1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy môn công tác quốc phòng an ninh tại trường đại học bách khoa hà nội

115 275 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng “phương pháp dạy học tích cực” trong dạy học môn CTQPAN nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của sinh viên và nâng cao chất lượng dạy và học môn CTQPAN ở trường Đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

=========================

TRẦN ANH TÚ

VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH

KHOA HÀ NỘI

CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN VIỆT DŨNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

LỜI CẢM ƠN 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6

PHẦN MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1-CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Cơ sở lý luận về phương pháp và phương pháp dạy học tích cực 12

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12

1.1.2 Phương pháp và phương pháp dạy học 15

1.1.3 Dạy học tích cực và PPDHTC 17

1.1.4 Các nguyên tắc của PPDH tích cực 21

1.1.5 Một số yêu cầu thực hiện PPDHTC 23

1.1.6 Định hướng và điều kiện vận dụng PPDH tích cực trong dạy học 24

1.2 Hiện trạng giáo dục QP - AN tại Trường đại học Bách khoa Hà Nội 27

1.2.1 Khái quát về GDQP - AN 27

1.2.2 Hiện trạng GDQPAN tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội 35

1.2.3 Phân tích đặc điểm giảng dạy môn học giáo dục quốc phòng an ninh tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG MÔN CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH 43

2.1 Một số phương pháp dạy học tích cực có thể vận dụng vào dạy học môn Công tác quốc phòng an ninh 43

2.1.1 Thuyết giảng theo kiểu tích cực 44

2.1.2 Phương pháp gợi mở - vấn đáp 46

2.1.3 Phương pháp dạy học nhóm 51

2.2 Một số kỹ thuật dạy học tích cực 53

2.2.1 Động não (công não) 53

2.2.2 Kỹ thuật XYZ 55

2.2.3 Tranh luận ủng hộ - phản đối (tranh luận chia phe) 55

Trang 3

2.2.4 Kỹ thuật đặt câu hỏi 56

2.3 Xây dựng 3 bài giảng mẫu sử dụng phương pháp dạy học tích cực môn công tác QP - AN 57

2.3.1 Xây dựng bài giảng vận dụng phương pháp thuyết trình tích cực 57

2.3.2 Xây dựng bài giảng vận dụng phương pháp gợi mở - vấn đáp 66

2.3.3 Xây dựng bài giảng vận dụng phương pháp thảo luận nhóm 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 88

CHƯƠNG 3 - THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 89

3.2 Đối tượng, nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm 89

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 89

3.2.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 89

3.3 Kết quả thực nghiệm 91

3.3.1 Phân tích định tính 91

3.3.2 Phân tích định lượng 92

3.4 Lấy ý kiến chuyên gia 99

3.4.1 Mục đích 99

3.4.2 Đối tượng khảo sát lấy ý kiến 99

3.4.3 Nội dung khảo sát 99

3.4.4 Kết quả khảo sát 100

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Phụ lục 1 - Chương trình giáo dục QP - AN i

Phụ lục 2 - PHIẾU XIN Ý KIẾN CHUYÊN GIA ii

Phụ lục 3 - PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN iii

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

===========

Tôi xin cam đoan những gì được viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác, nếu có đều được trích dẫn từ nguồn gốc cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên đây

Hà Nội, ngày 20 tháng 08 năm 2017

Tác giả

Trần Anh Tú

Trang 5

Tác giả xin chân thành cảm ơn tới:

Viện Sư phạm kỹ thuật - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn;

Khoa Giáo dục QP - AN và các giáo viên cộng tác đã tạo điều kiện và phối hợp cho việc thực nghiệm sư phạm

Cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ

Tuy đã rất nỗ lực phấn đấu, nhưng do thời gian có hạn, vì vậy luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 08 năm 2017

Tác giả

Trần Anh Tú

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh PPDH truyền thống và PPDH tích cực 21

Bảng 1.2 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH 37

Bảng 1.3 Thực trạng về mức độ sử dụng các phương pháp dạy học 38

Bảng 3.1 Phân bố số SV theo các điểm Xi của các bài kiểm tra 93

Bảng 3.2 Bảng tần suất fi 95

Bảng 3.3 Bảng tần suất hội tụ tiến fa 96

Bảng 3.4 Phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên cho lớp đối chứng 97

Bảng 3.5 Phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên cho lớp thực nghiệm 97

Bảng 3.6 Bảng so sánh các tham số thống kê 98

Bảng 3.7 Mức độ sử dụng PPDH TC 100

Bảng 3.8 Những thuận lợi trong việc vận dụng PPDH tích cực 100

Bảng 3.9 Khó khăn trong việc vận dụng PPDH tích cực 101

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Biểu đồ mô tả mức độ ghi nhớ……… 18

Hình 1.2 Mô hình người học là trung tâm………19

Hình 2.1 Các yếu tố tác động đến lựa chọn PPDH……… 42

Hình 2.2 Sơ đồ tư duy dùng trong kỹ thuật động não……… 53

Hình 2.3 Kỹ thuật dạy học tích cực: KỸ THUẬT XYZ……… …… 54

Hình 3.1 Sự phân bố số SV theo điểm của 3 lần kiểm tra ở nhóm TN 94

Hình 3.2 Sự phân bố số SV theo điểm của 3 lần kiểm tra ở nhóm ĐC 94

Hình 3.3 Mức độ dịch chuyển phân bố điểm của 2 lớp TN và ĐC 95

Hình 3.4 Mức độ dịch chuyển phân bố tần suất hội tụ tiến 96

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử nhân loại đã bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của thông tin, tri thức Thông tin và tri thức được coi là tài sản vô giá, là quyền lực tối ưu của mỗi quốc gia Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức của nhân loại cũng như tốc độ ứng dụng vào đời sống xã hội tạo nên sự đa dạng của thế giới Tình hình đó đã làm thay đổi những quan niệm về giáo dục Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong đếm được Giáo dục không chỉ có chức năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trọng là trang bị cho mỗi người phương pháp (PP) học tập, tìm cách phát triển năng lực nội sinh, phát triển tư duy nội tại, thích ứng được với một xã hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu đó, việc cải cách, đổi mới giáo dục (GD) là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, trong đó, đổi mới phương pháp giáo dục (PPGD) là khâu then chốt nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới GD

Nhận thức được việc đổi mới PP giảng dạy và học tập là một trong những vấn

đề bức thiết hiện nay ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng như Bộ GD & ĐT đã đưa

ra nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm thúc đẩy việc đổi mới PP dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống Đại hội XII tiếp tục khẳng

