuyên môn”: Nội dung học tập hướng vào phát triển những kỹnăng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học trongviệc giải quyết các tình huống khác nhau.
Theo công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn sinh hoạtchuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức vàquản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dụcthường xuyên qua mạng, ngày 08 tháng 10 năm 2014: “Thay cho việc dạy họcđang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, cáctổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựachọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đềtích hợp liên môn phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trongđiều kiện thực tế của nhà trường Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng,thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức chohọc sinh theo phương pháp dạy học tích cực, xác định các năng lực và phẩmchất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi chuyên đề đã xây dựng”
Tại văn kiện Đai hội XII của Đảng ngày 29/9/2016 về đổi mới căn bản vàtoàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăngcường tiềm lực và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ …
Và thực hiện công văn số 7736/BGD ĐT-GDTrH ngày 14/11/2012 của
Bộ trưởng GD ĐT về việc “tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giảiquyết tình huống thực tiễn và dạy học theo chủ đề tích hợp”
Như chúng ta đã biết, GDCD hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhiều tri thứccủa các khoa học: "Triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, đạođức, pháp luật " là những kiến thức vừa phổ biến, vừa tự nhiên, xã hội và tưduy, vừa mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa Vì thế khi giảng dạy bộ mônnày giáo viên nhất thiết phải vận dụng kiến thức liên môn Nếu sử dụng tốtphương pháp vận dụng kiến thức liên môn, một mặt tránh được sự khô khan,đơn điệu, nghèo nàn trong bài giảng, mặt khác sẽ giúp học sinh dể hiểu, kíchthích được ở họ niềm say mê khám phá, tìm tòi kiến thức vì trên cơ sở hiểu biếtcác kiến thức khoa học khác để vận dụng vào bài học Ngược lại, nếu giáo viênkhông vận dụng kiến thức liên môn trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là giảngdạy triết học thì chắc chắn bài giảng sẽ khô khan, đơn điệu, nghèo nàn
Trong nhà trường THPT môn GDCD cũng giống như các môn học khác:
Có nhiệm vụ trang bị cho học sinh toàn bộ hệ thống kiến thức khoa học theo quiđịnh của chương trình môn học Song nhiệm vụ của môn GDCD còn có nhữngnét khác biệt so với các môn khoa học khác
Về mặt nhận thức: Ở các môn khoa học khác cũng giáo dục lòng tin vàochân lý bài học cho học sinh Nhưng với môn GDCD thì vấn đề này khó khăn,phức tạp hơn các môn học khác rất nhiều Thực tế giảng dạy cho thấy, trướcnhững bài học của các môn học khác "Học sinh hầu như không băn khoăn gì đốivới chân lý của bài học Còn đối với môn GDCD thì tình hình lại khác: Học sinhrất băn khoăn, trăn trở với kiến thức của bài học Vấn đề giáo dục lòng tin vàochân lý của bài học cho học sinh đặt ra gay gắt Vì thế, trong quá trình giảng dạy
bộ môn giáo viên cần thiết phải sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù để
Trang 5thuyết phục, lôi cuốn học sinh, tức là làm cho họ hiểu kiến thức, tin và hànhđộng theo kiến thức đã được giáo dục.
