Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì (Luận văn thạc sĩ)
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Anh Tài
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những thông tin, số liệu được sử dụng trong chuyên đề này là xác thực đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, vì vậy mọi đánh giá, nhận xét được đưa ra dựa trên quan điểm cá nhân tôi Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều
đã được ghi rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Cao Thị Hồng Huế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở thành phố Việt Trì”, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, các khoa, phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh
- Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
PGS.TS Đỗ Anh Tài
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Cao Thị Hồng Huế
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 5
1.1 Cơ sở lý luận về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho DNNVV 5
1.1.1 Một số khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
1.1.2 Khái niệm về công nghệ và đổi mới công nghệ 6
1.1.3 Vai trò của công nghệ và đổi mới công nghệ 8
1.1.4 Khái niệm, chủ thể và nội dung hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa 12
1.1.5 Nội dung hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNNVV 13
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa 20
1.2 Cơ sở thực tiễn về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 23
1.2.1 Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số nước 23
Trang 61.2.2 Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và
vừa của một số tỉnh của Việt Nam 28
1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cho Thành phố Việt Trì 30
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 34
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 35
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của doanh nghiệp 37
2.3.2 Các tiêu chí đánh giá tình hình thực hiện hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Thành phố Việt Trì 37
Chương 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 39
3.1 Đặc điểm Doanh nghiệp nhỏ và vừa của thành phố Việt Trì trong đổi mới công nghệ 39
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của TP Việt Trì 39
3.1.2 Đặc điểm Doanh nghiệp nhỏ và vừa của thành phố Việt Trì 40
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Thành phố Việt Trì trong đổi mới công nghệ 40
3.2 Thực trạng tình hình triển khai các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Việt Trì 41
3.2.1 Thực trạng trình độ công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Việt Trì 41
3.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Việt Trì 42
Trang 73.2.3 Thực trạng chính sách hỗ trợ trực tiếp đổi mới công nghệ cho
Doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Việt Trì 43
3.2.4 Thực trạng hỗ trợ trực tiếp cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa 48
3.2.5 Tạo mặt bằng sản xuất 51
3.2.6 Xúc tiến thương mại đầu tư 53
3.2.7 Hỗ trợ đổi mới nâng cao năng lực, công nghệ trình độ kỹ thuật tại Thành phố Việt Trì 56
3.2.8 Phát triển thị trường công nghệ 59
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Việt Trì 60
3.3.1 Nhóm các yếu tố chủ quan 60
3.3.2 Nhóm các yếu tố khách quan 61
3.4 Đánh giá tình hình thực hiện hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ của Thành phố Việt Trì 65
3.4.1 Những kết quả đạt được 65
3.4.2 Những tồn tại, hạn chế trong hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Thành phố Việt Trì 66
Chương 4: CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 70
4.1 Quan điểm, định hướng các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ của Thành phố Việt Trì 70
4.1.1 Quan điểm 70
4.1.2 Định hướng 71
4.2 Một số giải pháp tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ của Thành phố Việt Trì 71
4.2.1 Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ Đổi mới công nghệ 71
4.2.2 Giải pháp kinh tế 72
Trang 84.2.3 Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức của người làm chính
sách và nhà quản trị doanh nghiệp 78
4.2.4 Chính sách phát triển thị trường công nghệ 79
4.3 Kiến nghị 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNV&N : Doanh nghiệp vừa và nhỏ KHCN : Khoa học công nghệ
NSNN : Ngân sách nhà nước
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam 10
Bảng 3.1 Số liệu điều tra doanh nghiệp đóng 42
trên địa bàn thành phố Việt Trì từ năm 2015 - 2017 42
Bảng 3.2: Hỗ trợ tín dụng theo nhóm doanh nghiệp 45
Bảng 3.3: Hỗ trợ tín dụng từ các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Việt Trì 46
Bảng 3.4: Hỗ trợ nâng cao năng suất chất lượngcho các DNNVV Thành phố Việt Trì 50
Bảng 3.5: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở Thành phố Việt Trì 56
Bảng 3.6: Năng lực cạnh tranh của Thành phố Việt Trì, 2015 -2020 62
Bảng 3.7: Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranhcủa TP Việt Trì 62
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Phương trình công nghệ 7
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng, Nhà nước ta đặt mục tiêu “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường,
bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại
theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI”
Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 cũng khẳng định vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ đối với lực lượng
sản xuất “khoa học và công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo được bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của ngày 30/6/2009
về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Luật số: 04/2017/QH14, ngày 12/6/2017 Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định số 39/2018/NĐ -
CP, ngày 11/3/2018 Quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó có các cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong các lĩnh vực: tài chính, tín dụng; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; phát triển nguồn lực; mặt bằng sản xuất
kinh doanh; xúc tiến mở rộng thị trường Đặc biệt, ngày 10/5/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 677/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, trong đó mục tiêu của chương trình đến năm 2015 là số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình 10% và đến năm 2020 số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình 15%, trong đó có 5% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Các bộ, ngành, địa phương, tổ chức hiệp hội cũng như cộng đồng các
Trang 12nhà tài trợ quốc tế cũng đã xây dựng và thực hiện nhiều chương trình, dự án trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các lĩnh vực tài chính, xúc tiến
mở rộng thị trường, phát triển nguồn nhân lực Điều đó chứng tỏ đổi mới công nghệ đang là vấn đề được thực tiễn quan tâm
Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam chiếm đến 97% trong tổng số các doanh nghiệp, nhưng do yếu về năng lực tài chính, trình độ từ người lao động đến cấp quản lý còn thấp nên sử dụng cộng nghệ còn lạc hậu, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ cũ, mang tính chắp vá, không đồng bộ Chính
vì vậy mà khả năng huy động kinh phí để tiến hành R&D gặp nhiều khó khăn hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế Mặt khác, thị trường khoa học công nghệ ở Việt Nam đang còn trong tình trạng sơ khai mới phát triển Nguồn cung công nghệ trong nước còn nghèo nàn, số lượng và chất lượng giao dịch công nghệ còn hạn chế, mạng lưới tổ chức dịch vụ mua bán, chuyển giao công nghệ chưa phát triển, môi trường pháp lý để thị trường công nghệ vận hành còn yếu kém Ngoài ra, bản thân doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa chú trọng nhiều đến công nghệ Chi phí đầu tư cho đổi mới khoa học công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam chỉ khoảng 0,2 - 0,3% doanh thu,