định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng

cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục

chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người

Trang 10

học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến

bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động” Đây là quan điểm định hướng cho phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta trong những năm tới Quan điểm chỉ đạo này là kết quả của thành tựu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong công cuộc đổi mới đất nước Nội dung quan điểm thể hiện sự nhận thức đúng đắn và nhất quán của Đảng ta trong quá trình đổi mới về vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục và đào tạo Điểm mới trong nội dung quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng cho phát triển giáo dục và đào tạo là lấy phát triển, hoàn thiện con người làm mục tiêu, động

lực; xây dựng một nền giáo dục hiện đại, thực học, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát

triển đất nước Phương pháp dạy và học không chỉ làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành Cùng với

đó, cần đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng

Trong những năm qua việc giảng dạy môn Công tác Quốc phòng - An ninh (CTQPAN) tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN) đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc nâng cao chất lượng dạy học môn CTQPAN

Việc đổi mới phương pháp dạy và học không chỉ làm cho người học phát triển

tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành là mối quan tâm của mỗi cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy các bộ môn nói chung, CTQPAN nói riêng trong trường ĐHBKHN Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn

trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong

dạy học môn Công tác Quốc phòng - An ninh tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

Vận dụng “phương pháp dạy học tích cực” trong dạy học môn CTQPAN nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của sinh viên và nâng cao chất lượng dạy và học môn CTQPAN ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn CTQPAN tại Trường Đại học

Bách khoa Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu: “Phương pháp dạy học tích cực” trong dạy học môn

CTQPAN cho sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vận dụng “phương pháp dạy học tích cực” vào dạy học

- Nghiên cứu tìm hiểu hiện trạng giáo dục QP - AN tại ĐHBK Hà Nội

- Xây dựng bài giảng mẫu sử dụng phương pháp dạy học tích cực môn CTQPAN

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đề ra

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội đang dạy học môn CTQPAN theo phương pháp truyền thống nên chất lượng dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu

trước những diễn biến rất phức tạp của tình hình thế giới

Nếu vận dụng phương pháp dạy học tích cực một cách khoa học, hợp lý trong dạy học sẽ kích thích được hứng thú học tập, phát triển khả năng tư duy sáng tạo của người học, góp phần nâng cao được chất lượng dạy và học

6 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực phục vụ cho việc dạy - học môn CTQPAN tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này tác giả tiến hành sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Trang 12

* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá những tài liệu liên quan đến đề tài

* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát: dự giờ, chủ động quan sát việc dạy và học môn

CTQPAN tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội

- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu hỏi để thăm dò ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp và sinh viên trên cơ sở đó tổng hợp, rút ra kết luận

- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện: đàm thoại, trao đổi cùng với sinh viên, nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học ở trường

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: trao đổi kinh nghiệm với các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và của bản thân

- Phương pháp thực nghiệm (TN): Tổ chức thực nghiệm để đối chứng, phân tích kết quả, rút ra kết luận

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, giáo viên và các nhà quản lý giáo dục về phương pháp dạy học tích cực

- Phương pháp thống kê toán học: nhằm xử lý và phân tích kết quả điều tra thực nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận về phương pháp và phương pháp dạy học tích cực

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1.1 Trên thế giới

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH TC) là hệ thống phương pháp dạy học (PPDH) nhằm phát huy cao độ tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình học tập Vấn đề này đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trong lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường, tư tưởng về dạy học tích cực đã được các nhà giáo dục bàn đến từ lâu:

Từ thời cổ đại, các nhà sư phạm, triết gia tiền bối như: Socrat (469 - 339 TCN) nhà triết học, người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại; Montaigne (1533 - 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu lý luận giáo dục; J.A.Comenxki (1592 - 1670) là một nhà tư tưởng, lý luận giáo dục Clovakia và J.J.Rousseau (1712 - 1778), thiên tài lý luận của Pháp thời kỳ khai sáng;… đều đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập và

cổ vũ việc sử dụng các PPDH nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học Trong thế kỷ XX, các nhà giáo dục phương Đông, phương Tây đều quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực học tập, chủ động, sáng tạo của người học cụ thể như: Kharlamôp, nhà giáo dục Xô Viết; I.Ia Lecne nhà giáo dục Xô Viết; V.Ôkôn, nhà giáo dục Ba Lan Các nhà giáo dục đã đúc kết ra những kết quả tích cực của công trình thực nghiệm hàng chục năm về dạy học phát huy tính tích cực, tính quy luật chung của dạy học nêu vấn đề, cách áp dụng phương pháp vào một số ngành khoa học

Nhà sư phạm vĩ đại J.A.Comenxki (1592- 1670) đã đưa ra những yêu cầu cải

tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo nhu cầu người học Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những có gắng

Trang 14

bản thân để nắm lấy tri thức I.F.Kharlamôp lại đã khẵng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới Ông cho rằng: “Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách thuộc lòng bình thường các quy tắc, các kết luận, khái quát hóa nó phải được xác định trên cơ sở của việc cải tiến công tắc tự lập của học sinh, của việc phân tích tính logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học” [13]

Dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh dựa trên cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách của con người được hình thành thông qua các hoạt động chủ đạo và sáng tạo, thông qua các hoạt động có ý thức Theo X.LRubinstêin (1902-1960) “con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính bản thân dành được bằng lao động của mình”, học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua trong quá trình hoạt động nhận thức của bản thân bằng cách này hay cách khác, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi đứng trước một khó khăn về nhận thức càng phải khắc phục, một tính huống gợi vấn đề

Những nội dung nêu trên cho thấy việc nghiên cứu PPDHTC trên thế giới đã được đề cập đến từ rất sớm Các nhà triết học, giáo dục học, tâm lý học đã thấy rõ vai trò to lớn của PPDHTC đối với sự nghiệp giáo dục và sự phát triển của con người, của đời sống xã hội

1.1.1.2 Tại Việt Nam

Ở nước ta, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, dạy học tích cực đã bắt đầu được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong giáo trình: Giáo dục học; tâm lý học; phương pháp giảng dạy bộ môn Trong các trường chuyên nghiệp và đại học đã xuất hiện tư tưởng ứng dụng và phát triển “Phương pháp giáo dục tích cực”, với khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

Tại Nghị quyết IV của Ban chấp hành TW khoá VII đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học…áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài “Một phương pháp cực kỳ quý báu”

Trang 15

đăng trên báo nhân dân ngày 18/11/1994 viết “PP dạy học mà các đồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học làm trung tâm Người ta phải đặt ra những câu hỏi, đưa

ra câu chuyện có tính hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi người nghe, người đọc, dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó suy nghĩ, tìm tòi… PPDH tích cực này

có khả năng phát triển được những năng lực đang ngủ yên ở mỗi con người…”