Về mặt hành động: Đối với các môn học khác từ hiểu biết đến hành động
là một quá trình nối tiếp tự nhiên, nghĩa là những kiến thức giáo viên đã truyềnthụ học sinh hiểu, tin và hành động đúng theo sự hiểu biết ấy
Ví dụ: Đứng trước yêu cầu phải giải một phương trình bậc hai, nếu người
hành động biết cách làm thì chắc chắn việc đó sẽ được hoàn thành "Trongtrường hợp này, nếu người hành động không làm theo đúng sự hiểu biết củamình, thì sai lầm đó không phải sai lầm toán học, mà là sai lầm đạo đức, chínhtrị được thực hiện bằng toán học"
Trên cơ sở đó mà bản thân không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo ýkiến của đồng nghiệp, học sinh … để tìm ra những bài học thuộc các môn khácnhau nhưng có nội dung, kiến thức liên quan đến nhau để xây dựng thành mộtchủ đề tích hợp
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Do thói quen dạy theo chủ đề đơn môn nên khi xây dựng chủ đề tích hợp,liên môn, bản thân tôi thấy rất vất vả khi phải xem xét, rà soát nội dung chươngtrình, sách giáo khoa (SGK) hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu,đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp Mặt khác, nội dungcủa phương pháp dạy tích hợp, liên môn cũng yêu cầu giáo viên cấu trúc, sắpxếp lại nội dung dạy học trong chương trình hiện hành theo định hướng pháttriển năng lực học sinh nên không tránh khỏi bản thân có cảm giác ngại thay đổi.Điều kiện cơ sở vật chất (thiết bị thông tin, truyền thông) phục vụ cho việcdạy học trong nhà trường còn nhiều hạn chế (máy chụp ảnh, quay camera chỉ có1), trong khi đó học sinh bị cấm không được mang điện thoại đến trường
Học sinh hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện nay và việc quy định các môn thi trong các kì thi tuyển sinh nên đa số các học sinh và phụ huynh kém mặn mà (coi nhẹ) với các môn không thi, ít thi (môn phụ) Điều này được thể hiện thông qua kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề
Khối sốSĩ
Thực trạng học môn GDCD
Tiết học khôkhan, buồn tẻ,không lôi cuốn
Kiến thức SGKtrừu tượng, nặng
lí thuyết
Học sinhxem nhẹmôn học
Học sinh thíchhọc mônGDCD
Trang 610A10 43 8 18,6 16 37,2 6 14, 0 13 30,2
Từ kết quả thực trạng trên cho thấy, học sinh chưa có hứng thú học tập với
bộ môn GDCD do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do môn GDCD trừutượng, khó hiểu, nhiều lí thuyết lại khô khan; bản thân học sinh và phụ huynhxem nhẹ môn học mặc dù hai năm học qua môn GDCD đã được đưa vào là mônthi tốt nghiệp, xét hạnh kiểm cho các em
Với những khó khăn trên nhưng bản thân tôi quyết tâm khắc phục để xâydựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này
2.3 Sáng kiến kinh nghiệm và những giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
"Tích hợp kiến thức liên môn để gây hứng thú học tập cho học sinh họcmôn GDCD 10 phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương phápluận khoa học”
Bài 1 Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng
Khi giảng mục 1: Thế giới quan và phương pháp luận
Mục tiêu: Học sinh phải nắm vững được chức năng, vai trò thế giới quan
và phương pháp luận của triết học Đồng thời nắm vững và phân biệt về thế giớiquan duy vật và thế giới quan duy tâm; phương pháp luận biện chứng và phươngpháp luận siêu hình
Giáo viên lồng ghép kiến thức liên môn: lĩnh vực môn Toán,Vật lí, Hóa học, Văn học, Lịch sử, Địa lí
Phương pháp dạy học: Đặt và giải quyết vấn đề; Hoạt động nhóm; Trực quan.
Cách tổ chức:
Khi giảng về mục a: Vai trò của thế giới quan và phương pháp luận.
* GV đặt câu hỏi: Hãy nêu đối tượng nghiên cứu cảu các môn khoa học?
* HS cần trả lời được những ý cơ bản sau:
Về Khoa học tự nhiên:
- Toán học: đại số, hình học( con số)
- Vật lý: nghiên cứu về sự vận động của các phân tử
- Hóa học: nghiên cứu cấu tạo, tổ chức, sự biến đổi của các chất
Về Khoa học xã hội:
- Văn học: hình tượng, ngôn ngữ( câu, từ, ngữ pháp…)
- Lịch sử: lịch sử dân tộc, quốc gia và của xã hội loài người…
- Địa lý: điều kiện tự nhiên, môi trường…
* GV chốt đáp án: Các môn khoa học trên đi vào nghiên cứu những quyluật riêng, quy luật của những lĩnh vực cụ thể Còn quy luật của Triết học đượckhái quát từ các quy luật khoa học cụ thể, nhưng bao quát hơn, là những vấn đềchung nhất, phổ biến nhất của thế giới
* GV yêu cầu HS hoạt động nhóm hoàn thành phiếu học tập:
Trang 7Bảng: So sánh về đối tượng nghiên cứu của Triết học và các môn khoa
Triết học Các môn khoa học cụ thể
Những quy luật
Ví dụ
* HS: Rút ra khái niệm Triết học là gì?
Khi giảng mục b: Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
*GV: Yêu cầu HS lấy ví dụ về truyện thần thoại, ngụ ngôn?