số doanh nghiệp có đầu tư thiết bị hiện đại chỉ chiếm 10%, mức trung bình chiếm 38% và lạc hậu chiếm đến 52% Chính vì vậy, đổi mới công nghệ đang
là vấn đề đáng được quan tâm hiện nay
Trong những năm gần đây các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố Việt Trì đã tăng lên đáng kể, hoạt động ngành nghề của các doanh nghiệp cũng phong phú hơn, đóng góp GDP cho tỉnh cũng tăng hơn, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động trên địa bàn Thành phố Tuy nhiên, các doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động vẫn còn mang tính chất nhỏ lẻ, thiết
bị máy móc còn lạc hậu, nhiều công ty, doanh nghiệp vẫn chưa cập nhật được công nghệ tiên tiến dẫn đến năng suất sản phẩm thấp, chất lượng sản phẩm kém
Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Chính sách hỗ
trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đổi mới công nghệ ở Thành phố Việt Trì"
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng công tác hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong thực hiện các chính sách, các hoạt động hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Trì Từ đó kiến nghị đưa ra những giải pháp hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cho phù hợp với điều kiện Thành phố Việt Trì
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Phân tích thực trạng tình hình thực hiện các chính sách, các hoạt động
hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Việt Trì
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Việt Trì
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chính sách, các hoạt động hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Việt Trì
3.2 Về phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: công tác hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh ngiệp nhỏ và vừa bao gồm các nội dung: chính sách hỗ trợ (chính sách hỗ trợ tín dụng cho DNNVV, chính sách thuế, chính sách thương mại, chính sách lao động và đào tạo lao động kỹ thuật cho các DNNVV, chính sách đất đai và mặt bằng sản xuất)
- Giới hạn về thời gian: tài liệu, số liệu được thu thập nghiên cứu từ năm 2015 - 2017
Trang 14- Giới hạn không gian nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Việt Trì
4 Những đóng góp của luận văn
Về ý nghĩa khoa học: Đề tài đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ, từ
đó áp dụng phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hoạt động hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Việt Trì Qua đó tháo gỡ những tồn tại, khó khăn giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế thành công
Về ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng
công tác hỗ trợ đổi mới công nghệ của Thành phố Việt Trì, kết quả nghiên cứu sẽ đánh giá được những thành công và hạn chế trong hoạt động hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Việt Trì, từ đó
đề xuất những giải pháp để các hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp ngày một hoàn thiện hơn
Đề tài là cơ sở làm tài liệu tham khảo cho UBND Thành phố Việt Trì trong việc đề xuất những giải pháp, những kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp Nhỏ và Vừa trong đổi mới công nghệ ngày càng tốt hơn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Việt Trì
Chương 4: Giải pháp tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi
mới công nghệ ở Thành phố Việt Trì
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Cơ sở lý luận về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Một số khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
* Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hầu hết các nước đều nghiên cứu tiêu thức phân loại DNNVV Tuy nhiên, không có tiêu thức để phân loại DNNVVcho tất cả các nước và ngay trong một số nước việc phân loại cũng có sự khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ,
từng ngành nghề, địa bàn (theo báo BUSINESS)
Có 2 nhóm tiêu chí phổ biến dùng để phân loại, đó là: tiêu chí định tính
và tiêu chí định lượng
Tiêu thức định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của SME như
không có vị thế độc quyền trên thị trường, chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, các tiêu thức này có ưu thế là phản ánh đúng của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo
mà ít được sử dụng trên thực tế để phân loại
Tiêu thức định lượng: Thường sử dụng các tiêu thức như là số lao
động thường xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó:
- Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế
- Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá trị tài sản còn lại
- Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng trong một năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu này)
DNNVV Việt Nam theo định nghĩa tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
“DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật,
Trang 16được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” Theo các tiêu chí cụ thể xác định quy mô doanh nghiệp quy
định tại Nghị định này thì DNNVV có thể là các doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người hoặc tổng nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng đối với khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản, hoặc lao động dưới 100 người hoặc tổng nguồn vốn dưới 50 tỷ đồng đối với khu vực thương mại và dịch vụ Theo thống kê của Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến giữa năm 2009, Việt Nam có khoảng hơn 450 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trong đó khoảng 97% là các DNNVV (phân theo quy mô lao động) và khoảng 94% (phân theo quy mô vốn)
1.1.2 Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ
a) Khái niệm về công nghệ
Thuật ngữ công nghệ hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, tuy nhiên việc đưa ra định nghĩa công nghệ lại chưa có sự thống nhất
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, có sáu khái niệm về công nghệ: (i) công nghệ là môn khoa học ứng dụng, nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên
và các nguyên lý khoa học, đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người; (ii) công nghệ là các phương tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hóa các tri thức ứng dụng khoa học; (iii) công nghệ là tập hợp các cách thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được ứng dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ; (iv) công nghệ gồm nhiều yếu tố hợp thành như phương tiện, máy móc, thiết bị, các quá trình vận hành, các phương pháp tổ chức, quản lý đảm bảo cho quá trình sản xuất và dịch vụ xã hội; (v) về mặt kinh tế học, trong mối quan hệ với sản xuất, công nghệ được coi là phương tiện để thực hiện quá trình sản xuất, biến đổi
Trang 17các đầu vào để các đầu ra cho các sản phẩm và dịch vụ mong muốn; (vi) công nghệ là việc áp dụng các thành tựu vào sản xuất và đời sống bằng cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp sản xuất và quản lý với tư cách là những kết quả của các hoạt động nghiên cứu, phát triển của quá trình
xử lý một cách hệ thống và có phương pháp toàn bộ những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng và kỹ xảo được con người tích lũy và tạo ra trong toàn bộ quá trình phát triển của mình
Theo tác giả Hoàng Đình Phi (2006) thì “Công nghệ là việc sử dụng sáng tạo các loại công cụ, máy móc, tri thức và kỹ năng để biến đổi các yếu tố đầu vào thành sản phẩm hay dịch vụ” Theo tác giả thì công nghệ bao gồm 3 nhóm yếu tố là máy móc và công cụ (Machines & Tools =M); tri thức (Knowledge = K) và kỹ năng (Skills = S):