GS Trần Hồng Quân (nguyên Bộ trưởng Bộ GD &ĐT) trong bài “Cách mạng

về PP sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đại mới” đăng trên tạp chí nghiên cứu GD số 1/1995 viết “Muốn đào tạo được con người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo Người học tích cực học bằng hành động của mình Người học tự tìm hiểu, phân tích, xử lý tình huống và giải quyết vấn đề, khám phá

ra cái chưa biết Nhiệm vụ của người thầy là chuẩn bị cho học sinh thật nhiều tình huống chứ không phải là nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu óc học sinh”

Tác giả Nguyễn Kỳ trong bài “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”

đã đưa ra những cơ sở lý luận về PPDHTC Tác giả cũng chỉ rõ quá trình tự học là quá trình tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh dưới sự hướng dẫn,

tổ chức, trọng tài của thầy Trong bài: “PP giáo dục tích cực” đăng trên tạp chí NCGD số 7/1993, đã chỉ rõ: “Trẻ em là chủ thể học tích cực bằng hành động của chính mình Lớp học là cộng đồng các chủ thể Thầy giáo tự nguyện bỏ vai trò chủ thể, trở thành người thiết kế, tổ chức, trọng tài, cố vấn”

GS Trần Bá Hoành với các bài: “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, đăng trên tạp chí NCGD số 1/1994, bài: “Phương pháp tích cực” đăng trên tạp chí NCGD

số 3/1996, bài: “phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên” đăng trên tạp chí NCGD số 9/1999 nêu rõ: Thế nào là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, thế nào là PP tích cực, thế nào là PP hợp tác Tác giả chỉ rõ những đặc trưng của PP tích cực Nguyễn Ngọc Bảo với cuốn sách: “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” cũng đã đưa ra quan niệm học là hoạt động tích cực, tự lực và là trung tâm của quá trình dạy học và đã nêu lên các

Trang 16

phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh

Như vậy, tại Việt Nam PPDHTC cũng đã được các nhà sư phạm, nhà quản lý nghiên cứu và ứng dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX Ngày nay, PPDHTC bắt đầu được phổ biến rộng rãi, ứng dụng tại nhiều cấp, bậc học và đã được luật hóa Tại Điều 5, Luật Giáo dục đã yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục như sau

“Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có

hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học” và “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Do vậy việc tiếp tục nghiên cứu ứng dụng PPDHTC vào

các bộ môn tại các nhà trường, nhất là trường đại học là hết sức cần thiết và có đầy

đủ cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học

1.1.2 Phương pháp và phương pháp dạy học

Trong tài liệu của các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức cho thấy thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Metodos” có nghĩa là con đường, cách thức để đạt tới mục đích nhất định Trong tài liệu của tác giả Trần Khánh Đức: Phương pháp là cách thức hành động (hoạt động) hướng tới đạt được những mục tiêu, mục đích đã định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định Trong

Trang 17

tài liệu của tác giả Lưu Xuân Mới: PP là cách thức đạt tới mục đích và bằng một hình ảnh nhất định, nghĩa là một hành động được điều chỉnh Trong tài liệu của tác giả Nguyễn Như An: PP là cách đạt tới mục đích, tức là tổng hợp những thủ thuật

và thao tác dùng để đạt mục đích

1.1.2.2 Phương pháp dạy học

Trên cơ sở PP chung, người ta đã xây dựng khái niệm PPDH Theo các nhà giáo dục học trên thế giới và các nhà giáo dục học Việt Nam, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về PPDH

Theo Iu Babanxki “PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học” I Ia Lecne cho rằng “PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của học sinh, đảm bảo cho các

em lĩnh hội nội dung học vấn” [17] Theo Trần Khánh Đức thì PPDH được hiểu là cách thức tổ chức các hoạt động của người dạy (thầy) và người học (trò) nhằm hình thành và phát triển ở người học các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách nghề nghiệp trong quá trình đào tạo Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức thì PPDH là tổng hợp cách thức hoạt động của giáo viên và người học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề ra Nguyễn Văn Hộ: PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực, chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Nguyễn Ngọc Quang: PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học Theo tác giả Nguyễn Xuân Lạc: PPDH là một tổ hợp các qui tắc vận dụng lý luận (hoặc kinh nghiệm) và sử dụng phương tiện, để quá trình dạy học khả thi và hiệu quả

Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy rằng tất cả các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu hiệu sau:

- Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra dưới sự dẫn dắt, hỗ trợ của giáo viên;

Trang 18

- Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường quy định;

- Phản ánh cách thức hoạt động đan xen, tương tác và trao đổi thông tin giữa thầy và trò;

- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động trong quá trình dạy học

1.1.3 Dạy học tích cực và PPDHTC

Theo các nhà giáo dục học Việt Nam: PPDH tích cực là các phương pháp được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm phát huy cao nhất tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập của người học dưới sự tổ chức, điều khiển hỗ trợ của giáo viên Như vậy, các cách thức dạy học tích cực chính là phương pháp dạy học tích cực với nhiều dạng biểu hiện cụ thể trong quá trình dạy học

Về thuật ngữ “Phương pháp dạy học tích cực”, theo GS Trần Bá Hoành, đây là thuật ngữ trong tiếng Việt dùng để chỉ “những PPDH được sử dụng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học” [9] Trong tiếng Anh, người ta không dùng thuật ngữ PP dạy tích cực (active teaching methods) mà chỉ dùng thuật ngữ “dạy và học tích cực” (active teaching and learning) hay “học tập tích cực” (active learning) Từ “dạy” và “học” ở đây hàm nghĩa là các hoạt động hay các quá trình thực hiện bởi người dạy hay người học

PPDHTC là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, chỉ đạo những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học “Tích cực” trong PPDH tích cực được dùng với nghĩa hoạt động tính cực, chủ động, trái nghĩa với việc truyền thụ một chiều, thụ động trong quá trình DH

PPDHTC hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học trong quá trình dạy dưới sự tổ chức, chỉ đạo và hỗ trợ của người dạy Phương pháp này mô tả mức độ ghi nhớ như biểu đồ sau:

Trang 19

Hình 1.1 Biểu đồ mô tả mức độ ghi nhớ

Rõ ràng chúng ta thấy, cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Ngược lại, cũng

có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDHTC nhưng thất bại vì học sinh chưa thích ứng được vì vẫn có thói quen học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì, từng bước dùng cách dạy hoạt động tích cực để dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp tới cao Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác giữa thầy và trò, sự phối hợp giữa hoạt động dạy và học thì mới thành công Vì thế mà người ta dùng thuật ngữ “Dạy học tích cực”, phân biệt với “Dạy học thụ động” Thuật ngữ rút gọn “PPDH tích cực” hàm chứa phương pháp dạy và phương pháp học