(Truyện thần thoại, ngụ ngôn như “Sơn tinh Thủy tinh”, “thần trụ trời”…)
* GV trình chiếu hình ảnh: (Phụ lục 3)
* GV: Nhận xét rút ra quan điểm thế giới quan duy tâm Đồng thời đưa ranhững cách lý giải của khoa học cùng với quan điểm của trường phái duy vật …
để giải thích thế giới quan là gì?
* GV: Thế giới quanh ta là gì? Thế giới có bắt đầu và kết thúc không?Con người có nguồn gốc từ đâu? con người có nhận thức được thế giới haykhông? Những câu hỏi đó đều liên quan đến mối quan hệ giữa vật chất và ýthức, giữa tư duy và tồn tại Đó là vấn đề cơ bản của Triết học
* GV hỏi: Vấn đề cơ bản của triết học là gì? (HS trả lời)
* GV: Trong lịch sử Triết học có nhiều trường phải khác nhau Mỗitrường phải tùy theo cách trả lời về các mặt của vấn đề cơ bản của Triết học mà
hệ thống thế giới quan được xem là duy vật hay là duy tâm
Trang 8Đê-mô-crít cho rằng: nguyên tử (hai vật chất không thể phân chia được)
và chân không là hai nhân tố tạo nên mọi vật … (Thế giới quan duy vật).
* GV yêu cầu HS hoạt động cá nhân, hoàn thành phiếu học tập sau:
Bảng: So sánh về thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm (Phụ lục 4)
Thế giới quan duy vật Thế giới quan duy tâm
Phương pháp luận biện chứng
* GV yêu cầu HS hoạt động nhóm hoàn thành các câu hỏi sau:
Câu 1: Em hãy giải thích câu nói nổi tiếng sau đây của nhà Triết học cổđại Hêraclit “không ai tắm 2 lần trên cùng một dòng sông”
Câu 2: Phân tích yếu tố vận động, phát triển của sự vật, hiện tương sau:Cây lúa trổ bông; con gà đẻ trứng; loài người trải qua năm giai đoạn?
* HS: Đại diện nhóm trả lời, nhóm khác nhận xét bổ sung
* GV nhận xét, kết luận: Phương pháp để xem xét những yếu tố trên củacác ví dụ được gọi là phương pháp luận biện chứng
* GV yêu cầu HS trả lời: Phương pháp luận biện chứng là gì?
Phương pháp luận siêu hình
* GV cho 1 HS đọc đoạn chuyện “Thầy bói xem voi” – SGK GDCD lớp
Truyện ngụ ngôn: Thầy bói xem voi (Ngữ Văn 6-tập 1- NXBGD, 2003)
* GV hỏi: 1 Việc làm của 5 thầy bói xem voi
2 Em có nhận xét gì về các yếu tố mà các thầy bói nêu ra?
* GV rút ra kết luận: Cách xem xét trên đây là phương pháp luận siêu hình
* GV yêu cầu HS trả lời: Phương pháp luận siêu hình là gì?
*GV yêu cầu HS hoàn thành bảng sau:
Bảng: So sánh về PPL biện chứng và PPL siêu hình (Phụ lục 6)
Trang 9Bài 3 Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất
Mục tiêu: Học sinh hiểu được khái niệm vận động; biết được vận động là
phương thức tồn tại của thế giới vật chất; phân biết các hình thức vận động cơbản của thế giới vật chất;
Giáo viên lồng ghép kiến thức liên môn: Vật lí, Hóa học, Sinhhọc
Phương pháp dạy học: Đặt và giải quyết vấn đề; Hoạt động nhóm; Trực quan.
Cách tổ chức:
Khi giảng mục 1: Thế giới vật chất luôn luôn vận động
* GV nêu ra các hiện tượng:
- Cá bơi, người đi
- Sự dẫn điện
- Sự hóa hợp các chất
- Hạt thóc nảy mầm
- Sự thay đổi các hình thái xã hội trong lịch sử
* GV hỏi học sinh: các hiện tượng trên có thuộc tính gì chung?