có quan điểm cho rằng đổi mới công nghệ là việc hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế và xã hội Với quan điểm này, thì bất kỳ một sự thay đổi nào trong
Trang 18thành phần công nghệ đều có thể coi là đổi mới công nghệ Tuy nhiên, trên thực tiễn đây chỉ được coi là cải tiến công nghệ, còn đổi mới công nghệ thường được hiểu là việc thay thế phần quan trọng trong công nghệ hay toàn
bộ công nghệ đang sử dụng bằng một loại công nghệ khác tiên tiến hơn
Trong luận văn này, “đổi mới công nghệ được hiểu theo bản chất là việc đổi mới các yếu tố cấu thành một công nghệ theo phương trình công nghệ, trong mối tương quan so sánh với công nghệ hiện có của doanh nghiệp hay đối thủ cạnh tranh trên thế giới Đổi mới công nghệ liên quan tới việc nâng cao chất lượng các yếu tố cấu thành công nghệ và qua đó là mức độ hiện
đại của một công nghệ.” (Hoàng Đình Phi, 2006)
1.1.3 Vai trò của công nghệ và đổi mới công nghệ
1.1.3.1 Vai trò của công nghệ và đổi mới công nghệ đến sự phát triển kinh tế
xã hội
Mô hình tăng trưởng kinh tế theo cách gia tăng đầu vào sản xuất - nhân
tố lao động và vốn - sẽ đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, nhưng với tốc độ giảm dần Do đó, để tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải đầu tư vào tiến bộ công nghệ, nghĩa là cách thức hàng hóa và dịch vụ được tạo ra, phương pháp cũng như quy trình tổ chức đầu vào
Công nghệ có tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của kinh tế xã hội Việc phát triển, ứng dụng công nghệ thành công sẽ mang lại sự phát triển kinh tế và ngược lại khi kinh tế tăng trưởng thì xã hội sẽ có nguồn lực đầu tư cho sự phát triển của công nghệ, tạo ra động lực đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ lại
có vai trò quan trọng trong sự thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia, là biện pháp để đưa đất nước chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.3.2 Vai trò của công nghệ và đổi mới công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Đổi mới công nghệ chủ yếu tập trung vào việc đổi mới quy trình sản xuất hay chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nhằm chế tạo ra sản phẩm mới, thay thế sản phẩm cũ, nâng cấp sản phẩm, phát triển sản phẩm thân thiện môi
Trang 19trường, tăng thị phần, giảm chi phí sản xuất hoặc cải thiện điều kiện làm việc, giảm tác hại môi trường , nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới Công nghệ làm thay đổi hiệu quả sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt hơn với chi phí thấp hơn, nói cách khác tức là tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp cũng như đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Đổi mới công nghệ tức là nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Việc Đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp sẽ tạo ra các tác động tích cực đến doanh nghiệp khác và cộng đồng các doanh nghiệp ở Việt Nam,
tác động này được gọi là “hiệu ứng lan tỏa”
Hiệu ứng lan tỏa theo chiều dọc xảy ra khi doanh nghiệp trong nước là đối tác của các doanh nghiệp FDI Qua hợp đồng hợp tác, chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp quốc tế chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp trong nước
1.1.3.3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa với đổi mới công nghệ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là khái niệm tương đối đối với doanh nghiệp
có quy mô lớn Phương thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là căn
cứ các tiêu chuẩn như số lượng nhân viên, tổng số vốn, tổng số tài sản, thị phần của doanh nghiệp , hoặc kết hợp một số tiêu chuẩn trên để phân loại Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (WB) và Công ty tài chính quốc tế (IFC ) thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có qui mô vốn, lao động và doanh thu nhỏ bé Ở Việt Nam, tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định tạm thời tại Công văn 681/CP - KTN ngày 20 tháng 6 năm 1998 của Thủ Tướng Chính Phủ Theo quy định tại Công văn này, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là vốn điều lệ và lao động của doanh nghiệp Cụ thể: doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người Tiếp theo đó để khuyến khích
và tạo thuận lợi cho việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo điều 3
Trang 20của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người
Theo định nghĩa này, các doanh nghiêp nhỏ và vừa ở Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh theo luật Doanh nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và vừa được đăng ký theo luật doanh nghiệp, luật Hợp tác xã, doanh nghiệp theo hình thức hơn kinh doanh
cá thể được điều chỉnh bởi quy định của Chính phủ
Theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng
06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), ngoài các tiêu chi trên Nghị định này còn căn cứ vào
ngành hoạt động để phân loại, cụ thể được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam
Ngành
Số lao động nguồn vốn Tổng Số lao động nguồn vốn Tổng Số lao động
1 Nông,
lâm nghiệp
và thuỷ sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
100 người
(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP)
Trang 21Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khối lượng sản phẩm, dịch vụ hạn chế, chủ yếu dựa vào lao động thủ công: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ kinh doanh một vài sản phẩm dịch vụ phù hợp với trình độ và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp cũng như năng lực tài chính của doanh nghiệp
Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn tài chính hạn chế Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là vốn tự có của chủ sở hữu doanh nghiệp, vay mượn từ người thân, bạn bè, khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng thấp
Lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ thấp và doanh nghiệp thường sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng sản phẩm chưa cao Khả năng về công nghệ thấp
do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cho dù có những sáng kiến công nghệ nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tồn tại trên thị trường
Nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa có những điểm yếu về nguồn lực
để tiến hành nghiên cứu, ứng dụng đổi mới công nghệ Không đủ sức thực hiện những dự án lớn về đầu tư quy mô lớn để tận dụng lợi ích của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Không có ưu thế của kinh tế qui mô (ecomomy of scale), tức là những thành quả và lợi ích đặc biệt mà chỉ từ một qui mô thích hợp (thường là đủ lớn) thì mới là có được
Do những yếu kém nội tại của Doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự phát triển của Doanh nghiệp nhỏ và vừa và hoạt động đổi mới công nghệ ở Doanh
Trang 22nghiệp nhỏ và vừa không thực hiện một cách tự phát mà thiếu tác động của Nhà nước, bởi lẽ tác động của chính sách rất quan trọng, rất cơ bản, thậm chí
có tính quyết định Chính phủ các nước không chỉ đối xử với Doanh nghiệp nhỏ và vừa bình đẳng như với doanh nghiệp lớn, mà còn dành ưu đãi rõ rệt cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.4 Khái niệm, chủ thể và nội dung hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.4.1 Khái niệm và chủ thể hỗ trợ đổi mới công nghệ
Hỗ trợ đổi mới công nghệ là những chính sách “mềm”, những công cụ
và biện pháp của Nhà nước nhằm khuyến khích và tạo điều kiện giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiến hành đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực công nghệ và khả năng cạnh tranh, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội
Hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam có đặc điểm cơ bản là được thể hiện thông qua các hình thức văn bản quy phạm pháp luật của các cấp có thẩm quyền như Chính phủ, các bộ, ngành, UBND các cấp, … trong đó có nêu rõ các mục tiêu hỗ trợ và các giải pháp thực hiện việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam.
Các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường được xem xét và đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau, có thể theo các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
1.1.4.2 Mục tiêu chính sách hỗ trợ Đổi mới công nghệ
Theo quan điểm của Nhà nước, mục tiêu chính sách hỗ trợ Đổi mới công nghệ bao gồm:
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia
Trang 23- Đạt được hiệu ứng lan tỏa qua việc cải tiến, đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư đổi mới công nghệ qua đó xã hội thu được lợi ích, nâng cao dân trí, giảm ô nhiễm môi trường
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, giá thành sản phẩm, tăng năng suất lao động
- Nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp bao gồm năng lực vận hành, tiếp nhận và làm chủ công nghệ, năng lực hỗ trợ tiếp nhận công nghệ, khả năng cải tiến, sao chép công nghệ nhập và sáng tạo ra sản phẩm/quy trình mới
- Mục tiêu về quản lý nhà nước bao gồm: (i) nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về Đổi mới công nghệ; (ii) gia tăng số lượng doanh nghiệp Đổi mới công nghệ;
- Nâng cao mức đầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động Đổi mới công nghệ
1.1.5 Nội dung hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNNVV
1.1.5.1 Ưu đãi tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh
tế Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học, đổi mới và sang tạo lại chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Vì, kinh phí đầu tư cho hoạt động này không hề nhỏ, và hiệu quả thường chỉ có thể đạt được trong trung và dài hạn, trong khi đó, một trong những khó khăn lớn nhất của các DNNVV là thiếu vốn, số lượng doanh nghiệp này tiếp cận được vốn của cá ngân hàng thương mại thường chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Điều này xuất phát từ chính đặc điểm của loại hình DNNVV Đó là, hạn chế về năng lực tài chính, chưa thiết lập được chiến lược thuyết phục được các nhà tài trợ, chưa xây dựng được mục tiêu chiến lược kinh doanh dài hạn Mặt khác, báo cáo tài chính của DNNVV chưa phản ánh
Trang 24đầy đủ kết quả sản xuất kinh doanh Do đó, các DNNVV khó có thể gánh vác được khoản chi phí đầu tư đổi mới công nghệ và gây ra khó khăn cho doanh nghiệp Chính vì vậy, để hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNNVV thì cần
có một chính sách ưu đãi tín dụng cho các loại hình doanh nghiệp này để có thể tiếp cận nguồn vốn, tăng cường khả năng đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.5.2 Hỗ trợ trực tiếp cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài việc hỗ trợ các DNNVV đổi mới công nghệ thông qua các chính sách một cách gián tiếp thì Nhà nước cũng cung cấp một số lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp thông qua các chương trình kinh tế - kỹ thuật trọng điểm quốc gia Các hình thức hỗ trợ trực tiếp cho các DNNVV có thể hỗ trợ bằng tiền hoặc hiện vật trong việc đổi mới công nghệ Tức là, hỗ trợ bằng tiền mặt theo định mức quy định của chương trình này để các đối tượng thụ hưởng chính sách chủ động mua sắm, nâng cấp máy móc, trang thiết bị, đổi mới công nghệ phục vụ sản xuất Hỗ trợ bằng hiện vật cho việc đổi mới công nghệ của các DNNVV thông qua các chương trình như cung cấp các sản phẩm khoa học công nghệ hiện đại, giống cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, tư vấn, chuyển giao các thiết bị, công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV Các chương trình này cung cấp vốn hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể; thậm chí hỗ trợ còn có thể được mở rộng ra các dịch vụ của Nhà nước bao gồm tư vấn, chuyển giao công nghệ hoặc đào tạo
1.1.5.3 Tạo mặt bằng sản xuất
Khu vực kinh tế tư nhân có tiềm năng phát triển lớn Đóng góp của DNNVV vào tăng trưởng kinh tế của quốc gia là khá ấn tượng, là một trong những nhân tố tích cực giúp cho nền kinh tế đạt tốc độ phát triển cao Vì vậy, việc Nhà nước sử dụng biện pháp giải quyết vấn đề việc làm thông qua việc khuyến khích phát triển DNNVV là một cách làm hợp lý Sự gia tang về số
Trang 25lượng doanh nghiệp mới thành lập giúp cho nền kinh tế chuyển dịch nhanh chóng theo hướng CNH, HĐH Các DNNVV với đặc điểm quy mô nhỏ, cần ít vốn phát triển rộng khắp cả ở thành thị và nông thôn đã thu hút một số lượng lớn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, một đặc điểm chung hiện nay là hầu hết các DNNVV thường tập trung ở những đô thị lớn, ven đô và những nơi có
hạ tầng phát triển Ở những vùng nông thôn hoặc những vùng sâu, vùng xa, mặc dù có chi phí thuê đất đai và lao động rẻ hơn nhưng các doanh nghiệp không muốn đầu tư Các DNNVV thường thiếu và khó khăn về mặt bằng sản xuất, hầu hết loại hình doanh nghiệp này không được ưu tiên về mặt bằng sản xuất, thường phải sử dụng nhà riêng và thuê mướn của tư nhân với giá thuê đất cao Trong khi đó lại có một sự phân biệt lớn giữa các thành phần trong nền kinh tế Các doanh nghiệp lớn thuộc khu vực kinh tế quốc doanh thường được ưu đãi về địa điểm và diện tích nhưng về hiệu quả sử dụng thì lại kém
và lãng phí
Xuất phát từ những lý do trên mà cần thiết có những điều kiện tạo thuận lợi cho các DNNVV có mặt bằng sản xuất phù hợp, quy hoạch dành quỹ đất và thực hiện các chính sách khuyến khích xây dựng các cụm công nghiệp để có mặt bằng sản xuất tập trung tạo sự thuận lợi cho các doanh nghiệp
1.1.5.4 Xúc tiến thương mại đầu tư
Theo Viện Kinh tế thương mại TP Hồ Chí Minh, “Xúc tiến thương mại
là những hoạt động hỗ trợ thiết yếu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến quá trình sản xuất, phân phối lưu thông hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ để tăng hiệu quả hoạt động thương mại, đáp ứng nhu cầu giao thương ngày càng cao của xã hội”
Theo Philip Kotler, xúc tiến thương mại là hoạt động thông tin marketing tới khách hàng tiềm năng Trong kinh doanh, thông tin marketing
Trang 26là trao quyền, đưa đến chuyển giao những thông điệp cần thiết về doanh nghiệp, về sản phẩm của doanh nghiệp, về phương thức phục vụ, về lợi ích
mà khách hang sẽ thu được khi mua sản phẩm của doanh nghiệp, cũng như những thông tin cần thiết từ phía khách hàng Qua đó, doanh nghiệp tìm ra được cách tốt nhất thoả mãn nhu cầu khách hàng
Hoạt động xúc tiến thương mại kết nối giữa doanh nghiệp với khách hàng, qua đó doanh nghiệp nhận ra lợi thế cũng như bất lợi để điều chỉnh phù hợp, cũng như đưa ra quyết định kịp thời dẫn tới việc đưa hàng hoá vào kênh phân phối một cách hợp lí, phân bố lực lượng bán hàng hiệu quả
Hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư giúp doanh nghiệp có cơ hội phát triển quan hệ thương mại với doanh nghiệp trong nước cũng như ngoài nước, từ đó tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu dễ dàng, thuận lợi, đặt mối quan hệ hợp tác, đồng thời doanh nghiệp có thêm thông tin, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập Đây là một công cụ hữu hiệu để tăng tính cạnh tranh, tiếp cận thị trường tiềm năng, lôi kéo khách hàng của đối thủ, tạo hình ảnh tốt, gây được tiếng vang cho doanh nghiệp nhằm nâng tầm giá trị thương hiệu
Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt là với thị trường nước ngoài Do hạn chế về mặt tài chính, hạn chế về việc áp dụng công nghệ và lao động có trình độ tay nghề không cao, khả năng quản lý của chủ doanh nghiệp còn hạn chế, vì thế việc tiếp cận thị trường, phán đoán nhu cầu của thị trường đối với DNNVV không được nhạy bén Phạm vi hoạt động của các DNNVV thường hẹp, đôi khi chỉ bó hẹp trong vùng, lãnh thổ nhất định vì thế tính bao quát thị trường không cao Đối với các DNNVV thì việc tiếp cận thị trường nước ngoài là một việc khó khăn, nếu không nói là không thể đối với những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ Do những hạn chế về mặt quy mô, nguồn vốn cũng như nguồn lực, thì việc hỗ trợ DNNVV trong việc xúc tiến thương mại
và đầu tư là cần thiết Nhờ các chương trình xúc tiến thương mại, các đơn vị doanh nghiệp có thêm nhiều kinh nghiệp trong việc xây dựng, tổ chức thực
Trang 27hiện một chương trình xúc tiến thương mại tầm quốc gia, quốc tế; cung cấp những thông tin và định hướng về thị trường choc ơ quan quản lý và người sản xuất kinh doan; Quảng bá được thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp với bạn hang trong nước và quốc tế Giúp doanh nghiệp có cơ hội duy trì mối quan hệ với đối tác, tiếp cận, mở rộng thị trường xuất khẩu; Các doanh nghiệp cũng từng bước nâng cao được năng lực, kỹ năng kinh doanh, kỹ năng xúc tiến thương mại trong xuất khẩu
1.1.5.5 Hỗ trợ đổi mới nâng cao năng lực, công nghệ trình độ kỹ thuật
Trong giai đoạn hiện nay, khi tốc độ phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày càng nhanh và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế tất yếu, các nhà kinh tế đều cho rằng, đổi mới đã thật sự trở thành nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Sự đổi mới liên tục về công nghệ và tổ chức trong các ngành kinh tế đã trở thành yếu tố then chốt để duy trì sức cạnh tranh của nền kinh tế
Đổi mới cũng là nguồn cung cấp các giải pháp để vượt qua những thách
đố cả về mặt xã hội, y tế và môi trường Riêng đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), đổi mới đã trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự tăng trưởng và thành công mang tính chiến lược
Kinh nghiệm thực tiễn ở nhiều nước chỉ ra rằng, để tiến hành các đổi mới, DNV&N gặp không ít khó khăn, cản trở Trong đó đáng lưu ý một số yếu tố sau: 1) Mức chi phí cho chọn lựa và thích nghi công nghệ mới thường lớn (so với khả năng của doanh nghiệp); 2) Khả năng tiếp cận nguồn vốn mạo hiểm hoặc vốn “mồi” (seed money) thường rất hạn chế; 3) Khả năng quản lý yếu hoặc thiếu kinh nghiệm marketing; 4) Khó tìm được các chuyên gia kỹ thuật có tay nghề cao trong nội bộ và các chuyên gia bên ngoài; 5) Nguồn lực hạn chế để có thể theo dõi tình hình cạnh tranh, các thông tin về công nghệ mới, các tiêu chuẩn mới và các quy định luật pháp mới; 6) Thiếu thời gian và nguồn lực để vươn tới thị trường nước ngoài
Trang 28Xuất phát từ thực tế đó mà cần thiết có những chính sách hỗ trợ đổi mới, nâng cao năng lực, công nghệ trình độ kỹ thuật cho các DNNVV
Các hình thức hỗ trợ các DNV &N thực hiện quá trình đổi mới
Hình thức hỗ trợ về tư vấn: ở nhiều nước, để giúp các DNV &N, người
ta đã tuyển chọn và hình thành mạng lưới các chuyên gia tư vấn kỹ thuật Với đội ngũ này, các DNV &N có thể nhận được các lời khuyên cụ thể, cả về công nghệ và kinh doanh để giải quyết những khó khăn của cơ sở Phần chi phí trả công cho các chuyên gia tư vấn kỹ thuật được lấy từ Quỹ hỗ trợ tư vấn dành riêng cho các DNV &N Đội ngũ chuyên gia tư vấn được tuyển chọn khá chặt chẽ theo các ngành nghề chuyên môn nhất định phù hợp với cơ cấu ngành nghề được xếp vào loại ưu tiên hỗ trợ trong từng giai đoạn của mỗi nước khác nhau
Cơ chế hỗ trợ tài chính ở các giai đoạn đầu của quá trình đổi mới: Do nguồn vốn hạn chế, các DNV &N thường gặp khó khăn lớn để triển khai công tác nghiên cứu hoặc thực hiện các ý đồ đổi mới sản phẩm hoặc quy trình công nghệ Bởi vậy, việc thực hiện một cơ chế chia sẻ rủi ro đối với các doanh nghiệp ở giai đoạn nghiên cứu này có tầm quan trọng đặc biệt Tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của từng nước, người ta vận dụng các hình thức hỗ trợ với mức độ khác nhau Chẳng hạn, ở Canada, mức tài trợ cho một dự án từ 5.000$ đến 350.000$ (tiền Canada) và có thể chiếm tới 50% chi phí được phép cho một
dự án được duyệt Đặc biệt, đối với các dự án tiền thương mại hoá, người ta còn áp dụng cơ chế hỗ trợ có thu hồi với mức lên tới 500.000$ cho một dự án được duyệt Cơ chế này thường áp dụng đối với những lĩnh vực công nghệ quan trọng, có tính chất ưu tiên đối với quốc gia như: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu tiên tiến
Cơ chế phổ biến công nghệ và tăng cường năng lực đổi mới cho khu vực DNVC &N: Theo hướng này, ở nhiều nước người ta đã vận dụng nhiều hình thức khá phong phú như: 1) Tổ chức cho các DNV&N tham quan các
Trang 29viện nghiên cứu, các trường đại học có những công nghệ mới muốn chuyển giao cho DNV &N hoặc thăm các doanh nghiệp đã áp dụng thành công các công nghệ mới hoặc các phương pháp quản lý tiên tiến; 2) Tổ chức các buổi hội thảo, các cuộc triển lãm, trình diễn các công nghệ mới, các phương pháp quản lý đổi mới; 3) Tổ chức các dịch vụ cung cấp các thông tin tình báo về cạnh tranh và kinh doanh cho các chuyên gia cố vấn kỹ thuật, các doanh nghiệp có nhu cầu
Hỗ trợ hình thành mạng lưới công nghệ: Để giúp DNV &N có điều kiện tiếp cận dễ dàng với các thông tin công nghệ - kinh doanh và các chuyên gia tư vấn phù hợp, trong khuôn khổ các chương trình hỗ trợ DNV &N, một
số nước đã tài trợ cho việc hình thành và vận hành một mạng lưới công nghệ Chẳng hạn ở Canada, mạng lưới này đã kết nối 360 chuyên gia tư vấn và hơn 1.000 tổ chức tham gia, bao gồm các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ quan phát triển kinh tế Với mạng lưới này, các DNV &N có thể nhận được những tư vấn liên quan tới nhiều lĩnh vực mà họ quan tâm như: Quản lý nguồn nhân lực; các thông tin về tiêu chuẩn, quy phạm; các khoá đào tạo về marketing, xuất khẩu; thông tin về môi trường; lập
kế hoạch tài chính và kinh doanh; thông tin công nghệ… Nhờ việc ứng dụng công nghệ thông tin, người ta có thể cung cấp kịp thời những thông tin về khoa học, công nghệ, kinh doanh và nguồn lực cần thiết cho DNV &N để triển khai các dự án mà họ quan tâm
1.1.5.6 Phát triển thị trường công nghệ
Thị trường khoa học và công nghệ cũng giống như các thị trường khác, được hình thành trên cơ sở ba điều kiện sau: (i) phải có hàng hoá đây được coi
là điều kiện thiết yếu nhất cho thị trường hình thành và phát triển; (ii) phân công lao động xã hội phải phát triển tương ứng sao cho tồn tại quan hệ cung - cầu giữa các thành viên trong xã hội và giữa các loại hình sản xuất trong xã hội, tức là phải có người có nhu cầu đối với hàng hoá khoa học và công nghệ
Trang 30và người có khả năng cung ứng những hàng hoá này; (iii) phải có phương tiện thanh toán đáp ứng nhu cầu của người bán Đây là một thị trường đặc biệt, được tạo ra do đặc tính của “hàng hoá” khoa học và công nghệ
Việc hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ là quá trình gia tang các giao dịch liên quan đến công nghệ giữa các chủ thể tiềm năng (giao dịch giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa trong nước và ngoài nước, v.v.) nhằm tăng cường đóng góp của khoa học và công nghệ vào mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội Trọng tâm của phát triển thị trường này là thiết lập “môi trường” cần thiết
để các chủ thể có thể giao dịch trên thị trường, khuyến khích lượng cầu trên thị trường thông qua đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, tăng cung hàng hoá thông qua thúc đẩy quá trình thương mại hoá các kết quả nghiên cứu, khuyến khích phát triển hệ thống các dịch vụ trung gian (môi giới, tư vấn công nghệ, cung cấp thông tin, v.v.)