1.1.3.1 Đặc điểm

- PPDH tích cực được thể hiện thông qua việc sử dụng nhiều phương pháp dạy học cụ thể trong đó phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, tự học, tự tìm tòi nghiên cứu… kết hợp với các phương pháp khác trong quá trình dạy học thành một hệ thống toàn vẹn

- PPDH tích cực có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Người học được đặt vào tình huống có vấn đề trong đó có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức là trong trạng thái có nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bằng được mâu thuẫn đó Qua việc giải quyết vấn đề, người học lĩnh hội kiến thức một cách tự giác và tích cực, trong đó có niềm vui của sự nhận thức sáng tạo

Trang 20

- PPDH tích cực có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học mà trong đó tư duy độc lập sáng tạo vừa là phương tiện vừa là mục đích của quá trình dạy học

- PPDH tích cực có yêu cầu cao đối với người dạy và người học (cả về nhận thức và cách thức phối hợp thực hiện)

- PPDH tích cực giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhớ lâu, đảm bảo sự cá thể hóa, tập trung vào người học

- PPDH tích cực có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học, nhiều dạng bài học ở những mức độ khác nhau

1.1.3.2 Bản chất

Bản chất của PPDH tích cực là biến quá trình nhận thức thành quá trình tự nhận thức, quá trình truyền thụ kiến thức của thầy thành quá trình tương tác và tự học của học sinh Giáo viên tạo nên những tình huống có vấn đề để học sinh chấp nhận các tình huống đó là cần thiết đối với họ, học sinh tự tìm tòi, nghiên cứu, chủ động hợp tác dưới sự tổ chức, điều khiển, cố vấn của thầy để tìm ra kiến thức mới

Hình 1.2 Mô hình người học là trung tâm

Trong hình 1.2, có thể thấy người học ở vị trí trung tâm, là chỗ giao nhau của mọi con đường kiến thức Các kiến thức đến người học không chỉ trực tiếp từ các

GV mà có thể từ hệ thống mạng máy tính, qua E-learning, sách vở (sách điện tử), hoạt động nghệ thuật, môi trường tự nhiên, xã hội, gia đình, các phương tiện nghe nhìn Đặc biệt bài giảng của GV có thể được quay thành video và thông qua hệ thống máy tính internet để đến người học

Trang 21

1.1.3.3 Dấu hiệu đặc trưng

Có thể nêu ra 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau đây của PPDH tích cực, đủ để phân biệt với các PP thụ động:

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh;

- Dạy và học chú trọng phương pháp rèn luyện tự học;

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác;

- Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò

Mục

tiêu

Chú trọng việc cung cấp tri

thức, kỹ năng, kỹ xảo, học

để đối phó với thi cử Sau

khi thi xong, những điều đã

học thường bị bỏ quên,

hoặc ít dùng đến

Chú trọng hình thành năng lực (sáng tạo, hợp tác, độc lập….) dạy phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh;

Trang 22

viên đối diện với cả lớp

- Cơ động, linh hoạt Học ở lớp, phòng thí nghiệm, hiện trường, trong thực tế; học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên

- Học sinh tự đánh giá theo chuẩn

Bảng 1.1 So sánh PPDH truyền thống và PPDH tích cực

1.1.3.4 Một số PPDHTC

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều phường pháp dạy học tích cực và đã được ứng dụng tại nhiều quốc gia, tại Việt Nam một số PPDHTC đã được nghiên cứu, bàn thảo và tập huấn cho giáo viên tại một số cấp, bậc học tại một số địa phương

Có thể thống kê một số phương pháp như sau:

- Dạy học thuyết trình tích cực;

- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề;

- Dạy học thảo luận nhóm;

Trang 23

PPDHTC thực chất là PPDH được người dạy lựa chọn nhằm phát huy tối đa tính tích cực nhận thức của người học nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất của quá trình dạy học

1.1.4.2 Quá trình dạy học tích cực là một quá trình thường xuyên thực hành vận dụng và sáng tạo

Để người học có thể nhớ lâu, hiểu sâu và có kỹ năng vận dụng chúng vào các tình huống thực tiễn đa dạng thì quá trình dạy học tích cực cần tạo ra cho người học nhiều cơ hội thực hành, lặp đi, lặp lại những gì đang được học và vận dụng sáng tạo

ở nhiều tình huống khác nhau Việc thực hành nhiều lần không chỉ giới hạn trong một vài tiết học riêng lẻ hay vào cuối mỗi bài học, mỗi chương, mỗi khoá học… mà

nó là một quá trình thường xuyên, liên tục trong dạy học tích cực

1.1.4.3 Tài liệu dạy học tích cực cần phải phong phú và đa dạng

Cốt lõi của quá trình dạy học tích cực chính là rèn luyện PP tự học ở người học Muốn vậy, tài liệu cung cấp cho người học phải phong phú và đa dạng, không chỉ về mặt nội dung mà cả về hình thức, phương thức trình bày Tài liệu dạy học tích cực không chỉ là sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo chính thức mà có thể là thông tin từ báo chí, từ đồng nghiệp, từ internet…với sự chọn lọc phù hợp

1.1.4.4 Quá trình dạy học tích cực có sự phản hồi đa dạng

- Trong dạy học tích cực, phản hồi là một yếu tố quan trọng giúp người dạy và người học định hướng đúng mục tiêu bài học, chương trình học Phản hồi ở đây bao gồm phản hồi xuôi (người dạy phản hồi cho người học), phản hồi ngược (người học phản hồi cho người dạy) và đặc biệt là phản hồi lẫn nhau giữa người học và người học Điều đó giúp cho người dạy và người học dễ dàng điều chỉnh quá trình dạy và học của mình cho phù hợp với mục tiêu bài học

- Dạy và học tích cực cần có sự khen thưởng, động viên, khích lệ kịp thời Việc khen thưởng bao giờ cũng có tác dụng động viên, khích lệ, giúp cho người học tích cực hơn trong quá trình học tập Tuy nhiên, tuỳ điều kiện và hoàn cảnh mà hình thức khen có thể khen thưởng bằng vật chất, hiện vật cụ thể hay khen thưởng bằng tinh thần Việc hoan nghênh, tán thưởng những kết quả học tập tốt sẽ tạo cho người

Trang 24

học có cảm giác tự tin hơn, đặc biệt là người học có cá tính nhút nhát, rụt rè, chưa quen với những hoạt động tập thể có tính hợp tác lẫn nhau