(Các hiện tượng trên có thuộc tính chung là chỉ sự biến đổi nói chung củacác sự vật hiện tượng)
* GV phân tích, chứng minh, khái quát và đưa ra khái niệm vận động theonghĩa triết học Song giáo viên không thể dừng lại ở đây mà cần phải phân tích,
so sánh, phản bác lại quan niệm về vận động của chủ nghĩa duy tâm cho rằng:
"Vận động là do cái hích ban đầu của thượng đế” Nghĩa là họ cho rằng có mộtsức mạnh thần bí, siêu nhiên (thượng đế) ở bên ngoài tác động vào vật chấtkhiến nó vận động Đồng thời chỉ cho học sinh thấy rõ vận động hiểu theo nghĩatriết học khác với vận động hiểu theo nghĩa thông thường
* GV có thể dẫn dắt: Thế giới khách quan rất phong phú và đa dạng, nên
sự vận động của chúng cũng rất phong phú và đa dạng Triết học Mác- Lêninkhái quát sự vận động của thế giới vật chất thành 5 hình thức cơ bản và nhà giáo
có thế vận dụng tri thức liên môn để minh họa cho các hình thức vận động đó
* GV yêu cầu HS hoạt động nhóm hoàn thành bảng sau: (Phụ lục 7)
1 Vận động cơ học
2 Vận động vật lý
Trang 10- Vận động vật lý: Đó là sự vận động của các nguyên tử các hạt cơ bản, củaquá trình nhiệt, điện v.v.
Ví dụ: Sự vận động của dòng điện trong dây dẫn
Hoặc: Sự vận động của các nguyên tử, phân tử trong viên phấn mà mắtthường chúng ta không thấy được Muốn biết, chúng ta thử nhỏ một giọt mựcvào viên phấn Mực ngấm dần vào phấn chứng tỏ rằng các nguyên tử, phân tửluôn luôn vận động trong viên phấn
- Vận động hóa học: Là quá trình hóa hợp và phân giải các chất
+ Quá trình hóa hợp: Ví dụ: Cho kim loại Natri (Na) tác dụng với khíClorua (Cl2) ở điều kiện nhiệt độ cao sẽ tạo thành một chất mới: Muối NatriClorua (NaCl2) Đây chính là muối mà chúng ta ăn hàng ngày
2Na + Cl2 2NaCl (Hóa học 8)+ Quá trình phân giải: Ví dụ: Khi điện phân nước (H2O) ta thu được phân
tử Oxy (O2) và phân tử Hiđrô (H2):
2H2O = O2↑ + 2H2↑ (Hóa học 8)
- Vận động sinh học: Là sự trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường Ta cóthể minh họa bằng các ví dụ sau:
+ Con người hít thở Oxy (O2) cho quá trình hô hấp và thải khí cacbonic(CO2) ra môi trường (Sinh học 6)
+ Cây xanh hít khí cacbonic (CO2) và thải Oxy (O2) ra môi trường v.v
(Sinh học 6)
- Vận động xã hội: Là sự thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội khác nhautrong lịch sử
Ví dụ: + Hình thức kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế cho
hình thái kinh tế - xã hội công sản nguyên thủy
+ Hình thái kinh tế - xã hội phong kiến ra đời thay thế cho hình tháikinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ
+ Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tương lai sẽ rađời thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa
Hình thái kinh tế xã hội sau bao giờ cũng tiến bộ hơn hình thái kinh tế
-xã hội trước
* GV khái quát: Mỗi hình thức vận động trên đều có những đặc điểm riêng,
đó là đối tương nghiên cứu của từng ngành khoa học Song nó có mối quan hệchặt chẽ khăng khít với nhau Hình thức vận động sau bao giờ cũng cao hơn hơn
Trang 11hình thức vận động trước Hình thức vận động xã hội là hình thức vận động caonhất bao hàm các hình thức vận động khác.
Bài 4: Nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.
Mục tiêu: Giúp học sinh hiểu được các qui luật: Qui luật mâu thuẫn, ý
nghĩa của các quy luật này trong thực tiễn; hiểu được mâu thuẫn là nguồn gốcvận động, phát triển của sự vật và hiện tượng Từ đó yêu cầu học sinh vận dụngnhững kiến thức đã học vào cuộc sống và thực tiễn
Lồng ghép kiến thức các môn: Vật lí, Toán học, Sinh học, Lịch sử, Hóahọc làm ví dụ minh họa
Phương pháp dạy học: Vấn đáp tìm tòi; Hoạt động nhóm; kĩ thuật khăn
phủ bàn; Trực quan sinh động
Cách tổ chức:
Khi giảng mục 1: Thế nào là mâu thuẫn?