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.6.1 Nhóm các yếu tố chủ quan
- Năng lực công nghệ của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Công tác hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất phát từ thực trạng năng lực công nghệ của khối doanh nghiệp này Trong thời kỳ toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, đặc điểm của thị trường hiện đại là cạnh tranh mang tính toàn cầu và ngày càng khốc liệt Dưới góc độ
đó cùng với vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế và xã hội thì nếu năng lực nội tại của các doanh nghiệp này yếu kém thì sẽ khiến cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước sẽ thất bại Một trong những yếu tố quyết định năng lực của doanh nghiệp là năng lực công nghệ Xuất phát từ thực trạng năng lực công nghệ của các doanh nghiệp thì Nhà nước sẽ có sự hỗ trợ trong đổi mới công nghệ đối với các DNNVV
Trang 31- Năng lực tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê, hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp, trong đó số lượng doanh nghiệp vi mô chiếm một vị trí đáng kể Các doanh nghiệp này hiện đang sử dụng 50% lực lượng lao động của nền kinh tế và đóng góp khoảng 40% GDP hằng năm Tuy nhiên, hiện nay một trong những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là thiếu vốn, số lượng doanh nghiệp này tiếp cận được vốn của các ngân hang thương mại thường chỉ chiếm khoảng 30% Một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận được nguồn vốn là
do hạn chế về năng lực tài chính Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn dưới 5 tỷ đồng vẫn chiếm đa số Và hầu hết các ngân hàng đều chưa mạnh dạn cho các doanh nghệp nhỏ vay nếu không có tài sản đảm bảo Do nguồn vốn hạn chế, các DNV &N thường gặp khó khăn lớn để triển khai công tác nghiên cứu hoặc thực hiện các ý đồ đổi mới sản phẩm hoặc quy trình công nghệ Bởi vậy, việc thực hiện một cơ chế chia sẻ rủi ro đối với các doanh nghiệp ở giai đoạn nghiên cứu này có tầm quan trọng đặc biệt
Chính vì nhà nước cần có sự hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới, cải thiện năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.6.2 Nhóm các yếu tố khách quan
a Áp lực cạnh tranh:
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực thì áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn Điều đó phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh, mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận thong qua một số chỉ tiêu như năng suất, chất lượng, công nghệ, sự khác biệt về hàng hoá, dịch vụ
Trang 32được cung cấp, giá trị tăng thêm, chi phí sản xuất là khả năng của doanh nghiệp thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong việc đạt được mục tiêu quan trọng nhất: lợi nhuận Áp lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến từ 5 hướng: các đối thủ cạnh tranh trong ngành, người mua, người cung ứng, các đối thủ tiềm năng, các sản phẩm thay thế
Khả năng cạnh tranh chủ yếu tập trung ở chất lượng hàng hoá, kiểu dáng mẫu mã hợp thị hiếu, sử dụng an toàn tiện lợi, giá thành - giá cả thấp; chất lượng dịch vụ: nhanh, thuận tiện, trung thực, an toàn, giá chấp nhận được Chất lượng hàng hoá cũng như dịch vụ ổn định và ngày càng nâng cao
Khả năng cạnh tranh phụ thuộc 2 yếu tố cơ bản sau:
- Các yếu tố vĩ mô thuộc về môi trường cạnh tranh: chủ trương của Chính phủ, luật pháp, chính sách khuyến khích hay hạn chế, cơ chế quản lý điều hành của Nhà nước, thị trường và cơ sở hạ tầng
- Các yếu tố vi mô thuộc nội lực của doanh nghiệp, như vốn, cơ cấu vốn, công nghệ, trình độ người lao động, kỹ năng quản lý, …
Đứng trước áp lực cạnh tranh như vậy thì sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc đổi mới công nghệ là cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với nội lực yếu về vốn, về công nghệ trên thị trường
b- Chính sách của nhà nước về Đổi mới công nghệ
Trong giai đoạn hiện nay, khi tốc độ phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày càng nhanh và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế tất yếu, các nhà kinh tế đều cho rằng, đổi mới đã thật sự trở thành nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Sự đổi mới liên tục về công nghệ và tổ chức trong các ngành kinh tế đã trở thành yếu tố then chốt để duy trì sức cạnh tranh của nền kinh tế
Đổi mới cũng là nguồn cung cấp các giải pháp để vượt qua những thách
đố cả về mặt xã hội, y tế và môi trường Riêng đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), đổi mới đã trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, có ý
Trang 33nghĩa quyết định sự tăng trưởng và thành công mang tính chiến lược Bởi vậy, muốn thúc đẩy phát triển khu vực này, cần phải hiểu rõ nội dung của quá trình đổi mới và các yếu tố có tác động tới quá trình này để đề ra chính sách và giải pháp thích hợp về đổi mới công nghệ
1.2 Cơ sở thực tiễn về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ
a) Hệ thống tài chính tài trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Có thể nói, trong việc hỗ trợ tài chính cho các DNNVV, Nhật Bản là một trong những quốc gia thành công nhất Để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp, chính phủ đã xây dựng đa dạng các loại hình tổ chức tài chính quốc doanh phục vụ cho các chính sách của Nhà nước (State- owned and policy-based financial institutions) cung cấp vốn cho sự phát triển của các DNNVV Các tổ chức tài chính này được thành lập lần lượt sau chiến tranh và
đã đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới công nghệ Chính sự tiên phong của các tổ chức tài chính quốc doanh là yếu
tố thúc đẩy các tổ chức tài chính phi chính phủ khác đầu tư vào lĩnh vực này Bằng cách đó, chính sách này có tác dụng rất lớn trong việc chuyển dịch một lượng vốn không nhỏ trong nền kinh tế vào đầu tư đổi mới công nghệ
Hệ thống tài chính tài trợ vốn của Nhật Bản bao gồm các tổ chức tài chính
quốc doanh phục vụ chính sách và các tổ chức tài chính bảo lãnh tín dụng
Trang 34- Các tổ chức tài chính quốc doanh phục vụ chính sách
Ba tổ chức tài chính quốc doanh được Nhà nước tài trợ và kiểm soát trực tiếp, chuyên phục vụ các DNNVV là Tập đoàn Tài chính Nhật Bản Phục
vụ các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, Tập đoàn Tài chính Quốc gia và Ngân hàng Hợp tác Trung ương Công Thương Nhật Bản Các khoản cho vay của 3
tổ chức tài chính này cho các DNNVV chiếm khoảng 10% tổng nguồn vốn đầu tư của Nhật Bản
Các tổ chức tài chính khác nhau sẽ có thứ tự ưu tiên tài trợ khác nhau Theo đó, Tập đoàn Tài chính Nhật Bản phục vụ cho các Doanh nghiệp Nhỏ