1.1.4.5 Nguyên tắc ấn tượng đầu tiên và cuối cùng

Những nhà nghiên cứu tâm lý cho biết: ấn tượng đầu tiên và ấn tượng cuối cùng bao giờ cũng khắc sâu trong trí nhớ của mỗi người Vì vậy phần mở đầu của mỗi bài học có tác dụng rất tốt trong việc kích thích quá trình tư duy của mỗi người học Nếu làm tốt điều này thì việc tiếp thu các nội dung sau của người học sẽ diễn ra một cách thuận lợi hơn Việc củng cố sau mỗi bài học, sau mỗi chương sẽ giúp người học khắc sâu hơn những gì đã được học

1.1.5 Một số yêu cầu thực hiện PPDHTC

1.1.5.1 Yêu cầu đối với GV

- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn SV thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng của bài học, với đặc điểm và trình độ của SV với điều kiện cụ thể của lớp, của trường và địa phương

- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho SV được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo và quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức, chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có của SV, tạo niềm vui, hứng khởi nhu cầu hành động, và thái độ tự tin trong học tập cho SV, giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng

- Thiết kế và hướng dẫn SV thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển

tư duy và rèn luyện kỹ năng, hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng dạy học, tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành, hướng dẫn SV có thói quen vận dụng kiến thức

đã học vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn

- Sử dụng các PP và hình thức dạy học một cách hợp lý, hiệu quả, linh hoạt phù hợp với đặc trưng của các cấp, môn học, nội dung tính chất của bài học, đặc điểm và trình độ của SV, tính chất của bài học, thời lượng dạy học và các điều kiện

dạy học cụ thể của trường, địa phương

Trang 25

1.1.5.2 Yêu cầu đối với SV

- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn;

- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập, thực hành thí nghiệm, thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn, xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện;

- Mạnh dạn trình bày bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân, tích cực thảo luận tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy, cho bạn;

- Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè

1.1.6 Định hướng và điều kiện vận dụng PPDH tích cực trong dạy học

1.2.4.1 Định hướng

Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo, tự học, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho người học, tận dụng được công nghệ mới nhất, rất cần phát huy cao năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin Tăng cường học cá thể với hợp tác Định hướng vào người học được coi là quan điểm định hướng chung trong đổi mới PPDH

Việc đổi mới chương trình giáo dục đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, PPDH đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong

đó khâu đột phá là đổi mới PPDH

Mục đích đổi mới PPDH là thay đổi lối dạy truyền thống một chiều sang dạy theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp người học phát huy tính tích cực,

tự giác chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, hứng thú trong học tập Làm cho “Học” là quá trình

Trang 26

kiến tạo, SV tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin… Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác…), dạy PP và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai

Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên thói quen học tập thụ động của học sinh cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp học sinh mong muốn được học theo hướng tích cực nhưng GV chưa đáp ứng được, do vậy, GV cần được bồi dưỡng phải kiện trì cách dạy theo PPDHTC, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho SV, trong đổi mới PPDH phải

có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới

có hiệu quả PPDH tích cực hàm chứa cả PP dạy và PP học

1.2.4.2 Các yêu cầu và điều kiện vận dụng PPDH tích cực

Để vận dụng có hiệu quả các PPDH tích cực vào hoạt động dạy học cần đảm bảo một số yêu cầu và điều kiện sau đây:

Người dạy phải hiểu và có kỹ năng DH theo PPDHTC thông qua tập huấn

và rèn luyện:

Đây là điều kiện tiên quyết, quyết định đến tính hiệu quả của quá trình đổi mới PPDH Người dạy phải được đào tạo, rèn luyện kỹ năng chu đáo để thích ứng với thay đổi trong vai trò, với những nhiệm vụ đa dạng, phức tạp của mình Người dạy không chỉ được trang bị về kiến thức lý thuyết, kỹ năng thực hành về PPDHTC; biết ứng xử tinh tế, linh hoạt, biết xử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại, biết định hướng sự phát triển của người học theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo sự

tự do của người học trong hoạt động nhận thức

Người học phải có một số kỹ năng cần thiết đảm bảo thích ứng với PPDH tích cực Những kỹ năng đó bao gồm việc giác ngộ mục đích học tập, tự giác trong các hoạt động học tập, có ý thức trách nhiệm trong các kết quả học tập của mình, có kỹ năng diễn đạt ý tưởng của mình và lắng nghe ý tưởng của người khác, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại tư duy biện

Trang 27

chứng, logíc, hình tượng, tư duy kỹ thuật, tư duy kinh tế

Xây dựng chương trình, sách giáo khoa phù hợp:

Các chương trình học tập phải giảm bớt khối lượng kiến thức, tạo điều kiện cho người dạy và người học tổ chức những hoạt động tích cực, giảm bớt các thông tin buộc người học phải ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức để người học tư duy, giảm bớt câu hỏi tái hiện, tăng cường câu hỏi mở nhằm phát triển

tư duy biện chứng, logíc, giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý

để người học tự nghiên cứu phát triển bài học

Phương tiện dạy học phải được trang bị đầy đủ:

Để người học tiến hành hoạt động có hiệu quả, việc trang bị đầy đủ các phương tiện dạy học cần thiết giúp người học có thể thực hiện tốt các công tác độc lập hoặc các hoạt động nhóm Phương tiện dạy học trong dạy học tích cực không nhất thiết phải là các phương tiên dạy học hiện đại, đắt tiền mà tuỳ theo từng nội dung hoạt động, người dạy có thể lựa chọn những phương tiện dạy học có sẵn, tự làm, hay mua mới Hình thức tổ chức lớp học cũng phải linh hoạt để dễ dàng chuyển đổi giữa các hoạt động phù hợp với dạy học hợp tác, học tập cá thể, thảo luận Ở đây sử dụng tất cả những trang thiết bị dạy học hiện đại của nhà trường và hình thức lên lớp chủ yếu là nhóm học tập, học tập cá thể

Thay đổi các hình thức kiểm tra, đánh giá:

Việc kiểm tra, đánh giá cần được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau và nội dung kiểm tra, đánh giá cũng phải mở rộng hơn nữa Bên cạnh kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ, người học còn phải được kiểm tra, đánh giá về sự phát triển trí thông minh, kỹ năng vận dụng sáng tạo những kiến thức được học vào các tình huống thực tế, thái độ đúng mực trong học tập và trong cuộc sống Ngoài việc kiểm tra đánh giá định kỳ, người dạy còn phải kiểm tra, đánh giá thường xuyên những nỗ lực học tập của người học, kiểm tra, đánh giá phi chính thức thông qua việc quan sát, trò chuyện… khuyến khích người học tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau Muốn vậy, người dạy phải cung cấp các tiêu chí đánh giá công khai cho người học, vào trước các buổi học, bài học hay khoá học…Tuy nhiên, việc xây dựng các tiêu