* GV cho HS thảo luận nhóm:
Nhóm 1: Lấy một số ví dụ về mâu thuẫn (Hóa học, Sinh học, lí học,
tư duy, …) và có nhận xét gì về các ví dụ đó?
Nhóm 2 Nếu khái niệm mâu thuẫn là gì?Ví dụ.
Nhóm 3 Thế nào là mặt đối lập, thế nào là sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập?
* HS trả lời được các ý cơ bản sau:
Nhóm 1:
- Một nguyên tử: Điện âm (-) và điện dương (+) (Lí học)
- Cơ thế sống: Đồng hóa và Dị hóa; Biến dị và di truyền (Sinh học)
- Trong tư duy con người: chân lý và sai lầm
- Trong xã hội có giai cấp đối kháng: giai cấp tư sản và giai cấp vô
Đình công của công nhân tại Minneapolis năm 1934
- Trong hoạt động kinh tế: đều có mặt sản xuất và tiêu dung (Phụ lục 10)
Trang 12
Hoạt động sản xuất Hoạt động tiêu dùng
Nhóm 2: Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa
thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau
Nhóm 3
Mặt đối lập của mâu thuẫn: Đó là những khuynh hướng, tính chất, đặcđiểm, …mà trong quá trình vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng, chúngphát triển theo chiều hướng phát triển theo chiều hướng trái ngược nhau
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập, hai mặt đối lập liên hệ gắn bó vớinhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau Triết học gọi đó là sự thống nhất giữa cácmặt đối lập
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập: chúng luôn luôn tác động, bài trừ,gạt bỏ nhau Triết học gọi đó là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
* GV lấy thêm ví dụ (Sinh học 8): Đồng hóa và Dị hóa là hai quá trìnhcùng tồn tại trong một cơ thể sống, chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, làmtiền đề tồn tại cho nhau, qui ước lẫn nhau Nếu không có đồng hóa thì sẽ không
có dị hóa và ngược lại
Đấu tranh: Ở đây không phải theo nghĩa đen của từ này, mà muốn nói tới:Các mặt đối lập xung đột, đối lập nhau, tính chất, khuynh hướng vận động tráingược nhau
Để hiểu rõ điều này chúng ta trở lại ví dụ trên:
Đồng hóa: là quá trình tổng hợp từ các chất đơn giản thành các chấtphức tạp đặc trưng của cơ thể và tích lũy năng lượng
Dị hóa: là quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ được tổng hợptrong quá trình đồng hóa tạo thành những hợp chất đơn giản và giải phóng nănglượng
Đồng hóa và Dị hóa là hai mặt đối lập nhau nhưng lại phải liên hệ vớinhau, qui định lẫn nhau, chúng tồn tại trong một cơ thể sống
* GV cần giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh thông qua quyluật này
Bài 5: Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.
Khi giảng mục 3: Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất.
Trang 13Mục tiêu: HS hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa sự biến đổi về lượng
và sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng Đồng thời chỉ ra được sự khácnhau giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất
Lồng ghép kiến thức các môn: Toán học, Sinh học, Hóa học, Lịch sử, Cadao tục ngữ Việt Nam
Phương pháp dạy học: Vấn đáp tìm tòi; Trực quan sinh động.
Cách tổ chức:
a) Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất:
* GV đặt câu hỏi: - Sự biến đổi về lượng có dẫn đến sự biến đổi về chấthay không, yếu tố nào dẫn đến sự biến đổi đó?