và Vừa chủ yếu hỗ trợ cho các DNNVV có quy mô lớn nhất Các khoản cho vay của tập đoàn này đối với các doanh nghiệp hội đủ điều kiện được phân thành 2 dạng: các khoản vay phổ biến phục vụ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị (bao gồm đất đai, nhà xưởng và máy móc) và các khoản cho vay đặc biệt phục vụ cho việc đầu tư phát triển công nghệ mới vì lợi ích xuất khẩu
Ngân hàng Hợp tác Trung ương Công Thương Nhật Bản chủ yếu cung cấp vốn cho các doanh nghiệp thành viên Trong đó, tùy thuộc vào lượng vốn cho vay mà các điều kiện phê duyệt, lãi suất và chính sách ưu đãi là khác nhau Nhìn chung, các doanh nghiệp mới thành lập có thể được Ngân hàng Hợp tác Trung ương Công Thương Nhật Bản chấp thuận cho vay không cần tài sản đảm bảo tối đa khoảng 10 triệu Yên Trong trường hợp cần thiết, các doanh nghiệp mới thành lập cũng có thể nộp đơn xin vay vốn tới Tập đoàn Tài chính Nhật Bản phục vụ các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa với lãi suất cho vay thường là thấp, dài hạn và phi lợi nhuận Thậm chí, khi gặp thua lỗ, các doanh nghiệp mới thành lập có thể nộp đơn xin chính phủ trợ giúp tài chính Bằng cách thiết lập các tổ chức tài chính đặc biệt phục vụ chính sách, chính phủ đã phân chia khu vực kinh doanh của các ngân hàng phục vụ chính sách với các ngân hàng thương mại một cách hiệu quả Việc làm này không chỉ giúp đảm bảo cho hoạt động độc lập của các ngân hàng thương mại trong
Trang 35nước mà còn hỗ trợ đắc lực cho chính sách phát triển DNNVV, giúp giải quyết các vấn đề về vốn cho các doanh nghiệp này
- Các tổ chức bảo lãnh tín dụng
Ban đầu, các địa phương thành lập các hiệp hội bảo lãnh tín dụng bảo lãnh cho các khoản nợ của DNNVV với các tổ chức tài chính phi chính phủ Các hiệp hội bảo lãnh tín dụng ủy thác cho các tổ chức tài chính hoặc các cơ quan xã hội xác minh thông tin về các doanh nghiệp xin cấp bảo lãnh, và trích
từ 0.5%-1% giá trị các khoản cho vay để làm phí bảo lãnh Tiếp sau đó, chính phủ thành lập quỹ bảo hiểm tín dụng vào năm 1958 Một mặt, quỹ này đảm bảo cho các khoản cho vay được cấp bởi các hiệp hội bảo hiểm tín dụng (trong trường hợp các DNNVV không có khả năng hoàn trả khoản vay, các hiệp hội này vẫn có thể được hoàn trả từ 70-80% tiền bảo hiểm), mặt khác, quỹ bảo hiểm cấp những khoản vốn vay ngắn và dài hạn cho các hiệp hội bảo lãnh tín dụng Trong vai trò là người cho vay cuối cùng, quỹ bảo hiểm đảm bảo sự vận hành ổn định của các hiệp hội bảo lãnh tín dụng
b) Các chính sách trợ cấp kinh tế
Để giúp các DNNVV thỏa mãn nhu cầu về vốn và phát huy những đóng góp quan trọng của các DN này cho nền kinh tế quốc gia và một số lĩnh vực xã hội, Nhật Bản đã cải thiện các chính sách trợ cấp kinh tế, chủ yếu bao gồm chính sách trợ cấp tài chính và chính sách cho vay ưu đãi
- Với chính sách trợ cấp tài chính, chính phủ sẽ tài trợ trực tiếp cho đầu
tư đổi mới công nghệ để khuyến khích các DNNVV áp dụng những công nghệ mới Theo Luật khuyến khích các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, Nhật Bản cấp vốn cho các DNNVV sáng tạo để phục vụ cho việc nghiên cứu và phát triển kỹ thuật
- Với chính sách tín dụng ưu đãi, chính phủ cấp những khoản vay với lãi suất thấp (lãi suất thấp hơn so với lãi suất của các ngân hàng thương mại) cho các DNNVV thông qua các ngân hàng phục vụ chính sách Bằng cách
Trang 36này, các doanh nghiệp có thể có đủ vốn để phát triển công nghệ mới, thuê mướn trang thiết bị, nâng cấp công suất vận hành của máy móc từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm Trong trường hợp các DNNVV bị yếu thế trong cạnh tranh, chính phủ sẽ bảo hộ bằng cách cho vay trực tiếp với lãi suất thấp
và dài hạn
c) Các kênh tài trợ trực tiếp
Sau chiến tranh, chính phủ đã huy động một lượng vốn cần thiết để thành lập các công ty xúc tiến đầu tư phục vụ các DNNVV Năm 1963, Nhật Bản xây dựng Luật Các Công ty Xúc tiến Đầu tư Phục vụ Các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa với mục tiêu tăng cường nguồn vốn cho các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh Theo Luật này, các công ty xúc tiến đầu tư phục vụ các DNNVV được thành lập ở Tokyo, Osaka và Nagoya để hỗ trợ cho việc nâng cấp cấu trúc ngành công nghiệp, giúp đỡ các DNNVV trong việc niêm yết chứng khoán và gia tăng nguồn vốn sở hữu, qua đó nâng cao lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế Bên cạnh đó, các công ty xúc tiến đầu tư có trách nhiệm hướng dẫn kinh doanh và công nghệ cho các doanh nghiệp này Kể từ sau khi thành lập, các công ty này phát triển thuận lợi và đã giúp tăng vốn cho một số lượng lớn các DNNVV Ngoài ra, sau khi các DNNVV được niêm yết trên thị trường chứng khoán, mặc dù các công ty xúc tiến đầu tư vẫn giữ vai trò là cổ đông đầu tư dài hạn, nhưng họ không quan tâm đến lợi nhuận thu về
từ việc đầu tư
- Chính phủ cho phép và khuyến khích các DNNVV phát hành cổ phiếu
và các loại giấy tờ có giá khác ra công chúng Năm 1996, chính phủ đã thành lập một quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh mạo hiểm phát hành trái phiếu và thậm chí trực tiếp tài trợ cho trái phiếu của các doanh nghiệp này dưới danh nghĩa chính phủ
- Chính phủ thành lập sàn giao dịch thứ cấp độc lập với sàn giao dịch
sơ cấp Tại Nhật Bản, sàn giao dịch thứ cấp quản lý các giao dịch phi chính
Trang 37thức (OTC) nhằm đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ tài chính và chuyển nhượng của các DNNVV Các điều kiện niêm yết trên thị trường thứ cấp rất lỏng lẻo với mục đích tạo cơ hội cho các doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời nhưng có tiềm năng phát triển được niêm yết trên sàn giao dịch này
- Những phương thức tài trợ khác, ví dụ như hoạt động cho thuê trang thiết bị dựa trên Luật Xúc tiến Hiện đại hóa các doanh nghiệp Nhỏ và Vừa có thể giúp các doanh nghiệp này kịp thời ứng dụng các trang thiết bị hiện đại
vào kinh doanh và cải tiến công nghệ (nguồn tham khảo Tạp chí Kinh tế phát triển - Đại học kinh tế quốc dân)
1.2.1.2 Thái Lan
Đối với DNNVV tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là một khó khăn lớn nhất, đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa nền kinh tế Để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa của DNNVV, tại Thái Lan, vấn đề cơ bản là hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, coi trọng các sản phẩm mang tính truyền thống dân tộc độc đáo
Việc hỗ trợ đổi mới công nghệ cho DNNVV chủ yếu là chuyển giao công nghệ, đào tạo nâng cao chất lượng tay nghề lao động và người quản lý, cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp
Ở Thái Lan đều coi trọng tạo mối quan hệ hợp tác DNNVV và các doanh nghiệp lớn, có quy định pháp lý bắt các doanh nghiệp lớn phải hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, cả vốn, kỹ thuật, công nghệ và hoạt động kinh doanh; còn DNNVV trở thành vệ tinh, tham gia chế tạo các phụ tùng, phụ kiện cho doanh nghiệp lớn Ở Thái Lan còn quy định mỗi doanh nghiệp lớn có trách nhiệm hỗ trợ một số doanh nghiệp vừa và một số doanh nghiệp vừa có trách nhiệm hỗ trợ một số doanh nghiệp nhỏ Thái Lan rất coi trọng các hình thức tổ chức hợp tác của các doanh nghiệp nhỏ và vừa do yêu cầu của sản xuất kinh doanh, giúp nhau giải quyết đầu vào và đầu ra cho DNNVV, đặc biệt tạo thuận lợi cho vay vốn ngân hàng Do tính cấp thiết của DNNVV về mặt hợp tác
(nguồn tham khảo Tạp chí Kinh tế phát triển - Đại học kinh tế quốc dân)
Trang 381.2.2 Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số tỉnh của Việt Nam
1.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Để giúp các DNNVV tiếp cận và đổi mới công nghệ, chính quyền tỉnh Bình Dương xác định yêu cầu phát triển thị trường công nghệ, đang tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng tạo điều kiện gắn kết giữa các cơ quan khoa học - công nghệ và doanh nghiệp; tổ chức hội chợ thiết bị công nghệ (Techmart) định kỳ tại địa phương, xây dựng Techmart ảo, phòng giao dịch công nghệ, xây dựng Website Khoa học và Công nghệ Bình Dương để tư vấn về công nghệ; đẩy mạnh Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học - công nghệ ; đẩy mạnh hoạt động của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ và thành lập doanh nghiệp khoa học - công nghệ
1.2.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố đi đầu trong việc hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ Thành phố đã triển khai nhiều biện pháp trợ giúp đồng bộ cho DNNVV Thành phố thành lập Trung tâm Xúc tiến Thương mại Đầu tư (ITPC) hỗ trợ doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin, tổ chức các khoá đào tạo và huấn luyện quản trị doanh nghiệp Lãnh đạo các sở ban ngành thường xuyên tổ chức các buổi gặp gỡ doanh nghiệp để tìm hiểu những khó khăn vướng mắc và tìm biện pháp tháo gỡ kịp thời; Xây dựng cổng giao dịch điện tử dành cho DNNVV giới thiệu sản phẩm, thực hành kinh doanh trên mạng để giảm các chi phí và tiếp cận thị trường tốt nhất, …
1.2.2.3 Hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống ưu đãi tài chính cho chuyển giao công nghệ Một số chính sách ưu đãi mới cũng được thể hiện qua Luật Khoa học công nghệ (KHCN) năm 2013, trong đó quy định, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho việc thực hiện nhiệm vụ KHCN
Trang 39Các dự án của doanh nghiệp (DN) ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN để tạo ra sản phẩm mới hoặc nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm có thể được hỗ trợ đến 30% tổng vốn đầu tư; hỗ trợ đến 50% vốn đầu tư cho dự án thực hiện ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; hỗ trợ đến 50% vốn đầu tư cho dự án thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước
Nhà nước cũng cung cấp một số lợi ích trực tiếp cho DN hoạt động trong các ngành trọng điểm thông qua các chương trình kinh tế - kỹ thuật trọng điểm quốc gia Các chương trình này cung cấp vốn hỗ trợ trực tiếp cho
DN hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể; thậm chí hỗ trợ có thể còn được
mở rộng ra các dịch vụ của Nhà nước bao gồm tư vấn, chuyển giao công nghệ hoặc đào tạo Ngoài ra, các chương trình KHCN trọng điểm cũng được xây dựng thành một phần của kế hoạch 5 năm
Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia thành lập theo Quyết định TTg ngày 5/8/2013 với vốn điều lệ là 1.000 tỷ đồng từ NSNN Quỹ có chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay và bảo lãnh để vay vốn, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp chuyển giao nghiên cứu, đổi mới công nghệ Cụ thể, theo Thông tư liên tịch số 120/2014/TTLT-BTC-BKHCN về hướng dẫn quản lý tài chính đối với Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, thì nguồn vốn của Quỹ được
1342/QĐ-sử dụng để tài trợ cho các hoạt động sau:
Thứ nhất, tài trợ cho các dự án nghiên cứu phát triển công nghệ mới,
công nghệ tiên tiến, công nghệ cao của doanh nghiệp; sản xuất thử nghiệm sản phẩm mới; chuyển giao, hoàn thiện, sáng tạo công nghệ để sản xuất sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm quốc gia;
Thứ hai, tài trợ dự án ươm tạo công nghệ;
Thứ ba, tài trợ các đề tài nghiên cứ lập dự án nghiên cứu tiền khả thi,
dự án khả thi cho tổ chức doanh nghiệp, cá nhân; đề tài nghiên cứu về tìm kiếm, giải mã công nghệ, khai thác sáng chế, cải tiến kỹ thuật cho phát triển công nghệ mới, công nghệ tiên tiến;
Trang 40Thứ tư, tài trợ dự án nhân rộng, phổ biến, giới thiệu và chuyển giao ứng
dụng tiến bộ KHCN phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản ở khu vực nông thôn, miền núi;
Thứ năm, tài trợ dự án đào tạo nhân lực KHCN phục vụ việc chuyển
giao, ứng dụng công nghệ cho DN
Đồng thời, chương trình tìm kiếm và chuyển giao công nghệ nước ngoài đến năm 2020 mới ban hành năm 2014 còn hỗ trợ các tổ chức, DN một phần chi phí xây dựng thuyết minh dự án và một phần kinh phí thực hiện đối với dự án chuyển giao công nghệ có tính khả thi… Nhìn chung, việc tăng thêm các chính sách mới hỗ trợ DN đã cho thấy sự thúc bách của việc đẩy nhanh chuyển giao và ứng dụng công nghệ ở Việt Nam
Chưa kể, nguồn vốn tự có của DN để đầu tư đổi mới và chuyển giao công nghệ: DN thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được trích tối
đa 10% thu nhập tính thuế để lập Quỹ phát triển KHCN của mình Bên cạnh các ưu đãi thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập DN theo Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập DN năm 2013 cũng cho phép DN sử dụng vốn tự có để đầu tư vào KHCN có thể được giảm tới 10% thuế thu nhập và được khấu hao nhanh đối với trang thiết bị hình thành từ đầu tư công nghệ
1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cho Thành phố Việt Trì
Chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ ở các nước và các Tỉnh, Thành phố trong nước không phải là mục đích để doanh nghiệp tự thân vận động, mà là một chiến lược tăng trưởng hiệu quả trên cơ sở kết hợp hài hòa chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu với chiến lược tạo việc làm,
để giải quyết đồng thời hai vấn đề kinh tế là:
- Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu để tạo nguồn ngoại tệ cho đổi mới thiết bị và công nghệ, tức là để hiện đại hóa nền kinh tế
- Sử dụng hiệu quả nguồn lực trong tỉnh, trong đó nguồn nhân lực là quan trọng nhất