Trang 28

chí đánh giá phi chính thức (informal evaluation) cho mỗi đơn vị kiến thức cần phải đầu tư nhiều thời gian, công sức Trong quá trình vận dụng, để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong nghiên cứu khoa học, chúng tôi chưa áp dụng việc đánh giá phi chính thức vào đánh giá kết quả học tập của người học

Phải có sự ủng hộ từ phía lãnh đạo trường:

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm và có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc vận dụng PPDH tích cực ở đơn vị mình Nếu lãnh đạo thiếu sự quan tâm đúng mức đến nỗ lực của người dạy thì việc vận dụng PPDH tích cực trong thực tiễn sẽ không cao Việc ủng hộ của lãnh đạo trường không chỉ là những lời động viên, khích lệ mà phải bằng những hành động cụ thể như trang bị đầy đủ đồ dùng

học tập, thường xuyên kiểm tra, khích lệ việc vận dụng PPDHTC của giáo viên

1.2 Hiện trạng giáo dục QP - AN tại Trường đại học Bách khoa Hà Nội

1.2.1 Khái quát về GDQP - AN

1.2.1.1 Vị trí, vai trò của GDQPAN trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước Vì vậy, ngay từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam Trong đó Đảng ta luôn xác định giáo dục để phát triển con người toàn diện có tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, lý tưởng chủ nghĩa xã hội, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, ý chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ năng lực nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhảy cảm với chính trị, có ý chí vươn lên về khoa học

- công nghệ

GDQPAN cho học sinh, sinh viên là môn học và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, tạo cho thế hệ trẻ có

Trang 29

điều kiện tu dưỡng phẩm chất, rèn luyện năng lực để sẵn sàng thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược- xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong thập kỷ 60 của thế kỷ 20 nhiệm vụ chiến lược của đất nước ta là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà Ngày 28/4/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 11/SL công bố Luật Nghĩa vụ quân sự Trong đó, Điều 30 quy định: Đối với sinh viên, học sinh các trường đại học, các trường chuyên nghiệp trung cấp thì việc huấn luyện quân sự thuộc chương trình giáo dục do Chính phủ quy định

Ngày 28/12/1961 thay mặt Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký ban hành Nghị định số 219/CP về việc huấn luyện quân sự cho

quân nhân dự bị và dân quân tự vệ Trong đó Điều 3 quy định: Trong các trường

đại học và các trường chuyên nghiệp trung cấp việc học tập quân sự phải đặt thành một môn học chính [15]

Ngày 28 tháng 12 năm 1961 đánh dấu sự xuất hiện môn học Huấn luyện quân

sự phổ thông trong chương trình giáo dục của các trường chuyên nghiệp trung cấp (nay là trung cấp chuyên nghiệp), đại học, cao đẳng; sau đó thêm các trường phổ thông cấp 3 (nay là trung học phổ thông)

Môn học Huấn luyện quân sự phổ thông là tiền thân của môn học GDQPAN ngày nay; dấu mốc quan trọng trong sự hình thành môn học mới của hệ thống giáo dục quốc dân

Năm 1991, chương trình giáo dục quốc phòng chính khoá được ban hành theo Quyết định 2732/QĐ ngày 28/10/1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đánh dấu bước phát triển của môn học với những thay đổi lớn cả về tên gọi, kết cấu chương trình và nội dung giáo dục; theo đó thời lượng của các phần thực hành kỹ năng được giảm bớt, tăng thời lượng cho giáo dục truyền thống và nhận thức về nền quốc phòng toàn dân cho phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước Mặc

dù môn học đã đưa vào chính khoá, đã có tên gọi, có chương trình, nhưng ngành Giáo dục chưa có đội ngũ giáo viên chuyên trách; nhiệm vụ giáo dục quốc phòng ở cấp phổ thông trung học do cán bộ, chiến sĩ thuộc các cơ quan quân sự địa phương

Trang 30

đảm nhiệm Chương trình vẫn còn nặng về kỹ năng thực hành; vẫn còn có những nội dung cơ quan quân sự địa phương không thể đảm nhiệm được như nội dung về

vũ khí hoá học Việc thực hiện nội dung chương trình chỉ là điều kiện để đánh giá hạnh kiểm của học sinh chứ chưa được đưa vào để tính điểm trung bình chung với các môn học khác

Cùng với những thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, nội dung chương trình GDQPAN cho các bậc học ban hành theo Quyết định 12/2000/QĐ - BGD&ĐT ngày 9/5/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sự thay đổi

về chất, đáp ứng sát thực hơn trước yêu cầu phát triển Chương trình đã khắc phục được những hạn chế của chương trình theo Quyết định 2732/QĐ, tăng thời lượng cho giáo dục truyền thống và quan trọng hơn là đến năm 2001 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn các trường THPT đánh giá, cho điểm môn học GDQPAN để tính điểm trung bình chung với các môn học khác Điều đó cũng đồng nghĩa với chất lượng của môn học đã được nâng lên và khẳng định đó là môn học thật sự chứ không phải là "tuần quân sự đầu năm học” như một phong trào ở những năm trước Triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về quốc phòng, an ninh và để tạo thuận lợi cho việc tổ chức dạy - học của 35 tuần thực học ở cấp THPT, năm 2006 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký ban hành Quyết định số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5/5/2006 về Chương trình giáo dục phổ thông cấp Trung học phổ thông, trong đó có môn học GDQPAN với thời lượng 35 tiết cho mỗi lớp và 105 tiết cho cả cấp học, đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy, học theo phân phối chương trình Như vậy, tên của môn học GDQPAN đã được hình thành và lần đầu tiên đã xác định được chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học như các môn học khác cho học sinh PTTH, THCN, sinh viên cao đẳng và đại học

Trong Luật giáo dục quốc phòng an ninh năm 2013 còn xác định GDQPAN cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện lồng ghép thông qua nội dung các môn học trong chương trình kết hợp với hoạt động ngoại khóa để hình thành những cơ sở, hiểu biết ban đầu về quốc phòng, an ninh, lực lượng vũ trang nhân

Trang 31

dân, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc; ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, yêu Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Như vậy, từ khi Luật giáo dục quốc phòng an ninh năm 2013 được áp dụng thì nội dung môn học GDQPAN đã được trải đều ở mọi cấp học, bậc học Ngoài ra còn thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-

xã hội, thường xuyên phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân

1.2.1.2 Chương trình GDQP - AN trình độ cao đẳng, đại học [3]

Ngày 12/9/2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số BGDĐT quy định Chương trình GDQPAN trình độ cao đẳng, đại học thay thế Quyết định số: 81/2007/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

31/2012/TT- Số tiết: 165 tiết;

Thời điểm thực hiện: từ năm thứ nhất đến năm thứ 2

Mục tiêu: Chương trình GDQPAN dùng cho sinh viên đại học, cao

đẳng nhằm:

- Mục tiêu chung:

Trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng và công tác quản lý Nhà nước về quốc phòng, an ninh; về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, về nghệ thuật quân sự Việt Nam; về chiến lược

"diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam; những kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang nhân dân, sẵn sàng tham gia lực lượng dân quân

tự vệ, dự bị động viên và làm nghĩa vụ quân sự, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

- Mục tiêu cụ thể:

Trang 32

+ Về kiến thức: Có kiến thức cơ bản về đường lối quân sự của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; các quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân nhân, an ninh nhân dân; đấu tranh, phòng chống chiến lược

“diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam trong tình hình mới

+ Về kỹ năng: Thuần thục trong thao tác các kỹ năng quân sự cần thiết, biết sử dụng một số loại vũ khí bộ binh, thành thạo trong sử dụng súng tiểu liên AK (CKC) + Về thái độ: Rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, yêu CNXH; xây dựng tác phong nhanh nhẹn; hình thành nếp sống có kỷ luật trong sinh hoạt tập thể, ý thức cộng đồng ở trường, lớp và khi ra công tác

Chương trình bao gồm 3 học phần, thời lượng 11 tín chỉ:

Học phần 1: Đường lối quân sự của Đảng, 3 tín chỉ; học phần 2: Công tác quốc phòng, an ninh, 3 tín chỉ; học phần 3: Quân sự chung và chiến thuật, kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK (CKC), 5 tín chỉ

Tóm tắt nội dung các học phần

Học phần I: Đường lối quân sự của Đảng

- Mục tiêu:

+ Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; nhận thức đúng

về nguồn gốc, bản chất chiến tranh; các quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân để tiến hành chiến tranh nhân dân bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

+ Giúp sinh viên bước đầu tìm hiểu nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta và nghệ thuật quân sự Việt Nam từ khi có Đảng

- Yêu cầu:

Trang 33

+ Nắm vững đường lối quân sự của Đảng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, kết hợp phát triển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; trên cơ sở đó góp phần nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN;

+ Xác lập phương pháp luận trong nghiên cứu các học phần, môn học

GDQP-AN, xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc hiện nay

- Điều kiện tiên quyết:

Bố trí sau khi học Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Mô tả tóm tắt nội dung:

Đối tượng, phương pháp nghiên cứu môn học GDQPAN; Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng -

an ninh; Nghệ thuật quân sự Việt Nam

Học phần II: Công tác quốc phòng - an ninh

- Mục tiêu:

+ Giúp sinh viên nhận thức được âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó đấu tranh, phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam để giữ gìn an ninh chính trị và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam XHCN

Trang 34

+ Trang bị cho sinh viên kiến thức về chiến tranh công nghệ cao; kiến thức về xây dựng lực lƣợng dân quân tự vệ, lực lƣợng dự bị động viên, phong trào toàn dân đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ biên giới, biển đảo Việt Nam

- Yêu cầu:

+ Xây dựng niềm tin chiến thắng trong phòng chống chiến lƣợc “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

+ Nắm vững các nội dung công tác quốc phòng, an ninh; vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn

- Điều kiện tiên quyết: không

- Mô tả tóm tắt nội dung:

Phòng chống chiến lƣợc “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam; Phòng chống địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao; Xây dựng lực lƣợng dân quân tự vệ, lực lƣợng dự bị động viên

và động viên công nghiệp quốc phòng; Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; Một số nội dung cơ bản về dân tộc, tôn giáo và đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; Những vấn đề cơ bản về đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội; Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc

Học phần III: Quân sự chung và chiến thuật, kỹ thuật bắn súng tiểu liên

AK

- Mục tiêu:

+ Trang bị cho sinh viên kiến thức chung về quân sự phổ thông, những kỹ năng quân sự cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố lực lƣợng vũ trang nhân dân, sẵn sàng tham gia lực lƣợng dân quân tự vệ, dự bị động viên và thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc

Trang 35

+ Hiểu biết và sử dụng được một số loại phương tiện, vũ khí thông thường; có kiến thức về chiến thuật bộ binh; biết cách phòng, tránh vũ khí hủy diệt lớn và thành thạo kỹ thuật băng bó, chuyển thương

- Yêu cầu:

+ Hiểu biết một số kỹ năng cơ bản của người chiến sĩ bộ binh trong huấn luyện và chiến đấu; biết vận dụng các kỹ năng quân sự trong hoạt động dân quân tự

vệ, phòng thủ dân sự và hoạt động thể thao quốc phòng

+ Nắm vững và thành thạo kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK (CKC)

- Điều kiện tiên quyết: không

- Mô tả tóm tắt nội dung:

Đội ngũ đơn vị và ba môn quân sự phối hợp; Sử dụng bản đồ địa hình quân sự; Giới thiệu một số loại vũ khí bộ binh; Thuốc nổ; Phòng chống vũ khí hủy diệt lớn; Cấp cứu ban đầu vết thương chiến tranh; Từng người trong chiến đấu tiến công

và phòng ngự; Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK (CKC)

* Chương trình cụ thể ( xem Phụ lục 1 )

1.2.1.3 Khoa GDQPAN Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội

Ngày 23/8/1982 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục

và đào tạo) đã có Quyết định số 1576/QS về việc thành lập khoa Quân sự

Thực hiện Quyết định số 1576/QS ngày 23/8/1982 của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp về thành lập khoa Quân sự Tháng 6 năm 1983, Hiệu trưởng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã ký quyết định thành lập tổ chức bộ máy của khoa Quân sự, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Gần 30 năm thành lập được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng, Ban giám hiệu và các phòng khoa của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Khoa Quân sự Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội không ngừng trưởng thành

cả về đội ngũ giảng viên và chất lượng giảng dạy… Góp phần quan trọng vào củng

cố QP - AN, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

Trang 36

Nhiệm vụ chính của Khoa là giảng dạy nội dung kiến thức về GDQPAN cho sinh viên của trường ĐHBK Hà Nội và một số trường khác theo sự phân công của

Vụ GDQPAN (Bộ GD&ĐT) Ngoài ra Khoa còn tham mưu cho lãnh đạo trường ĐHBK Hà Nội và tổ chức thực hiện công tác quân sự của nhà trường Cụ thể là: Công tác tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp hàng năm đi đào tạo Sĩ quan dự bị theo chỉ tiêu của Bộ Quốc phòng - Bộ GD&ĐT, tham gia huấn luyện xây dựng lực lượng

Tự vệ của trường, làm công tác quân sự địa phương thực hiện tiếp nhận và quản lý

số nam sinh viên trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ đang học tập tại trường ĐHBK