- Lượng biến đổi nhanh hay chậm? Đạt đến điểm gì thìlàm biến đổi về chất? Cho ví dụ
Từ một phân tử Oxy ta thêm một phần tử Oxy thì hình thành nên khí Oxy,
từ khí Oxy ta thêm một phân từ Oxy sẽ được khí Ozôn
Mỗi lần thay đổi về lượng như thế của công thức phân tử lại tạo ra một vậtthể khác về chất
- Trong hình học:
Một hình bình hành cạnh a = 10cm, b = 15 cm
(Phụ lục 11) (Hình học 8)
Lượng của nó tồn tại ở quy mô:
Chu vi = (10cm + 15cm) x 2 = 50 cm
Song, nếu tăng chiều dài cạnh a từ 10cm lên 15cm hoặc giảm chiều dàicạnh b từ 15cm xuống 10cm thì hình bình hành ấy sẽ trở thành hình thoi Nhưvậy chất mới ở đây chính là hình thoi
- Trong công cuộc cách mạng: Lượng biến đổi dần dần, đạt tới giới hạn, sự
vật sẽ thay đổi
Chẳng hạn: Cách mạng Việt Nam qua các cao trào 1930 1931; 1939
-1945; 1954 chiến thắng và hòa bình ở miền Bắc, 1975 giải phóng Miền Nam,thống nhất đất nước (Lịch sử 12) (Phụ lục 12)
a = 10cm
b = 15cm
Trang 14
Xô Viết Nghệ Tĩnh - Đỉnh cao của cao trào cách mạng 1930 – 1931
Đó là quá trình phát triển liên tục về lượng, dẫn đến sự thay đổi về chất
- Trong học tập của học sinh: Quá trình tích lũy về lượng (tích lũy kiến
thức) phát triển dần đến một thời điểm nhất định, học sinh sẽ đủ kiến thức đểchuyển biến thành chất
Nhưng một điểm cần lưu ý rằng: Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi
về chất ở một độ xác định Nghĩa là, khi lượng biến đổi một điểm nút thì chấtbiến đổi
Ví dụ: Trong điều kiện áp suất bình thường nước ở thể lỏng, nếu ta tăng
dần nhiệt độ lên đến 1000C nước mới sôi Tương tự, chỉ khi ta hạ nhiệt độ xuống
00C nước mới đông đặc
Một cuộc cách mạng cũng vậy, qua quá trình vận động quần chúng, taappjhợp lực lượng, định ra đường lối cách mạng, tiến hành cuộc đấu tranh từ thấpđến cao, đến một độ nào đó cách mạng sẽ thắng lợi
Hoặc ta trở lại ví dụ về hình hình hành: Nếu chúng ta tăng chiều dài cạnh anhưng phải đúng 15cm, hoặc giảm cạnh b xuống nhưng phải đúng 10cm thì hìnhbình hành mới trở thành hình thoi
* GV yêu cầu HS liên hệ với bản thân: Các em muốn học giỏi thì phải cốgắng Nhưng không phải cố gắng đến một độ bất kỳ nào cũng học giỏi Mà phải
cố gắng đúng độ cần thiết có thể trở thành học sinh giỏi
b) Chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới tương ứng:
* GV nêu ví dụ: Học sinh THPT tích lũy kiến thức thi đỗ vào Đại học trởthành sinh viên Chất mới (sinh viên) kéo theo lượng mới về số lượng, kiếnthức, về ngoại ngữ, về năng lực tư duy, phân tích tổng hợp và khả năng ứngdụng
Hoặc: Khi cách mạng thắng lợi, chế độ mới tiến bộ ra đời thay thế cho chế
độ cũ, trình độ sản xuất phát triển hơn, trình độ dân trí được nâng cao hơn, cácquyền tự do, dân chủ được mở rộng hơn
* GV hỏi: Từ ví dụ trên em hãy cho biết chất mới ra đời có bao hàm mộtlượng mới tương ứng hay không?
* HS trả lời và GV kết luận: Mỗi sự vật và hiện tượng đều có chất đặctrưng và lượng đặc trưng phù hợp với nó Vi vậy, khi chất mới ra đời lại baohàm một lượng mới để tạo thành một sự thống nhất mới giữa chất và lượng
Trang 15* GV hỏi mở rộng thêm: Sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất khácnhau như thế nào?
Lượng biến đổi trước
Lượng biến đổi dầndần, từ từ
Chất biến đổi sau
Chất biến đổi nhanh chóng(đột biến)
Vai trò biến đổi:
* HS lấy ví dụ
Lượng luôn luôngắn liền với chất,không có lượng thuầntúy Muốn có chất đổiphải có lượng đổi,lượng đổi( sự tích lũy
về lượng) là điều kiệntất yếu của chất đổi
Chất đổi là kết thúcmột giai đoạn biến đổi củalượng, chất mới ra đời thaythế chất cũ, sự vật mới ra đờithay thế sự vật cũ Đây làđiểm nút trong quá trình vậnđộng liên tục của sự vật vàhiện tượng
* GV yêu cầu HS liên hệ với bản thân: Trong cuộc sống các em phải kiêntrì, tích lũy về lượng, chủ động tạo điểu kiện cho sự biến đổi về chất
Tục ngữ có câu:
“Tích tiểu thành đại"
"Năng nhặt chặt bị"
"Có công màu sắt có ngày nên kim"
(Tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999 - tái bản lần thứ 5)
Vì thế, trong học phải cố gắng liên tục, bền bỉ, nếu có tư tưởng nôn nóng,muốn đốt cháy giai đoạn là trái với quy luật
Bài 6: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng.