Hà Nội

1.2.2 Hiện trạng GDQPAN tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội

1.2.2.1 Đội ngũ giáo viên

Khoa GDQPAN với 15 cán bộ, giáo viên trong đó có 10 giáo viên trình độ thạc sỹ, còn lại đã tốt nghiệp đại học Đội ngũ cán bộ, giảng viên (sĩ quan biệt phái) đang công tác tại khoa được tuyển chọn từ giảng viên của Học viện PK - KQ có thâm niên giảng dạy từ 7 năm trở lên Mặc dù chuyển đổi môi trường công tác, song đội ngũ giáo viên đã nhanh chóng từng bước đảm nhận tốt công tác đào tạo của khoa GDQPAN, cụ thể các giờ giảng của khoa luôn đạt chất lượng cao, định kỳ luôn có giảng viên đạt giảng viên dạy giỏi khối các trường cao đẳng , đại học về môn học GDQPAN

Trình độ nghiệp vụ sư phạm của các giáo viên đang tham gia giảng dạy trong khoa đều đạt chuẩn Giáo viên tham gia giảng dạy thực hành của khoa đều có kinh nghiệm, tâm huyết với nghề nghiệp

Những yếu tố trên là những cơ sở và điều kiện phù hợp cho việc xây dựng và vận dụng các PPDHTC vào trong giảng dạy

1.2.2.2 Trình độ học sinh - sinh viên

Trình độ sinh viên tuyển sinh hàng năm đều có chất lượng cao, đa số sinh viên đều có động lực học tập tốt Tuy nhiên vẫn còn tình trạng sinh viên coi thường môn học do không xác định tốt vị trí vai trò của môn học, hoặc có tình trạng nhàm chán

Trang 37

do nội dung không hấp dẫn, kiến thức khô khan, trong khi đó giáo viên không áp dụng các PPDH mới để gây hứng thú học tập cho sinh viên Những lý do trên khiến nhiều sinh viên học tập chỉ với thái độ đối phó, miễn là thi đạt yêu cầu để qua môn học này

1.2.2.3 Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học

Được sự quan tâm của Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường, trong thời gian qua Khoa GDQPAN đã từng bước được đầu tư về trang thiết bị dạy học : năm 2006 Khoa GDQPAN đã được đầu tư 01 phòng thực hành phương pháp; năm 2010 được đầu tư 45 khẩu súng tiểu liên AK và 03 bộ thiết bị kiểm tra bắn, năm 2016 phòng thực hành phương pháp của khoa đã được sửa chữa tạo thuận lợi cho giáo viên rèn luyện kỹ năng dạy học

Khoa GDQPAN thường được nhà trường tạo điều kiện giảng dạy tại các phòng học được trang bị máy tính, máy chiếu, micro - loa phát thanh , đã đáp ứng được các nhu cầu dạy và học đối với các lớp thông thường

Tuy nhiên, số lượng sinh viên của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội lớn, chương trình đào tạo theo tín chỉ nên số sinh viên tăng nhiều, cường độ giảng dạy lớn trong khi biên chế đội ngũ giảng viên của khoa còn thiếu

Số phòng học đáp ứng cho lớp học có 210 sinh viên rất ít, số phòng học đáp ứng cho lớp học lớn hơn không có

Tóm lại, với số lượng giảng viên của khoa, số lượng sinh viên, số lượng phòng học và trang thiết bị dạy học của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội,… đòi hỏi giảng viên phải biết vận dụng các PPDHTC để đem lại hiệu quả giảng dạy cao

1.2.2.4 Thực tiễn về vận dụng các phương pháp dạy học

* Thực trạng nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học:

Để đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp CNH - HĐH đất nước thì trong quá trình đào tạo nói chung cần phải có sự đổi mới, đặc biệt là phương pháp dạy học thực hành

Để có những cơ sở cho việc vận dụng các PPDHTC vào dạy môn học GDQPAN, tác giả luận văn đã tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên

Trang 38

về tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, tác giả đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với 10 giáo viên và 2 cán bộ quản lý với mẫu phiếu số 1 (xem phụ lục 2) Kết quả như bảng 1.2:

Bảng 1.2 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH

Nhận xét: Như vậy qua kết quả khảo sát bằng phiếu hỏi cán bộ quản lý và giáo viên của trường cho thấy rằng đa số các cán bộ quản lý và giáo viên đều thấy được tầm quan trọng của của việc đổi mới phương pháp dạy học do đó việc áp dụng vào dạy môn học GDQPAN là rất phù hợp và có tính khả thi

*Thực trạng về mức độ sử dụng các phương pháp và phương tiện kỹ thuật dạy học

Về thực trạng mức độ sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học, tác giả

đã tiến hành khảo sát 10 GV đã và đang giảng dạy bộ môn GDQPAN của trường về nhận thức và mức độ sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học Mẫu phiếu số 2 (xem phụ lục 2) Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng 1.3:

TT Phương pháp thực hiện

Mức độ đánh giá và tỷ lệ (%) Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Không thực hiện

Không quan trọng

Trang 39

4 Phương pháp dạy học thảo luận

Đặc biệt các giáo viên chưa thường xuyên thực hiện dạy học theo phương pháp có sự hỗ trợ của máy tính cũng như các phương tiện khác Do vậy chưa phát huy được ưu thế của công nghệ thông tin trong dạy học, chưa kích thích và chưa gây được hứng thú học tập của học sinh, sinh viên Học sinh, sinh viên không có cơ hội tự học Đặc biệt chưa giảm được kinh phí trong đào tạo và chưa khắc phục được

tình trạng thiếu thiết bị, lãng phí thời gian và chất lượng dạy học không cao

1.2.3 Phân tích đặc điểm giảng dạy môn học giáo dục quốc phòng an ninh tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

1.2.3.1 Đặc điểm môn học GDQPAN

Môn học GDQPAN là môn học nhằm trang bị cơ sở lí luận và kiến thức về QP

- AN Để học môn học này, người học đã phải học các môn khoa học cơ bản và lý

Trang 40

luận chính trị, tức là đã có những khái niệm cơ bản và đủ kiến thức để lĩnh hội những kiến thức của môn học

Đặc điểm nội dung của môn học có 4 tính chất cơ bản nhƣ sau:

Ngoài ra, môn học còn có đặc trƣng biến đổi tƣ duy logic thành tƣ duy kỹ thuật để giải quyết các vấn đề trong thực tế.Vì vậy các bài giảng cần phải minh họa bằng nhiều sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh, phim ảnh tĩnh hay động, mô hình, mô phỏng nguyên lý làm việc của các thiết bị quân sự

1.2.3.2 Những thuận lợi và khó khăn hiện nay của các Giảng viên và Sinh viên trong việc giảng dạy và học tập môn học GDQPAN tại trường Đại học Bách Khoa

Ngày đăng: 03/09/2018, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w