Mục tiêu: HS nêu được khái niệm phủ định, phủ định biện chứng và phủ
định siêu hình; Biết được phát triển là khuynh hướng chung của sự vật và biệnchứng
Lồng ghép kiến thức các môn: Địa lí, Sinh học, Hóa học, Lịch sử
Phương pháp dạy học: Vấn đáp tìm tòi; Trực quan sinh động; Hoạt động
nhóm
Cách tổ chức:
Khi giảng mục 1: Phủ định biện chứng và phủ định siêu hình
* GV cho HS thảo luận nhóm:
Nhóm 1 Các hình ảnh sau nói lên những hoạt động gì của con người?
Những hoạt động này có làm sự vật đó bị xóa bỏ không? (Phụ lục 13)
Trang 16
Nhóm 2 Em hãy quan sát hình ảnh sau và cho biết quả trứng gà, sau khi bị
đập vỡ có còn tồn tại và phát triển tiếp được không? Do tác động bởi yếu tố nào
Nhóm 3 Em hãy quan sát hình ảnh sau và cho biết quả trứng gà, sau khi
được gà mẹ ấp có còn tồn tại và phát triển tiếp được không? Do tác động bởi yếu
tố nào làm cho gà con được nở ra? (Phụ lục 15)
Nguyên nhân
Đặc điểm
Khi giảng mục 2: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng
Trang 17* GV hỏi: Phát triển là gì?
* HS trả lời: Phát triển là một quá trình cái cũ mất đi, cái mới ra đời thaythế cái cũ, là một quá trình phủ định Đối với mọi sự vật, hiện tượng trong tựnhiên, trong xã hội, trong ý thức, những sự phủ định như vậy nhất thiết phải xảyra
* GV hỏi: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng là gì?
* HS trả lời: Mỗi loại sự vật, hiện tượng đều có hình thức phủ định đặctrưng của nó
* GV nêu ví dụ làm rõ nội dung kiến thức: Bằng những phản ứng hóa học
giáo viên chứng minh cho hình thức phủ định của giới tự nhiên vô cơ: Từ phân
tử hiđrô (chất khí) tác dụng với phân tử Ô xy (chất khí) tạo thành phân tử nước(chất lỏng)
2 H2 + O2 = 2H2O (Hóa học 8)
Ta cho axít Clohiđric tác dụng với Natri hyđrôxít (bazơ) sẽ thu được chấtmới làm được Natri clorua (có khả năng trung tính) và nước:
HCl+ NaOH = NaCl + H2O
Chất mới ra đời trên cơ sở chất cũ, nó thay thế chất cũ Đó chính là quátrình phủ định
* GV sử dụng kiến thức môn Lịch sử chứng minh cho quy luật phủ định:Các chế độ xã hội ra đời kế tiếp nhau là một chuỗi những sự phủ định liên tục.Chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời phủ định chế độ Cộng sản nguyên thủy, chế độphong kiến ra đời phủ định chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ TBCN ra đời phủđịnh chế độ Phong kiến, chế độ Cộng sản chủ nghĩa ra đời sẽ phủ định chế độTBCN Qua những kiến thức trên giáo viên cần thiết phải phân tích, giải thíchcho học sinh hiểu rõ: Sự phủ định ở đây không phải là sự phủ định một cáchsạch trơn mà là phủ định biện chứng: Cái mới ra đời có kế thừa,, có chọn lọc cái
cũ, cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ, tiếp thu những cái tinh hoa, những yếu tốtích cực của cái cũ Mặt khác, phủ định gạt bỏ những cái lạc hậu, cái không cầnthiết cho sự phát triển: Sự phủ định đó diễn ra một cách khách quan
* GV kết luận: khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng là vậnđộng đi lên, cái mới ra đời, kế thừa và thay thế cái cũ nhưng ở trình độ ngàycàng cao hơn, hoàn thiện hơn
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết quả khảo sát chất lượng đầu ra, sau khi áp dụng đề tài: (Phụ lục 17)
Lớp Sĩ số
Mức độ hứng thú Rất thích Bình thường Không thích